Việt Nam chính thức khởi xướng công cuộc đổi mới nền kinh tế từ năm 1986. Kể từ đó đến nay, Việt Nam đã có nhiều thay đổi to lớn, trước hết là sự đổi mới về tư duy kinh tế, chuyển đổi từ cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đa dạng hóa và đa phương hóa các quan hệ kinh tế đối ngoại, thực hiện mở cửa, hội nhập quốc tế. Con đường đổi mới đó đã giúp Việt Nam giảm nhanh được tình trạng nghèo đói, bước đầu xây dựng nền kinh tế công nghiệp hóa, đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao đi đôi với sự công bằng tương đối trong xã hội. Cùng với việc xây dựng luật, các thể chế thị trường ở Việt Nam cũng từng bước được hình thành nhằm nâng cao tính cạnh tranh của nền kinh tế, tạo môi trường thuận lợi và đầy đủ hơn cho hoạt động kinh doanh, phát huy mọi nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế. Chiến lược cải cách hành chính giai đoạn 20012010 là một quyết tâm của Chính phủ Việt Nam, trong đó nhấn mạnh việc sửa đổi các thủ tục hành chính, luật pháp, cơ chế quản lý kinh tế… để tạo ra một thể chế năng động, đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới. Cũng đồng thời cùng với sự phát triển của các ngành kinh tế chung, lĩnh vực kinh doanh TMĐT cũng đã dần có những bước phát triển nhất định, dần khẳng định sự đóng góp của mình trong nền kinh tế quốc dân. Sự tham gia của các doanh nghiệp cũng như của khách hàng vào TMĐT ngày càng nhiều, chứng tỏ sự tin tưởng của khách hàng và doanh nghiệp vào TMĐT ngày càng chắc chắn. TMĐT sẽ nhanh chóng tạo dựng được sự thành công của mình trên nền kinh tế do những lợi ích tiện lợi mà nó mang lại so với nền thương mại truyền thống. Tuy nhiên để hoạt động thực sự mạnh mẽ, TMĐT yêu cầu cần có một cơ sở hạ tầng công nghê vững chắc để đảm bảo cho an ninh và các giao dịch. Việc xây dựng cơ sở hạ tầng chính là một thị trường cho các doanh nghiệp tham gia và thu được lợi nhuận to lớn.
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Việt Nam chính thức khởi xướng công cuộc đổi mới nền kinh tế từ năm
1986 Kể từ đó đến nay, Việt Nam đã có nhiều thay đổi to lớn, trước hết là sự đổimới về tư duy kinh tế, chuyển đổi từ cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp,sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước, đa dạng hóa và đa phương hóa các quan hệ kinh tế đối ngoại,thực hiện mở cửa, hội nhập quốc tế Con đường đổi mới đó đã giúp Việt Nam giảmnhanh được tình trạng nghèo đói, bước đầu xây dựng nền kinh tế công nghiệp hóa,đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao đi đôi với sự công bằng tương đối trong xãhội Cùng với việc xây dựng luật, các thể chế thị trường ở Việt Nam cũng từng bướcđược hình thành nhằm nâng cao tính cạnh tranh của nền kinh tế, tạo môi trườngthuận lợi và đầy đủ hơn cho hoạt động kinh doanh, phát huy mọi nguồn lực chotăng trưởng kinh tế Chiến lược cải cách hành chính giai đoạn 2001-2010 là mộtquyết tâm của Chính phủ Việt Nam, trong đó nhấn mạnh việc sửa đổi các thủ tụchành chính, luật pháp, cơ chế quản lý kinh tế… để tạo ra một thể chế năng động,đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới
Cũng đồng thời cùng với sự phát triển của các ngành kinh tế chung, lĩnh vựckinh doanh TMĐT cũng đã dần có những bước phát triển nhất định, dần khẳng định
sự đóng góp của mình trong nền kinh tế quốc dân Sự tham gia của các doanhnghiệp cũng như của khách hàng vào TMĐT ngày càng nhiều, chứng tỏ sự tintưởng của khách hàng và doanh nghiệp vào TMĐT ngày càng chắc chắn TMĐT sẽnhanh chóng tạo dựng được sự thành công của mình trên nền kinh tế do những lợiích tiện lợi mà nó mang lại so với nền thương mại truyền thống Tuy nhiên để hoạtđộng thực sự mạnh mẽ, TMĐT yêu cầu cần có một cơ sở hạ tầng công nghê vữngchắc để đảm bảo cho an ninh và các giao dịch Việc xây dựng cơ sở hạ tầng chính làmột thị trường cho các doanh nghiệp tham gia và thu được lợi nhuận to lớn
Bắt đầu được thành lập từ năm 1993, với lịch sử 15 xây dựng và phát triển,CMC Corp đã khẳng định được vị thế của mình trên thị trường CNTT bằng chính
Trang 2thực lực mạnh mẽ được khách hang và đối tác tin cậy với hàng loạt các chứng chỉ
và giải thưởng CMC Corp đạt được Cũng đồng thời với những thành tích đó, CMCCorp không ngừng dừng lại mà vẫn liên tục tìm kiếm, phát triển vào các lĩnh vựckinh doanh theo 3 mảng là: IT, Telecommunication & Internet, eBussiness Mặc dù
IT hiện là lĩnh vực tạo được phần lớn lợi nhuận cho CMC Corp nhưng EBussinessđược CMC Corp nhìn nhận là một lĩnh vực kinh doanh sẽ tạo ra nguồn lợi nhuậnrất to lớn bằng việc đầu tư vào xây dựng cơ sở hạ tầng Tuy vậy, cũng do đây là lĩnhvực mà CMC Corp chưa có kinh nghiệm tham gia cũng như vị thế trên thị trườngnên CMC Corp sẽ cần phải tiến hành các hoạt động truyền thông nhằm xây dựnghình ảnh của mình, tạo niềm tin đối với khách hang của mình
Với những kiến thức đã được học tại giảng đường và tại CMC Corp cùngvới sự giúp đỡ của thầy giáo Nguyễn Thế Trung, chú Nguyễn Minh Huyên và cácanh chị trong phòng Truyền thông và Thương hiệu của CMC Corp em đã chọn đề
tài: “Hoàn thiện các hoạt động truyền thông của CMC Corp nhằm phát triển thị trường Công nghệ thông tin góp phần xây dựng cơ sở hạ tầng cho thị trường Thương mại điện tử ở Việt Nam” để nhằm hiểu rõ hơn về chuyên ngành mình đã
học
Kết cấu của chuyên đề bao gồm:
Lời nói đầu
Phần 1: Giới thiệu về CMC Corp và thị trường TMĐT ở Việt Nam Phần 2: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và thực trạng hoạt động Marketing của công ty
Phần 3: Một số đề xuất nhằm tăng cường hiệu quả truyền thông của CMC Corp.
Kết luận.
Trang 3PHẦN 1 GIỚI THIỆU VỀ CMC CORP VÀ THỊ TRƯỜNG TMĐT
Ở VIỆT NAM
1 Tổng quan về tập đoàn CMC
1.1 Khái quát về Công ty
Tên đầy đủ: CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN CÔNG NGHỆ CMC
Tên giao dịch tiếng Anh: CMC CORPORATION
Tên viết tắt: CMC CORP.
Logo:
Trụ sở chính: Số 29 Hàn Thuyên, phường Phạm Đình Hồ, Quận Hai
Bà Trưng, Hà Nội
Điện thoại: (84-4) 972 1135 Fax: (84-4) 972 1134
Chi nhánh: 134 Lê Hồng Phong, Quận 5, Tp Hồ Chí Minh
Trang 4 Tháng 11: Thành lập Chi nhánh tại Tp Hồ Chí Minh, mang tên Công tyTNHH TM-DV Máy tính Truyền thông II.
Năm 1998
Tháng 4: Thành lập công ty Nhật Quang với siêu thị bán lẻ và dịch vụBlueSky
Thành lập Trung tâm Tích hợp Hệ thống – CSI
Thành lập Trung tâm Giải pháp Phần mềm - CMCSoft
Năm 1999
Tháng 5: Công ty Hệ thống phân phối máy tính Thế Trung - CDS (Công tyMáy tính CMS hiện nay) được thành lập chuyên kinh doanh phân phối và sản xuấtmáy tính dựa trên bộ phận phân phối và lắp ráp máy tính của CMC được tách ra
Ngày 7/2/2006: được sự cấp phép của Phòng Đăng ký kinh doanh – Sở Kếhoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội, Công ty CMC chính thức chuyển đổi thànhCông ty Cổ phần Tập đoàn Công nghệ CMC với tên tiếng Anh: CMC Corporation
Trang 5 Tích hợp hệ thống;
Sản xuất phần mềm đóng gói và phát triển phần mềm theo yêu cầu;
Gia công và xuất khẩu phần mềm;
Cung cấp dịch vụ ERP;
Lắp ráp máy tính để bàn, máy chủ và notebook thương hiệu CMS;
Phân phối các sản phẩm công nghệ thông tin;
Cung cấp dịch vụ bảo hành, bảo trì các thiết bị công nghệ thông tin và viễnthông;
Đào tạo trong lĩnh vực Công nghệ thông tin;
Kinh doanh, đầu tư, môi giới và quản lý bất động sản; và
Dịch vụ thuê và cho thuê nhà ở, văn phòng, nhà xưởng, kho bãi
Trang 6thông, dịch vụ dữ liệu và nội dung) và kinh doanh điện tử - e-business (dịch vụ nộidung số, thương mại điện tử, nhập liệu BPO và dịch vụ cộng đồng) Trong đó, mụctiêu đến năm 2010 là đạt doanh số 500 triệu USD và giá trị công ty trên thị trườngđạt hơn 1 tỷ USD
1.4 Cơ cấu tổ chức kinh doanh
CMC hiện tại bao gồm 7 công ty thành viên bao gồm:
CMC SI – tích hợp hệ thống cung cấp các giải pháp an toàn thông tin.
CMS – Sản xuất máy tính Việt Nam.
CMC Soft – Phần mềm đóng gói, phần mềm xuất khẩu và dịch vụ cao cấp về
phần mềm
CMC Distribution công ty phân phối chuyên nghiệp các sản phẩm ICT.
CMC Telecom – Cung cấp các dịch vụ viễn thông và Internet.
Seg –CMC: Liên doanh về tư vấn, cung cấp triển khai giải pháp ERP của SAP
với Segmanta – Vương quốc Đan Mạch
CMC IS: tập trung vào việc nghiên cứu và phát triển các sản phẩm và giải
pháp an ninh an toàn thông tin có khả năng cạnh tranh quốc tế
Trang 7Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức Công ty
Trang 8 Đại Hội đồng cổ đông
- Hội đồng cổ đông là cơ quan quản lý cao nhất của CMC Corp có các chức năng: + Hoạch định chiến lược chung cho CMC Corp
+ Quyết định hướng đầu tư có lợi nhất cho CMC Corp
Hội đồng quản trị
- Hội đồng quản trị là bộ phận quản lý cao nhất của CMC Corp Hội đồngquản trị là nơi đưa ra các quyết sách quan trọng nhất cho hoạt động của công ty tậpđoàn cũng như của các công ty thành viên có cổ phần chi phối (>51%) Hội đồngquản trị được cơ cấu thành: chủ tịch hội đồng quản trị, và các thành viên hội đồngquản trị
Ban điều hành
- Ban tổng giám đốc là bộ phận có trách nhiệm trực tiếp điều hành CMCCorp cũng như các công ty thành viên có cổ phần chi phối (>51%) trong mọi hoạtđộng sản xuất, kinh doanh, và đầu tư
1.1 Tổ chức thực thi các nghị quyết của hội đồng quản trị CMC Corp
1.2 Xây dựng chiến lược của CMC Corp và các điều chỉnh chiến lược
- Quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động hàng ngày của CMC Corp
Phòng kế toán
- Phòng kế toán là bộ phận tham gia công tác quản lý tài chính CMC Corpcũng như các công ty thành viên có cổ phần chi phối (>51%) Ngoài ra bộ phận nàycòn có trách nhiệm cung cấp thông tin hạch toán kinh tế cho ban tổng giám đốc, bantài chính - kế toán (trực tiếp phụ trách bởi Phó tổng giám đốc phụ trách tài chính -
VP CFO) các cơ quan chức năng của Nhà Nước, các cán bộ quản lý (theo yêu cầucủa ban tổng giám đốc)
Các ban chuyên môn
- Các ban chuyên môn là nơi chịu trách nhiệm hỗ trợ hội đồng quản trị, bantổng giám đốc của CMC Corp xây dựng chính sách chung cho toàn bộ hệ thống tậpđoàn (kinh doanh, công nghệ, truyền thông, tài chính, nhân lực); trực tiếp chỉ đạoviệc thực hiện cũng như kiểm soát các công ty thành viên Ban chuyên môn được tổchức thành các ban sau:
Trang 9 Ban kế hoạch và đầu tư.
Ban phát triển kinh doanh
Ban thương hiệu và quan hệ công chúng
Ban tài chính và kế toán (trực tiếp phụ trách phòng kế toán CMC Corp)
- Quan hệ cổ đông: Đóng vai trò là đầu mối trong các quan hệ liên quan đến
cổ đông của CMC Corp
3 Nguồn lực công ty
2.1 Nguồn lực nhân sự
Sơ đồ 2: Biểu đồ tăng trưởng nhân sự của CMC
BIỂU ĐỒ TĂNG TRƯỞNG NHÂN LỰC CMC
Trang 10- Cơ cấu nhân sự
CƠ CẤU CMC THEO TRÌNH ĐỘ
4%
68%
28%
Trên Đại học Đại học Khác
Có thể thấy rằng, nguồn nhân lực của CMC Corp liên tục tăng để nhằm đápứng được nhu cầu phát triển của bản thân công ty Tuy nhiên, đồng thời với sốlượng là chất lượng nhân sự CMC Corp cũng được tuyển chọn rất kĩ lưỡng Với68% nhân sự là tốt nghiệp Đại học, 4% là trên Đại học, nguồn nhân sự hiện nay đãxây dựng, đóng góp rất lớn vào sự phát triển của CMC Corp
Trang 11Nguồn vốn của CMC đã có tăng rất nhanh từ 0,5 tỷ những ngày đầu thànhlập đến nay vốn pháp định của CMC đã tăng lên đến 400 tỷ đầu năm 2008 Điềunày làm tăng khả năng phát triển và mở rộng khả năng đầu tư của CMC tới các mụctiêu kinh doanh của mình Hơn thế nữa nó còn làm tăng sự an tâm tin tưởng của cácnhà đầu tư vào CMC càng làm tăng cơ hội phát triển của CMC.
2.3 Nguồn lực công nghệ
Là doanh nghiệp về công nghệ thông tin hàng đầu ở Việt Nam, CMC Corp ápdụng rất nhiều công nghệ vào hoạt động kinh doanh của mình nhằm đạt được hiệusuất tối ưu nhất chi phí bỏ ra CMC Corp luôn đồng thời tìm kiếm các sản phẩmcông nghệ cao để cung cấp cho khách hàng và có sự áp dụng vào chính bản thândoanh nghiệp
2.4 Nguồn lực Markting: Trình bày tại chương 2
4 Đánh giá về thị trường TMĐT ở Việt Nam hiện nay
4.1 Khái niệm về thị trường TMĐT
4.1.1 Định nghĩa TMĐT
Theo nghĩa hẹp, thương mại điện tử chỉ đơn thuần bó hẹp thương mại điện tửtrong việc mua bán hàng hóa và dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử, nhất làqua Internet và các mạng liên thông khác
Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), "Thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình, cả các sản phẩm giao nhận cũng như những thông tin số hoá thông qua mạng Internet".
Theo Uỷ ban Thương mại điện tử của Tổ chức hợp tác kinh tế châu Á-Thái BìnhDương (APEC), "Thương mại điện tử là công việc kinh doanh được tiến hành thôngqua truyền thông số liệu và công nghệ tin học kỹ thuật số"
Theo nghĩa rộng, TMĐT đươc hiểu là các giao dịch tài chính và thương mạibằng phương tiện điện tử như: trao đổi dữ liệu điện tử, chuyển tiền điện tử và cáchoạt động như gửi/rút tiền bằng thẻ tín dụng Thương mại điện tử theo nghĩa
Trang 12rộng được định nghĩa trong Luật mẫu về Thương mại điện tử của Ủy banLiên Hợp quốc về Luật Thương mại Quốc tế (UNCITRAL):
“Thuật ngữ Thương mại cần được diễn giải theo nghĩa rộng để bao quát các vấn đề phát sinh từ mọi quan hệ mang tính chất thương mại dù có hay không
có hợp đồng Các quan hệ mang tính thương mại bao gồm các giao dịch sau đây: bất cứ giao dịch nào về thương mại nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ; thỏa thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại, ủy thác hoa hồng; cho thuê dài hạn; xây dựng các công trình; tư vấn; kỹ thuật công trình; đầu tư; cấp vốn; ngân hàng; bảo hiểm; thỏa thuận khai thác hoặc tô nhượng; liên doanh các hình thức khác về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hóa hay hành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ.”
Theo Uỷ ban châu Âu: "Thương mại điện tử được hiểu là việc thực hiện hoạtđộng kinh doanh qua các phương tiện điện tử Nó dựa trên việc xử lý và truyền dữliệu điện tử dưới dạng text, âm thanh và hình ảnh"
Ở bài viết này, người viết xin được trình bày khái niệm TMĐT theo nghĩa rộng Điều này đồng nghĩa với việc có thể thấy rằng phạm vi của Thương mại điện tử rất rộng, bao quát hầu hết các lĩnh vực hoạt động kinh tế, việc mua bán hàng hóa và dịch vụ chỉ là một trong hàng ngàn lĩnh vực áp dụng của Thương mại điện tử.
4.1.2 Các cơ sở để phát triển TMĐT và các loại giao dịch TMĐT
Để phát triển TMĐT cần phải có hội đủ một số cơ sở:
– Hạ tầng kỹ thuật Internet phải đủ nhanh, mạnh đảm bảo truyền tải các nộidung thông tin bao gồm âm thanh, hình ảnh trung thực và sống động Một hạ tầnginternet mạnh cho phép cung cấp các dịch vụ như xem phim, xem TV, nghe nhạcv.v trực tiếp Chi phí kết nối internet phải rẻ để đảm bảo số người dùng internetphải lớn
– Hạ tầng pháp lý: phải có luật về TMĐT công nhận tính pháp lý của cácchứng từ điện tử, các hợp đồng điện tử ký qua mạng; phải có luật bảo vệ quyền sở
Trang 13hữ trí tuệ, bảo vệ sự riêng tư, bảo vệ người tiêu dùng v.v để điều chỉnh các giaodịch qua mạng.
– Phải có cơ sở thanh toán điện tử an toàn bảo mật Thanh toán điện tử quathẻ, qua tiền điện tử, thanh toán qua EDI Các ngân hàng phải triển khai hệ thốngthanh toán điện tử rộng khắp
– Phải có hệ thống cơ sở chuyển phát hàng nhanh chóng, kịp thời và tin cậy.– Phải có hệ thống an toàn bảo mật cho các giao dịch, chống xâm nhập tráiphép, chống virus, chống thoái thác
– B2C (Business-To-Consumer) Doanh nghiệp với người tiêu dùng
– B2B (Business-To-Business) Doanh nghiệp với doanh nghiệp
– B2G (Business-To-Government) Doanh nghiệp với chính phủ
– B2E (Business-To-Employee) Doanh nghiệp với nhân viên
Chính phủ:
– G2C (Government-To-Consumer) Chính phủ với người tiêu dùng
– G2B (Government-To-Business) Chính phủ với doanh nghiệp
– G2G (Government-To-Government) Chính phủ với chính phủ.
– Thu thập được nhiều thông tin
TMĐT giúp doanh nghiệp tham gia thu được nhiều thông tin về thị trường,đối tác, giảm chi phí tiếp thị và giao dịch, rút ngắn thời gian sản xuất, tạo dựng
và củng cố quan hệ bạn hàng nhờ đó có thể xây dựng được chiến lược sản xuất vàkinh doanh thích hợp với xu thế phát triển của thị trường trong nước, khu vực
và quốc tế
Trang 14– Giảm chi phí sản xuất
– Giảm chi phí bán hàng, tiếp thị và giao dịch
TMĐT qua Internet/Web giúp người tiêu thụ và các doanh nghiệp giảm đáng
kể thời gian và chi phí giao dịch (giao dịch được hiểu là từ quá trình quảng cáo, tiếp xúc ban đầu, giao dịch đặt hàng, giao dịch thanh toán) Thời gian giao dịch qua Internet chỉ bằng 7% thời gian giao dịch qua Fax, và bằng khoảng 0.5 phần nghìn thời gian giao dịch qua bưu điện chuyển phát nhanh, chi phí thanh toán điện tử qua Internet chỉ bằng từ 10% đến 20% chi phí thanh toán theo lối thông thường.
– Xây dựng quan hệ với đối tác
TMĐT tạo điều kiện cho việc thiết lập và củng cố mối quan hệ giữa các thànhviên tham gia vào quá trình thương mại: thông qua mạng (Internet/ Web) cácthành viên tham gia (người tiêu thụ, doanh nghiệp, các cơ quan Chính phủ ) cóthể giao tiếp trực tiếp (liên lạc “ trực tuyến”) và liên tục với nhau, có cảm giácnhư không có khoảng cách về địa lý và thời gian nữa; nhờ đó sự hợp tác và sựquản lý đều được tiến hành nhanh chóng một cách liên tục: các bạn hàng mới, các
cơ hội kinh doanh mới được phát hiện nhanh chóng trên phạm vi toàn quốc, toànkhu vực, toàn thế giới, và có nhiều cơ hội để lựa chọn hơn
– Tạo điều kiện sớm tiếp cận kinh tế trí thức
Trước hết, TMĐT sẽ kích thích sự phát triển của ngành công nghệ thông tintạo cơ sở cho phát triển kinh tế tri thức Lợi ích này có một ý nghĩa lớn đối vớicác nước đang phát triển: nếu không nhanh chóng tiếp cận nền kinh tế tri thứcthì sau khoảng một thập kỷ nữa, nước đang phát triển có thể bị bỏ rơi hoàn toàn.Khía cạnh lợi ích này mang tính chiến lược công nghệ và tính chính sách pháttriển cần cho các nước công nghiệp hóa
4.2 Thị trường TMĐT hiện tại
Trong thời gian qua, tất cả các số liệu đều ngày càng khẳng định vai trò chủchốt của Internet trong thương mại đối với quảng đại công chúng Thương mại bán
lẻ trực tuyến sẽ tăng nhanh, ở châu Âu ngưỡng mang tính chất tượng trưng là 1%tổng doanh thu: tăng trưởng tri thức (Growth for Knowledge) đóng góp 2,8% vào
Trang 15doanh số bán ở châu Âu trong năm 2002, đạt mức tăng trưởng 23%/năm Ở Pháp,kinh doanh điện tử cũng phát triển mạnh Doanh thu của năm 2003 đạt 2,39 tỷ euro(tăng 65% so với năm 2001), năm 2003 đạt 3,5 tỷ euro theo đánh giá của hãngBenchmark Group Quý 1 năm 2004, 31,4% số người sử dụng Internet (6,3 triệungười) cho biết đã sử dụng phương thức mua hàng trực tuyến, tăng so với nămtrước đó là 27,9% Tổ chức nghiên cứu và điều tra của Pháp Le Baromètre du e-commerce cho rằng con số này sẽ tiếp tục tăng: tháng 6 năm 2003, 36% số người sửdụng Internet của Pháp đã tiếp tục mua trực tuyến trong 6 tháng cuối, so với thời kỳtrước đó chỉ là 30% Do tỷ lệ người sử dụng Internet tăng: từ 37% đến 44% số dânPháp, tỷ lệ người mua trực tuyến trong dân số Pháp đã tăng từ 11,1% lên 15,8% Còn doanh thu trực tuyến của Mỹ, theo hãng Forrester Research và Shop.org(Hiệp hội các nhà bán hàng trực tuyến của Mỹ) đạt 48% năm 2002, bằng 76 tỷUSD, chiếm 3,6% thương mại bán lẻ của Mỹ Năm 2003, doanh thu trực tuyến tăngmạnh đạt 100 tỷ USD, chiếm 4,5 tổng số thương mại bán lẻ Văn phòng Điều tracủa Mỹ Le Census Bureau americain và hãng eMarketer đều đưa ra xu thế tăng:27% tăng trưởng và 45,6 tỷ USD doanh thu trong năm 2002, chiếm 1,4% thươngmại bán lẻ là 326 tỷ USD chỉ tăng trưởng 3,1%/năm Quý 4 năm 2002, doanh thutrực tuyến đạt 14,3 tỷ USD, bằng 1,6% doanh thu bán lẻ
Một hãng cẩn trọng trong dự báo là hãng Jupiter dự báo năm 2007, doanh sốbán trực tuyến sẽ chiếm 5% doanh số bán lẻ Hãng Dieringer Research Group mớiđây đã xác nhận dữ liệu thu được từ nhiều năm nay: mỗi một doanh vụ trực tuyếnkéo theo một doanh vụ lớn gấp 2 lần trong các cửa hàng truyền thống Nghiên cứucũng cho thấy, Internet có ảnh hưởng nâng cao giá trị hình ảnh của nhãn hàng.Khoảng 45% người sử dụng Internet, bằng 1/4 người mua hàng Mỹ, thừa nhận chủyếu họ nhận thức được là nhờ các hãng hàng không, khách sạn và các sản phẩm giadụng, tài chính và bảo hiểm được cải biến qua mạng (Net) Theo hãng UnityMarketing, Internet tác động đến 44% người tiêu dùng các sản phẩm cao cấp xa xỉnhiều hơn là tác động qua quảng cáo trong báo viết (42%) hoặc trên ti vi (28%).Năm 2002, đã có 32% sản phẩm thông tin và phần mềm, 17% số vé xem biểu diễn
Trang 16và 12% số sách được bán qua Internet Internet cũng ảnh hưởng mạnh đến ngườimua ôtô: 63% người dùng Internet của Canađa lên mạng Internet để mở rộng tầmnhìn, nghiên cứu các mẫu mã và cửa hàng Hãng Jupiter khẳng định 1/3 trong số 40triệu xe ôtô hạ giá được bán mỗi năm ở Mỹ là được tìm trên Internet
Lợi nhuận ở đây là cho 70% thương nhân trực tuyến trong năm 2002, so với56% của năm 2001 Vépéscistes cũng đã được hưởng lợi từ tiền trực tuyến trongnăm 2001; năm 2002, các cửa hàng truyền thống quảng cáo trên Internet cũng đãbắt đầu thu được lợi nhuận Đồng thời, các khách hàng cũng cảm thấy hài lòng: cáckết quả mới nhất về Chỉ số hài lòng của khách hàng của Mỹ (ACSI : AmericanCustomer Satisfaction Index) cho thấy, các nhà bán hàng trực tuyến hài lòng với sốđiểm là 83 trên 100, cao hơn 6 điểm so với chỉ số của năm 2001 Thương mại theokiểu truyền thống, bị giảm 0,2 điểm, chỉ đạt 74,6 điểm Hãng Sofres cũng điều trathấy ở Pháp 91% người mua hàng trực tuyến cảm thấy hài lòng
Đặc điểm của kinh doanh điện tử là tạo ra khả năng rất chủ động và năngđộng Đặc điểm này đặc biệt có giá trị đối với những người ở xa các trung tâm lớn
Uỷ ban Du lịch của tỉnh Eure-et-Loir, ở Pháp, đã thực hiện một nghiên cứu minhchúng rất rõ cho đặc điểm này Uỷ ban đã có thể "cứu" được tỷ lệ sử dụng nhà vànhà có trang bị đồ đạc đáng kể, thậm chí đã có được tỷ lệ 84% thay vì dự kiến 80%,nhờ vào chiến dịch quảng bá vào tháng 7 năm 2003 trên Lastminute.com, địa chỉ
Internet về du lịch Internet de voyage, cho công chúng Pháp Mục tiêu là bù cho sự
suy giảm nhu cầu của dân Anh, được xác định hồi cuối tháng 5 Chi phí giao dịch là0,63 euro và có thể chiến dịch sẽ được mở rộng trong năm 2004 cho công chúng ởchâu Âu
Thống kê về giao dịch thương mại điện tử
Theo thống kê, thị trường thương mại điện tử thế giới đã đạt mức tăng trưởng khoảng 70% mỗi năm và đạt gần 4.000 tỷ USD năm 2005 Các chuyên gia cho rằng thị trường kinh doanh đầy tiềm năng này đang là nghề hái ra tiền và tạo cơ hội cho các doanh nghiệp, nhất là các nhà kinh doanh nhỏ
Công cụ kinh doanh cực kỳ hữu hiệu
Từ khi Internet ra đời, các doanh nghiệp đã nhanh chóng nhận ra lợi ích của
Trang 17việc sử dụng nó để quảng bá thông tin, hỗ trợ việc thực hiện giao dịch thông qua mạng Internet và họ đã triệt để khai thác thế mạnh của Internet vào kinh doanh Từ
đó, khái niệm thương mại điện tử ra đời thương mại điện tử bao gồm các giao dịch nhờ vào Internet giữa các đối tác trong kinh doanh, ví dụ giữa nhà cung cấp và khách hàng, giữa các đối tác kinh doanh v.v
Theo số liệu thống kê, doanh thu từ thương mại điện tử trên toàn thế giới trong năm 2000 là gần 280 tỉ USD, năm 2001 là gần 480 USD, năm 2002 là gần
825 tỉ USD, năm 2003 là hơn 1.400 tỉ USD, năm 2004 là gần 2.400 tỉ USD và ước tính trong năm 2005 là gần 4.000 tỉ USD Các số liệu này cho thấy thương mại điện
tử tăng trưởng gần 70% mỗi năm Cũng theo thống kê, trong năm 2002, chi phí dành cho quảng cáo trên Internet của toàn thế giới là 23 tỉ USD, trong đó châu Á
đã chi 3 tỉ USD cho quảng cáo trên Internet.
Trong ASEAN, loại trừ Singapore là nước nổi tiếng về phát triển kinh tế và công nghệ, Thái Lan đang là nước tận dụng thế mạnh của Internet và thương mại điện tử khá tốt Hầu hết các doanh nghiệp đều có website riêng, viết bằng tiếng Anh
và tiếng Thái, đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu và
du lịch Khách hàng từ các nước trên thế giới có thể dễ dàng mua hàng hay đặt dịch vụ du lịch ở Thái thông qua Website.
Thương mại điện tử càng lúc càng phát triển trên thế giới và doanh thu do thương mại điện tử mang lại cũng tăng gần gấp đôi mỗi năm, đó là lý do nhiều nước đang ráo riết khuyến khích, thúc đẩy và xây dựng cơ sở cho việc phát triển thương mại điện tử Một trong những nước đang phát triển ở châu á thành công trong việc phát triển thương mại điện tử là Trung Quốc
Công ty IResearch vừa đưa ra một nghiên cứu cho biết rằng tổng doanh số quảng cáo trực tuyến của Trung Quốc đã vượt qua 3 tỷ Nhân dân tệ trong năm
2005, tức khoảng 374 triệu USD Thị trường quảng cáo trực tuyến ở Trung Quốc hiện đang có tốc độ tăng trưởng thuộc dạng hàng đầu thế giới với tổng doanh số năm 2005 là 3,13 tỷ Nhân dân tệ, tăng 77,1% so với năm 2004 và tăng đến 760%
so với năm 2001 Tỷ lệ của quảng cáo trực tuyến trong tổng doanh số quảng cáo đã
Trang 18tăng từ 0,5% trong năm 2001 đến 2,3% trong năm 2005.
Tổng doanh số quảng cáo trên mạng Sina đạt đến 680 triệu Nhân dân tệ, chiếm 21,7% thị phần quảng cáo online Trung Quốc; mạng Sohu chiếm 15% thị phần; NetEase chiếm 8%; QQ chiếm 3,8% và TOM chiếm 2,2% Tổng thị phần của
5 mạng lớn nhất Trung Quốc này đã chiếm đến 53,4% thị phần quảng cáo trực tuyến tại Trung Quốc.
Quảng cáo về nhà đất, sản phẩm công nghệ thông tin và dịch vụ trực tuyến là
3 lĩnh vực quảng cáo đứng hàng đầu trong mọi lĩnh vực quảng cáo Riêng Samsung
đã chi đến 60,35 triệu Nhân dân tệ để quảng cáo cho các sản phẩm của mình, trở thành công ty đứng hàng đầu về số tiền chi cho quảng cáo online tại Trung Quốc; tiếp sau là China Mobile với 41,1 triệu Nhân dân tệ và NetEase với 39,13 triệu Nhân dân tệ IResearch dự báo rằng quảng cáo trực tuyến ở Trung Quốc trong năm
2006 sẽ đạt gần đến 5 tỷ Nhân dân tệ và con số này sẽ là 36,7 tỷ Nhân dân tệ, tức khoảng 4 tỷ USD, vào năm 2010.
Chuyển dần sang mua bán trực tuyến
Ở châu Âu, Pháp là một nước đi đầu trong phát triển thương mại điện tử Theo số liệu thống kê tại Pháp, đã có hơn 15.000 người dân nước này chi mỗi năm 25% thu nhập cho các hoạt động thương mại điện tử Tại Pháp, eBay là một công
ty chuyên về thương mại điện tử và đấu giá hàng đầu thế giới, trung bình mỗi tháng trên trang mạng của hãng này có tới hơn hai lượt người truy cập, tìm kiếm hàng hoá Trên trang mạng này, người ta có thể tìm kiếm mọi thứ, từ máy bay, xe ô tô, hàng tiêu dùng cho đến cổ vật
Năm 2005, tổng giá trị hàng hoá bán trên eBay đạt hơn 44 tỷ USD, với hơn 60 triệu hàng hoá thường xuyên được đề nghị bán và công ty này đã thu lợi hơn 1,1 tỷ USD, tăng 39% so với năm 2004 Một nhà kinh doanh thương mại điện tử của Pháp tên là Courbon, chuyên buôn bán ô tô, cho biết, trung bình mỗi tháng ông ta
có thể bán 30 chiếc xe, nhờ mạng eBay Mặc dù chỉ là một trang mạng thương mại, nhưng eBay có số người truy cập kỷ lục-hơn 180 triệu người, tương đương dân số của nước đông dân thứ sáu trên thế giới Các chuyên gia cho rằng sức hấp dẫn này
Trang 19của trang thương mại điện tử, các phương tiện truyền thông khác không thể sánh nổi.
Một trong những nguyên nhân khiến thương mại điện tử đã “thống trị” thị trường một số nước phát triển và tăng trưởng nhanh là do giá thuê cửa hàng, nhân công ở các thành phố lớn (chẳng hạn như Pari-Pháp) quá cao, khiến ngày càng nhiều người chuyển hình thức kinh doanh từ thuê cửa hàng sang kinh doanh trên mạng Và, các cuộc buôn bán, thương lượng, đấu giá trên mạng điện tử càng sôi động, càng thu hút nhiều người tham gia
Tuy nhiên, để giữ lượng khách hàng ổn định và tăng sức hấp dẫn, sự tin tưởng cho khách hàng, chủ các trang mạng thương mại luôn phải cố gắng tăng cường công tác bảo đảm độ tin cậy về tài chính và mở rộng phạm vi kinh doanh Chẳng hạn, trang mạng eBay luôn bảo đảm nguyên tắc mua-bán rất rõ ràng Sau khi khách hàng trả tiền các sản phẩm mà họ thắng thầu trên mạng, người bán sẽ lập tức chuyển hàng đến đúng địa chỉ cho người mua Nguyên tắc này được eBay bảo đảm, khiến cả bên mua và bán đều rất tin cậy, yên tâm khi thực hiện giao dịch thương mại điện tử.
Mặc dù doanh thu từ thương mại điện tử đã đạt hàng chục tỷ USD mỗi năm, song các chuyên gia nghiên cứu thị trường cho rằng, thương mại điện tử là một thị trường vẫn còn rất mới mẻ, đầy tiềm năng và giàu sức hấp dẫn Đây chính là cơ hội cho các doanh nhân trẻ và các doanh nghiệp trẻ phát triển và làm giàu.
Nguồn: VnEconomy
4.3 Môi trường TMĐT của Việt Nam
Sự phát triển của Internet và ảnh hưởng của Internet đến cộng đồng vẫn tiếptục tăng trưởng rất lớn hàng năm Các số liệu mới nhất cho thấy, trong 12 thángqua, Việt Nam đã có thêm 4 triệu người dùng Internet, trở thành nước đứng thứ 17thế giới về số người dùng Internet (16 triệu người) Cũng trong 12 tháng qua, dunglượng truy cập quốc tế tăng 50%, kết nối Internet băng rộng cũng tăng hơn gấp đôi,
từ 310.000 lên 753.000 Chỉ số sẵn sàng cho nền kinh tế điện tử của chúng ta đượcxếp hạng 65/69 quốc gia, tăng 1 bậc so với năm 2006 và được chấm 3,73 điểm, caohơn nhiều so với số điểm 3,12 của một năm trước đó
Trang 20Song song với sự phát triển của thị trường chung, từ phía Chính phủ các nỗ lựcxây dựng và phát triển TMĐT cũng được đẩy mạnh Quyết định phê duyệt kế hoạchphát triển TMĐT của Thủ tướng Chính phủ ký ban hành từ năm 2005 đã nêu rõ mụctiêu đến năm 2010, khoảng 60% doanh nghiệp có quy mô lớn tiến hành giao dịchTMĐT B2B, khoảng 80% doanh nghiệp vừa và nhỏ biết tới tiện ích của TMĐT vàtiến hành giao dịch TMĐT B2C hoặc B2B, khoảng 10% hộ gia đình tiến hành giaodịch B2C hoặc C2C Đồng thời, Chính phủ còn ban hành một loạt Luật và Nghịđịnh tạo khung pháp lý vững chắc hỗ trợ cho TMĐT như: Luật Giao dịch điện tử,Luật Thương mại sửa đổi, Nghị định TMĐT( 09/06/2006), Nghị định chữ ký số vàdịch vụ chứng thực chữ ký số (15/02/2007), Nghị định về Giao dịch điện tử tronghoạt động tài chính (23/02/2007), Nghị định về Giao dịch điện tử trong hoạt độngngân hàng (08/03/2007) và đang tiến hành thêm một loạt các dự thảo
M t s v n b n ột số văn bản được ban hành năm 2006 ố văn bản được ban hành năm 2006 ăn bản được ban hành năm 2006 ản được ban hành năm 2006 được ban hành năm 2006 c ban h nh n m 2006 ành năm 2006 ăn bản được ban hành năm 2006
Năm 2006
18/1/2006
Quyết định 04/2006/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước về việc banhành Quy chế an toàn, bảo mật hệ thống công nghệ thông tin trongngành Ngân hàng
23/3/2006 Chỉ thị 10/2006/CT-TTg về việc giảm văn bản giấy tờ hành chính trong
hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước
28/4/2006
Quyết định 13/2006/QĐ-BBCVT của Bộ Bưu chính Viễn thông về chứcnăng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm Ứng cứukhẩn cấp máy tính Việt Nam
5/5/2006
Quyết định 28/2006/QĐ-BTC của Bộ Tài chính về việc ban hành mứcthu phí, lệ phí cấp phép và quản lý tên miền, địa chỉ internet tại ViệtNam
8/5/2006
Quyết định 14/2006/QĐ-BBCVT của Bộ Bưu chính Viễn thông về việcđiều chỉnh cước dịch vụ truy cập internet qua mạng điện thoại công cộngcủa Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam
Trang 211/6/2006 Thông tư liên tịch số 60/2006/TTLT-BVHTT-BBCVT-BCA về quản lý
1/8/2006
Công văn của Bộ Bưu chính Viễn thông số 1515/BBCVT-VT về việchướng dẫn thực hiện
Thông tư liên tịch về quản lý trò chơi trực tuyến
Ngày 25/06/2007, Bộ Nội vụ kí quyết định thành lập Hiệp hội Thương mạiđiện tử Việt Nam (VETCO) nhằm mục đích tập hợp, đoàn kết, hợp tác, hỗ trợ, bảo
vệ các thành viên thuộc hội để phát triển lĩnh vực thương mại điện tử ở Việt Nam
Doanh nghiệp Việt Nam đa số là doanh nghiệp vừa và nhỏ nên TMĐT sẽ làcầu nối giúp mở rộng thị trường, tham gia hội nhập tích cực Với một chi phí rấtthấp, khả thi, bất cứ một doanh nghiệp Việt Nam nào cũng có thể nhan chóngtham gia TMĐT để đem lại cơ hội kinh doanh cho doanh nghiệp
Tương quan giữa đầu tư và doanh thu của TMĐT
Trang 22TMĐT ở Việt Nam đang trong quá trình phát triển Số người tham gia truycập Internet còn thấp nên chưa tạo được một thị trường nội địa Mặt kháccác cơ sở để phát triển TMĐT ở Việt Nam còn chưa hoàn thiện: hạ tầng viễnthông chưa đủ mạnh và cước phí còn đắt, hạ tầng pháp lý còn đang xây dựng, hệthống thanh toán điện tử chưa phát triển Tất cả điều là những rào cản cho pháttriển TMĐT Việt Nam đang trong quá trình tích cực hội nhập vào kinh tế khuvực và thế giới Các doanh nghiệp nước ngoài, mạnh về vốn, công nghệ và kinhnghiệm sẽ thông qua TMĐT để đi vào thị trường Việt Nam, cạnh tranh với cácdoanh nghiệp Việt Nam
Việt Nam đang được đánh giá là nơi có tiềm năng cho phát triển TMĐT Tốc
độ tăng trưởng sử dụng Intetnet cao nhất trong khu vực ASEAN là: 128,4% và trên1,9 triệu thuê bao Intetnet là thuận lợi cho sự phát triển TMĐT Tập đoàn IDG đánhgiá về tăng trưởng thị trường CNTT Việt Nam đến năm 2008 đạt mức chi tiêu nằmtrong topten các nước tăng trưởng hàng đầu thế giới, với tỷ lệ tăng trưởng đạt 16%
Một số số liệu thống kê liên quan đến TMĐT Việt Nam năm 2006
- Số người sử dụng Internet ở VN chiếm 17,5% bình quân dân số (khoảng 14.5 triệu người), vượt qua ngưỡng trung bình của Châu Á và đạt ngưỡng trung bình
Trang 23của thế giới.
- Tổng số thuê bao ADSL đạt 453.700 thuê bao
- Số máy tính trên 100 dân: 1.26 , thấp nhất trong khu vực
- Dung lượng kết nối Internet quốc tế từ VN tăng gấp đôi so với năm 2005, đạt 325Mbps
- Các nhà cung cấp dịch vụ kết nối Internet lớn: VNPT (42.79% thị phần), FPTTel (19.66% thị phần), Viettel (15.33%)
- Thị trường thanh toán thẻ của VN: số lượng thẻ phát hành: 4triệu thẻ trong đó: có 3.6triệu thẻ thanh toán nội địa và 0.4triệu thẻ thanh toán quốc tế.
- Có khoảng 200 công ty chính thức hoạt động loại hình kinh doanh trực tuyến
là nội dung số ở các lĩnh vực: Nội dung Internet, Nội dung di động, Trò chơi điện
tử, Đào tạo trực tuyến, Nhạc - Phim.
(Nguồn: Báo cáo Thương mại điện tử 2006)
Doanh nghiệp Việt Nam đa số là doanh nghiệp vừa và nhỏ nên TMĐT sẽ làcầu nối giúp mở rộng thị trường, tham gia hội nhập tích cực Với một chi phí rấtthấp, khả thi, bất cứ một doanh nghiệp Việt Nam nào cũng có thể nhan chóngtham gia TMĐT để đem lại cơ hội kinh doanh cho doanh nghiệp
TMĐT ở Việt Nam đang trong quá trình phát triển Số người tham gia truy cậpinternet còn thấp nên chưa tạo được một thị trường nội địa Mặt khác các cơ
sở để phát triển TMĐT ở Việt Nam còn chưa hoàn thiện: hạ tầng viễn thông chưa đủmạnh và cước phí còn đắt, hạ tầng pháp lý còn đang xây dựng, hệ thống thanh toánđiện tử chưa phát triển Tất cả điều là những rào cản cho phát triển TMĐT
Việt Nam đang trong quá trình tích cực hội nhập vào kinh tế khu vực vàthế giới Dù muốn hay không các doanh nghiệp cũng phải đối mặt với sự cạnhtranh quyết liệt không chỉ trong nước và thị trường quốc tế Các doanh nghiệpnước ngoài, mạnh về vốn, công nghệ và kinh nghiệm sẽ thông qua TMĐT để đivào thị trường Việt Nam, cạnh tranh với các doanh nghiệp Việt Nam
Vì vậy dù muốn hay không các doanh nghiệp Việt Nam phải chấpnhận và tham gia thương mại điện tử Doanh nghiệp Việt Nam ngay từ bây giờ
có thể tham gia TMĐT để:
Trang 24o Giới thiệu hàng hoá và sản phẩm của mình.
o Tìm hiểu thị trường: nghiên cứu thị trường, mở rộng thị trường
o Xây dựng quan hệ trực tuyến với khách hàng
o Mở kênh tiếp thị trực tuyến
o Tìm đối tác cung cấp nguyên vật liệu nhập khẩu
o Tìm cơ hội xuất khẩu
Vấn đề khó khăn nhất đối với việc triển khai TMĐT là có được một cơ sở hạtầng vững chắc để tạo tiền đề cho sự phát triển của TMĐT TMĐT có yêu cầu rấtcao đối với nền CNTT nhằm có được cơ sở hạ tầng chắc chắn, đảm bảo tính bảomật, an toàn cho các giao dịch điện tử xảy ra Và việc xây dựng cơ sở hạ tầng choTMĐT chính là một thị trường mang lại doanh thu rất lớn cho CMC khi mà ViệtNam đang có những yêu cầu phát triển cơ sở hạ tầng Chính việc tiên phong, nhanhchóng đi đầu của CMC vào một thị trường mới, đầy tiềm năng – thị trường cơ sở hạtầng CNTT Việt Nam sẽ mang lại lợi nhuận to lớn
PHẦN 2 KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ THỰC TRẠNG
HOẠT ĐỘNG MARKETING CỦA CÔNG TY
I Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Trong những năm gần đây, doanh số của CMC luôn đạt những mức tăngtrưởng rất vững mạnh Năm 2007, CMC đạt doanh số 1.340 tỷ đồng, tăng gấp 2 lần
so với năm 2006 và lợi nhuận tăng gấp 3 lần Năm 2008, CMC đặt mục tiêu đạtdoanh số tăng gấp đôi so với năm 2007, lên đến 2.800 tỷ đồng (170 triệu USD), vớikhoảng 2.000 nhân viên Sở dĩ đạt được kết quả như vậy một phần là do sự mở rộnghoạt động và nhân công nhưng không thể phủ định rằng hoạt động của CMC ngàycàng hiệu quả và sẽ vượt bậc trong tương lại gần
Trang 25Tổng hợp số liệu CMC Corporation
( Đơn vị: Triệu đồng) n v : Tri u ị: Triệu đồng) ệu đồng) đồng) ng)
STT Chỉ tiêu ( hợp nhất) Năm 2005 ( hợp nhất) Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 dự kiến
Doanh thu thuần đã trừ hàng
3 Lợi nhuận trước thuế 100.457 305.214 805.035
4 Thuế phải nộp ngân sách phát sinh 15.508 27.538 50.647
Trang 26Chỉ tiêu 2005 2006 2007 2007 so với
2005 (%) 2006(%)
Tổng doanh thu 656.766 751.027 1.340.000 204,03 178,42Doanh thu thuần 614.646 704.106 1.456.282 236,93 206,83Lợi nhuận sau thuế 3.662 19.512 48.780 1332,06 250
Các chỉ tiêu về doanh thu và lợi nhuận của công ty trong 3 năm qua đều tăng,chứng tỏ hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty tương đối tốt Doanh thu từnăm 2005 là 656.766 đến năm 2007 đã tăng lên là 1.340.000, đạt 204,03% so vớinăm 2005 và178,42% so với năm 2006 Lợi nhuận sau thuế còn tăng mạnh hơn, đặcbiệt là năm 2006 so với 2005, từ 3.662 năm 2005 đến 19.512 2006, đạt 1332,06%
tổng tài sản
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát =
tổng nợ phải trả
Trang 27Hệ số khả năng thanh toán tổng quát cũng đã giảm qua các năm Năm 205 là1,27 Năm 2006 là 1,21 đến năm 2007 giảm tới còn 1,14 A thêm cái nợ ptrả năm
2007 là 561.309
Hệ số khả năng thanh toán chung của công ty trong 3 năm đều >1 tức là vớilượng tài sản hiện có công ty hoàn toàn có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ.Tuy nhiên, công ty cũng cần tìm cách giảm các khoản nợ, vì trong 3 năm qua hệ sốkhả năng thanh toán của công giảm dần từ 1,27 năm 2005 xuống còn 1,14 năm
2007, đạt 89,76% Điều này chứng tỏ công ty đang theo đuổi chính sách mạo hiểm.Ngày càng giảm tỷ số này xuống sẽ giúp doanh nghiệp giảm được chi phí do sửdụng những nguồn vốn có chi phí thấp để tài trợ cho tài sản Nhưng ngược lại công
ty phải đối mặt với việc mất khả năng thanh toán
Vốn lưu động của công ty tăng từ năm 2005 đến 2007 và tăng với tốc độ khácao; cho thấy nguồn vốn của công ty không những chỉ đủ để phục vụ cho các hoạtđộng sản xuất kinh doanh mà còn có thể được dùng vào để đầu tư cho các dự án khảthi Bên cạnh đó, công ty cũng đang trích ra 1 phần vốn của mình để đầu tư cho các
dự án đang chờ thu hồi Việc đầu tư này sẽ mang lại nguồn thu cho công ty nhưngcông ty cũng cần cân nhắc việc đầu tư cũng như lượng vốn đầu tư để việc đầu tưvừa mang lại hiệu quả vừa không ảnh hưởng đến hoạt động sxkd hàng ngày
Thuế thu nhập doanh nghiệp của công ty CMC cũng tăng dần qua các năm.Năm 2005 đạt 28.127 triệu đồng, năm 2006 đạt 85.460 triệu đồng đến năm 2007 thìtăng đáng kể đạt 225.409 triệu đồng, Thuế lại là nguồn thu chủ yếu của ngân sáchnhà nước, giúp nhà nước có thể đầu tư cơ sở hạ tầng, kiến trúc thượng tầng… cũngnhư tạo sự phát triển cho kinh tế xã hội Như vậy hàng năm CMC đã đóng góp đáng
kể vào ngân sách nhà nước từ đó giúp ích cho toàn xã hội
Biểu đồ doanh thu thuần – lợi nhuận sau thuế
Trang 28năm2007
Doanh thu thuan Loi nhuan truoc thue
Qua biểu đồ ta thấy doanh thu thuần của CMC là khá cao, và cũng đã tăng dầnqua các năm, năm 2007 đã đạt gần 1.456.282 triệu đồng Tuy nhiên doanh thu thuầnkhá lơn nhưng lợi nhuận trước thuế tuy có tăng dần qua các năm nhưng lại không đủlớn Tốc độ tăng lợi nhuận trước thuế năm 2007 đạt gần 165% so với năm 2006, còntốc độ tăng doanh thu năm 2007 đạt gần 106 % so với năm 2006 Tuy tốc độ tăng củadoanh thu thuần và lợi nhuận trước thuế là gần như nhau nhưng khoảng cách về sốlượng tuyệt đối mà lợi nhuận trước thuế đạt được lại nhỏ hơn nhiều so với doanh thu.Điều này chứng tỏ, công ty CMC đã có kết quả kinh doanh khá khả quan, đã thu hútđược nhiều khách hàng, sản phẩm đã bán được với số lượng lớn… tuy nhiên CMCcũng cần phải có kế hoạch giảm thiểu chi phí hơn nữa để có thể đạt được mức lợinhuận trước thuế cao hơn nữa để tương ứng hơn với doanh thu đạt được
II Thực trạng hoạt động Marketing
1.1 Cơ cấu tổ chức hoạt động Marketing tại CMC Corp
Các hoạt động Marketing của CMC được thực hiện bởi Ban thương hiệu vàquan hệ công chúng và Ban tiếp thị, phát triển kinh doanh với chức năng và nhiệm
vụ riêng biệt
1.1.1 Ban thương hiệu và quảng bá công chúng
Trang 29Ban thương hiệu và quan hệ công chúng có nhiệm vụ:
- Xây dựng chiến lược thương hiệu, kế họach truyền thông và tổ chức triển khai
- PR nội bộ và PR cổ đông: Định hướng các thông tin tuyên truyền nhằm nângcao lòng tự hào của các nhân viên với công ty, tổ chức các kênh thông tin như:Website, bản tin nội bộ, các sinh họat mang tính nội bộ khác cho đối tượng nhânviên Tổ chức các thông tin kịp thời tới cổ đông một cách có định hướng Xây dựngnhững hình ảnh tốt khiến cổ đông tin tưởng vào công ty
- Phát triển và quản trị thương hiệu: Xác định rõ các yếu tố kỹ thuật về thươnghiệu để làm định hướng cho mọi họat động về thương hiệu, quảng bá xây dựng tínhphổ cập của thương hiệu, tạo ra uy tín của thương hiệu, xây dựng lòng tin của kháchhàng, của nhà đầu tư, của giới truyền thông và các cơ quan quản lý nhà nước vàothương hiệu của công ty
- Phối hợp thông tin giữa tập đòan và các công ty thành viên.: Đảm bảo địnhhướng và các họat động thông tin của công ty thành viên nằm trong khuôn khổ địnhhướng đã được lãnh đạo công ty tập đòan phê duyệt hỗ trợ các đơn vị thành viên về
kỹ thuật và nguồn lực nếu được yêu cầu (trong phạm vi có thể) để thực hiện tốt nhấtcác họat động truyền thông
- Xây dựng kiểm soát quy chế truyền thông của tập đoàn
- Quan hệ với các cơ quan chính phủ và cơ quan truyền thông: Xây dựng ảnhhưởng và hình ảnh tốt của tập đòan với các đơn vị truyền thông và các đối tác
- Là cơ quan phát ngôn của Tập đoàn
1.1.2 Ban tiếp thị, phát triển kinh doanh.
Ban tiếp thị, phát triển kinh doanh của CMC Corp có nhiệm vụ:
- Tiếp thị :Tìm kiếm và tiếp thị các Dự án chiến lược tiềm năng, đóng vai trò
là đơn vị đại diện cho tập đoàn trong các dự án đặc biệt
- Phát triển kinh doanh: Chịu trách nhiệm và hỗ trợ ban tổng giám đốc trongviệc hoàn thiện các mục tiêu kinh doanh của CMC Corp cũng như các công ty thànhviên đã được đưa ra trong kế hoạch và chiến lược phát triển kinh doanh
Đưa ra các báo cáo phân tích, đánh giá, và dự báo định kỳ (quý/năm) chocông tác kinh doanh của CMC Corp và các công ty thành viên
Chịu trách nhiệm và hỗ trợ trong việc kinh doanh các dự án phức tạp, có
Trang 30nhiều đơn vị công ty thành viên tham gia.
Đóng vai trò là đơn vị đại diện trong mỗi hoạt động kinh doanh mới củaCMC Corp, cũng như trong việc liên lạc với các đối tác chiến lược
Thực hiện việc xây dưng chính sách, kiểm soát và quản lý các hoạt độngkinh doanh của CMC Corp và các công ty thành viên
Ngoài ra, tại các công ty thành viên đều có những bộ phận chuyên tráchMarketing phụ trách vấn đề Marketing của công ty mình, tuy nhiên vẫn phải thựchiện mục tiêu chung của CMC Corp để thống nhất xây dựng hình ảnh tổng thể củaCMC như một thương hiệu mạnh, tin cậy trong tâm trí khách hang, marketingnhững hình ảnh cốt lõi của tập đoàn, xây dựng hình ảnh trong công chúng mục tiêu– các cơ quan chính phủ, các cơ quan, doanh nghiệp và người tiêu dùng
1.2 Các hoạt động Marketing của CMC Corp.
1.2.1 Chính sách sản phẩm
Là đơn vị hàng đầu về Công nghệ tại Việt nam, CMC luôn xác định hoạt độngnghiên cứu phát triển, tạo ra các sản phẩm đặc thù là sức mạnh cạnh tranh và khácbiệt của Công ty Do đó Công ty đã đầu tư nhân lực cũng như tài chính để thực hiệnnhiệm vụ nghiên cứu và phát triển ở cấp Tập đoàn và tại các công ty thành viên.Trong đội ngũ nghiên cứu và phát triển của CMC Corp không chỉ có nhiều kỹ sưđạt chứng chỉ các hãng hàng đầu về CNTT như Intel, Microsoft, Cisco,… mà còn
có các cử nhân các ngành ngoại thương, mỹ thuật, thương mại, cùng hợp tác khảosát, nghiên cứu, tổng hợp thường xuyên các phát triển công nghệ, các nhu cầu mớicủa thị trường và khách hàng
Giải pháp của CMC được xây dựng trên nền tảng tích hợp tổng thể các hệthống hạ tầng cho trung tâm dữ liệu, kết hợp với các hệ thống quản trị, hệ thốngđiều kiển khiển tự động, thông minh nhằm mang đến cho khách hàng các lợiđiểm như:
- Áp dụng các công nghệ, sản phẩm tiên tiến nhất nhằm đảm bảo xây dựngmột môi trường data center chuyên nghiệp phù hợp với yêu cầu phát triển lâu dàicủa các doanh nghiệp
- Thiết lập môi trường tiêu chuẩn, an toàn và ổn định cho triển khai các hệ
Trang 31thống công nghệ thông tin như: hệ thống điện, chống sét, chống cháy, hệ thốngkiểm soát truy nhập vật lý.
- Đảm bảo các điều kiện cho hoạt động liên tục của hệ thống công nghệ thôngtin, có khả năng chống lại các sự cố về điện, sự cố về cháy, nổ ảnh hưởng đến hoạtđộng của trung tâm dữ liệu
- Cung cấp điều kiện tiêu chuẩn về môi trường như: hệ thống thông gió, làmmát, hệ thống chống ẩm đảm bảo duy trì hoạt động ổn định của trung tâm dữ liệu vànâng cao tuổi thọ các thiết bị phần cứng
- Đảm bảo điều kiện hạ tầng cho nhu cầu vận hành, bảo trì và phát triển các hệthống công nghệ thông tin tại trung tâm dữ liệu trong tương lai
Phạm vi ứng dụng: Các doanh nghiệp, tổ chức mà có mô hình ứng dụng
CNTT phục vụ các hoạt động tác nghiệp như: ngân hàng, doanh nghiệp kinh doanhlớn, trường đại học, các bộ ngành của chính phủ Trung tâm dữ liệu được xây dựngtrong phạm vi một địa điểm và triển khai các thiết bị CNTT đóng vai trò trung tâmđiều hành mọi hoạt động của các hệ thống
CMC Corp cung cấp cho thị trường ba dòng sản phẩm giải pháp đặc thù:Cisco Unified Contact Center Express: giải pháp trung tâm hỗ trợ kháchhàng, đáp ứng 24/7, giải quyết đa dạng về tiếp nhận nhu cầu đầu vào (qua phone, e-mail, SMS…), có tính định tuyến trả lời thông minh, chính xác (theo nhóm dịch vụhoặc chức năng quản lý), kèm theo cách thức trả lời đa dạng
Data Center (DC): đây là giải pháp hạ tầng cơ sở dữ liệu, đáp ứng tiêu chuẩn
DC, phục vụ 24/7, được kết hợp với đường truyền tốc độ cao (giá cả cạnh tranh),tích hợp hệ thống PC chùm
Liên kết chứng khoán với ngân hàng: đây là giải pháp cầu nối giữa ngânhàng và các công ty chứng khoán, nhằm hỗ trợ các công ty chứng khoán trong việckiểm soát quá trình tham gia của các nhà đầu tư, thông qua tài khoản của họ tạingân hàng
CMC Corp đã hợp tác cùng với IBM Việt Nam mang đến thiết bị IBMWebSphere DataPower - thiết bị chuyên dụng nhằm tăng tốc khả năng triển khaiứng dụng CNTT theo mô hình SOA (mô hình kiến trúc hướng dịch vụ) Thiết bị
Trang 32này có khả năng tăng tốc xử lý website (sử dụng XML) lên tới 20 - 25 lần, tíchhợp dễ dàng với nhiều loại ứng dụng khác nhau, và có khả năng ngăn chặn cáccuộc tấn công sử dụng XML với các ứng dụng web Điều này mang lại nhiều lợiích cho khách hàng, từ việc cải thiện các giao dịch tài chính trực tuyến cho tớitối ưu hóa dịch vụ hàng hóa, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu phát sinh của ngành tàichính ngân hàng
Nhằm hỗ trợ cho nhu cầu xây dựng các trung tâm dữ liệu của khách hàng,CMC đã phối hợp với các hãng công nghệ hàng đầu trên thế giới như Siemens,Powerware, AMP, APC, …, trong việc tích hợp xây dựng ra các giải pháp tổng thể
về hạ tầng với tiêu chuẩn phù hợp với mọi quy mô của khách hàng
Với chiến lược sản phẩm và dịch vụ 4Blue của CMC Corp khách hàng,
nhất là khách hàng doanh nghiệp, được cung cấp “dịch vụ viễn thông và công nghệthông tin một cửa” với chất lượng, quy mô toàn quốc và quốc tế
tốc độ cao, dịch vụ băng rộng không dây, dịch vụ truyền số liệu, dịch vụ thoại VoIP
dưới sự hỗ trợ của công nghệ thông tin và truyền thông như: dịch vụ tổng đài hỗ trợthông tin, dịch vụ về tổng đài trả lời tự động…
thuê chỗ đặt máy chủ, dịch vụ lưu trữ website, dịch vụ quản trị chuyên nghiệp, dịch
vụ bảo mật
dung số, dịch vụ tương tác trực tuyến, giải pháp ngôi nhà thông minh
1.2.2 Chính sách phân phối
Kênh phân phối của CMC được thực hiện độc lập giữa các công ty thànhviên với nhau, mỗi công ty có trách nhiệm tự thiết lập kênh phân phối cho riêngmình theo định hướng thị trường mục tiêu và ngân sách của công ty đó Việcthiết lập kênh phân phối riêng rẽ giúp tăng khả năng linh hoạt của mỗi công ty,không bị gò bó trong mối liên kết chằng chịt với kênh phân phối của các công tythành viên khác
Trang 33Tuy nhiên việc sử dụng các kênh nhiều cấp của công ty lại làm cho vấn đề thuthập thông tin vì những người sử dụng cuối cùng và thực hiện việc kiểm soát khókhăn hơn Điều này làm cho các quyết định của ban lãnh đạo công ty không kịp thờivới những biến động của thị trường dẫn tới các quyết định để trở nên kém linh hoạthơn Nhiều khi việc kiểm soát không được chặt chẽ dẫn tới những tiêu cực gây hậuquả không lường, thậm chí là giảm uy tín của công ty.
Mâu thuẫn xuất hiện khi hay hay nhiều kênh của công ty tranh giành nhaucùng một số khách hàng Vấn đề kiểm soát nảy sinh khi những kênh mới mang tínhđộc lập hơn và việc hợp tác khó khăn hơn Hiện nay CMC Corp đang cố gắng hếtsức để đảm bảo sự hài hoà cho các kênh với hy vọng là họ sẽ cộng tác với nhau đểbán hàng cho khách chứ không phải cạnh tranh với nhau CMC Corp cần suy tính
kỹ càng về cấu trúc kênh của mình vì sau này khi vi mô càng mở rộng chắc chắncông ty còn có thể sử dụng thêm nhiều kênh mới vừa tiết kiệm chi phí vừa mang lạihiệu quả cao, chẳng hạn như bán hàng qua mạng và cũng cần phải có thêm nhiềubiện pháp khả thi hơn để giải quyết làm giảm thiểu những xung đột
1.2.3.Chính sách giá cả
Cùng với chính sách sản phẩm, chính sách giá là một yếu tố quan trọng củachiến lược Marketing và là một công cụ quyết định giúp công ty thành công trongviệc định vị sản phẩm, cạnh tranh và đem lại lợi nhuận cho công ty
Trước đây cũng như hiện nay, so với các sản phẩm cùng loại đang có trên thịtrường, giá cả của các xe của công ty được đánh giá hợp lý do do được tính toántrên giá gốc sản phẩm, chi phí vận chuyển, lưu trữ tối ưu giúp giảm thiểu được cácchi phí thêm vào
Tuy nhiên, để định giá sản phẩm thì yếu tố chi phí vẫn rất quan trọng, do đã
có nhiều năm kinh nghiệm sản xuất và kinh doanh cùng với một nguồn lực vữngmạnh nên công ty có được nguồn nhân lực tốt cùng các trang thiết bị sản xuất hiệnđại là cơ sở cho nên việc sản xuất đại trà giảm giá thành sản xuất
Để giảm chi phí nhằm nâng cao lợi nhuận CMC Corp đã và đang áp dụngrất nhiều phương thức:
Trang 34- Sắp xếp lại bộ máy hành chính để giảm chi phí gián tiếp cấu thành sản phẩm.
- Từng bước hiện đại hoá dây chuyền công nghệ thiết bị góp phần nâng caochất lượng tăng năng suất lao động
- Định giá bán sản phẩm căn cứ vào điều kiện sản xuất, những yếu tố kháchquan trên thị trường Căn cứ theo đơn đặt hàng để lựa chọn mức giá cao cho công ty
có thể thu lợi nhuận mong muốn và khách hàng chấp nhận Cách định giá này giúpcông ty phản ứng linh hoạt khi cung cầu trên thị trường thay đổi
- Nghiên cứu thị trường, đánh giá và ước lượng chính xác nhu cầu thị trường
để sử dụng máy móc thiết bị hợp lý có công suất phù hợp, không để xảy ra tìnhtrạng lãng phí nhân lực và máy móc
- Giảm thiểu những chi phí cố định không cần thiết
1.2.4 Chính sách truyền thông
Từ ngày 07/02/2006 CMC bắt đầu thực hiện kinh doanh theo cơ cấu tập đoànnên các chương trình Marketing của CMC Corp chủ yếu xây dựng hình ảnh tổngthể của CMC như một thương hiệu mạnh, tin cậy trong tâm trí khách hang,marketing những hình ảnh cốt lõi của tập đoàn, xây dựng hình ảnh trong côngchúng mục tiêu – các cơ quan chính phủ, các cơ quan, doanh nghiệp và người tiêudùng Các hoạt động chủ yếu được CMC thực hiện chủ yếu là PR các sự kiện, tổchức hội thảo, tham gia event chuyên ngành, tiếp cận khách hàng qua các sự kiệnnày, quảng cáo trên các phương tiện truyền thông
CMC Corp thực hiện truyền thông bằng việc phối hợp giữa các công cụ báochí ( Giải phóng, Hà Nội mới …), Internet( vnexpress.net, cmc.vn, pano, tài trợ, hộichợ các chương trình PR, các chương trình khuyến mãi tới khách hàng của mình
1.3 Các hoạt động mang tính chất chiến lược
1.3.1 Nghiên cứu thị trường và khách hàng:
Hoạt động nghiên cứu thị trường của CMC Corp được tổ chức thường xuyênnhằm mục đích nghiên cứu uy tín của CMC đối với khách hàng, mức độ nhận biết
và mức độ phổ cập về các thông tin về những dịch vụ của CMC tới khách hàng Tùytheo mức độ quan trọng của mục đích nghiên cứu mà CMC Corp có mức kinh phí,cách tổ chức thời gian tổ chức thích hợp Các công ty CMC thuê để nghiên cứu dự
Trang 35án thường là các công ty có kinh nghiệm lâu năm nhằm tạo tính tin cậy cao của kết
quả nghiên cứu như: Công ty nghiên cứu thị trường TNS – VN, ACNielson…
Ngoài ra CMC Corp thường tiến hành hoạt động nghiên cứu Đo lường sứckhỏe thương hiệu thường niên nhằm nghiên cứu về thương hiệu CMC trong tâm tríkhách hàng để từ đó định hướng lại các hoạt động truyền thông nhằm có hiệu quảcao nhất trong các chương trình truyền thông của mình
1.3.2 Tình hình nghiên cứu sản phẩm mới
Là đơn vị hàng đầu về Công nghệ tại Việt nam, CMC luôn xác định hoạtđộng nghiên cứu phát triển, tạo ra các sản phẩm đặc thù là sức mạnh cạnh tranh vàkhác biệt của Công ty Do đó Công ty đã đầu tư nhân lực cũng như tài chính đểthực hiện nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển ở cấp Tập đoàn và tại các công tythành viên
Song song với các hoạt động kinh doanh, CSI đã và đang đầu tư nhân lực
cũng như vật lực để nghiên cứu và đóng gói các sản phẩm mới Một trong các đầu
tư, nghiên cứu và phát triển thành công nhất của CSI là các sản phẩm và dịch vụtrên nền OSS (phần mềm nguồn mở) Để thực hiện các mục tiêu trên CSI đã đầu tưhàng trăm ngàn USD cho các hoạt động nghiên cứu phát triển và mua sắm trangthiết bị cho cácphòng nghiên cứu thử nghiệm
Trong lĩnh vực phát triển phần mềm, hàng năm CMC Soft dành khoảng 5%
doanh thu của mảng phần mềm cho việc nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới,đặc biệt là các sản phẩm ứng dụng trên mã nguồn mở Ngoài việc dành một nguồnchi lớn cho công tác nghiên cứu và phát triển mới, CMCSoft còn dành nguồn lực vàxây dựng những quy trình phát triển phần mềm hiệu quả nhằm đưa ra thị trườngnhững sản phẩm tối ưu nhất với thời gian và giá thành thấp nhất
Quy trình nghiên cứu và phát triển sản phẩm phần mềm của CMC Soft được
mô tả theo quy trình sau:
Trang 36Ngay từ khi được tách ra để hoạt động độc lập, CMS đã có riêng một bộ
phận mang tên Phòng Sản phẩm chịu trách nhiệm nghiên cứu các sản phẩm mới,các giải pháp CNTT mới Trong đội ngũ nghiên cứu và phát triển của CMS khôngchỉ có nhiều kỹ sư đạt chứng chỉ các hãng hàng đầu về CNTT như Intel, Microsoft,Cisco,… mà còn có các cử nhân các ngành ngoại thương, mỹ thuật, thương mại, cùng hợp tác khảo sát, nghiên cứu, tổng hợp thường xuyên các phát triển công nghệ,các nhu cầu mới của thị trường và khách hàng
2 Đánh giá về thị trường CNTT ở Việt Nam hiện nay.
2.1.Xu hướng phát triển của thị trường CNTT ở Việt Nam
Sự phát triển kinh tế khá nhanh và ổn định của nền kinh tế Việt Nam với tốc
độ tăng GDP ước đạt 8,17% Thương mại tiếp tục phát triển mạnh mẽ Về ngoại