Ngày nay ngành công nghiệp sản xuất thực phẩm đang pháttriểnmạnh ở nước ta, nhất là từ khi nhà nước có nhiều chính sách mới khuyến khíchcác doanh nghiệp tư nhân trong và ngoài nước phát triển . Đường là một trong các sản phẩm thực phẩm thiết yếu trong đời sống hàng ngày, chính vì thế đã từ lâu nhà nước ta rất chú trọng đến việc xây dựng các nhà máy đường từ Bắc đến Nam, bên cạnh đó là việc xây dựng các vùng nguyên liệu lâu dài, việc nghiên cứu các công nghệ và thiêt bị hiện đại cũng không kém phần quan trọng. Công nghệ sản xuất đườngtrong mỗinhà máy và đối với các vùng nguyên liệu khác nhau có tính chất đặc thù riêng và sự pháttriển của nó liên quanđến nhiều ngành, trong khuôn khổ bài sermina này chúng em trình bàyý kiến về một vấn đề không kémphần quan trọngtrong các nhà máy sản xuất đường là việc tậndụng năng lượng trong sản xuất đường. Vì sự phức tạp của vấn đề và còn thiếu kinh nghiệm thực tiễn nên sai sót là không tránh khỏi .
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay ngành công nghiệp sản xuất thực phẩm đang phát triển mạnh ở nước
ta, nhất là từ khi nhà nước có nhiều chính sách mới khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân trong và ngoài nước phát triển
Đường là một trong các sản phẩm thực phẩm thiết yếu trong đời sống hàng ngày, chính vì thế đã từ lâu nhà nước ta rất chú trọng đến việc xây dựng các nhà máy đường từ Bắc đến Nam, bên cạnh đó là việc xây dựng các vùng nguyên liệu lâu dài, việc nghiên cứu các công nghệ và thiêt bị hiện đại cũng không kém phần quan trọng
Công nghệ sản xuất đường trong mỗi nhà máy và đối với các vùng nguyên liệu khác nhau có tính chất đặc thù riêng và sự phát triển của nó liên quan đến nhiều ngành, trong khuôn khổ bài sermina này chúng em trình bày ý kiến về một vấn đề
không kém phần quan trọng trong các nhà máy sản xuất đường là việc tận dụng năng lượng trong sản xuất đường Vì sự phức tạp của vấn đề và còn thiếu kinh nghiệm thực
tiễn nên sai sót là không tránh khỏi
Trang 2TỔNG QUAN VỀ NĂNG LƯỢNG TRONG NHÀ MÁY ĐƯỜNG
Năng lượng cung cấp cho nhà máy đường là từ việc tận dụng bã mía và một phần từ điện lưới hoặc các nguồn năng lượng khác
Nhà máy sử dụng năng lượng dưới dạng nhiệt, điện, hơi vào các mục đích chính sau:
Cấp nhiệt cho nồi hơi
Cấp nhiệt cho các quá trình gia nhiệt – bốc hơi
Vào các mục đích khác ( chiếu sáng, )
Do đó để tiết kiệm năng lượng trong nhà máy ta phải nâng cấp, hoàn thiện các thiết bị cấp nhiệt, nâng cao hiệu suất sử dụng năng lượng, sử dụng nguồn nhiêu liệu bã mía hợp lí
Chúng ta đi vào từng phần cụ thể dưới đây
Trang 3PHẦN I: QUÁ TRÌNH GIA NHIỆT – BỐC HƠI
Việc lấy đường từ nước mía trong được tiến hành theo 2 giai đoạn: cô đặc nước mía ở thiết cô đặc thành mật chè và nấu mật chè ở thiết bị nấu chân không
Nhiệm vụ của hệ cô đặc là bốc hơi nước mía có nồng độ 13 – 15 Brix đến mật chè nồng độ 60 – 65 Brix Nếu cô đặc nước mía đến nồng dộ chất khô quá cao (lớn hơn 70 Brix ) sẽ xuất hiện tinh thể đọng lại trong đường ống và bơm Mặt khác nồng độ mật chè quá lớn, độ nhớt lớn, lọc khó khăn
Quá trình bốc hơi sản sinh ra lượng hơi nước lớn và ta có thể tận dụng lượng hơi này vào các công đoạn khác
Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng năng lượng của công đoạn gia nhiệt – bốc hơi được nghiên cứu dưới đây:
1) Vận tốc lưu chuyển của nước mía trong quá trình gia nhiệt :
Vận tốc lưu chuyển của nước mía trong các ống là quan trọng đối với hiệu suất của gia nhiệt Đó là do gia nhiệt được chia thành nhiều khoang có vách ngăn Để sử dụng các gia nhiệt đạt hiệu quả tốt vận tốc nước mía không dưới 1,5 m/s Nếu không sẽ trao đổi nhiệt kém, đóng cặn nhanh và nhiệt độ của nước mía sẽ hạ xuống nhanh chóng
Mặt khác ở vận tốc lớn, nước mía đi qua gia nhiệt sẽ gây tổn thất áp lực và nhanh chóng trở nên cản trở Vì lý do đó không bao giờ vượt quá 2 đến 2,25 m/s và các vận tốc có hiệu quả kinh tế mà ta tìm kiếm là ở khoảng giữa 1,5 đến 2,25 m/s
2) Giới hạn nhiệt độ gia nhiệt :
Những bài tính thực hành về gia nhiệt cho thấy nếu muốn tránh các diện tích gia nhiệt quá
dư thừa, tốt nhất là nên tính toán một giới hạn nào đó giữa nhiệt độ T của hơi đun và nhiệt độ t mong muốn của nước mía nóng đi ra khỏi gia nhiệt
Với mục đích tiết kiệm, ta phải cố gắng giới hạn nhiệt độ t đạt được theo cách có thể nào đó:
Giới hạn nhiệt độ để lựa chọn trong các gia nhiệt
Trang 4Nếu không, sự quá dư diện tích gia nhiệt cần thiết để đạt nước mía nóng hơn sẽ nằm ngoài tỷ lệ có lợi của nước mía mang lại
Thông thường việc gia nhiệt nước mía được thực hiện theo nhiều cấp, ít nhất cũng là trong giàn gia nhiệt chính bằng cách dùng hơi bốc nhiều hiệu khác nhau của giàn bốc hơi
đa hiệu và cuối cùng là hơi thứ, ta có thể có một dãy gia nhiệt với số lượng hợp lý và với diện tích gia nhiệt tối ưu
3) Bốc hơi đa hiệu :
Để tận dụng hơi thứ của nồi trước vào quá trình gia nhiệt bốc hơi cho các nồi sau ta gặp trở ngại là với hơi nước ở 110oC ( áp suất = 0,43 kg/cm2 ), ta có thể đun và làm bốc hơi nước mía ở áp suất khí quyển Hơi nước từ nước mía sôi cũng ở áp cũng ở áp suất khí quyển
ở 1000C Thế nhưng với hơi nước ở 1000C, ta không thể làm sôi nước mía 1000C cần phải có một khoảng cách nhiệt độ giữa chất lỏng đun và chất lỏng được đun
Rilllieux đã giải quyết khó khăn đó bằng cách tạo chân không cho nồi hoặc các nồi tiếp theo nồi thứ nhất Nước hoặc nước mía sôi ở 900C dưới 23 cm chân không, ở 800C dưới
40 cm chân không và 700C dưới 52 cm chân không Như vậy đã trở nên có thể tạo ra sự khác nhau của nhiệt độ cần thiết và dùng hơi nước từ nước mia cung cấp bởi nồi một( hiệu
1 ) để đun sôi nước mía trong hiệu 2, hơi bốc từ hiệu 2 để đun cho hiệu 3, và cứ tiếp tục như vậy
Giải pháp đó có một trở ngại là đòi hỏi phải có một hệ thống để tạo chân không cần thiết nhưng lại có hai ưu điểm lớn :
- Làm tăng tổng khoảng cách nhiệt độ giữa hơi nước và nước mía một lượng bằng độ sụt điểm sôi của nước mía giữa áp suất của hiệu 1 và áp suất của hiệu cuối
- Cho phép tiếp tục bốc hơi ở nhiệt độ ít nguy hiểm hơn theo quan điểm chuyển hóa và màu sắc của nước mía khi nước mía trở nên đặc hơn và độ nhớt cao hơn
4) Kiểm soát và sử dụng nước ngưng tụ :
+ Nếu chỗ rò ở phần dưới ống, nước ngưng tụ sẽ chảy lẫn vào nước mía làm tăng thêm lượng cần thiết phải bốc hơi hoặc làm loãng xi rô
Để tránh các rò rỉ vốn thường khó phát hiện đó, phải thường xuyên thử áp lực chùm ống Nếu nước có áp suất thấp hơn( trường hợp của các gia nhiệt dùng hơi bốc ), nước mía chảy vào bên trong chùm ống và hòa trộn vào nước ngưng tụ Cũng vậy sự kéo theo không bình thường của nước mía theo hơi bốc cũng làm nước ngưng tụ nhiễm nước mía
Hai trường hợp vừa nêu là nguy hiểm hơn nhiều nếu nước ngưng tụ đã nhiễm đường dùng để cấp cho lò hơi
Trang 5- Nhiệt độ của nước ngưng tụ :
Thường người ta chấp nhận rằng nước ngưng tụ đi ra khỏi chùm ống có nhiệt độ
ở nhiệt độ hơi đun đưa vào chùm ống Thực tế thì nước ngưng tụ luôn nguội đi một chút khi chảy dọc theo ống và nhiệt độ của nước có thể gần đúng như sau :
te = nhiệt độ nước ngưng tụ đi ra khỏi chùm ống
T = nhiệt độ hơi đun của chùm ống
Tj = nhiệt độ nước mía trong nồi bốc hơi
- Việc sử dụng các loại nước ngưng tụ
Khi tách các loại nước ngưng tụ vào các thùng khác nhau, thường nứơc ngưng tụ được sử dụng như sau:
Nước ngưng tụ của nồi I Cấp cho lò hơi
Nước ngưng tụ của nồi II Cấp bổ sung cho lò hơi
Nước ngưng tụ các nồi cuối Thẩm thấu mía
Trong trường hợp tổng quát, cách bố trí tốt nhất các nước ngưng tụ của bốc hơi đa hiệu như sau:
+ Tận dụng hơi tự bốc bằng cách lắp đặt các thùng dãn hơi
+ Lấy nước ngưng tụ hiệu I qua thùng dãn hơi thứ nhất , đưa tới thùng cấp nước cho lò hơi Nhiệt độ của nước thực tế thấp hơn một chút so với số biểu thị trên nhiệt kế của nồi II Đó là sự giảm hơi bốc từ nước Thùng cấp nước này không liên hệ với thùng thứ hai
+ Nếu thấy cần thiết, lấy thêm từ thùng dãn hơi thứ hai một lượng nước để cấp bổ sung cho lò hơi
+ Cho lưu thông tất cả các nước ngưng tụ khác từ thùng nọ sang thùng kia
+ Lấy nước ngưng tụ thùng cuối đưa lên thùng nước nóng
5) Sự bốc hơi trong hệ thống bốc hơi đa hiệu có trích hơi bốc :
Chúng ta chuyển sang trường hợp tổng quát của một hệ đa hiệu có trích hơi bốc của một hoặc nhiều nồi Dĩ nhiên hơi trích không hề làm biến đổi sự cân bằng mà chúng ta xác lập giữa lượng hơi nước được nhận vào mỗi chùm ống và lượng hơi nước bốc hơi trong mỗi nồi Mục đích của việc dùng hơi trích là nhằm tiết kiệm – các lượng hơi trích được dùng cho gia nhiệt và nấu đường Nếu bốc hơi đa hiệu không trích hơi, gia nhiệt hoặc nấu đường phải dùng hơi sống hay hơi thứ Cho :
R = trọng lượng hơi sống hoặc hơi thứ dùng cho các gia nhiệt và các nồi nấu đường
Q = trọng lượng hơi sống hoặc hơi thứ dùng cho bốc hơi
Trong trường hợp của một bốc hơi 4 hiệu không trích hơi, lượng sử dụng hơi thực tế D sẽ là :
D = R + Q
Trang 6Pi : là lượng hơi trích của hơi bốc ra từ nồi thứ i
e : lượng tiết kiệm
Người ta đã chứng mình rằng : Khi ta bố trí một hệ thống bốc hơi đa hiệu cấp n và nếu một trong những điểm cần gia nhiệt của nhà máy đường đạt kết quả thay thế hơi thứ bằng hơi trích từ nồi I ta đã thực hiện được một lượng tiết kiệm bằng phân số P/n của lượng tiêu tốn hơi dùng cho việc gia nhiệt đó
Lượng tiết kiệm tăng với vị trí hàng đứng của nồi trong dãy bốc hơi và sẽ trở thành lượng tiết kiệm khi thực hiện được sự trích hơi bốc của nồi cuối
6) Các nguyên nhân làm ảnh hưởng xấu đến sự vận hành cũng như cản trở sự truyền nhiệt và gây tổn thất về nhiệt từ đó đưa ra biện pháp khắc phục :
- Các chất lắng bám hoặc cặn đóng quá mức trong một hoặc nhiều nồi và trong các ống, làm giảm khả năng truyền nhiệt có thể khắc phục bằng cách thường xuyên thông rửa và nấu tẩy các nồi và hệ thống đường ống
- Lớp dầu bám ngoài ống, lớp đóng bám này từ dầu do hơi thứ đem tới, dĩ nhiên chỉ có ở nồi I Hầu hết lớp đóng bám này có nhiều trong trường hợp các nhà máy đường còn dùng các máy hơi nước Để tránh lớp dầu bẩn bám có màu đen hoặc nâu xỉ này, hoặc để giảm với tỷ lệ rất lớn, tốt nhất là nên đặt xen một thiết bị tách dầu trên tuyến dẫn hơi từ ba – lông hơi thứ đến nồi I
Lớp dầu bám đó gây hại cho sự truyền nhiệt trong nồi, ta có thể loại bỏ trong thời gian ngừng sản xuất bằng cách đưa vào chùm ống :
+ Hoặc một dung dịch axit rất loãng ví dụ HCl 25%
+ Hoặc một dung dịch mật rỉ pha loãng đến 200Bx, cho lên men từ từ và được tháo ra từng giọt một cách tính toán sao cho việc xả bỏ được tiến hành liên tục trong khoảng 1 tháng
+ Hoặc dùng nước được phủ 1 lớp dầu hỏa dày vài milimet và được xả bỏ từng giọt một theo cách sao cho lớp dầu hỏa quét từ từ suốt dọc chiều cao các ống
+ Hoặc dùng tinh dầu nhựa thông
+ Hoặc dùng xút ăn da cho sôi và tuần hoàn với hơi nước thay chỗ cho nước mía
- Các chỗ rò, thủng ở phần đỉnh hoặc nhất là ở phần đáy của một ống hay của chùm ống Để tìm ra chỗ rò, thủng phải tranh thủ ngày chủ nhật ngừng máy, thử các buồng đun với áp lực nước
- Ống bị tắc hoặc bố trí sai, hoặc mở không đủ đối với các ống thoát khí không ngưng
- Không khí lọt vào đường ống, một nồi hoặc một chùm ống
- Một đường ống hoặc một van đấu liền nồi của tuyến nước mía bị tắc bởi một vật lạ
- Mực nước mía trong nồi quá xa với mực tối ưu
- Sự mất mát nhiệt ra môi trường xung quanh do tự bay hơi bức xạ đối lưu để tránh mất nhiệt ta có thể đậy kín các thùng chứa, cách nhiệt thật tốt các thiết bị nhiệt, các đường ống
Trang 7PHẦN II: SẢN SINH HƠI NƯỚC
Thành phần xơ trong mía thường đảm bảo lượng bã mía từ các che ép đủ làm chất đốt trong các lò hơi để cung cấp toàn bộ hơi cần thiết cho các máy móc vận hành và cho sản xuất công nghệ
Với một độ xơ bình thường (12-14) và với một nhà máy được cân bằng và thiết kế tốt thì có thể thừa bã mía hoặc hơi dùng cho các công việc khác như: bơm nước tưới đồng ruộng, phục vụ sản xuất sản phẩm phụ, xưởng nấu rượu, cấp thêm năng lượng cho lưới điện…
Cần biết thêm rằng mía sản xuất ra đường, đồng thời cũng cấp đủ chất đốt cho chạy máy và cho cả những thứ phẩm hoặc những chất thải như sau:
¾ Mật rỉ từ đó người ta có thể sản xuất rượu rum, cồn hoặc đôi khi nhiên liệu cho máy kéo và xe tải
¾ Bùn lọc làm phân bón rất tốt cho đồng ruộng và đôi khi để sản xuất sáp
¾ Các tro từ bã mía đốt trong các lò, làm chất bổ sung rất tốt cho bùn bã- một loại phân bón hoàn hảo
Cuối cùng chúng ta đừng quên là trong mía có nước có thể biến thành hơi rất quý đối với nhà máy đường thiếu khả năng cấp nước lạnh cho quá trình sản xuất
Trong phần này chúng ta sẽ nghiên cứu về:
• Bã mía
• Sự đốt cháy bã mía
• Cấp nước về lò hơi
• Tiết kiệm tối đa- sản xuất năng lượng cho bên ngoài
• Sản xuất điện Nhà máy đường
• Tiêu thụ hơi ở Nhà máy đường
I.BÃ MÍA:
Bã mía hay gọi ngắn gọn là bã mía là chất xơ rắn đi ra từ miệng sau che ép cuối cùng sau khi được vắt kiệt nước mía Đây là phần bã của viêc ép mía
1.Thành phần vật lý:
Mặt dù có những dàn ép và những phương tiện khác nhau, cấu tạo thành phần vật lý của bã mía cũng chỉ biến động trong giới hạn hẹp
Đặc điểm quan trọng nhất của nó về mặt sản sinh hơi nước là hàm ẩm của bã mía Với các che ép làm việc kém, bã mía có thể ngậm 50% nước và với các che ép thật tốt thì bã mía chỉ có 45% nước Một số nhà máy đường ở Hawaii và Đái loan cho biết độ ẩm của bã mía chỉ có 38% nước Ngay trong một che ép hiện đại cũng rất khó đưa độ ẩm của bã mía xuống 44%, những trị số thường gặp là w= 45 –50%
Trang 8Nếu lấy trị số chuẩn w= 48% cho mọi trường hợp thì cũng không có gì sai lầm lớn
Ngoài ra nước bã mía còn chứa:
a) Thành phần xơ: chủ yếu là chất xenlulose, đó là xơ của bã mía
b) Các chất hoà tan trong nước ( tất nhiên nước này là nước thẩm thấu và của nước mía nguyên chất) gồm đường và các tạp chất khác
Các chất hoà tan này chỉ chiếm số lượng nhỏ khoảng từ 2 – 4%
Nếu ta gọi tỉ lệ tính theo trọng lượng là D% thì còn lại độ xơ là: f= 100- w- D = 46- 53%
2) Bảo quản bã mía:
Do trọng lượng biểu kiến của bã mía thực sự có một thể tích rất lớn nên việc chứa lượng bã mía thừa của nhà máy đường đặt thành vấn đề
Ngoài những vùng rất khô, ngưới ta không thể để bã mía ngoài trời vì nó lên men mục nát và mất đi phần lớn giá trị, kể cả làm chất đốt Tuy nhiên nếu kho6ng có cách bảo quản khác thì người ta cũng có thể để bã mía ngoài trời với điều kiện là chất nó thành đống rơm hình chóp hay hình tháp
Với mái dốc ít nhất là 30o và phải lợp mái thực sự bằng lá mía xếp như ngói xuôi theo chiều dốc như mái nhà tranh địa phương
Thông thường người ta bảo quản bã mía trong lán Góc nghiên đống bã mía khá linh động và thường vào khoảng 45-50o
Để nhà chứa bã khỏi quá lớn người ta có thể ép bã lại để giảm thể tích Quá trình được thực hiện bằng máy ép bã
Có 2 phương pháp chính để ép bã mía:
a) Máy ép thành kiện
Người ta ép bã thành kiện 30 x 30 x60 cm hoặc 45 x 45 x60 cm buộc lại bằng 2 hay 3 dây thép để khỏi bị đổ rời Người ta dùng máy ép thuỷ lực, giống như máy ép rơm cỏ Các kiện bã mới ép có tỷ trọng từ 400 đến 600 kg/m3 tuỳ theo nén vừa hay nén chặt Người ta xếp các kiện kiểu chồng cỏ đamđể khe giữa các kiện có không khí lưu thông Theo cách xếp này các kiện bã mau khô Tuy nhiên không được ưa dùng trong một số nước như Philippin vì họ cho rằng khi hoả hoạn dễ lan rộng, bù lại cách xắp xếp như vậy thì giảm khả năng tự bốc cháy
Sau 2 hay 3 tháng, bã mía giảm 1 phần độ ẩm từ 45 – 50 % xuống khoảng 25 % là trị số ổn định của bã mía, khi đó các kiện bã míachỉ còn nặng từ 300 – 400 Kg / m3 Bã mía mới ở che ép ra đem ép kiện ngay nếu chồng lên nhau thành thể tích lớn thì có thể tự bốc cháy
Ép thành kiện chồng lên nhau thành con cờ và được che chống mưa nắng, thì bã mía có thể bảo quản được lâu Nếu phải bảo quản dài ngàythì trên mặt đống bã cứ từng lớp cao dần ta nên phun tia axit boric tán thành bột
Độ ẩm của bã mía đạt cân bằng với môi trường là vào khoảng 23 %
Trang 9b) Máy ép thành viên:
Bã mía nguyên trạng không thể kết dính với nhau dù ép chặt tới đâu nó vẫn rời nhau Trái lại nếu làm khô bã thì có thể ép thành viên như viên gạch với điều kiện :
• Đã giảm độ ẩm xuống dưới 15 % Kết quả ép tốt nhất là với bã có 7 – 8 % nước, nếu làm khô nữa thì bã mía hút ẩm và rời ra
• Eùp với lực khoảng 350 kg / cm2 hoặc tốt nhất là 1000 kg / cm2
Các viên bã được ép dưới 2 dạng :
• CaÙc viên giống viên gạch 20 x 10 x 2 cm Cío thể xếp chồng lên nhau
Để cho bã mía dễ đóng viên và dễ dính nhau người ta có thể trônj thêm một chất dính, Vd:mật rỉ theo tỉ lệ 1 kg mật rỉ cho 4 kg bã mía, nếu cho thêm chất dính người
ta có thể ép với lực 8.5 kg / cm2
• Các viên ép thành trụ có đường kính 6.9 hay 15 cm
3 Việc đánh tơi các kiện bã:
Khi lấy kiện bã ra khỏi đống bảo quản, người ta làm rời nó bằng một máy xé Người ta cho biết việc xé rời bã mía làm toả bụi bã mía gây bệnh xơ phổi cho công nhân thao tác vì vậy ta phải lắp thiết bị hút bụi đó đi
4 Việc sử dụng bã mía:
Ngoài việc sử dụng bã mía làm chất đốt, bã mía thừa còn nhiều công dụng khác:
• Hoặc dùng làm nguyên liệu để chế tạo các tấm ván dùng trong xây dựng
• Hoăïc dùng làm nguyên liệu trong sản xuất bột giấy
• Hoăïc dùng làm nguyên liệu để chế tạo những chất dẻo hoặc các chất dung môi dùng trong công nghiệp
5.Nhiệt năng của bã mía:
Nhiệt năng hay P.C là lượng nhiệt mà 1 kg chất đốt cung cấp khi đốt cháy Người ta có thể phân chia 2 trị số về nhiệt năng:
• Nhiệt năng cao (P.C.S ) đó là nhiệt toả ra khi đốt 1 kg chất đốt nguyên chất thô
ở 0 0C và áp suất 760 mm Hg vơí tất cả sản phẩm của việc đốt cháy được đưa về 0 0C và 760 mmHg
• Nhiệt năng thấp ( P.C I ) được giả định ngược lại là nước hình thành dưới sự đốt cháy, cũng như nước thành phần ở trạng thái hơi
P.C.S thể hiện mức cao về mặt lí thuyết của nhiệt chứa trong chất đốt, nhưng trong thực tiễn công nghiệp, người ta chưa hạ được các khí sinh ra khi đốt cháy xuống dưới điểm sương nên P.C.I cho ta khái niệm đúng hơn về nhiệt đạt được trong thực tế
Do đó trong thực tế người ta phải dùng P.C.I vì không có khi nào đo được P.C.I nên người ta đành phải tính ra nó
Nhưng trong tính toán có một mâu thuẫn nhất nhất định giữa điều kiện các khí từ đốt cháy cháy phải đưa về 0 0C và 760 mm Hg và điều kiện nước không để
Trang 10ngưng tụ, 1 kg chất đốt có bao nhiêu khí hiđro thì P.C.S trừ đi bấy nhiêu lần 600 kcal
Vấn đề này có nghĩa trở lại giả định rằng đốt với việc P.C.S ngưng tụ được tiến hành 10 0C trong quá trình làm nguội hơi 0 0C theo quy định vì:
r = 607 – ( 0.7 x10 0C ) = 600 kcal (công thức 32.6{1} )
Vả lại cũng đễ dàng kiểm tra lại bằng nhiệt ẩn và bằng các nhiệt suất riêng của nước và của hơi để thấy răng nhiệt độ mà từ đó sự ngưng tụ có thể bắt đầu điều hành ( hay ngược lại sự bốc hơi có thể tiến hành ) không có ảnh hưởng lớn đến hàm nhiệt vận động trong quá trình thao tác
Vậy người ta áp dụng một nhiệt độ xấp xỉ 00 để trong tính toán ta không phải quan tâm đến hơi
Khi đó P.C.I của một số chất đốt đựoc đo bằng công thức :
trọng lượng nước hình thành bằng 9 lần hydrô, vậy ta có đối với một chất khô:
E= 9H H: trọng lượng có trong hydrô có trong thành phần 1 kg chất đốt
Từ đó : PCI =PCS- 5400H
Công thức naỳy chỉ áp dụng cho một chất đốt khô, đối với chất đốt ướt ta phải tính thêm nước trong chất đốt cộng vào với nươc hình thành
II SỰ ĐỐT CHÁY BÃ MÍA:
Những phản ứng của sự đốt cháy: các thành phần cháy được của bã mía là C và
H, khí cháy tạo thành:
C+ O2 = CO2
H + O2 = H2O Những đặc điểm của các chất khí do đốt cháy tạo ra: Sau đây là những thành phần khí chính mà chúng ta dùng để nghiên cứu sự đốt cháy của bã mía
Chất Phân tử lượng
Hằng số R(
kg/m2 và
m3/kg)
Trọng lượng riêng( ở
0oC,760mmHg, kg/ m3)
Thể tích(0oC,760mmHg,
m3/kg) CO2
1.977 0.804 1.256
0.506 1.244 0.796