Ông chỉ ra rằng những dấu hiệu mà lý thuyết Dowđưa ra được với chỉ số bình quân thị trường vẫn giữ nguyên giá trị và tầm quantrọng khi áp dụng vào đồ thị của từng cổ phiếu riêng lẻ.. Như
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Thị trường chứng khoán đang trở thành một điểm nóng thu hút sự quantâm rất lớn của mọi đối tượng trong xã hội Cùng với sự quan tâm đó, giới thamgia thị trường chứng khoán cũng bắt đầu quan tâm đến những kĩ thuật ứng dụngtrong phân tích và đánh giá để đưa ra quyết định đầu tư phù hợp Hai hệ thống
kĩ thuật phân tích được nói đến nhiều nhất là phân tích cơ bản và phân tích kĩthuật Trong khi đa số chúng ta đều ít nhiều có những kiến thức nhất định vềphân tích cơ bản thì số lượng người hiểu và nắm về phân tích kĩ thuật còn hạnchế, hơn thế nữa khả năng ứng dụng và tính chính xác của nó còn là một vấn đềđang bàn cãi hàng trăm năm nay Để các bạn có kiến thức nhất định về khíacạnh phân tích kĩ thuật, chúng tôi xin cung cấp một số thông tin cơ bản về phântích kỹ thuật
I LỊCH SỬ HÌNH THÀNH PHÂN TÍCH KỸ THUẬT
Trang 2Lịch sử của Phân tích kỹ thuật bắt nguồn từ cách đây hơn 100 năm, từmột người tên là Charles H Dow Ông là người đã sáng lập lên tạp chí phốWall (The Wall Street Journal) Sau nhiều năm nghiên cứu, năm 1884 ông đưa
ra chỉ số bình quân của giá đóng cửa của 11 cổ phiếu quan trọng nhất thị trường
Mĩ thời gian đó William Peter Hamilton là người thực sự mang lại sức sốngcho những nghiên cứu của Dow bằng việc tiếp tục nghiên cứu và xuất bản cuốnsách “The Stock Market Barometer” (Phong vũ biểu thị trường chứng khoán)vào năm 1922 Suốt những năm 1920 và 1930, Richard W Schabacker là người
đã đã đi sâu vào những nghiên cứu của Dow và Hamilton, Schabacker là người
đã đưa ra khái niệm đầu tiên về Phân tích kỹ thuật Schabacker từng là chủ biêncủa tạp chí Forbes nổi tiếng Ông chỉ ra rằng những dấu hiệu mà lý thuyết Dowđưa ra được với chỉ số bình quân thị trường vẫn giữ nguyên giá trị và tầm quantrọng khi áp dụng vào đồ thị của từng cổ phiếu riêng lẻ Điều này đã được ôngthể hiện và chứng minh trong cuốn sách của mình: “Stock Market Theory andPractice, Technical Market Analysis and Stock Market Profit” Như vậy những
cơ sở đầu tiên của Phân tích kỹ thuật đã xuất hiện từ trong lý thuyết Dow,nhưng phải đến Schabacker – người cha của Phân tích kỹ thuật hiện đại tiếp đó
là Edward và Magee với “Technical Analysis of Stock Trend” (cuốn sách đãđược tái bản 8 lần) và ngày nay là John Murphy, Jack Schwager, Martin Pring,
… thì mới thực sự ra đời cái tên “Phân tích kỹ thuật ” và được nâng cao, tổngkết thành một hệ thống lý luận quan trọng trong phân tích đầu tư trên thị trườngchứng khoán nói riêng và thị trường tài chính nói chung
Vậy phân tích kỹ thuật là gì?
“Phân tích kỹ thuật là việc nghiên cứu giá, với công cụ cơ bản là biểu đồ,nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động đầu tư…”
Trang 31 Chỉ số RSI.
Năm 1978 J Welles Wilder giới thiệu chỉ số RSI, từ đó đến nay RSI vàtrở thành một trong các chỉ số phổ biến và hiệu quả được sử dụng trong phântích kỹ thuật Đây là một chỉ số thuộc nhóm các phương pháp tương quan phảnánh tương quan sức mạnh sự tăng giá và giảm giá trong một thời kỳ
1.1 Định nghĩa:
Hiện nay RSI là một trong những chỉ số được các tay buôn chứng khoán
sử dụng rộng rãi và thường xuyên xuất hiện trong các phần mềm phân tích kĩ
thuật Chúng tôi xin được giới thiệu những điều cơ bản nhất về chỉ số này RSI
trước hết là một chỉ số cho biết xu hướng biến động của một loại cổ phiếu hay hàng hóa hoặc chỉ số thị trường Đây không phải là chỉ số đo lường mức
độ khác biệt của một cổ phiếu hay chỉ số này so với một cố phiếu hay chỉ số thị trường khác RSI chỉ đơn thuần so sánh một cổ phiếu với chính nó, cho thấy sự vận động qua thời gian Nhìn chung, RSI được sử dụng phổ biến trong phân tích kĩ thuật cho thị trường chứng khoán, ít khi được sử dụng trong thị trường hàng hóa và thị trường tương lai
1.2 Tính toán RSI:
Trong đó: X là số phiên giao dịch liền trước phiên giao dịch hiện tại,được sử dụng để thu thập số liệu tính toán
Trang 4RSI phản ánh mối quan hệ giữa sức tăng giá và sức giảm giá của một CPtrong một thời kỳ xác định bằng cách lấy tỷ số giá trung bình của các phiên tăng
và giá trung bình các phiên giảm trong thời kỳ đó
Gọi n là số các phiên trong thời kỳ xác định cần tính RSI
Gọi giá trung bình các phiên tăng trong n phiên là AIn = Tổng giá các phiêntăng / n
Gọi giá trung bình các phiên giảm trong n phiên là ADn = Tổng giá các phiêngiảm / n
Chỉ số sức bền tương đối được tính bằng công thức:
RSI = 100 – 100 / (1 + RS) (1)Trong đó: RS = AIn / ADn là tỷ số giá trung bình các phiên tăng và giá trungbình các phiên giảm
Xét ví dụ về một phương pháp phân tích kỹ thuật sử dụng trung bìnhđộng
Giá CK trong 5 phiên đến ngày 18/05/2007 của Công ty cổ phần nhựa ĐồngNai – Mã CK DNP
Ngày Giá Thay đổi %thay đổi Khối lượng 18/05 76.000 2.000 2,70% 56.350 17/05 74.000 2.000 2,78% 36.190 16/05 72.000 -3.500 -4,64% 43.350 15/05 75.500 3.500 4,86% 30.550 14/05 72.000 3.000 4,35% 52.750
(Nguồn SSI) Trung bình sự thay đổi giá các phiên tăng trong 5 phiên
AG = (2.000 + 2.000 + 3.500 + 3.000) / 5 = 2.100
Trung bình sự thay đổi giá các phiên giảm trong 5 phiên
AL = (3.500) / 5 = 700
Trang 5Hệ số tương quan phản ánh giữa sức tăng và sức giảm giá là tỷ số AG/AL, quychuẩn về thang 100 sẽ tính được RSI là:
RSI = 100 – 100/ (1 + AG/AL) = 75
1.3 Ý nghĩa:
RSI xác định tương quan sức mạnh giữa phe mua và phe bán bằng cáchphản ánh tỷ số tăng giá và tỷ số tăng giá vào giá trị của RSI Giá trị này nằmtrong khoảng 0 đến 100
Giá trị 50 của RSI gọi là giá tị trung bình tại đây sức mua và bán cótương quan ngang bằng nhau RSI lớn hơn 50 và càng lớn thì phản ánh sức muacàng lớn hơn sức bán, giá cả đang tăng RSI nhỏ hơn 50 và càng nhỏ thì phảnánh sức bán càng lớn hơn sức mua, giá cả đang xuống
RSI có hai ngưỡng siêu mua và siêu bán là 70 và 30, nếu giá trị của RSIlớn hơn 70 thị trường đang ở trạng thái siêu mua với sự áp đảo của phe mua,nếu RSI nhỏ hơn 30 thị trường đang ở ngưỡng siêu bán và phe bán đang áp đảo
Số phiên (giá trị của n) sử dụng để tính trung bình giá các phiên tăng và giá cácphiên giảm càng lớn thì RSI càng chính xác theo ý nghĩa của công thức là phảnánh tương quan sức tăng và sức giảm của giá
(nguồn ảnh đồ thị: http://www.vietstock.com.vn )
Trang 61.4 Sử dụng RSI
Như mọi loại máy hiển thị dao động kác, phân tích RSI dựa vào 3ngưỡng:
* Siêu mua: mọi giá trị RSI ≥ 70 được gọi là siêu mua
Wilder cũng đưa ra các giả thiết rằng khi RSI vượt qua mức 70, đây là thờiđiểm mà giá đang gần chạm đỉnh, hoặc ít nhất đó cũng là dấu hiệu cho thấychắc chắn sẽ có những phản ứng đáng kể đối với xu hướng đi lên của thị trường(uptrend)
* Siêu bán: mọi giá trị RSI ≤ 30 được gọi là siêu bán
Ngược lại, khi RSI giảm xuống mức dưới 30, những thay đổi với đáy của thịtrường cũng như phản ứng đối với xu hướng đi xuống (downtrend) đang giatăng Điều này là đúng với cả các nghiên cứu định kì theo ngày hoặc theo tuần
* Trung bình: Ngưỡng 50 được gọi là trung bình, RSI > 50 báo hiệu về sự thắngthế của phe mua, RSI < 50 báo hiệu sự thắng thế của phe bán
Trong số các khoảng thời gian được sử dụng để tính toán RSI, khoảngthời gian 14 ngày được sử dụng phổ biến nhất, và cũng chính là khoảng thờigian mà người khai sinh ra chỉ số RSI là Wilder sử dụng Tuy nhiên, tùy thuộcvào mục đích sử dụng mà các con số thời gian khác có thể mang lại những kếtquả tốt hơn Hai khoảng thời gian khác cũng được sử dụng phổ biến là 9 ngày
và 25 ngày Khoảng thời gian càng dài thì các dấu hiệu có độ sai lệch càng thấp,tuy nhiên, điều này có thể dẫn tới một độ trễ nhất định so với mức đỉnh điểmhay mức đáy của thị trường
Cũng như các chỉ số, các công cụ dự báo khác được sử dụng trong thị trường chứng khoán, RSI cũng chỉ đơn thuần là một công cụ Trong một số trường hợp chỉ số này thực hiện vai trò khá tốt, nhưng trong những trường hợp khác thì ngược lại Cần phải nhớ rằng, một danh mục đầu tư lành
Trang 7mạnh, được thiết lập dựa trên rất nhiều công cụ chứ không chỉ đơn thuần dựa trên một công cụ nhất định nào cả
Trang 8so với mức dao động bình quân.
Hầu hết các chuyên gia phân tích đều sử dụng đường trung bình đơn giản
20 ngày và hai đơn vị lệch chuẩn cho hai biên Cụ thể hơn, biên trên được tínhbằng cách lấy đường trung bình cộng với hai lần độ lệch chuẩn của giá trong 20ngày gần nhất Tương tự là phép trừ cho biên dưới Sử dụng hai đơn vị lệchchuẩn nhằm đảm bảo 95% dữ liệu giá sẽ nằm trong phạm vi của dải Bollinger
Từ đó, thị trường được cho là rơi vào tình trạng bán tháo (oversold) khigiá chạm biên dưới của dải này Thị trường sẽ mua quá (overbought) khi giáchạm biên trên của dải Bollinger
Cách sử dụng dải Bollinger đơn giản nhất là dùng hai biên của dải này làm mốctín hiệu Nói cách khác, nếu giá một cổ phiếu bật lên sau khi chạm biên dưới vàcắt qua đường trung bình thì biên trên sẽ là thời điểm chốt lời thích hợp Ngượclại, sự giao nhau của giá và đường trung bình theo chiều xuống thì biên dưới sẽ
là cơ hội mua vào Khi thị trường tăng mạnh, giá thường sẽ dao động trong khuvực tạo bởi biên trên và đường giữa Trong tình huống này, việc giá đi xuốngphía dưới đường trung bình sẽ là tín hiệu cho khả năng đảo chiều của thịtrường
Cách sử dụng:
Sự bật lại dải Bollinger
Khi giá luôn có chiều hướng quay trở lại khu vựa giữa của dải Bollingerthì giá sẽ xuống
Trang 9Như hình vẽ tiếp theo, tỉ giá quay trở lại khu vực giữa của dải.
Khi giá chạm vào các đường bollinger phía trên và dưới, chúng thường bịbật trở lại đó là vì dải Bollinger hoạt động như những mức hỗ trợ và kháng cự(support và resistance) Giá di chuyển phía trong dải Bollinger càng lâu baonhiêu thì dải Bollinger này càng mạnh bấy nhiêu Nhiều nhà giao dịch thiết lậpcho mình cách chơi dựa trên đặc điểm bật lại của dải Bollinger, chiến thuật nàyđược sử dụng tốt nhất khi thị trường bập bềnh (sideway) và không có xu hướng
rõ ràng
Bollinger thắt chặt
Khi dải Bolliger ép chặt lại, nó thường báo hiệu một dấu hiệu phá vỡ(beakout) sắp xảy ra Nếu nến phá vỡ dải trên, giá thường sẽ tiếp tục lên cao,nếu nến phá vỡ dải phía dưới, giá thường tiếp tục xuống thấp
Trang 10Nhìn biểu đồ trên, bạn thấy dải Bolinger thắt chặt lại Tỉ giá vừa phá vỡdải Bollinger phía trên, giá tiếp tục đi lên
Đây là hiện tượng thường gặp sau một khoảng thời gian dải Bollinger bịthắt chặt
Ví dụ:
Phiên giao dịch ngày 8/9/2010, chỉ số Vn-Index biến động khoảng 5điểm (453,03 – 458,44 điểm) với khối lượng khớp 52,182 triệu cổ phiếu (tăngkhoảng gần 1 triệu cổ phiếu so với phiên trước) Giá đóng cửa cũng chính là giácao nhất Vn-Index giảm xuống mức 453 – cũng chính là EMA 10 ngày thì bậtlên lại, mức hỗ trợ này ngày 9/9 sẽ test lại nếu chạm mức này và bật lên lại, khảnăng tăng điểm rất cao
Dự báo đường Bollinger Bands và mức giá Vn-Index:
Trang 11Giá trị dải dưới Bollinger Bands ngày 8/9 (425,78) có sự gia tăng so vớingày 7/9 (424,951), tín hiệu dự báo dải này có xu hướng đi ngang và hướng lêntrên, không giảm xuống về mặt giá trị nữa.
Giá trị dải trên của Bollinger Bands có sự giảm điểm từ mức 478,74 (7/9)xuống còn 476,48 (8/9), diễn tả dải này có xu hướng giảm xuống và đi ngang
Giá trị dải giữa Bollinger Bands có sự giảm rất nhẹ từ 451,845 (7/9)xuống còn 451,13 (8/9), diễn tả dải này có xu hướng đi ngang một thời gianngắn rồi hướng lên
Khi một xu hướng bắt đầu đi lên sau khi chạm đáy, có lúc sẽ điều chỉnh
và mức hỗ trợ nên xem xét mua vào tốt nhất là dải giữa Bollinger Bands (SMA20) khoảng quanh 451-453
NDT cần quan sát trong các phiên tới: nếu 2 dải trên và dưới BB có xuhướng co lại và đi ngang, sẽ dự báo sắp tới đường giá có sự bứt phá tăng điểmmạnh, có thể sẽ vượt 470-475 trong vài phiên sắp tới
Chiến lược mua vào:
Vn-Index ngày 9/9 sẽ test lại mức giá thấp nhất ngày 8/9 khoảng quanh
453 và nếu chạm mức này bật lên đóng cửa cao hơn 453 – tín hiệu tăng giá rấtmạnh sẽ hướng tới 470 trong 1-2 phiên tới
Đối với NDT lướt sóng: nếu Vn-Index giảm về vùng 453 nên mạnh dạnmua vào cổ phiếu có sẵn trong tài khoản, có thể xem xét bán ra trong phiênhoặc 1-2 phiên tới khi đó sẽ có lợi nhuận
Đối với NDT đón con sóng lớn khi Vn-Index vượt 470 và cao hơn nênxem xét giải ngân các cổ phiếu có sự bật mạnh như: ORS, PTC, UDC, KKC,…
3 MACD - Chỉ số biến động chênh lệch hội tụ trung bình trượt.
3.1 Khái niệm:
Trang 12Đường trung bình di động hội tụ phân kỳ là một chỉ số dao động được pháttriển bởi Gerald Appel Nó chỉ ra khi nào động lực của một giao dịch thay đổi
từ xu hướng lên tới xu hướng xuống và ngược lại
MACD là chỉ báo thị trường rất phổ biến khi sử dụng công cụ phân tích
kỹ thuật Nó được cấu thành bởi 3 thành phần chính
1 Đường MACD: EMA (12): Đường trung bình giá trong 12 phiên gần nhất Trừ EMA (26): Đường trung bình giá trong 26 phiên gần nhất
2 Đường tín hiệu MACD: là đường EMA (9) của đường MACD
3 Đường biểu đồ MACD: là MACD trừ đi đường tín hiệu MACD
3.2 Cách xác định:
a Đường MACD nhanh
Là chênh lệch giữa trung bình trượt mũ ngắn hạn và trung bình trượt mũdài hạn của giá với hệ số làm trơn tương ứng với các chu kỳ 12/13 và 26 phiên
Trang 13MACD nhanh = EMA (26) – EMA (13)
Hệ số làm trơn ( Smoothing factor) = 2/n+1
Ví dụ: Hệ số làm trơn với chu kỳ 9 phiên là 0,2
EMA = [ Giá đóng cửa ngày i x Hệ số làm trơn] + [Trung bình trượt ngày i- 1
- Sự phân kỳ của MACD
MACD và sự giao cắt của đường trung bình giá (MA)
Phương pháp sử dụng đầu tiên này là sự nghiên cứu hiện tượng giao cắt của cácđường trung bình giá
- Khi đường trung bình ngắn hạn EMA (12) cắt và nằm trên đường trung bìnhdài hạn EMA (26), điều này tương đương với đường MACD cắt và nằm trênđường zero
- Khi đường trung bình ngắn hạn EMA (12) cắt và nằm phía dưới đườngtrung bình dài hạn EMA (26), điều này tương đương với MACD cắt và nằmphía dưới đường zero
Trang 14Tín hiệu mua: Tín hiệu mua xuất hiện khi đường MACD cắt và nằm phía trên
Tín hiệu mua: Xuất hiện khi đường MACD cắt và nằm phía trên đường tín
hiệu của MACD
Tín hiệu bán: xuất hiện khi đường MACD cắt và nằm phía dưới đường tín hiệu
của MACD
MACD và sự giao cắt của các đường trung bình là một trong những cách
sử dụng kỹ thuật chỉ báo MACD Sử dụng biểu đồ MACD và sự phân kỳ củaMACD là 2 phương pháp quan trọng để đưa ra những cảnh báo đảo chiều
Trang 15Biểu đồ MACD
Biểu đồ MACD là 1 dạng khá đơn giản, nó nói lên sự khác biệt giữa đường MACD
và đường tín hiệu của MACD
Có 2 điều quan trọng nằm trong biểu đồ MACD:
- Hội tụ : Biểu đồ MACD co rút lại, điều này mang ý nghĩa là có sự thay đổi
hướng đi của đường giá đang chậm lại Đường MACD có khuynh hướng tiếngần với đường tín hiệu của MACD
- Phân kỳ : Biểu đồ MACD giãn ra hoặc là tăng độ cao(không kể chiều âm
hay dương), điều này mang ý nghĩa làm cho hướng đi của xu hướng giá tăng lênnhanh và chắc chắn
Trang 16Khi đường giá di chuyển theo xu hướng giá một cách mạnh mẽ thì biểu
đồ MACD sẽ tăng độ cao Khi biểu đồ MACD không tăng độ cao nữa hoặc nóbắt đầu co rút lại thì thị trường lúc đó có khuynh hướng suy giảm nhẹ và cảnhbáo có nhiều khả năng đường giá sẽ có đảo chiều trong thời gian sắp tới
Tín hiệu mua: Khi biểu đồ MACD nằm dưới đường zero và bắt đầu hội tụ về
hướng đường zero
Tín hiệu bán: Khi biểu đồ MACD nằm trên đường zero và bắt đầu hội tụ về
hướng đường zero
Trang 17III.THỰC TẾ SỬ DỤNG PTKT Ở VIỆT NAM.
Thời gian qua, các nhà đầu tư sử dụng phân tích kỹ thuật gặp phải nhiềuthất bại trong dự đoán thị trường Nhiều người thậm chí còn cho rằng phân tích
kỹ thuật không áp dụng được ở Việt Nam Vậy đâu là nguyên nhân của nhữngthất bại này và liệu phân tích kỹ thuật có thực sự không hiệu quả? Có ba nguyênnhân chính làm phân tích kỹ thuật chưa hiệu quả: đó là nền tảng của phân tích
kỹ thuật không phải lúc nào cũng đúng, sự chậm trễ của các chỉ số và sự ápdụng máy móc của người sử dụng