Cây thuốc vị thuốc Đông y – KEO GIẬU & CÂY BƯỚM BẠC CÂY BƯỚM BẠC Cây bướm bạc CÂY BƯỚM BẠC Caulis et Radix Mussaendae Pubescentis.. Quả hình cầu, rất nhiều hạt nhỏ màu đen, vò ra có c
Trang 1Cây thuốc vị thuốc Đông y – KEO GIẬU & CÂY BƯỚM BẠC
CÂY BƯỚM BẠC
Cây bướm bạc
CÂY BƯỚM BẠC
Caulis et Radix Mussaendae Pubescentis
Tên khác: Bươm bướm, Hoa bướm
Tên khoa học: Mussaenda pubescens Ait.f., họ Cà phê (Rubiaceae)
Trang 2Mô tả: Cây nhỏ mọc trườn 1-2m Cành non có lông mịn Lá nguyên, mọc đối,
màu xanh lục sẫm ở mặt trên, nhạt và đôi khi có lông ở mặt dưới Lá kèm hình sợi Cụm hoa xim ngù mọc ở đầu cành Hoa màu vàng, có lá đài phát triển thành bản màu trắng Quả hình cầu, rất nhiều hạt nhỏ màu đen, vò ra có chất dính
Ra hoa kết quả vào mùa hè
Bộ phận dùng: Hoa, rễ, cành lá
Phân bố: Loài của Trung Quốc và Bắc Việt Nam Ở nước ta, theo tài liệu của
Viện Dược liệu, loài này có gặp ở các tỉnh vùng Tây Bắc
Thành phần hóa học chính: saponin (Mussaendosides D, E and H)
Công năng: Thanh nhiệt, giải biểu, khai uất, hoà lý, lương huyết, tiêu viêm
Công dụng: Lợi tiểu, chữa ho, hen, gẫy xương, chữa tê thấp
Cách dùng, liều lượng:
- Hoa làm thuốc lợi tiểu, chữa ho, hen, ngày 6-12g dạng thuốc sắc Dùng ngoài không kể liều lượng giã nát đắp lên nơi viêm tấy, gẫy xương
- Rễ làm thuốc giảm đau, chữa tê thấp, ngày dùng 10-20g dưới dạng thuốc sắc, cành, thân lá cũng dùng như rễ ngày 6-12g
Bài thuốc:
1 Phòng ngừa say nắng, dùng Bướm bạc 60-90g, nấu nước uống như trà
Trang 32 Sổ mũi, say nắng: Thân Bướm bạc 12g, lá Ngũ tráo 10g, Bạc hà 3g Ngâm trong nước sôi mà uống
3 Giảm niệu: Thân Bướm bạc 30g, dây Kim ngân tươi 60g, Mã đề 30g sắc nước uống
KEO GIẬU
Cây Keo giậu
KEO GIẬU
Semen Leucaenae leucocephalae
Trang 4Tên khác: Táo nhơn, Bình linh, Bọ chét, Keo giun, Bồ kết dại, Phắc căn thin
(Tày), Nàng dung điẳng (Dao)
Tên khoa học: Leucaena leucocephala (Lam.) De Wit (tên đồng nghĩa Leucaena
glauca Benth.), họ Đậu (Fabaceae)
Mô tả: Cây nhỏ cao tới 5m, không có gai, vỏ thân màu nâu nhạt Lá kép lông
chim hai lần; cuống chung dài 12-20mm; lá lông chim 4-8 đôi; lá chét 12-18 đôi gần như không cuống và hình lưỡi liềm, dài 10-15mm, rộng 3-4mm Cụm hoa hình đầu ở nách lá, gồm nhiều hoa màu trắng Quả đậu dẹt màu nâu, dài 13-14cm, rộng 15mm, đầu quả có mỏ nhọn; hạt 15-20, dẹt, lúc non màu lục; khi già màu nâu nhạt, cứng, nhẵn Mùa hoa tháng 4-6; quả tháng 7-9
Phân bố: Cây mọc hoang và được trồng khắp nơi trong nước ta, thường được
trồng ở nhiều nơi làm hàng rào giậu, làm cây che bóng và cải tạo đất, lấy lá làm thức ăn cho gia súc và làm phân xanh
Thu hái: Thu hoạch quả chín vào mùa hè – thu, rồi đập lấy hạt, đem phơi hay sấy
khô Có thể dùng hạt tươi
Bộ phận dùng: Hạt (Semen Leucaenae leucocephalae), còn dùng cả rễ
Thành phần hoá học: Lá chứa tanin, quercitrin và là nguyên liệu cho protein và
caroten Còn có alcaloid độc là leucenin hoặc leucenol tương tự chất mimosin trong các loài thuộc chi Mimosa Hạt chứa dầu béo, trong đó có các acid béo (palmitic, stearic, behenic, lignoceric, oleic và linoleic); hạt còn chứa chất nhầy gồm mannan, galactan và xylan
Trang 5Công năng: Trị giun đũa Vỏ rễ có tác dụng giải uất, tiêu thũng, chỉ thống
Công dụng: Để trị giun, thường dùng hạt tươi ăn hoặc dùng hạt khô rang lên cho
nở, tán bột uống, hoặc thêm đường làm thành bánh
Cách dùng, liều lượng: Hạt khô rang cho nở, tán bột dùng hoặc thêm đường làm
thành bánh Ngày dùng 10 - 15g (trẻ em) hoặc 25 - 50g (người lớn), uống vào sáng sớm lúc đói, uống liền trong 3 - 5 buổi sáng
Chú ý: Ăn nhiều hạt keo có thể bị rụng tóc