Phép chữa bệnh bằng châm cứu trên lâm sàng là thông qua tác dụng của du huyệt và kinh lạc mà điều tiết tạng phủ, vận hành khí huyết để đạt mục đích chữa hoặc dự phòng bệnh tật.. Do đó kh
Trang 1Đông Y Châm Cứu
Phần thứ hai
DU HUYỆT VÀ PHÂN
LOẠI DU HUYỆT
Trang 21 Thế nào là du huyệt
Du huyệt cũng gọi là khổng huyệt, huyệt đạo, huyệt vị, kinh huyệt, khí huyệt Chữ Du có nghĩa giống như luân, là chuyển luân (theo Tứ giác hiệu mà tân từ điển thì chữ Du có nghĩa là: đáp ứng các yêu cầu Có thể định nghĩa này phù hợp với tính năng, tác dụng của huyệt vị hơn) Huyệt có nghĩa là một khoảng trống Du huyệt là điểm trên bề mặt cơ thể thông với kinh lạc Nó phân bố ở trên mặt đường kinh mạch và là nơi để châm cứu
Tác dụng của du huyệt: về mặt chuẩn đoán, có thể theo nơi phân bố của nó thăm dò điểm phản ứng bề ngoài để tham khảo chuẩn đoán bệnh tật Phép chữa bệnh bằng châm cứu trên lâm sàng là thông qua tác dụng của du huyệt và kinh lạc mà điều tiết tạng phủ, vận hành khí huyết để đạt mục đích chữa hoặc dự phòng bệnh tật
2 Phân loại Du huyệt
Số du huyệt trên cơ thể người có rất nhiều, nhưng đại thể chia ra làm ba loại là: Kinh huyệt, Kỳ huyệt và Á thị huyệt
a Kinh huyệt:
Là huyệt có tên nhất định và có nơi nhất định, theo đúng thủ, túc tam âm kịnh, thủ, túc tam dương kinh, nhâm và đốc mạch mà dàn ra, thành hệ thống 14 kinh, gọi là kinh huyệt Các kinh huyệt này đã trải qua sự chứng minh chữa bệnh ở bản kinh, vì vậy quy nạp ở trong bản kinh, chúng phát triển từ ít tới nhiều, từ tán loạn đến hệ thống mà thành
b Kỳ huyệt:
Là những phát hiện dần dần sau khi 14 đường kinh đã hình thành Các y gia đời sau đã không nghĩ đến việc đem toàn bộ chúng nhập vào trong 14 kinh (Các huyệt mới gần đây
Trang 3tìm ra gọi là tân huyệt) Do một số kỳ huyệt (đối với một số bệnh) có tác dụng chữa bệnh đặc thù, vì thế gọi là kỳ huyệt hoặc kinh ngoại kỳ huyệt (dịch là huyệt lạ ngoài kinh) Kỳ huyệt phân bố rất rộng, nhưng đều có quan hệ mật thiết với hệ thống kinh lạc, như huyệt
Ấn đường trên đốc mạch, Trửu tiêm trên kinh tam tiêu
c Á thị huyệt:
Là nơi huyệt vị không cố định, lấy cục bộ chỗ bệnh hoặc nơi có phản ứng ấn đau làm nơi châm chữa, nó không có tên huyệt vị nhất định, gọi là Á thị huyệt, hoặc gọi là huyệt bất định, huyệt thiên ứng á thị huyệt còn dùng cho chữa tật nạn ở bắp thịt phần nông (như đau bắp thịt), có thể bổ trợ khi chữa
3 Cách lấy huyệt
Trước khi châm cứu phải tìm vị trí của du huyệt trên thân thể người ta, đó gọi là cách lấy huyệt Khi gặp chứng bệnh thì việc lấy huyệt chính xác hay không có quan hệ mật thiết tới kết quả chữa bệnh Nếu lấy huyệt chính xác, kết quả chữa bệnh tốt, lấy huyệt không chính xác, kết quả chữa bệnh kém Vì thế, nhất định cần phải lấy huyệt cho đúng Huyệt
vị phân tán ở đầu mặt, thân mình, tứ chi, muốn lấy được huyệt chính xác không những yêu cầu người bệnh phải có thư thế và động tác nhất định như nằm nghiêng, nằm ngửa, nằm sấp, gấp khuỷu tay, dang tay, há mồm Người thầy thuốc còn phải nắm vững được phương pháp lấy huyệt
Nói chung, phương pháp lấy huyệt thường dùng có ba loại
A Căn cứ vào sự bộc lộ tự nhiên ở cơ thể con người mà lấy huyệt Cách lấy huyệt này chính xác, giản tiện, được vận dụng nhiều nhất trên lâm sàng; như lấy chính giữa hai lông mày là huyệt ấn đường, lấy hai ngón trỏ giao chéo nhau, đầu chót ngón trỏ trên đầu xương quay là huyệt Liệt khuyết, lấy điểm chính giữa đường nối hai đầu vú là huyệt Chiên trung Chiếu thẳng rốn sang phía sau cột sống để lấy huyệt Mệnh môn Co khuỷu tay thành góc vuông lấy ở đầu nếp gấp khuỷu tay cạnh trong là huyệt Thiếu hải; hai
Trang 4tay buông xuôi xuống thì chỗ đầu chót ngón giữa nằm trên cạnh đùi là huyệt Phong thị Khi gấp hẳn đầu vào cổ thì mỏm gai đốt cổ 7 nổi lên rất rõ, phía dưới đốt cổ 7, tức
là bên trên đốt sống lưng I lấy huyệt Đại chuỳ, bên trên đốt lưng 2 là huyệt Đào đạo
B Theo cách đo bằng thốn * ngón tay (chỉ thốn pháp - đồng thân thốn) Là cách lấy
bề rộng mấy chỗ ở ngón tay người bệnh làm tiêu chuẩn đo lường lấy huyệt Nếu như thân chất người bệnh và thầy thuốc tương tự, có thể dùng tay thầy thuốc để đo
Cách lấy đồng thân thốn ngón giữa: là bảo người bệnh dùng ngón giữa và ngón cái tay đặt nối nhau thành vòng tròn rồi đo lấy cự ly giữa hai đầu nếp gấp cạnh đốt giữa của ngón giữa làm một thốn Cách tiện làm tiêu chuẩn cho việc lấy huyệt ở tứ chi và
bề mặt ngang vùng lưng
Cách lấy đồng thân thốn ngón cái: lấy độ rộng đốt 1 ngón cái (chỗ ngang khớp đốt) làm 1 thốn, hoặc cả hai ngón trỏ và giữa làm 2 thốn, hoặc cả bốn ngón (trừ ngón cái) làm 3 thốn Bề ngang bốn ngón gọi là nhất phu pháp, (ở Việt Nam ngày xưa dùng bề ngang bốn ngón tay kẹp lại để làm đơn vị đo lường gọi là một vổ)
Những cách đo này rất đơn giản nhưng không chuẩn xác khi đo trên các đoạn xương
vì vậy trên các đoạn xương phải có cách đo riêng gọi là cốt độ pháp (phép đo ở
xương)
C Cách chia thốn theo độ dài xương: cách chia thốn theo độ dài xương còn gọi là cốt
độ pháp, cách này lấy khoảng cách giữa các bộ phận trong cơ thể quy định thành độ dài hoặc độ rộng nhất định rồi chia thành một số phần nào đó, mỗi phần như thế gọi là một thốn Phương pháp này bất luận người bệnh là trai, gái, trẻ, già, hoặc cao, thấp, gầy,béo, nhất loạt chiểu theo tiêu chuẩn này mà chia ra lấy huyệt, như thế sẽ rất chính xác
Bảng dưới đây ghi cách chia thốn cốt độ thường dùng
Trang 5Bộ
Số
từ mép tóc trước trán đến mép tóc sau gây 12
từ mép tóc trước đến giữa lông mày (ấn
đường) 3
Nếu mép tóc trước không rõ
ràng có thể
Lấy từ giữa lông mày đến mép tóc sau gáy làm 15 thốn
từ mép tóc sau gáy đến đốt cổ 7 3
Nếu mép tóc sau gáy không
rõ ràng thì lấy mép tóc trước đến đốt cổ 7 là 15 thốn
Ở đầu
Bề rộng giữa 2 góc tóc trước trán trên
lông mày 9
Từ giữa lông mày đến đốt cổ
7 là 18 thốn
khoảng cách giữa hai đầu vú 8
ở ngực bụng khi chia bề ngang, để lấy huyệt, căn cứ vào khoảng cách giữa hai đầu vú Khi chia chiều dọc, nhất thiết lấy khoảng cách các xương sườn làm chuẩn
từ lõm dưới xương ức đến rốn 8
Ở ngực
bụng
từ giữa rốn đến bờ trên xương mu 5
Trang 6từ nếp hố nách đến sườn 11 12
Ở lưng từ cạnh trong xương bả vai đến giữa cột
sống 3
chiều dọc của lưng theo khoảng cách các đốt sống làm căn cứ lấy huyệt
từ nếp gấp nách đến nếp gấp khuỷu tay 9 theo cạnh tron cách tay Chi trên
từ nếp gấp khuỷu tay đến nếp gấp cổ tay 12 dùng cho cả hai cạnh trong
và ngoài cẳng tay
từ mấu chuyển lớn đến đầu gối xương đùi 19
dùng chung cho cả ba cạnh trước, ngoài, sau của chi
dưới
từ đầu gối đến mắt cá ngoài 16
Chi
dưới
từ bờ trên xương mu đến bờ bên trên
xương đùi chỗ đầu gối 18
dùng chung cho cạnh trong
chi dưới
4 Huyệt đặc định (huyệt theo đặc tính nhất định)
Trong kinh huyệt (có một số huyệt vị có tác dụng trị liệu đặc thù gọi là huyệt đặc
định Do đó đặc tính nhất định, cho nên nó được quy nạp lại giới thiệu riêng, để trên
Trang 7lâm sàng phát huy tác dụng được tốt hơn
a Nguyên huyệt:
Là chỗ chủ yếu của kinh khí trong các kinh qua lại, những huyệt này hầu hết nằm ở xung quanh khớp cổ tay, khớp cổ chân Do đó khí của tạng phủ thông qua kinh lạc thường biểu hiện ở những huyệt này, vì thế nó và tạng phủ có quan hệ mật thiết vô cùng, mỗi tạng phủ có bệnh biến thường phản ứng ở nguyên huyệt của kinh đó nói lên rằng nguyên huyệt có tác dụng to lớn trong việc chữa bệnh tạng phủ
Huyệt vị của Nguyên huyệt là:
Thái uyên
Đại lăng
Thái khê
Uyển cốt
Hợp cốc
Khâu khư
Phế kinh Tâm bào Thận kinh Tiểu trường kinh Đại trường kinh Đảm kinh
Thần môn Thái bạch Thái xung Dương trì Kinh cốt Xung dương
Tâm kinh
Tỳ kinh Can kinh Tam tiêu kinh Bàng quang kinh
Vị kinh
Trang 8
b Lạc huyệt:
Lạc là ý nghĩa liên lạc, thông qua lạc huyệt có thể làm cho 12 kinh mạch có liên quan biểu lý hai kinh, vì vậy gọi là lạc huyệt Vì lạc huyệt có tác dụng liên quan, cho nên 12 kinh mạch mới thành một vòng đai kín, và dùng vào trị bệnh ở hai kinh biểu lý liên quan
có bệnh 14 kinh lạc đều có lạc huyệt, riêng tỳ kinh có hai lạc huyệt, gộp lại có 15 lạc huyệt
Huyệt vị của lạc huyệt là:
Tên huyệt Tên kinh Tên huyệt Tên kinh
Nội quan
Thông lý
Công tôn
Lãi câu
Ngoại quan
Phi dương
Phong long
Tâm bào kinh Tâm kinh
Tỳ kinh Can kinh Tam tiêu kinh Bàng quang kinh
Vị kinh
Liệt khuyết Đại chung Chi chính Thiên lịch Quang minh Trường cường Đại bao
Phế kinh Thận kinh Tiểu trường kinh Đại trường kinh Đảm kinh Đốc mạch
Tỳ kinh đại lạc
Trang 9Cưu vỹ Nhâm mạch
c Bối du huyệt:
Là chỗ khí tạng phủ luân chuyển ở vùng lưng, vì vậy gọi là du huyệt Tuy nó phân bố cách đều trục giữa ở lưng là 1,5 thốn trên đường bàng quang kinh, nhưng vì nó tương thông với các tạng phủ nên chữa được bệnh tạng phủ Khi tạng phủ có bệnh, thường thường du huyệt tương ứng trên lưng sẽ xuất hiện cảm giác ấn đau hoặc tê tức, vì vậy, chữa bệnh của bản tạng tại du ở lưng hiệu quả rất rõ rệt Như bệnh dạ dày lấy huyệt Vị du bệnh thận lấy huyệt Thận du Bối du huyệt ngoài việc chữa bệnh tạng phủ ra, lại có tác dụng chữa các khí quan liên quan, như can khai khiếu ở mắt, châm Can du có thể chữa
được bệnh ở mắt
Huyệt vụ của huyệt bối du là
Tâm du
Tỳ du
Thận du
Đại trường du
Tam tiêu du
Tâm
Tỳ Thận Đại trường Tam tiêu
Can du Phế du Quyết âm du Tiểu trường du
Vị du
Can Phế Tâm bào Tiểu trường
Vị
Trang 10Bàng quang du Bàng quang Đảm du Đảm
d Mộ huyệt:
Mộ có ý nghĩa là kết tụ lại, nơi khí của tạng phủ kết tụ ở ngực, bụng, gọi là mộ huyệt, ý nghĩa lâm sàng của nó tương tự như bối du huyệt, đối với các tạng phủ tương ứng với nó,
nó có tác dụng đặc thù Như bệnh dạ dày, lấy huyệt Trung quản, bệnh bàng quang lấy
huyệt Trung cực
Huyệt vị của mô huyệt là:
Tên huyệt Tên tạng phủ Tên huyệt Tên tạng phủ
Cự khuyết
Trung quản
Quan nguyên
Trung phủ
Nhật nguyệt
Kinh môn
Tâm
Vị Tiểu trường Phế Đảm thận
Chiên trung Thạch môn Trung cực
Kỳ môn Chướng môn Thiên du
Tâm bào Tam tiêu Bàng quang Can
Tỳ Đại trường
đ Khích huyệt:
Trang 11khích có ý nghĩa là lỗ trống không (theo Tứ giác hiệu mã tân từ điển thì khích là oán trách) Khích huyệt là nơi kinh khí tụ ở sâu, do đó gọi là khích huyệt Khích huyệt phân phối ở tứ chi, phần lớn là ở phía dưới khuỷu và đầu gối Mỗi kinh trong 12 kinh đều có một khích huyệt Nó có thể chữa bệnh ở nơi đường kinh tuần hành và cả các loại bệnh ở tạng gốc sở thuộc, nhưng trên lâm sàng thường để chữa bệnh cấp tính, chứng đau, chứng viêm Như đau ngực, tim, lấy huyệt Khích môn, đau dạ dày lấy huyệt Lương khâu
Huyệt vị của khích huyệt:
Khổng tối
Âm khích
Ngoại khâu
ôn lưu
Dưỡng lão
Trung đô
Phế kinh Tâm kinh Đảm kinh Đại trường kinh Tiểu trường kinh Can kinh
Khichs môn Lương khâu Kim môn Hội tông Địa cơ Thuỷ tuyền
Tâm bào kinh
Vị kinh Bàng quang kinh Tam tiêu kinh
Tỳ kinh Thận kinh
e Bát hội huyệt:
Là nơi hội họp của tám thứ: tạng, phủ, khí, huyết, gân, mạch, xương, tuỷ Nạn thứ 45 trong Nạn Kinh nói: Bệnh nhiệt ở trong, lấy khí huyệt hội của cái đó (Nhiệt bệnh tại nội giả, thủ kỳ hội chi khí huyệt dã), ứng dụng lâm sàng, không giới hạn ở bệnh nhiệt, mà
Trang 12nặng về phía bệnh nội chứng Thuộc về bệnh chứng của một số mặt, có thể sử dụng hội
huyệt hữu quan
Bảng 8 hội huyệt
Tạng hội = Chướng môn
Huyết hội = cách du
Cốt hội = Đại trữ
Phú hội = Trung quản Căn hội = Dương lăng tuyền Tuỷ hội = Tuyệt cốt
Khí hội = Chiên trung Mạch hội = Thái uyên
g Ngũ Du huyệt:
12 kinh mạch ở tứ chi từ khuỷu tay và đầu gối trở xuống đều có 5 loại huyệt đặc định là Tỉnh, Huỳnh, Du, Kinh, Hợp, gọi là ngũ du huyệt Từ đầu chót của tứ chi hướng về khuỷu và đầu gối, mạch khí dàn ra từ nhỏ đến lớn, từ nông đến sâu, từ xa đến gần, do đó nói: chỗ xuất là Tỉnh, chỗ lưu là Huỳnh, chỗ trú là Du, chỗ hành là Kinh, chỗ nhập là Hợp' (theo thiên Cứu châm nhập nhị nguyên sách Kinh Khu), đó là lấy đặc điểm hình dung theo tên gọi của dòng nước chảy Tỉnh là nguồn từ dưới đất ra, hình dung về mạch khí nông, nhỏ, huyệt đó thường ở cạnh móng của ngón tay chân Huỳnh là nước thành dòng nhỏ, mạch khí lớn, huyệt đó ở chỗ vùng ngón, bàn của tay chân Du là vận chuyển, mạch khí đã rất thịnh, huyệt đó thường ở chỗ khớp cổ tay, cổ chân và phụ cận, Kinh là dòng ngước lớn, mạch khí chảy và trú ở đó, huyệt thường ở vùng xung quanh khớp cổ tay, cổ chân và cẳng tay, cẳng chân Hợp là xoáy hợp lại, mạch khí sâu lớn,huyệt thường
ở xung quanh khớp khuỷu tay, đầu gối
Ứng dụng trên lâm sàng của ngũ du huyệt, sách Linh Khu nói rằng: Bệnh tại tạng lấy Tỉnh; bệnh biến ở mầu sắc lấy ở Huỳnh; bệnh có lúc tăng, lúc giảm, lấy ở Du, bệnh biến
ở tiếng (âm) lấy ở Kinh; mãn kinh mà có máu cũng như bệnh ở dạ dày và ăn uống không điều độ mà mắc bệnh, lấy ở Hợp Nạn thứ 68 của Nạn kinh lại đã nói thêm cho rõ hơn là:
Trang 13Tỉnh huyệt chữa đầy tức dưới tâm; Huỳnh huyệt chữa mình nóng sốt, Du huyệt chữa mình nặng khớp đau, Kinh huyệt chữa ho hắng, nóng rét; Hợp huyệt chữa nghịch khí mà tiết Đó là cách nói về ngũ du huyệt và các đặc điểm chủ trụ của nó, chúng ta ghi nhận để
tham khảo ứng dụng trên lâm sàng
Bảng ngũ du huyệt
Tinh Huỳnh Du Kinh Hợp Phế
Tâm bào
Tâm
Tỳ
Cam
Thận
Thiếu thương
Trung xung Thiếu xung
Ân bạch Đại đôn Dũng tuyền
Ngư tế Lao cung Thiếu phủ Đại đô Hành gian Nhiên cốc
Thái uyên Đại lăng Thần môn Thái bạch Thái xung Thái khê
Kinh cử Gian sử Linh đao Thương khâu Trung phong Phục lưu
Xích trạch Khúc trạch Thiếu hải
Âm lăng tuyền Khúc tuyền
Âm cốc
Đại trường Thương dương Nhị gian Tam gian Dương khê Khúc trì
Trang 14Tam tiêu
Tiểu trường
Vị
Đảm
Bàng quang
Quan xung Thiếu trạch
Lê đoài Khiếu âm Chí âm
Dịch môn Tiền cốc Nội đinh Hiệp khê Thông cốc
Trung chủ Hậu khê Hăm cốc Lâm khấp Thúc cốt
Chi câu Dương cốc Giải khê Dương phù Côn luân
Thiên tinh Tiểu hải Túc tam lý Dương lăng tuyền
Uỷ trung
Hợp huyệt trong ngũ du huyệt đối với bệnh tạng phủ có tác dụng rất trọng yếu Thiên Tà khí tạng phủ bệnh hình, sách Linh Khu nói: Huỳnh, Du chữa bệnh ở ngoài kinh lạc, Hợp chữa bệnh ở trong tạng phủ Trị bệnh của lục phủ bằng Hợp huyệt, lại lấy Hợp huyệt của túc tam dương kinh là chính Vị, Bàng quang, Đảm ra ở túc tam dương, mà đại trường, tiểu trường, tam tiêu tuy nhiên hợp trên ở thủ kinh, đồng thời cũng xuất hiện ở túc tam dương Như thiên Bản luận sách Linh Khu đã nói: Lục phủ đều ra ở túc tam dương, Hợp
ở trên tay Đó là do lục phủ ở trong vùng bụng, có quan hệ với túc kinh rất mật thiết, vì vậy ở trên túc tam dương kinh đều có các Hợp huyệt đó Vị hợp ở Túc tam lý Đại trường hợp ở Thượng cự hư Tiểu trường hợp ở Hạ cự hư, đều thuộc túc dương minh vị
kinh
Thiên Bản luân lại nói Đại trường, tiểu trường đều thuộc ở vị, đó là nói công năng sinh lý trên dưới tương thừa Bàng quang Hợp ở Uỷ trung, Tam tiêu Hợp ở uỷ Dương, đều thuộc túc tái dương bàng quang kinh, là do thuỷ đạo ở tam tiêu xuất ra có quan hệ thuộc về bàng quang Đảm hợp ở Dương lăng tuyền Trên vừa kể là hạ Hợp huyệt của bệnh lục
phủ, hoặc gọi là Phủ bệnh Hợp Luân
Trang 15
Bảng lục phủ hạ Hợp huyệt
Vị trường = Túc tam lý
Đại trường = Thượng cự hư
Tiểu trường = Hạ cự hư
Bàng quang = uỷ trung
Tam tiêu = uỷ dương
Dương lăng tuyền
Trên túc dương minh
Trên túc thái dương
Trên túc thiếu dương
h Bát mạch giao hội huyệt:
Là 8 huyệt vị ở tứ chi thông với tám mạch kỳ kinh Kỳ kinh bát mạch tuy không tuần hành tất cả trên tứ chi, nhưng do chúng có quan hệ giao hội với 12 kinh mạch, cho nên huyệt vị ở vùng tứ chi đều có thông với kỳ kinh, trên mặt điều trị thích ứng, có quan hệ tới bệnh chứng của kỳ kinh Bát mạch giao hội huyệt ở tứ chi trên và chi dưới, khi ứng