1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Địa chất và tài nguyên dầu khí Việt Nam - Chương 8 doc

26 619 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 5,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về phương diện địa chất, bể Phú Khánh giáp giới với bể Cửu Long ở phía Nam, bể Nam Côn Sơn ở phía Đông Nam, bể Sông Hồng ở phía Bắc, bể Hoàng Sa ở phía Đông Bắc, thềm Đà Nẵng, thềm Phan

Trang 2

Bể Phú Khánh nằm dọc theo bờ biển

miền Trung Việt Nam, giới hạn bởi vĩ tuyến

Đông hoặc cũng có thể phát triển hơn về

phía Đông (xem Hình 5.1, chương 5) Về

phương diện địa chất, bể Phú Khánh giáp

giới với bể Cửu Long ở phía Nam, bể Nam

Côn Sơn ở phía Đông Nam, bể Sông Hồng

ở phía Bắc, bể Hoàng Sa ở phía Đông Bắc,

thềm Đà Nẵng, thềm Phan Rang ở phía Tây

và về phía Đông, nơi chưa được nghiên cứu,

có thể tồn tại một bể khác nằm giữa bể Phú

Khánh và phần sâu nhất của Biển Đông

Địa hình đáy biển trong vùng rất phức

tạp với đặc trưng của một biển rìa, bao gồm

các địa hình: thềm lục địa, sườn lục địa và

chân lục địa với các hố sụt và khối nâng địa

phương, mực nước biển sâu từ 0-3.000m

Các đơn vị địa chất ở đây nằm trên phần vỏ

lục địa và vỏ chuyển tiếp giữa lục địa và

đại dương, cũng có thể có một phần nằm

trên vỏ á đại dương ở phía Đông (?) Thềm

lục địa rất hẹp, mực nước sâu từ 0-200m,

nằm trên móng granit phân dị, nơi móng

nhô cao tạo thành các dải nâng ngầm và

nơi sụt lún tạo thành các trũng tích tụ nhỏ

Do hoạt động của các hệ thống đứt gãy,

móng của thềm bị trượt theo khối, tạo ra

dạng địa hình bậc thang, sâu dần về phía

Biển Đông Sườn lục địa kế tiếp thềm Đà

Nẵng, Phan Rang là một vùng có độ sâu nước biển từ 150 đến 3.000m, độ dốc từ vài độ đến vài chục độ, bề rộng từ 20km-200km Mức độ phân cắt sườn lục địa cao hơn nhiều so với phần thềm, với nhiều dẫy núi ngầm và rạch ngầm (canyon) Ở phần phía Bắc, tương ứng với Quảng Nam đến Bình Định và phần phía Nam tương ứng với Bình Thuận-Ninh Thuận, sườn lục địa tương đối rộng, ngược lại ở vùng giữa, tương ứng với Nam Bình Định đến Khánh Hòa, sườn lục địa rất hẹp, có nơi chỉ còn 18km, tạo thành một hình móng ngựa, đánh dấu vùng biển tách giãn lấn sâu nhất vào gần địa khối Kon Tum Các đồng bằng biển thẳm địa hình tương đối bằng phẳng nằm ở phía ngoài chân sườn lục địa Tuy không có những tài liệu địa chấn nhưng theo các kết quả nghiên cứu trọng lực, nằm dưới đồng bằng biển thẳm là những địa hào kích thước khác nhau, đó là những trũng tích tụ, bề dày trầm tích có thể lên đến 3 - 4 km

Do bể Phú Khánh chủ yếu thuộc vùng nước sâu, công tác nghiên cứu còn ít, chưa có khoan thăm dò nên những nét cấu trúc địa chất chính được khái quát theo tài liệu khảo sát địa chấn khu vực và liên hệ với các bể trầm tích lân cận, nơi đã được nghiên cứu tương đối chi tiết, đã có phát hiện và đang khai thác dầu khí

1 Giới thiệu

Trang 3

2 Lịch sử nghiên cứu, tìm kiếm thăm dò

dầu khí

Mặc dù bể Phú Khánh còn ít được nghiên

cứu, song công tác nghiên cứu địa chất ở

phần đất liền sát phía Tây bể Phú Khánh

được các nhà địa chất Pháp nghiên cứu từ

rất sớm trong công tác khảo sát lập bản đồ

tỷ lệ 1:500.000 vùng Đà Nẵng (1935), Nha

Trang (1937) và Qui Nhơn (1942)

Điểm lộ dầu lần đầu tiên được phát

hiện vào 1920-1923 tại Đầm Thị Nại (Qui

Nhơn), phần đất liền kề với bể Phú Khánh

Năm 1944 các nhà địa chất Pháp đã khoan

tìm kiếm ở đây nhưng không còn tài liệu để

lại Từ 1944-1964, Saurin cũng đã nghiên

cứu điểm lộ dầu ở Đầm Thị Nại và kết luận

rằng nguồn dầu không phải từ Neogen mà

có lẽ từ các lớp Sapropel giàu tảo (algae)

ở vịnh Qui Nhơn cung cấp [27,28] Từ sau

năm 1960 nhiều cuộc khảo sát của các nhà

địa chất-địa vật lý Pháp, Mỹ, Đức, Nhật,

Trung Quốc đã được tiến hành trong các

chương trình nghiên cứu biển Đông Từ sau

năm 1970, các công ty dầu khí nước ngoài

đã tiến hành các nghiên cứu địa chất-địa vật

lý với mục đích tìm kiếm dầu khí sơ bộ dưới

sự quản lý của chính quyền Sài Gòn cũ và

từ 1979 đến nay các hoạt động nghiên cứu

càng được tăng cường dưới sự quản lý của

Tổng cục Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam và

sau này là Tổng công ty Dầu khí Việt Nam

Cho đến nay, ở vùng biển miền Trung thuộc

khu vực bể Phú Khánh đã có nhiều khảo

sát địa vật lý như GSI (Mỹ,1974), Malưgin

(Liên Xô, 1984), GECO-PRAKLA (1993),

NOPEC (1993) với khối lượng khảo sát

khoảng 17.000 Km tuyến địa vật lý

Các nghiên cứu trên phần đất liền được

nhiều nhà địa chất tiến hành từ 1977 đến

nay Lê Như Lai, Nguyễn Quang Hinh (1977); Phan Huy Quynh (1980); Sladen, Nguyễn Quang Bô (1991); Trần Tĩnh (1988-1997); Lê Thành (1998) đã phân tích các mẫu ở vùng Đầm Thị Nại và cho thấy loại dầu ở vết lộ tương tự với dầu trong carbonat Miocen ở giếng khoan 119-CH-1X và cho rằng dầu lộ có thể có nguồn gốc từ phần sâu của bề Phú Khánh dịch chuyển lên qua các đứt gãy trong vùng Năm 2000 Viện Dầu khí hợp tác với Viện Địa chất Nhật Bản (JGI) nghiên cứu các vết lộ từ Nông Sơn đến Kon Tum, Sông Ba, Đầm Thị Nại Năm 2002-2003 Phạm Quang Trung cùng các cộng sự ở Viện Dầu khí tiếp tục nghiên cứu các mẫu lộ dầu ở Đầm Thị Nại Các kết luận của các tác giả này còn rất trái ngược nhau nên vấn đề nguồn gốc dầu lộ, chất lượng nguồn đá mẹ còn chưa được giải quyết và cần phải nghiên cứu tiếp

Trong những năm 2001-2004, Viện Dầu khí đã chủ trì đề tài cấp nhà nước KC-09-06 nghiên cứu về địa động lực và tiềm năng dầu khí các vùng nước sâu, xa bờ, trong đó có khu vực bể Phú Khánh Cũng trong thời gian này, dự án ENRECA do Viện Dầu khí hợp tác với Cục Địa chất Đan Mạch và Greenland (GEUS) đã tiến hành nghiên cứu tổng thể địa chất và tiềm năng dầu khí bể Phú Khánh, trong đó có tập trung nghiên cứu sâu về địa hoá và trầm tích của khu vực Đầm Thị Nại và trũng Sông Ba, phần đất liền kề với bể Phú Khánh

Các kết quả nghiên cứu trên đây, được công bố trong các báo cáo tổng hợp hoặc chuyên đề, lưu trữ tại Trung tâm Thông tin

Tư liệu Dầu khí và Viện Dầu khí, thuộc Tổng công ty Dầu khí Việt Nam, và Viện Thông tin Lưu trữ Bảo tàng Địa chất, thuộc

Trang 4

Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam,

cũng như đã công bố trên các Hội nghị, tạp

chí trong và ngoài nước, được liệt kê trong

phần tài liệu tham khảo, là những nguồn tài

liệu chính để tham khảo viết chương này

Điểm nổi bật cần lưu ý là tất cả những điều

trình bày ở chương này đều dựa trên kết

quả giải thích địa chất các tài liệu địa vật

lý là chủ yếu vì trong khu vực này chưa có

công trình khoan Các giếng khoan dùng để

liên kết với tài liệu địa vật lý đều nằm ở

các bể trầm tích kế cận (Sông Hồng, Cửu

Long, Nam Côn Sơn), vừa xa, vừa có cấu

trúc địa chất khác biệt, lại bị phân cắt bởi

các hệ thống đứt gãy, các đới nâng phức

tạp nên độ chính xác còn chứa nhiều hạn

chế

3 Đặc điểm cấu kiến tạo

3.1 Các yếu tố cấu trúc chính

Trên cơ sở bản đồ cấu trúc móng trước

Đệ Tam có thể phân chia bể Phú Khánh và

vùng lân cận thành một số yếu tố cấu trúc

chính như (Hình 8.1):

• Thềm Đà Nẵng;

• Thềm Phan Rang;

• Đới nâng Tri Tôn;

• Trũng sâu Phú Khánh;

• Đới cắt trượt Tuy Hòa

Thềm Đà Nẵng nằm ở phía Tây Bắc

bể Phú Khánh, kéo dài theo phương bắc

nam, độ sâu mực nước nhỏ hơn 100m, với

tầng trầm tích Kainozoi mỏng, chiều dày

trầm tích biến đổi tăng dần về phía Đông

(Hình 8.2)

Thềm Phan Rang nằm ở phía Tây

Nam bể Phú Khánh Cả hai thềm này đều

là phần rìa Đông của địa khối Kon Tum và

là những khối tương đối vững chắc trong suốt quá trình hình thành, phát triển bể Phú Khánh Trong quá trình tách giãn, các thềm này được duy trì, chỉ có những nơi không vững chắc do ảnh hưởng của các khối đứt gãy, hình thành nên các địa hào hoặc bán địa hào nhỏ cũng như những địa lũy nhỏ Các địa hào - bán địa hào này chủ yếu phân bố ở vùng thềm Đà Nẵng (Hình 8.2) Các hoạt động kiến tạo ở vùng thềm rất yếu (Hình 8.3) Tương tự như thềm Đà Nẵng,

ở đây trầm tích Đệ Tam mỏng, thay đổi từ vài chục mét đến trên 1.000 m ở phía Đông Thành phần trầm tích chủ yếu là clastic Ở những đới cao thuộc rìa phía Đông phát triển các trầm tích carbonat trong Miocen

Đới nâng Tri Tôn nằm phía Đông địa

hào Quảng Ngãi, Bắc đới đứt gãy Đà Nẵng và trũng sâu Phú Khánh Đới nâng này còn có tác giả gọi là đới nâng Quy Nhơn [23] Qua tài liệu địa chấn có thể thấy vào

Trịng s©u Phĩ Kh¸nh

§ íi c¾t tr−

ỵtTu

yHoμ

§íi ®

øt g·y

§μ ng

Th Ịm P ra g

§ Þa

hμo

Q u¶

ng N g·i

BĨ S«ng Hång

BĨ Nam H¶i Nam

§ íi c¾t tr−

ỵtTu

yHoμ

§íi ®

øt g·y

§μ ng

Th Ịm P ra g

§ Þa

hμo

Q u¶

ng N g·i

BĨ S«ng Hång

BĨ Nam H¶i Nam

Hình 8.1 Các yếu tố cấu trúc bể Phú Khánh

và lân cận

Trang 5

Miocen giữa khu vực này chịu sự vận động

nén ép, bị uốn nếp và nâng lên, thậm chí bị

lộ ra trên mặt biển trong một thời gian dài,

nên bị bào mòn, đào khoét mạnh mẽ Hoạt

động này chấm dứt vào đầu Miocen muộn

và quá trình lún chìm lại xảy ra, tạo điều

kiện trầm đọng các trầm tích Miocen trên

và Pliocen - Đệ Tứ có thế nằm bình ổn và

tương đối phẳng

Trũng sâu Phú Khánh nằm ở khu vực

nước sâu, phía Tây tiếp giáp với vùng sườn

lục địa Đây là vùng có bề dày trầm tích lớn

nhất của bể Phú Khánh (Hình 8.3, 8.4) Bản

đồ dị thường trọng lực cho thấy phần phía

Đông của bể Phú Khánh là dị thường âm có

hình dạng gần đẳng thước với độ sâu cực

đại nằm ở vùng giao điểm giữa kinh tuyến

phía Đông của trũng sụt lún lớn này nằm ở

tiếp sang phần sâu nhất của biển Đông

Đới cắt trượt Tuy Hòa (Tuy Hoa shear

zone) nằm ở phía Tây Nam của bể Phú

Khánh là một vùng có các đứt gãy biên độ

lớn, một số trong các đứt gãy đó xuất phát từ trong móng (Hình 8.5) Phương cấu tạo tây bắc - đông nam của đới cắt trượt Tuy Hòa tương tự như phương của hệ thống đứt gãy Sông Hồng ở phần đất liền miền Bắc Việt Nam Theo Tapponnier (1982), điều này có lẽ liên quan đến sự biến dạng đới cắt trượt lớn (mega shear zone), kết quả của sự di chuyển khối Indochina và Âu - Á Trũng sụt lún cạnh đới cắt trượt Tuy Hòa được hình thành nối liền với phần lớn các địa hào xuất hiện trong pha tách giãn chính và trong đó các trầm tích Oligocen dưới, có thể có cả trầm tích Eocen đã trầm đọng Gần đây (2003) một số tác giả ở Viện Dầu Khí như Lê Đình Thắng, Lê Vân Dung còn phân chia thêm một đơn vị cấu trúc mới, đó là đới đứt gãy Đà Nẵng Đới này nằm ở phía Nam đới nâng Tri Tôn, tương

hạn phía cực Bắc của trũng sâu Phú Khánh Đới đứt gãy này bao gồm các khối đứt gãy trượt bằng có phương đông bắc - tây nam và sụt bậc, sâu dần về phía Đông Nam Các

Hình 8.2 Mặt cắt địa chấn tuyến VOR-93-101, qua thềm Đà Nẵng và đới đứt gãy Đà Nẵng

Trang 6

đứt gãy, bậc sụt được hình thành chủ yếu

trong pha tách giãn đầu tiên và các trầm

tích từ Eocen (?), Oligocen được trầm đọng

trong các địa hào kế cận (Hình 8.2)

Cùng với đới cắt trượt Tuy Hòa ở phía

cực Nam, đới đứt gãy Đà Nẵng tạo thành

khung hình móng ngựa hở về phía Đông

của trũng sâu Phú Khánh

Ngoài các yếu tố cấu trúc trên, một số

công trình nghiên cứu vùng này còn đưa

khu vực Đông Bắc bể Cửu Long, Tây Bắc

bể Nam Côn Sơn vào thành phần của khu

vực bể Phú Khánh [37] Phần mô tả các khu

vực này bạn đọc có thể tham khảo trong

các chương 9, 10 của quyển sách này

3.2 Lịch sử phát triển bể Phú Khánh

Bể Phú Khánh là một bể tách giãn rìa

lục địa thụ động hoặc còn có thể xem là

một bể rìa lục địa liên quan đến va chạm

các mảng kiến tạo Ấn Độ, Âu - Á và hoạt

động tách giãn biển Đông với lịch sử phát

triển nhiều pha Bề dày trầm tích từ 500m

ở rìa phía Tây và hơn 10.000m ở trung tâm

những hố sụt phía Đông bể Ở phía Tây, bể Phú Khánh tiếp giáp với thềm Phan Rang và thềm Đà Nẵng Về phía Nam bể bị ngăn cách với bể Cửu Long bằng đới cắt trượt Tuy Hòa, một đới với các biến dạng dọc theo các mặt có ứng suất tiếp tuyến cực đại theo hướng tây bắc-đông nam Ở phía Bắc, bể Phú Khánh bị ngăn cách với đới nâng Tri Tôn và địa hào Quảng Ngãi bằng đới đứt gãy Đà Nẵng (Hình 8.1) Theo các kết quả nghiên cứu địa chất kiến tạo của các tác giả nước ngoài và trong nước, sự tiến hóa kiến tạo của bể Phú Khánh cùng có chung một đặc điểm như các bể trầm tích Đệ Tam khác quanh biển Đông và có thể chia thành các giai đoạn tiến hóa kiến tạo chính theo quan điểm của các chuyên gia ở Petrovietnam như sau [37]:

Giai đoạn tiền rift (Creta muộn - Eocen)

Trong giai đoạn Creta muộn, quá trình thúc trồi của phần Tây Nam Biển Đông được chi phối chủ yếu bởi các hoạt động trượt bằng ngang ở các hệ thống đứt gãy

Hình 8.3 Mặt cắt địa chấn tuyến VOR-93-101 cắt ngang trũng sâu Phú Khánh

Trang 7

Sông Hồng, Tuy Hòa và Three Pagoda

Trong Creta muộn - Paleocen hoạt động

phun trào axit xảy ra trên diện rộng, hoạt

động bào mòn mạnh mẽ tiếp nối sau hoạt

động nâng trồi Trong Eocen muộn do tác

động của chuyển dịch, va mảng Ấn Độ với

mảng Âu Á, đưa lại kết quả là phát triển

khu vực hút chìm mới theo hướng đông bắc

- tây nam Hoạt động này tạo ra Biển Đông

cổ Hoạt động căng giãn khởi đầu trong thời

gian này làm giập vỡ móng trước Đệ Tam

(đã từng cố kết và gắn liền với địa khối Kom

Tum) tạo tiền đề cho bể Phú Khánh được

hình thành như là hệ quả của chuyển động

dịch chuyển và quay của khối Indochina,

cũng như sự căng giãn đi liền với chuyển

động quay và mở rộng Biển Đông

Giai đoạn đồng tạo rift (Eocen muộn? -

Oligocen)

Quá trình hút chìm của biển Đông cổ

dọc theo máng Bắc Borneo tiếp diễn, tạo

ra các ứng suất căng giãn trong mảng hút

chìm làm tăng thêm sức kéo căng của rìa

Indochina và đỉnh cao nhất của hoạt động

này là tạo ra sự giãn đáy biển ở vùng nước

sâu của biển Đông vào giữa Oligocen Đây

là pha hoạt động tách giãn mạnh nhất, diễn

ra gần như đồng thời trong tất cả các bể trầm tích Đệ Tam phía Tây Nam biển Đông Ở bể Phú Khánh pha này khởi đầu cho sự hình thành, phát triển các địa hào song song với hướng mở của biển Đông và tạo môi trường trầm tích cận lục địa (Hình 8.6) Hoạt động sụt lún và mở rộng ở vùng này đạt quy mô cực đại trong Oligocen Các yếu tố cấu tạo chính, dương hoặc âm ở bể Phú Khánh được hình thành trong pha đồng tạo rift chính, với trường ứng suất dọc và ngang chiếm

ưu thế trong vùng Tuy nhiên biến dạng nén ép cũng xảy ra ở một vài đứt gãy trượt bằng (strike-slip faults) kết hợp với nén ép nghiêng Sự căng giãn và sụt lún đồng thời với tách giãn của bể Phú Khánh được diễn

ra song hành với hoạt động trầm đọng vật liệu vụn thô và vật liệu phun trào Giai đoạn nâng lên được kết thúc bằng một bất chỉnh hợp bào mòn mang tính khu vực ở giới hạn tiếp xúc giữa Oligocen - Miocen, đánh dấu cho tính phân dị của các hoạt động kiến tạo trong vùng (Hình 8.7) Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng ở bể Phú Khánh giai đoạn syn rift có thể còn phát triển trong Miocen sớm (rift muộn), đó là vấn đề cần làm sáng tỏ

Hình 8.4 Mặt cắt địa chấn tuyến VOR-301 chạy dọc bể Phú Khánh, từ vĩ tuyến 11 đến vĩ tuyến 14

Trang 8

trong thời gian tới

Lún chìm khu vực sau tạo rift

Vào Miocen sớm bắt đầu hoạt động lún

chìm nhiệt; phát triển từ từ về phía Đông

và được xem là thời điểm bắt đầu của hoạt

động sau rift Việc giảm tốc độ nâng trồi về

phía Đông Nam của khối Indochina trong

giai đoạn này làm cho hoạt động trượt

bằng trái ở đứt gãy sông Hồng cũng giảm

và đánh dấu sự chấm dứt hiện tượng quay

các khối trên diện rộng Phương căng giãn

biển Đông được chuyển đổi từ bắc - nam

sang tây bắc - đông nam và hiện tượng đảo

ngược của khu vực hút chìm Biển Đông từ

hướng về phía Đông sang hướng về phía

Tây cũng xảy ra trong thời gian này Vào

giai đoạn giữa và cuối của Miocen giữa có

hai biến cố kiến tạo đáng chú ý đã xảy ra

đánh dấu bằng hiện tượng đảo ngược nội bể

mà nguyên nhân chính có lẽ liên quan tới

sự va chạm giữa hai mảng Á - Úc kéo theo

sự hình thành các giai đoạn bào mòn hoặc

không lắng đọng trầm tích rất điển hình, thể

hiện bằng các bất chỉnh hợp rõ ràng trên

các lát cắt địa chấn Trong Miocen giữa trường ứng suất chủ đạo là nén ép ngang, dẫn tới sự nghịch đảo kiến tạo, hình thành các cấu tạo hình hoa trong các loạt trầm tích Dọc theo một số đứt gãy lớn cắt ngang sườn nghiêng của bể Phú Khánh đồng thời cũng xảy ra các biến dạng ứng suất ngang rất đặc trưng

Trong Miocen muộn toàn bộ khu vực biển Đông chủ yếu chịu lực nén ép, lực này cùng với hệ đứt gãy trượt bằng phải ở thềm lục địa Việt Nam có lẽ đã trở thành động lực tạo ra sự nâng lên tạm thời cũng như sự đảo ngược từng phần của bể Phú Khánh vào cuối Miocen muộn tạo mặt bào mòn mang tính địa phương (Hình 8.8)

Vào Pliocen hoạt động biển tiến ảnh hưởng rộng khắp khu vực biển Đông Cũng như các bể khác trong khu vực, bể Phú Khánh được các thành tạo trẻ Pliocen - Đệ Tứ phủ bất chỉnh hợp lên trên mặt bào mòn Miocen muộn, nhưng vì thời gian và mức độ bào mòn không lớn nên ranh giới giữa Miocen muộn và Pliocen rất khó xác định

Hình 8.5 Mặt cắt địa chấn tuyến PK-03-084, qua đới cắt trượt Tuy Hoà

Trang 9

trên các mặt cắt địa chấn.

Ngoài quan điểm nêu trên đây, nhóm

các nhà địa chất ở trường Đại học khoa học

tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội (Phan

Văn Quýnh, Tạ Trọng Thắng) cho rằng bể

Phú Khánh hình thành trên các võng tạo

núi đầu Paleogen với sự lấp đầy các thành

tạo molas lục địa (pha tạo núi cách đây 50

triệu năm) và cấu trúc bể được hình thành,

phát triển trên cơ chế chính là kéo toác dọc

theo các đới biến dạng ranh giới nêm thúc

trồi (extrusion) Indochina

3.3 Đặc điểm đứt gãy

Bể Phú Khánh được hình thành và bị

chi phối bởi 3 hệ thống đứt gãy chính: hệ

đứt gãy Đông Bắc - Tây Nam ở phía Bắc,

hệ đứt gãy Bắc - Nam dọc thềm Đà Nẵng

Tây Bắc - Đông Nam ở phía Nam Riêng hệ

đứt gãy Bắc - Nam được một số tác giả chia thành 3 đứt gãy song song nhau, dọc theo

Các hệ đứt gãy này tạo ra các trũng sâu trong móng, khống chế các trung tâm tích tụ chính Do bể Phú Khánh được hình thành chủ yếu bởi trường ứng suất căng ngang, phát triển dọc theo đới cắt trượt lớn, lại nằm ở ranh giới tiếp xúc giữa một bên là khối lục địa tương đối rắn chắc và một bên là đới tách giãn động của biển Đông, sự khác nhau trong kiểu kiến tạo của các hệ đứt gãy rất rõ ràng và có khả năng đó là kết quả của sự thay đổi ứng suất trên các đoạn

bị đứt gãy với sự thay đổi phương đường nứt trong khu vực đới cắt trượt lớn

Trong pha kiến tạo tiếp theo, các đứt gãy (kéo căng) thuận phát triển dọc theo rìa thềm và kế thừa khuynh hướng của các

Hình 8.6 Sơ đồ đẳng sâu móng âm học bể Phú

Hình 8.7 Sơ đồ đẳng sâu nóc Oligocen trên bể Phú

Khánh

Trang 10

đới đứt gãy cổ hơn.

4 Địa tầng

Như đã nêu ở phần đầu, trong bể Phú

Khánh chưa có giếng khoan Vì vậy việc

phân chia địa tầng, xác định các mặt bất

chỉnh hợp v.v đều dựa trên các kết quả

minh giải và liên kết tài liệu địa vật lý,

chủ yếu là địa chấn phản xạ với các giếng

khoan ở bể Sông Hồng, Cửu Long và Nam

Côn Sơn Do đó, vị trí các giới hạn phân

chia địa tầng giữa các tác giả có khác nhau

Để giải quyết sự sai khác này cần phải chờ

có kết quả khoan trong vùng Theo minh

giải tài liệu địa chấn trầm tích Đệ Tam có

chiều dày thay đổi từ 500 m dọc theo rìa

phía Tây đến 7.000 - 8.000 m ở vùng trũng

sâu phía Đông bể Dưới đây là địa tầng dự

báo bể Phú Khánh (Hình 8.9)

4.1 Móng trước Đệ Tam

Móng trước Đệ Tam ở bể Phú Khánh là các thành tạo magma, biến chất có tuổi và thành phần khác nhau, trong đó các thành tạo granit tuổi Creta bị phong hóa, nứt nẻ có khả năng phát triển rộng ở vùng thềm Phan Rang, đới cắt trượt Tuy Hòa và thềm Đà Nẵng

4.2 Paleocen - Eocen?

Trầm tích Paleocen - Eocen (?) được thành tạo trong các graben, bán graben với thành phần chính là các trầm tích hạt thô, sạn cuội kết ở phần đáy Trên tài liệu địa chấn chúng được phản ánh bởi các tập sóng phản xạ có độ liên tục kém, biên độ trung bình đến cao

4.3 Oligocen

Các trầm tích Oligocen phủ bất chỉnh hợp trên các trầm tích Eocen gồm các thành tạo mịn hơn như cát, sét, đôi khi xen ít lớp than Trên mặt cắt địa chấn trầm tích này được xếp vào tập sóng phản xạ có độ liên tục kém, biên độ trung bình, tần số thấp, có nơi phản xạ dạng lộn xộn, biên độ cao Bề dày trầm tích thay đổi từ vài trăm mét ở phần rìa đến hàng nghìn mét ở phần trung tâm bể Các lớp sét than đen giàu vật chất hữu cơ, nguồn gốc đầm hồ và đầm nước lợ là nguồn đá mẹ tiềm năng trong bể Phú Khánh

4.4 Miocen

Các trầm tích Miocen chủ yếu là các trầm tích lục nguyên, châu thổ, xen các pha biển và biển nông Phần phía Đông thềm Đà Nẵng, Phan Rang phát triển đá vôi dạng thềm, đá vôi ám tiêu Có thể phân ra trầm tích Miocen dưới, giữa và trên theo đặc

3 -20

Hình 8.8 Sơ đồ đẳng sâu nóc Miocen trên bể Phú

Khánh

Trang 11

Hình 8.9 Cột địa tầng tổng hợp bể Phú Khánh

Trang 12

trưng các tập địa chấn.

Trầm tích Miocen dưới phủ bất chỉnh

hợp trên các trầm tích Oligocen Trên các

tài liệu địa chấn chúng được đạêc trưng bởi

các phản xạ á song song đến song song,

biên độ thấp đến cao, độ liên tục trung bình,

dạng dốc thoải Phía Bắc có dạng nêm lấn

dự báo quạt châu thổ hoặc quạt aluvi, các

phản xạ biên độ cao dự báo là các thành

tạo carbonat thềm

Như vậy các thành tạo Miocen dưới

chủ yếu là trầm tích lục nguyên đôi chỗ

là carbonat Môi trường trầm tích châu thổ

và đầm hồ chứa than, biển nông, biển ven

bờ Các tập sét, sét than Miocen dưới tướng

đầm hồ, vũng vịnh là nguồn đá mẹ ở bể

Phú Khánh Chiều dày trầm tích ở vùng

trũng sâu Phú Khánh có thể đạt đến hơn

2000m

Trầm tích Miocen giữa được nhận biết

và liên kết trên tài liệu địa chấn với đặc

điểm là các phản xạ song song hoặc gần

song song, biên độ thay đổi từ thấp đến

cao, tính liên tục và tần số trung bình Các

mặt phản xạ nằm onlap ở vùng ven bờ và

downlap ở vùng nước sâu

Nhìn chung trên phần thềm phía Tây

và phía Bắc của bể Phú Khánh, trầm tích

Miocen giữa chủ yếu là lục nguyên do ở gần

nguồn cung cấp vật liệu từ đất liền Trong

phần phía Nam bể Phú Khánh, các tập trầm

tích vũng vịnh Oligocen và Miocen dưới

bị chôn vùi dưới các tập sét, cát, carbonat

trầm đọng trong Miocen giữa

Trong Miocen phổ biến các thành tạo

chảy rối với sự hình thành các quạt bồi tích

ngầm dọc theo sườn nghiêng của bể Phú

Khánh Đây có thể là những tầng chứa có

khả năng cho tích tụ dầu khí Ngoài ra dọc

theo rìa thềm phía Đông còn phát triển carbonat thềm Các khối nâng carbonat nhô lên khỏi mặt nước biển chỉ thấy lẻ tẻ

ở vài nơi trên các mặt cắt địa chấn, đây cũng thường là các khối đứt gãy nhô cao Đá dăm kết san hô ở mặt trước ám tiêu cùng đá carbonat được phát triển và trầm đọng dọc theo các ám tiêu cũng là những đối tượng đá chứa cần lưu ý, mặc dù chúng xuất hiện không nhiều

Trầm tích Miocen trên được nhận biết

bởi các phản xạ thường là song song đến song song hơi phân kỳ, biên độ từ thấp đến trung bình, tính liên tục tốt ở phần phía Tây bể và có dạng hạnh nhân (chữ S) nêm lấn về phía sườn dốc hướng ra biển

Sự lún chìm của bể Phú Khánh tiếp nối sau thời kỳ gián đoạn trầm tích cuối Miocen giữa, cùng với nguồn cung vật liệu lục địa dồi dào, nhất là do các dòng chảy phía bể Sông Hồng mang lại tạo ra hiện tượng lấn biển mang tính khu vực của rìa thềm với cường độ giảm dần về phía Nam Bề dày trầm tích Miocen trên ở bể Phú Khánh lên đến 3000m Phần trên cùng của tập này được trầm đọng trong môi trường châu thổ, bãi biển hoặc ven bờ, còn về phía Tây của bể thì gặp các thành tạo châu thổ không có nguồn gốc biển và thành tạo sông ngòi Ở phần thấp nhất của tập trầm tích này, các tập cát kết chảy rối trên sườn dốc được thay thế theo phương nằm ngang bằng các quạt bồi tích ngầm xa nguồn, ở đây có thể tồn tại các bẫy địa tầng có giá trị

Trầm tích Pliocen - Đệ Tứ là các trầm

tích cát, bột, sét thềm và biển sâu liên quan đến quá trình hình thành toàn bộ thềm lục địa Biển Đông Trên mặt cắt địa chấn dễ dàng nhận biết và liên hệ chúng với các

Trang 13

tập Pliocen - Đệ Tứ trong khu vực Ở phía

Đông thường là các nêm lấn dày, đặc trưng

trầm tích sườn thềm, còn phần phía Tây là

các phản xạ song song, độ liên tục tốt, biên

độ trung bình, tần số thấp, liên quan đến

tướng trầm tích thềm trong đến ngoài trong

toàn khu vực

5 Hệ thống dầu khí

Do bể Phú Khánh chưa có khoan thăm dò, nên hệ thống dầu khí được đánh giá dựa trên cơ sở các tài liệu địa chất có được từ các giếng khoan ở phía Nam bể sông Hồng, phía Đông Bắc bể Cửu Long và bể Nam Côn Sơn, là những bể có phát hiện và

Hình 8.10 Kết quả phân tích mẫu dầu trong đá granit phong hoá,

khu vực đầm Thị Nại (Theo VPI-GEUS, 2004)

Ngày đăng: 02/08/2014, 14:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 8.1. Các yếu tố cấu trúc bể Phú Khánh - Địa chất và tài nguyên dầu khí Việt Nam - Chương 8 doc
Hình 8.1. Các yếu tố cấu trúc bể Phú Khánh (Trang 4)
Hình dạng gần đẳng thước với độ sâu cực - Địa chất và tài nguyên dầu khí Việt Nam - Chương 8 doc
Hình d ạng gần đẳng thước với độ sâu cực (Trang 5)
Hình 8.3. Mặt cắt địa chấn tuyến VOR-93-101 cắt ngang trũng sâu Phú Khánh - Địa chất và tài nguyên dầu khí Việt Nam - Chương 8 doc
Hình 8.3. Mặt cắt địa chấn tuyến VOR-93-101 cắt ngang trũng sâu Phú Khánh (Trang 6)
Hình thành như là hệ quả của chuyển động - Địa chất và tài nguyên dầu khí Việt Nam - Chương 8 doc
Hình th ành như là hệ quả của chuyển động (Trang 7)
Hình 8.5. Mặt cắt địa chấn tuyến PK-03-084, qua đới cắt trượt Tuy Hoà - Địa chất và tài nguyên dầu khí Việt Nam - Chương 8 doc
Hình 8.5. Mặt cắt địa chấn tuyến PK-03-084, qua đới cắt trượt Tuy Hoà (Trang 8)
Hình 8.6. Sơ đồ đẳng sâu móng âm học bể Phú - Địa chất và tài nguyên dầu khí Việt Nam - Chương 8 doc
Hình 8.6. Sơ đồ đẳng sâu móng âm học bể Phú (Trang 9)
Hình 8.7. Sơ đồ đẳng sâu nóc Oligocen trên bể Phú - Địa chất và tài nguyên dầu khí Việt Nam - Chương 8 doc
Hình 8.7. Sơ đồ đẳng sâu nóc Oligocen trên bể Phú (Trang 9)
Hình 8.8. Sơ đồ đẳng sâu nóc Miocen trên bể Phú - Địa chất và tài nguyên dầu khí Việt Nam - Chương 8 doc
Hình 8.8. Sơ đồ đẳng sâu nóc Miocen trên bể Phú (Trang 10)
Hình 8.10. Kết quả phân tích mẫu dầu trong đá granit phong hoá, - Địa chất và tài nguyên dầu khí Việt Nam - Chương 8 doc
Hình 8.10. Kết quả phân tích mẫu dầu trong đá granit phong hoá, (Trang 13)
Hình 8.11. Sinh thành hydrocarbon ở thời điểm - Địa chất và tài nguyên dầu khí Việt Nam - Chương 8 doc
Hình 8.11. Sinh thành hydrocarbon ở thời điểm (Trang 14)
Hình 8.15. Bẫy dạng khối xây carbonat trong Miocen giữa, đá chắn là các lớp sét, bột kết Pliocen - Địa chất và tài nguyên dầu khí Việt Nam - Chương 8 doc
Hình 8.15. Bẫy dạng khối xây carbonat trong Miocen giữa, đá chắn là các lớp sét, bột kết Pliocen (Trang 19)
Hình 8.16. Khả năng dịch chuyển hydrocarbon từ đá mẹ trưởng thành đến bẫy - Địa chất và tài nguyên dầu khí Việt Nam - Chương 8 doc
Hình 8.16. Khả năng dịch chuyển hydrocarbon từ đá mẹ trưởng thành đến bẫy (Trang 20)
Hình 8.17. Sơ đồ tổng quát về hệ thống dầu khí bể Phú Khánh - Địa chất và tài nguyên dầu khí Việt Nam - Chương 8 doc
Hình 8.17. Sơ đồ tổng quát về hệ thống dầu khí bể Phú Khánh (Trang 21)
Hình 8.18. Sơ đồ phân bố các đối tượng triển vọng bể Phú Khánh - Địa chất và tài nguyên dầu khí Việt Nam - Chương 8 doc
Hình 8.18. Sơ đồ phân bố các đối tượng triển vọng bể Phú Khánh (Trang 22)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w