Mặc dù cơ cấu kinh tế của tỉnh đã có sự chuyển dịch nhanh theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá và kéo theo tốc độ tăng dân số thành thị khá nhanh10,5%/năm giai đoạn 2003 – 2007, như
Trang 1Bảng 2.2 : MỘT SỐ CHỈ TIÊU KINH TẾ CHỦ YẾU TỈNH VĨNH PHÚC
GIAI ĐOẠN 2003-2007
tính
Năm
2003
Năm
2005
Năm
2007
Tốc độ tăng bình quân (2003-2007)
%
1 Giá trị tăng thêm trên địa bàn theo giá thực tế Tỷ đồng 6498,13 9961,28 18184 28,2
+ Công nghiệp-xây dựng " 3015,76 5223,87 11104 37,8 + Dịch vụ " 1843,55 2697,7 4488,6 24,4 + Nông lâm nghiệp thuỷ sản " 1638,83 2039,69 2591,5 11,5
2
Giá trị tăng thêm trên địa
bàn theo giá so sánh 94 Tỷ đồng 4581,72 6220,98 9078,8 18,8
+ Công nghiệp-xây dựng " 2074,48 3183,9 5204,1 26,4 + Dịch vụ " 1281,61 1667,1 2437,5 17,8 + Nông lâm nghiệp thuỷ sản " 1225,62 1369,96 1437,1 4,7
3 Cơ cấu kinh tế (giá thực tế) % 100,00 100,00 100,00
+ Công nghiệp-xây dựng % 46,41 52,44 61,06
+ Nông lâm nghiệp thuỷ sản % 25,22 20,48 14,25
3 Tổng thu ngân sách trên địa bàn Tỷ đồng 1813,95 3442,92 5642,3 27,9
Tỷ lệ huy động ngân
4
Tổng chi ngân sách địa
5
Giá trị tăng thêm bình
- Giá thực tế
Triệu đồng 5,66 8,52 15,27 27,1
Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 22.2.2 Điều kiện xã hội
2.2.2.1- Dân số
Dân số trung bình toàn tỉnh năm 2007 có 1.190,428 ngàn người, sống
trên địa bàn 9 huyện, thị Mật độ bình quân 867 người/km2, gấp 3 lần so với mức bình quân chung của cả nước và thấp hơn mức bình quân của vùng kinh
tế trọng điểm Bắc Bộ Mặc dù cơ cấu kinh tế của tỉnh đã có sự chuyển dịch nhanh theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá và kéo theo tốc độ tăng dân
số thành thị khá nhanh(10,5%/năm giai đoạn 2003 – 2007), nhưng do đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội của tỉnh với xuất phát điểm là một tỉnh nông nghiệp, đến nay dân số sinh sống ở khu vực nông thôn còn chiếm tỷ lệ cao(82,77%) Mặt khác, dân cư phân bố không đều giữa các vùng trong tỉnh Vùng đồng bằng có mật độ dân cư cao nhất, bình quân 1.302 người/km2; vùng trung du bình quân 601 người/km2; miền núi bình quân 559 người/km2
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên những năm qua đã giảm đáng kể, từ 11,72‰ năm 2002 xuống còn 11,45‰ năm 2007, tỷ lệ sinh giảm từ 15,87‰ năm 2002 xuống còn 15,54‰ năm 2007[3]
2.2.2.2 Lao động và việc làm
Năm 2007, tổng nguồn lao động của tỉnh có 804,18 nghìn người, chiếm
67,55% dân số, trong đó lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế trên địa bàn có 680,83 nghìn người Chia theo các ngành nghề, lĩnh vực như sau: Nông lâm nghiệp, thuỷ sản 375,14 nghìn người chiếm tỷ lệ 55,1%; Công nghiệp - xây dựng 140,92 nghìn người chiếm tỷ lệ 20,7%; Thương mại - dịch
vụ 164,77 nghìn người chiếm tỷ lệ 24,2%[3]
Quá trình công nghiệp hoá và chuyển dịch cơ cấu kinh tế những năm qua đã làm cho lực lượng lao động trong lĩnh vực nông - lâm nghiệp - thuỷ sản giảm, lao động công nghiệp, dịch vụ tăng dần Giai đoạn 2003 – 2007, lao
Trang 3Bảng 2.3 : CÂN ĐỐI LAO ĐỘNG XÃ HỘI CÓ ĐẾN 1/7 HÀNG NĂM
Đơn vị tính: 1000 người
2003 Năm 2005 Năm 2007
Tốc độ tăng bình quân (2003-2007)(%)
A Nguồn lao động (1a + 2) 731,17 765,42 804,18 2,41
1 Số người trong tuổi lao động 707,40 736,75 776 2,34
a Có khả năng lao động 697,81 729,19 767,08 2,39
b Mất khả năng lao động 9,59 7,56 8,92 -1,79
2 Số người ngoài tuổi lao động
thực tế có tham gia lao động 33,36 36,23 37,1 2,69
- Trên độ tuổi lao động 27,01 31,42 33,75 5,73
- Dưới độ tuổi lao động 6,35 4,81 3,35 -14,77
B Phân phối nguồn lao động 731,17 765,42 804,18 2,41
1 Lao động đang làm việc
trong các ngành kinh tế 634,80 652,59 680,83 1,77
- Nông, lâm nghiệp, thủy sản 505,45 391,1 375,14 -7,18
- Công nghiệp, xây dựng 59,91 113,75 140,92 23,84
2 Số người trong độ tuổi có khả
năng lao động đang đi học 63,22 78,15 90,32 9,33
- Học chuyên môn nghiệp vụ 17,56 25,13 36,85 20,36
3 Số người trong độ tuổi có khả
năng lao động làm nội trợ 10,98 14,02 15,16 8,40
4 Số người trong độ tuổi có khả
năng lao động không làm việc
5.Số người trong độ tuổi có khả
năng lao động có nhu cầu làm
việc đang không có việc làm
22,17 20,66 17,87 -5,25
Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 4động nông lâm nghiệp thuỷ sản giảm bình quân 5,8%/năm, lao động công nghiệp - xây dựng tăng 21,3%/năm, lao động dịch vụ tăng 20,3%/năm Tuy nhiên, chuyển dịch cơ cấu lao động ở khu vực nông nghiệp nông thôn nhìn chung còn chậm do các nhà máy hiện nay phần lớn áp dụng công nghệ cao,
sử dụng ít lao động và đòi hỏi lao động có tay nghề, trong khi lao động nông nghiệp phần lớn chưa được qua đào tạo(90,42%)[10], chưa có tác phong công nghiệp, đây là khó khăn trong việc giải quyết lao động dư thừa ở khu vực
nông thôn Vĩnh Phúc hiện nay
2.2.2.3 Tình hình xã hội
Song song với phát triển kinh tế, trong những năm qua tỉnh Vĩnh Phúc
đã chú trọng, quan tâm phát triển các lĩnh vực văn hoá - xã hội và đạt được những kết quả nhất định Công tác giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo được quan tâm, tỉnh đã áp dụng nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ đào tạo nghề
và giải quyết việc làm như: Đa dạng hoá các loại hình đào tạo nghề, nhất là đào tạo nghề có địa chỉ tại địa phương nơi bị thu hồi đất để phát triển công nghiệp; Có cơ chế ưu tiên cho các doanh nghiệp tuyển dụng lao động tại địa phương; Hỗ trợ kinh phí đào tạo nghề cho các đối tượng gia đình chính sách,
hộ nghèo, ; Cho vay tiền các đối tượng đi xuất khẩu lao động Chính vì vậy bình quân mỗi năm, toàn tỉnh có trên 20 ngàn người được giải quyết việc làm; Công tác chăm sóc người có công với cách mạng, gia đình chính sách được quan tâm Từ năm 2003 đến năm 2007, tỷ lệ hộ nghèo ngày càng giảm, tính theo chuẩn mới, năm 2007 tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh là 12,5%, giảm 2,4% so năm 2006 Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi còn 20%, giảm 8,6% so năm 2002 Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị ngày càng giảm, tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn ngày càng tăng lên
Công tác giáo dục đạt được kết quả khá, 100% các xã, phường, thị trấn
đã hoàn thành chương trình phổ cập trung học cơ sở 99,5% trẻ em 6 tuổi
Trang 5được vào lớp 1;89,3% trẻ khuyết tật được đi học Tỷ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp toàn tỉnh hàng năm đều đạt từ 97-99%; 100% các trường học đã được kiên cố hoá, trong đó có trên 70% phòng học cao tầng
Công tác chăm sóc sức khoẻ và khám, chữa bệnh cho nhân dân được quan tâm Các chương trình quốc gia về y tế được triển khai sâu rộng trên phạm vi toàn tỉnh và đạt kết quả tốt Tỷ lệ trẻ em được tiêm đầy đủ 7 loại vacxin đạt trên 98,7% Cơ sở vật chất ngành y tế từ tỉnh đến cơ sở được đầu
tư, nâng cấp, đến cuối năm 2007, có 133/154(=87,5%) trạm y tế xã, phường đạt chuẩn quốc gia về y tế xã, 78,3% trạm y tế xã, phường có bác sĩ[3]
Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn được giữ vững và ổn định
Bảng 2.4: MỘT SỐ CHỈ TIÊU XÃ HỘI CHỦ YẾU TỈNH VĨNH PHÚC
GIAI ĐOẠN 2003-2007
tính
Năm
2003
Năm
2005
Năm
2007
Tốc độ tăng bình quân (2003-2007)
%
1 Dân số trung bình
ngàn người 1148,73 1168,889 1190,4 0,9
2 Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên % 1,128 1,205 1,145 -0,5
3 Mức giảm tỷ suất sinh % 0,044 0,075 0,058 -10,0
4 Số giường bệnh/vạn dân giường 9,75 17,67 21,7 17,6
5 Số bác sỹ/vạn dân bác sỹ 3,22 4,02 5,42 12,0
6
Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng
8 Tỷ lệ lao động qua đào tạo % 22,64 29,7 36,4 12,2
9
Số người được giải quyết
việc làm
ngàn người 18,5 21,5 24,2 5,9
10 Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị % 2,37 2,05 2 -4,4
11
Tỷ lệ sử dụng thời gian lao
động ở nông thôn % 81,13 85,3 87,2 2,2
Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 62.3 TÌNH HÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ VÀ ĐÔ THỊ HOÁ
2.3.1 Tình hình phát triển công nghiệp, dịch vụ
2.3.1.1 Về công nghiệp
Sản xuất công nghiệp của tỉnh phát triển mạnh từ khi tỉnh được tái lập năm 1997 Giai đoạn 2003 – 2007, giá trị gia tăng ngành công nghiệp tăng bình quân 34,9%/năm, giá trị sản xuất tăng bình quân 29,8%/năm Sản phẩm công nghiệp chủ yếu gồm: xe ô tô, xe máy, phụ tùng ô tô, phụ tùng xe máy, gạch, ngói, cát, sỏi, thuốc chữa bệnh, quần áo,
Công nghiệp phát triển nhanh đã góp phần tăng thêm của cải vật chất, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho nhân dân, tạo vị thế mới cho tỉnh Vĩnh Phúc trong vùng và cả nước Từ một tỉnh có cơ cấu kinh tế Nông nghiệp – Dịch vụ –Công nghiệp trước đây đã chuyển sang cơ cấu Công nghiệp – Dịch
vụ - Nông nghiệp với công nghiệp chế tác là chủ đạo Tỷ trọng công nghiệp - xây dựng trong cơ cấu kinh tế của tỉnh tăng từ 42,65% năm 2002 lên 61,06% năm 2007 [3]
Tuy nhiên, bên cạnh đó, ngành công nghiệp của tỉnh còn những hạn chế như:
- Công nghiệp phát triển mạnh chủ yếu do công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; tỷ trọng công nghiệp trong nước thấp, quy mô nhỏ bé, công nghệ lạc hậu Công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm chưa phát triển
- Các làng nghề tiểu thủ công nghiệp manh mún và phát triển chậm, sản phẩm kém sức cạnh tranh, một số làng nghề đang bị mai một, mất dần
- Các doanh nghiệp nhà nước địa phương yếu kém về năng lực quản lý
và gặp nhiều khó khăn về tài chính nên sức cạnh tranh thấp Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực xây dựng, thương mại và vận tải, giải quyết được khá nhiều việc làm và lao động; song phần lớn
Trang 7các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, trình độ quản lý còn hạn chế, ít có khả năng cạnh tranh mang tầm cỡ quốc gia và quốc tế
- Cơ sở hạ tầng kỹ thuật, như điện, đường, cấp nước, thông tin liên lạc,
xử lý chất thải… tại các khu công nghiệp tuy đã được quy hoạch nhưng đầu
tư còn thiếu đồng bộ và chưa hoàn chỉnh Tiến độ triển khai của các dự án đầu
tư trong và ngoài nước trên địa bàn còn chậm do công tác đền bù, giải phóng mặt bằng gặp nhiều khó khăn
2.3.1.2 Về thương mại – dịch vụ
Cùng với sự phát triển của các ngành kinh tế, lĩnh vực thương mại dịch
vụ của tỉnh cũng có tăng trưởng mạnh, các trung tâm thương mại tại các thị
xã, thị trấn và chợ nông thôn được hình thành và đang từng bước được nâng cấp, cải tạo, đã tác động tích cực đến sản xuất và tiêu dùng Từ năm 2003 đến năm 2007, giá trị gia tăng ngành dịch vụ tăng bình quân 17,8%/năm, năm
2007 chiếm 26,9% tổng GDP toàn tỉnh,
Nhìn chung, ngành dịch vụ – thương mại trên địa bàn tỉnh bước đầu có
sự phát triển, từng bước đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống Chất lượng các hoạt động dịch vụ được cải thiện, loại hình dịch vụ ngày càng phong phú Song so với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, ngành thương mại dịch vụ phát triển chậm và cũng còn nhiều vần đề tồn tại như:
- Các loại hình dịch vụ phát triển chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh; chưa thu hút được nhiều lao động từ nông nghiệp
- Sản phẩm dịch vụ còn nghèo nàn, chất lượng dịch vụ chưa cao và chưa có sản phẩm du lịch dịch vụ đặc trưng của tỉnh
- Chất lượng lao động làm việc trong các ngành dịch vụ còn thấp, chưa được đào tạo bài bản, do vậy phương pháp phục vụ còn chưa đáp ứng được nhu cầu
Trang 8- Quy hoạch các khu du lịch còn thiếu đồng bộ Thu hút vốn đầu tư cho các khu du lịch, khu vui chơi giải trí còn hạn chế
2.3.2 Tình hình đô thị hoá
Trước năm 2005, Vĩnh Phúc có 2 thị xã (Vĩnh Yên, Phúc Yên) là đô thị loại IV và 7 huyện, với dân số thành thị năm 2003 là 137,5 ngàn người Đến năm 2006, Vĩnh Phúc có 1 thành phố, 1 thị xã và 7 thị trấn huyện lỵ, trong đó thành phố Vĩnh Yên là đô thị loại III, là trung tâm kinh tế, văn hoá, chính trị của tỉnh, dân số thành thị năm 2007 tăng lên là 205,1 ngàn người Cấu trúc không gian mạng lưới đô thị tỉnh Vĩnh Phúc tương ứng với hệ thống tầng bậc của bộ máy quản lý hành chính: Thành phố, thị xã là đô thị trực thuộc tỉnh, thị trấn huyện lỵ trực thuộc huyện và các thị tứ trực thuộc xã Đặc điểm mạng lưới đô thị Vĩnh Phúc là quy mô còn nhỏ, tỷ lệ dân số đô thị thấp (chiếm 17,2% năm 2007)
Nhờ vị trí giáp với thủ đô Hà Nội, thuận lợi về giao thông nên Vĩnh Phúc đã thu hút được nhiều dự án đầu tư trong và ngoài nước Các khu, cụm công nghiệp được hình thành nhanh chóng kéo theo sự phát triển nhanh của các điểm dân cư đô thị, nhất là ở Vĩnh Yên, Phúc Yên, Mê Linh và Bình Xuyên Tuy nhiên do tốc độ đô thị hoá nhanh, việc đầu tư kết cấu hạ tầng chưa đáp ứng kịp dẫn đến nhiều bất cập Chất lượng đường phố kém, cấp điện, nước và chất lượng nước đạt tiêu chuẩn thấp và chưa đáp ứng đủ nhu cầu; hệ thống thoát nước chưa được đầu tư đồng bộ Mặt khác, cơ cấu không gian hệ thống đô thị và thị tứ chưa cân đối, thể hiện: Dân cư đô thị tập trung nhiều ở hành lang giao thông Đông - Tây và vùng phía nam của tỉnh, chưa phát triển ở vùng phía bắc của tỉnh; Các đô thị của tỉnh chủ yếu mang chức năng trung tâm hành chính, chính trị, các chức năng về sản xuất, dịch vụ,
Trang 9thương mại chưa phát triển Có thể nói, quá trình đô thị hoá của Vĩnh Phúc chưa tương xứng với tốc độ phát triển kinh tế của tỉnh kể từ khi tái lập tỉnh đến nay
2.3.3 Đánh giá tác động của quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá đến phát triển nông nghiệp, nông thôn
Quá trình đổi mới theo xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế những năm qua đã làm cho nền kinh tế Vĩnh Phúc tăng trưởng với tốc độ cao và đã có tác động lớn đến phát triển nông nghiệp, nông thôn ở Vĩnh Phúc, cụ thể như sau:
Những tác động tích cực:
- Công nghiệp, dịch vụ phát triển, nhu cầu tiêu dùng và chế biến các loại nông sản, thực phẩm tăng nhanh, trở thành yếu tố kích thích sản xuất nông nghiệp phát triển
- Công nghiệp, dịch vụ phát triển đã tạo thêm nhiều việc làm, thu hút một lượng lớn lao động nhàn rỗi trong nông thôn Từng bước chuyển dịch cơ cấu lao động trong khu vực nông nghiệp nông thôn
- Thu nhập bình quân đầu người toàn tỉnh tăng, đời sống nông dân được cải thiện, có tích luỹ, tạo điều kiện cho tái sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới
Những hạn chế, thách thức:
Do quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá nhanh, sản xuất nông nghiệp đang đứng trước sức ép rất lớn của việc giảm diện tích đất canh tác, của vấn
đề giải quyết việc làm cho người nông dân mất đất do phát triển công nghiệp
và đô thị, vấn đề ô nhiễm do chất thải công nghiệp, chất thải sinh hoạt, … ngày càng tăng:
- Về đất canh tác: theo kết quả điều tra nông nghiệp nông thôn năm
2006, đất sản xuất nông nghiệp trên toàn tỉnh giảm 4.150 ha so năm 2001, trong đó đất trồng cây hàng năm giảm 2.090 ha, đất cây lâu năm giảm 2.060
Trang 10ha, chủ yếu chuyển sang đất giao thông, phát triển khu công nghiệp và đô thị Diện tích này được dự báo có xu hướng giảm liên tục hàng năm đến năm
2010 (BQ trên 1.000 ha /năm), nhất là với đất trồng lúa [10]
- Lao động và việc làm nông thôn: Quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá diễn ra tuy đã thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động của tỉnh nhưng vẫn còn chậm, chưa thu hút được nhiều lao động từ khu vực nông nghiệp nông thôn Dân số nông thôn vẫn chiếm tới 82,8%, tỷ lệ lao động làm việc trong lĩnh vực nông – lâm nghiệp – thuỷ sản vẫn chiếm 55,1% tổng số lao động toàn tỉnh và có tới 97,43% lao động nông nghiệp trong độ tuổi chưa qua đào tạo và không có bằng chứng chỉ chuyên môn Áp lực về giải quyết việc làm cho cả khu vực đô thị và nông thôn hiện nay còn rất lớn
- Một bộ phận nông dân bị mất đất đã không còn tư liệu sản xuất, trong khi việc chuyển đổi nghề đối với lao động trên 35 tuổi ở nông thôn là rất khó khăn Kết hợp với quá trình đô thị hoá nhanh đã kéo theo tệ nạn xã hội phát triển, gây mất ổn định xã hội
- Là tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, công nghiệp, dịch vụ đã trở thành những ngành kinh tế chủ đạo, thu ngân sách trên địa bàn được xếp vào một trong những tỉnh hàng đầu của cả nước; Tuy nhiên, việc đầu tư trở lại cho nông nghiệp, nông thôn và nông dân còn chưa tương xứng, chưa tạo điều kiện thuận lợi để nông nghiệp, nông thôn của tỉnh phát triển theo định hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá; Nhiều dự án của nông nghiệp được đầu tư nhưng còn manh mún; đầu tư cho phát triển nông thôn còn mang nặng tính phong trào, chia đều, hiệu quả thấp