Trong hơn một thế kỷ, hệ thống giáo dục của Mỹ đã đào tạo một lực lượng lớn có trình độ học vấn cao và đưa Mỹ trở thành một nước có nền giáo dục hàng đầu thế giới.. * Các nước EU: Ở hầu
Trang 1triển nhiều bước thăng trầm, trẻ em ở Nhật luôn được tạo điều kiện học tập tốt nhất Bên cách hệ thống giáo dục tập trung chính quy thì các hình thức giáo dục tại gia đình, tại các công ty được đặc biệt coi trọng [12] Thực tế cho thấy ở Nhật hình thức giáo dục này phát triển nhất thế giới bởi vì người Nhật rất coi trọng trình độ học vấn Trình độ học vấn chính là yếu tố tạo nên cơ hội làm việc suốt đời Chỉ có tốt nghiệp ở những trường đại học lớn có danh tiếng và kết quả học tập loại giỏi thì mới có cơ hội làm việc trong các công ty lớn và mới đảm bảo một vị trí tốt trong xã hội
Theo thống kê năm 1999 thì cứ 100.000 người dân Nhật Bản thì có 7,9 bệnh viện, 67,4 cơ sở khám bệnh Số bác sĩ cho 100.000 dân là 177 người Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) năm 2004, người Nhật Bản là người dân sống thọ nhất thế giới với tuổi thọ trung bình là 81,9 tuổi Năm 2006 Nhật là nước châu Á duy nhất nằm trong số 10 nước có chỉ số phát triển con người cao nhất thế giới (HDI 0,949) Ở các cơ quan ích lợi công cộng, cơ quan của các địa phương lập ra, nhân viên đều phải mua bảo hiểm y tế Loại hình bảo hiểm mà ai cũng có thể tham gia là hệ thống bảo hiểm quốc dân Kể từ năm 1961 những ai không tham gia bảo hiểm trong các hiệp hội bảo hiểm y tế bắt buộc phải tham gia bảo hiểm quốc dân (http://WWW.VYSA.JP)
* Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (Mỹ):
Đặc điểm nổi bật của Mỹ là coi trọng giáo dục, lấy giáo dục đào tạo là trung tâm của phát triển nguồn nhân lực Giáo dục và đào tạo được đầu tư khá cao và gia tăng liên tục Từ năm 1960 ngân sách đầu tư cho giáo dục của Mỹ khoảng 5,3% GDP thì đến nay đạt gần 10% Ngân sách không chỉ đầu tư xây dựng hạ tầng, trang thiết bị dạy học mà còn tập trung cho việc đào tạo giáo viên Nhờ đầu tư cho giáo dục mà tỷ lệ người biết chữ ở Mỹ rất cao và đạt trên 97% Trong hơn một thế kỷ, hệ thống giáo dục của Mỹ đã đào tạo một lực lượng lớn có trình độ học vấn cao và đưa
Mỹ trở thành một nước có nền giáo dục hàng đầu thế giới Trung tâm của hệ thống giáo dục ở Mỹ là bậc đại học và được đặc biệt coi trọng [23] Theo quan niệm của các nhà hoạch định chính sách giáo dục thì người nào vượt qua cấp giáo dục phổ thông có tính chất đại chúng để tiến đến bậc đại học thì mới cần đầu tư, bồi dưỡng Chiến lược phát triển nguồn nhân lực theo hướng ưu tiên phát triển đào tạo ngành
Trang 2lĩnh vực công nghệ cao và chiến lược thu hút chất xám ngoài nước có hiệu quả Họ coi trọng tầng lớp trí thức, tạo mọi điều kiện để họ phát huy khả năng
Chính sách quản lý, sử dụng nhân lực của của Mỹ là yếu tố kích thích sản xuất và tạo động lực cho người lao động và các chính sách đó được lồng ghép với các chính sách xã hội như chính sách việc làm, an sinh, phúc lợi xã hội Nhà nước giữ vai trò quan trọng làm nẩy sinh các nhân tố kích thích phát triển nguồn nhân lực
và được điều tiết mạnh mẽ bởi hệ thống pháp luật Hiệu ứng của pháp luật là kích thích phát triển nguồn nhân lực như bảo đảm quyền lợi của người lao động mặt khác thúc đẩy năng suất lao động tăng cao Vấn đề công bằng việc làm là cơ sở phát triển nhân lực, Chính phủ Mỹ đã đưa ra đạo luật cấm phân biệt về việc làm theo mầu da, chủng tộc, tôn giáo và giới tính do đó Mỹ thu hút được đội ngũ lao động tri thức từ khắp mọi nơi trên thế giới
Năm 2006 Mỹ là nước nằm trong số 10 nước có chỉ số phát triển con người cao nhất thế giới (HDI 0,948) Tuổi thọ trung bình của dân Mỹ là 77,3 tuổi Mới đây một cuộc khảo sát quốc tế về các bệnh nhân cho thấy chi tiêu cho ngành y tế và chăm sóc sức khỏe người dân tại Hoa Kỳ cao hơn bất cứ quốc gia nào khác trên thế giới Hiện nay Theo luật liên bang, phúc lợi chăm sóc y tế là để cho những người không có tiền hoặc bảo hiểm Có khoảng 86,4% người Mỹ được hưởng bảo hiểm y
tế, trong đó có 61% hưởng bảo hiểm y tế do có việc làm (http://diendan.edu.net.vn)
* Các nước EU:
Ở hầu hết các nước EU, chính sách phát triển nguồn nhân lực chịu sự can thiệp của nhà nước bởi vì nếu không có sự kiểm soát thì các công ty có thể rơi vào tình trạng cực đoan là chỉ tập trung đào tạo nhân công để giải quyết các công việc trước mắt, do đó sẽ ảnh hưởng đến lợi ích lâu dài của quốc gia Chiến lược và chính sách phát triển nguồn nhân lực của các nước EU là đào tạo đội ngũ lao động có trình độ học vấn cao, có kỹ năng nghề nghiệp Do đó, giáo dục và đào tạo như là điều kiện tiên quyết để tăng khả năng thích ứng cạnh tranh về khoa học kỹ thuật, là động lực của sự phát triển và còn là một trong những hướng ưu tiên trong các chiến lược phát triển của các nước
Trang 3Các nước EU có hệ thống giáo dục dạy nghề rất tốt Nước Đức được đánh giá
là có hệ thống đào tạo nghề trên quy mô lớn dành cho những người không có điều kiện học đại học Các học sinh trong độ tuổi 15 - 17 được học ở các trường dạy nghề kết hợp với dạy văn hóa, sau 3 năm học phải qua kiểm tra trình độ nghề Nếu vượt qua kỳ thi đó thì sau một năm học thêm các môn như quản trị, luật cơ bản và một số môn kỹ thuật, người lao động có thể tạo lập doanh nghiệp [23] Đây có thể là nhân tố quan trọng dẫn đến trình độ của lực lượng lao động đồng đều và năng suất lao động tăng cao và ổn định
Chính sách việc làm được chính quyền các nước EU đặc biệt quan tâm và đầu
tư cho chương trình phát triển việc làm ngày càng tăng, trong đó ngân sách đầu tư cho đào tạo việc làm chiếm tỷ trọng lớn nhất
1.1.2.2 Nguồn nhân lực Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế
Xuất phát từ đặc trưng nổi bật của lịch sử phát triển kinh tế xã hội Việt Nam qua các thời kỳ là nền sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, đã tạo nên những tập quán của lối làm ăn mạnh mún, tản mạn, lối tư duy làm theo lệ hơn theo luật Chế độ phong kiến tồn tại quá lâu đã hình thành và tồn tại tính cộng đồng làng xã bó buộc người lao động khó có thể vượt ra khỏi khuôn khổ làng xã và cản trở hạn chế sự năng động, sáng tạo trong lao động sản xuất
Trong thời kỳ chiến tranh chống thực dân xâm lược, chúng ta phải tập trung nguồn lực con người cho tiền tuyến nên nhiều thế hệ thanh niên đã cống hiến tuổi thanh xuân vì độc lập tự do của tổ quốc nên không có điều kiện học tập đầy đủ, chưa có điều kiện phát triển tài năng của mình do đó không thể tránh khỏi những sai lầm, hạn chế trong việc xây dựng đất nước sau chiến tranh
Việc áp dụng và duy trì quá lâu mô hình kinh tế theo cơ chế hành chính tập trung, quan liêu bao cấp là nguyên nhân hạn chế sự phát huy phẩm chất mới của người lao động Trong nhiều năm chúng ta tập trung cho việc cải tạo quan hệ sản xuất cũ, thiết lập củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới mà chưa tập trung cao
độ cho phát triển lực lượng sản xuất Giai đoạn này chúng ta đề cao vai trò của tập thể, không thấy hết vai trò của cá nhân Những tập quán, thói quen hình thành và
Trang 4tồn tại quá lâu trong lịch sử đã ăn sâu và nhiều thế hệ người lao động Việt Nam làm cản trở quá trình phát triển của dân tộc Như Lênin đã nhận xét: “những tập quán, thói quen xấu của con người là sức mạnh đáng sợ nhất” [15]
Ngày nay, khi nền kinh tế vận hành theo cơ chế kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, tàn dư của đặc tính lao động tiểu nông dần được xoá bỏ, trí tuệ con người Việt Nam bắt đầu phát triển hướng vào quá trình sáng tạo của cải vật chất Những đức tính mới, phẩm chất tốt đẹp của người lao động hiện đại đang dần hình thành và hoàn thiện Con người Việt Nam đang chuyển biến nhanh chóng để thích ứng với cơ chế thị trường và sự biến động phức tạp của những biến đổi kinh tế
xã hội Với những đức tính cần cù, bền bỉ kết hợp với sự thông minh, sáng tạo, nguồn nhân lực Việt Nam đang minh chứng khả năng lợi thế so sánh Nhiều ngành sản xuất truyền thống bị sa sút, đình trệ trong thời kỳ bao cấp nay đã có cơ hội hồi sinh và vươn lên chiếm lĩnh thị trường thế giới như ngành dệt lụa, thêu ren, mây tre đan, mộc, thủ công mỹ nghệ Sức sáng tạo và mạnh dạn trong sản xuất kinh doanh
đã xuất hiện một số ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh mới Những lĩnh vực mũi nhọn của một số nước công nghiệp phát triển như điện tử, tin học, viễn thông, lao động của chúng ta đã có khả năng tiếp cận và phát triển nhanh chóng Từ chỗ nhập linh kiện lắp ráp, dần dần lao động Việt Nam đã có thể chế tạo một số linh kiện thay thế đặc biệt trong các ngành lắp máy công nghiệp, đóng tàu, dầu khí Một số công
ty của Việt Nam đã bắt đầu xuất khẩu phần mềm tin học, xuất khẩu hàng hóa có giá trị hàm lượng công nghệ cao Những dấu hiệu đó cho thấy nguồn nhân lực của chúng ta có nhiều triển vọng tốt đẹp để vươn lên hội nhập với khu vực và thế giới Tuy nhiên người lao động Việt Nam hiện nay hạn chế lớn là về mặt thể lực Người Việt Nam đang bị thiếu dinh dưỡng, đặc biệt là nông thôn mức dinh dưỡng được cung cấp trong ngày dưới mức tối thiểu của một lao động bình thường (theo tiêu chí đánh giá của quốc tế là 2.000 calo/người/ngày) [17] Không chỉ những người trong độ tuổi lao động, mà trẻ em là nguồn lao động trong tương lai thì tỷ lệ suy dinh dưỡng còn rất cao Mặt khác sự phát triển trí lực của người lao động, năng lực vận dụng kiến thức khoa học trong lao động sản xuất của người lao động Việt Nam còn yếu và đang là một trở ngại lớn nhất là trong giai đoạn hội nhập kinh tế
Trang 5khi chúng ta đang được tiếp xúc nhiều với công nghệ kỹ thuật mới của thế giới và
phương pháp quản lý tiên tiến hiện đại
* Thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam
- Quy mô và tốc độ tăng trưởng:
Dân số nước ta hiện này trên là 80 triệu người, tốc độ tăng dân số bình quân
hàng năm khoảng trên 1% Là một nước có cơ cấu dân số trẻ và có mức tăng trưởng
cao Với điều kiện đó hàng năm Việt Nam có một số lượng lớn dân số đến độ tuổi
lao động
Lao động của Việt Nam năm 2005 là khoảng 44,4 triệu người, bình quân giai
đoạn 2001 – 2005 hàng năm tăng 2,3%, tương ứng với 805 ngàn người Do đặc
điểm cơ cấu phân bố dân số và lao động giữa thành thị và nông thôn nên lao động
có việc làm ở nông thôn vẫn chiếm phần lớn Lao động ở khu vực nông thôn hiện
nay tuy có giảm nhưng vẫn chiếm gần 3/4 tổng số lao động có việc làm Lao động
làm việc tại thành thị có tốc độ tăng cao hơn nông thôn, tốc độ tăng hàng năm
khoảng 5% và cao hơn gấp 3 lần khu vực nông thôn [5]
Bảng 1.1 Nguồn nhân lực chia theo giới tính
và theo khu vực thành thị, nông thôn giai đoạn 2001 - 2005
Đvt: Triệu người
Năm Tổng số Chia theo giới tính Chia theo khu vực
Nguồn: Bộ Lao động – TBXH, năm 2006
Trong 5 năm từ 2001 đến 2005 nguồn nhân lực Việt Nam tăng khoảng 4,3
triệu người, bình quân hàng năm nguồn nhân lực tăng thêm khoản 860 ngàn người
Năm 2005 lao động nam là 22,7 triệu người trong khi nữ là 21,7 triệu người, tỷ lệ
lao động nữ giảm từ 49,63% năm 2001 xuống 48,87% năm 2005 Nguồn cung lao
Trang 6động của Việt Nam ở cả khu vực thành thị và nông thôn đều tăng đáng kể, từ năm
2001 đến 2005 lao động khu vực nông thôn tăng khoảng 2,5 triệu người với tốc độ tăng bình quân hàng năm là 1,56% Khu vực thành thị tăng 1,8 triệu người tương ứng với mức tăng bình quân hàng năm khoảng 3% [5] Xu hướng lao động trong khu vực thành thị tiếp tục tăng nhanh do nguyên nhân phân mở rộng các khu vực đô thị đã làm tăng diện tích khu vực thành thị về mặt địa lý Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và có tốc độ đô thị hóa cao, cùng với tốc độ tăng trưởng dân số của khu vực thành thị ngày càng nhanh thì sự di chuyển
cơ học dân số từ nông thôn ra thành thị làm gia tăng lao động khu vực thành thị Nếu xem nguồn nhân lực chia theo nhóm tuổi cho thấy lao động ở nhóm tuổi
30 - 34 tham gia lực lượng lao động rất cao và đạt trên 95% Nhóm tuổi từ 15 - 24
và từ 55 tuổi trở nên những năm gần đây có xu hướng tiếp tục giảm
Biểu đồ 1.1 Tỷ lệ tham gia LLLĐ chia theo nhóm tuổi năm 2005
0
20
40
60
80
100
120
15 - 19 20 - 24 25 - 29 30 - 34 35 - 39 40 - 44 45 - 49 50 - 54 55 - 59 60 - 64 65 +
Tổng Nam Nữ
Nguồn: Bộ Lao động – TBXH, năm 2006
Như vậy lực lượng lao động Việt Nam khá trẻ và dồi dào, đây là một trong những lợi thế nếu chúng ta biết sử dụng hợp lý và hiệu quả Số lượng nhân lực lớn
là một điều kiện thuận lợi cho quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Chúng ta đang có một lực lượng lao động hớp dẫn thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước Ngược lại nếu không giải quyết tốt vấn đề việc làm cho lực
Trang 7lượng lao động đông đảo thì đây là yếu tố kìm hãm quá trình phát triển kinh tế của đất nước
- Một số đặc điểm của nguồn nhân lực:
+ Đặc trưng của nguồn nhân lực theo nhóm nghề: Đặc điểm nổi bật là lao động phổ thông chiếm tỷ trọng lớn nhất trong lực lượng lao động Lao động nữ làm nghề phổ thông nhiều hơn nam giới với tỷ lệ tương ứng là 52% Lao động kỹ thuật trong ngành nông, lâm, ngư nghiệp chỉ chiếm 5,2%, điều này có nghĩa là phần lớn lao động trong nông nghiệp làm công việc giản đơn
Bảng 1.2 Cơ cấu lao động theo nghề năm 2005
Đvt: %
3 Chuyên môn kỹ thuật bậc trung 3,11 2,64 3,6
6 Lao động có kỹ thuật trong nông,
lâm, ngư nghiệp
8 Thợ có kỹ thuật lắp ráp và vận
Nguồn: Bộ Lao động – TBXH, năm 2006
+ Đặc trưng việc làm chia theo vị thế công việc: Năm 2005, nhóm lao động
tự tạo việc làm cho bản thân và lao động làm việc tại gia đình chiếm số lượng chủ yếu của nguồn nhân lực Số lao động làm việc tại hộ là 14,3% và có xu hướng giảm nhanh trong thời gian tới Nhóm nhân lực làm công hưởng lương trong và ngoài khu vực Nhà nước tăng đáng kể từ 5,0 triệu người năm 1996 lên 11 triệu người năm
Trang 82005 Nhóm lao động là chủ doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh chiếm khoảng 200 ngàn người, tương ứng với 0,4% nguồn nhân lực cả nước [5], [7] Nếu chia theo khu vực thì số lao động tại hộ ở nông thôn cao hơn nhiều so với thành thị Kết quả này cho thấy một thực tế là khu vực nông thôn lao động làm việc tại hộ là chủ yếu, số lao động đi làm thuê hưởng lương ngoài hộ rất ít
+ Nhân lực tham gia các ngành kinh tế: Năm 2005 cơ cấu lao động trong ngành nông, lâm, ngư nghiệp là 56,7% và bình quân mỗi năm giảm 1,31% Lao động trong ngành công nghiệp chiếm 17,8%, lao động trong ngành dịch vụ chiếm 25,5% Cơ cấu lao động có sự chuyển dịch từ lĩnh vực nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ Điều đó phản ánh xu thế công nghiệp chuyển đổi cơ cấu kinh tế, tuy nhiên lao động trong nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn
Biểu đồ 1.2 Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế năm 2005
Nguồn: Bộ Lao động - TBXH, năm 2006
- Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực:
+ Y tế và chăm sóc sức khỏe: Việt Nam trong nhiều năm qua đã có nhiều nỗ lực cố gắng chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân Cho đến nay nhiều chỉ tiêu đánh giá chất lượng dân số đã được cải thiện, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm nhanh từ 51,5% năm 1990 xuống còn 25,2% năm 2005 Tầm vóc và tốc độ tăng trưởng thể lực của trẻ em, thanh thiếu niên và người trưởng thành là khá cao so với quy luật chung, sau 25 năm chiều cao trung bình của nam thanh niên 18 tuổi
0%
10%
20%
30%
40%
50%
60%
70%
80%
90%
100%
DV CN-XD NL-N
Trang 9tăng 4,5 cm và nữ tăng 4 cm Một số chỉ tiêu được cải thiện đáng kể như tuổi thọ trung bình là trên 71 tuổi Tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi bị chết là 17,80/00, tỷ lệ tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi là 260/00, tỷ lệ sinh đẻ (số lần sinh trung bình tính trên một phụ nữ) là 1,8%, tỷ lệ tử vong sản phụ (số ca tử vong/100.000 ca sinh sống) là 130 Mặc dù vậy, Việt Nam hiện đang phải đối mặt với những vấn đề nghiêm trọng như tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng vẫn ở mức cao Việt Nam còn phải đối mặt với một số căn bệnh quay trở lại như lao phổi cùng với những bệnh mới do lối sống đặc thù của một số nhóm xã hội sinh ra và số tai nạn giao thông ngày càng gia tăng Nạn dịch HIV/AIDS cũng đang lan nhanh ở Việt Nam, mỗi ngày có tới hơn 100 người bị lây nhiễm mới và từ năm 2000 đến năm 2005, số người đang phải sống chung với HIV/AIDS đã tăng lên hơn gấp hai lần, từ 122.000 lên tới 263.000 người Ở một số vùng sâu, vùng xa, tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi chết còn rất cao tới 25 - 34%, tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân của trẻ em dưới 5 tuổi còn cao tới 30 - 35% Số lượng người tàn tật của cả nước khá lớn khoảng 5,3 triệu, chiếm gần 6,3% dân số, tỷ lệ dân số bị thiểu năng thể lực và trí tuệ chiếm tới 1,5% dân số và hàng năm vẫn tiếp tục tăng thêm do số trẻ em sinh ra bị dị tật và các bệnh bẩm sinh [1]
Theo báo cáo của UNDP, chỉ số phát triển con người Việt Nam tiếp tục tăng (năm 1995 xếp thứ 108/177, năm 2006 xếp thứ 120/174) [1] Mặc dù mức GDP bình quân đầu người chính thức của Việt Nam mới chỉ khoảng 600 USD và tình trạng nghèo đói vẫn còn phổ biến, song những thành tích của quốc gia về mặt phát triển con người lại khá thuận lợi Điều này được phản ánh ở sự gia tăng liên tục các chỉ số HDI trong suốt mười năm qua và nói lên sự tiến bộ đạt được trong lĩnh vực y
tế và mức sống dân cư Tuy chỉ số phát triển con người của nước ta đã từng bước cải thiện, nhưng vẫn ở mức thấp so với nhiều nước trong khu vực và thấp xa so với các nước phát triển
+ Về giáo dục đào tạo: Mặc dù đất nước còn nghèo, thu nhập quốc dân còn thấp, lại trải qua mấy chục năm chiến tranh nhưng Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn về mặt giáo dục Cùng với củng cố kết quả xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, đến hết năm 2005 có 31 tỉnh đạt tiêu chuẩn phổ cập trung học cơ
sở Tỷ lệ học sinh trong độ tuổi đi học ở bậc tiểu học đạt 97,5% Số học sinh trung
Trang 10học chuyên nghiệp tăng 12,9%/năm, dạy nghề dài hạn tăng 12%/năm, sinh viên đại học và cao đẳng tăng 8,4%/năm [1], [3] Chất lượng dạy nghề có chuyển biến tích cực, bước đầu đã hình thành mạng lưới dạy nghề cho lao động nông thôn, thanh niên dân tộc thiểu số, người tàn tật, gắn dạy nghề với tạo việc làm Nhiều trường dân lập, tư thục bậc đại học, trung học chuyên nghiệp, trung học phổ thông và dạy nghề đã được thành lập Cơ sở vật chất của ngành đã được tăng cường, đặc biệt là đối với vùng núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Bảng 1.3 Một số chỉ tiêu về y tế và giáo dục của Việt Nam
Phòng khám đa khoa khu vực 928 912 930 881 880 Trạm y tế xã, phường 10385 10396 10448 10516 10613
Số giường bệnh/10.000 dân 24,5 24,2 23,8 23,9 23,7
Số sinh viên tốt nghiệp đại
học hàng năm (1.000 người) 168,9 166,8 165,7 195,6 197,2
Số học sinh tốt nghiệp THCN
hàng năm (1.000 người) 76,9 119,4 115,8 138,8 157,4
Số kỹ sư/10.000 dân
Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2006
Tỷ lệ người dân biết chữ ở Việt Nam tương đối cao đạt 92% Trong số 8% dân số mù chữ thì 80% sống ở vùng nông thôn, trong đó 60% là phụ nữ Năm 2005,
cả nước có khoảng 22 triệu học sinh sinh viên, trong đó có 1,4 triệu sinh viên, trung bình có 167 sinh viên trên 10.000 dân Trong số 311 trường đại học, cao đẳng có 37 trường khối dân lập, tư thục và bán công Số lượng sinh viên các trường ngoài công lập hiện mới đạt gần 12% trong tổng số sinh viên, trong khi mục tiêu đề ra đến năm
2010 tỷ lệ này sẽ là 40% Năm học 2004 - 2005, hệ chính quy đại học, cao đẳng tuyển 199.065 sinh viên, hệ không chính quy tuyển 111.860 sinh viên Nền giáo dục Việt Nam ngoài việc đào tạo ra một đội ngũ lao động có trình độ và tay nghề, còn tạo ra những nhà khoa học có tên tuổi trên thế giới Bên cạnh các thành tích đó, hệ