Bảng 1 : Kim ngạch XNK hàng hoá hai chiều Việt Nam - Trung Quốc Thời kỳ Nguồn: Hải quan Việt Nam Cục Công nghệ thông tin Nhìn chung trong một thời gian khá dài 1991- 2001, kim ngạch xu
Trang 1MỤC LỤC
I Khái quát về cán cân thương mại 2
1 Khái niệm cán cân thương mại 2
2 Các nhân tố chính ảnh hưởng đến cán cân thương mại 2
3 Ảnh hưởng của cán cân thương mại đến các biến số kinh tế 3
II Thực trạng cán cân thương mại Việt –Trung 4
1 Giai đoạn từ năm 1991 đến năm 2001 4
2 Giai đoạn từ 2001 đến 2006 9
3 Giai đoạn từ 2006 đến nay 13
4 Nguyên nhân tình trạng nhập siêu từ Trung Quốc của nước ta hiện nay 18
III Các biện pháp nhằm cải thiện cán cân thương mại Việt Trung 20
1 Một số vấn đề đặt ra trong quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Trung Quốc trong giai đoạn tới 20
2 Một số biện pháp đề xuất nhằm cải thiện cán cân thương mại Việt Trung 23
a Về xuất khẩu 23
b Về nhập khẩu 24
Trang 2I Khái quát về cán cân thương mại:
1 Khái niệm cán cân thương mại:
Cán cân thương mại là mục quan trọng nhất trong tài khoản vãng lai của cán cânthanh toán quốc tế Cán cân thương mại là bảng đối chiếu giữa tổng giá trị hàng hóa xuấtkhẩu và nhập khẩu của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định
Cán cân thương mại ghi lại những thay đổi trong xuất khẩu và nhập khẩu của mộtquốc gia trong một khoảng thời gian nhất định (quý hoặc năm) cũng như mức chênh lệch(xuất khẩu trừ đi nhập khẩu) giữa chúng
Khi mức chênh lệch là lớn hơn 0, thì cán cân thương mại thặng dư Ngược lại, khimức chênh lệch nhỏ hơn 0, thì cán cân thương mại thâm hụt Khi mức chênh lệch đúngbằng 0, cán cân thương mại ở trạng thái cân bằng
Xuất khẩu làm phát sinh khoản thu nên được ghi (+) trong BP
Nhập khẩu làm phát sinh khoản chi nên được ghi (-) trong BP
Cán cân này còn được gọi là cán cân hữu hình vì nó phản ánh các khoản thu từ xuấtkhẩu và các khoản chi cho nhập khẩu mà các hàng hóa này lại có thể quan sát bằng mắtthường khi di chuyển qua biên giới
2 Các nhân tố chính ảnh hưởng đến cán cân thương mại:
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến cán cân thương mại Tuỳ theo giai đoạn và đặcđiểm của từng nền kinh tế thì mức độ quan trọng của các yếu tố khác nhau
a Tỷ giá hối đoái:
Là nhân tố rất quan trọng đối với các quốc gia vì nó ảnh hưởng đến giá tương đốigiữa hàng hóa sản xuất trong nước với hàng hóa trên thị trường quốc tế
Khi giá của đồng tiền của một quốc gia tăng lên thì giá cả của hàng hóa nhập khẩu
sẽ trở nên rẻ hơn trong khi giá hàng xuất khẩu lại trở nên đắt đỏ hơn đối với người nướcngoài Vì thế việc giá đồng nội tệ tăng lên sẽ gây bất lợi cho xuất khẩu do giá hàng xuấtkhẩu trở nên đắt một cách tương đối và thuận lợi cho nhập khẩu do hàng nhập khẩu rẻ mộtcách tương đối dẫn đến kết quả là xuất khẩu ròng giảm
Ngược lại, khi giá đồng nội tệ giảm xuống, xuất khẩu sẽ có lợi thế trong khi nhậpkhẩu gặp bất lợi và xuất khẩu ròng tăng lên Cả hai hiệu ứng này tác động đồng thời làmcải thiện cán cân thương mại
Ví dụ, một bộ ấm chén sứ Hải Dương có giá 70.000 VND và một bộ ấm chén tươngđương của Trung Quốc có giá 33 CNY (Nhân dân tệ) Với tỷ giá hối đoái 2.000 VND = 1CNY thì bộ ấm chén Trung Quốc sẽ được bán ở mức giá 66.000 VND trong khi bộ ấmchén tương đương của Việt Nam là 70.000 VND Trong trường hợp này ấm chén nhậpkhẩu từ Trung Quốc có lợi thế cạnh tranh hơn Nếu VND mất giá và tỷ giá hối đoái thayđổi thành 2.300 VND = 1 CNY thì lúc này bộ ấm chén Trung Quốc sẽ được bán với giá75.900 VND và kém lợi thế cạnh tranh hơn so với ấm chén sản xuất tại Việt Nam
Trang 3b Lạm phát:
Khi các nhân tố khác không đổi, nếu tỷ lệ lạm phát trong nước cao hơn ở nướcngoài thì sẽ làm giảm sức cạnh tranh của hàng hóa nước này trên thị trường quốc tế, do đólàm cho khối lượng xuất khẩu giảm Ngược lại, nếu tỷ lệ lạm phát trong nước thấp hơn thìsức cạnh trang của hàng hóa trong nước sẽ cao hơn trên thị trường quốc tế làm cho khốilượng hàng hóa xuất khẩu tăng lên
c Giá thế giới của hàng hóa xuất khẩu:
Nếu giá thế giới của hàng hóa xuất khẩu tăng sẽ làm tăng giá trị xuất khẩu bằng nội
tệ và bằng ngoại tệ
d Thu nhập:
Khi thu nhập của người không cư trú tăng, làm tăng cầu xuất khẩu của người không
cư trú, do đó làm tăng giá trị xuất khẩu bằng nội tệ và bằng ngoại tệ
Khi thu nhập trong nước tăng, nhu cầu nhập khẩu hàng hoá cũng đồng thời tăngtheo Trong khi đó, khi kinh tế nước ngoài tăng trưởng, họ cũng tăng nhu cầu nhập khẩuhàng hoá từ nước khác và làm cho xuất khẩu của đối tác thương mại tăng lên
e Thuế quan và hạn ngạch:
Các chính sách thuế, bảo hộ hàng hoá trong nước cũng ảnh hưởng mạnh đến cáncân thương mại Những rào cản này hạn chế nhập khẩu một số mặt hàng để cải thiện cáncân thương mại Giá trị xuất khẩu của một nước sẽ giảm nếu bên nước ngoài áp dụng mứcthuế quan cao, hạn ngạch nhập khẩu thấp cũng như áp dụng các hàng rào phi thuế quannhư yêu cầu về chất lượng hàng hóa, tệ nạn quan liêu
Ngoài ra, các chính sách liên quan đến phát triển kinh tế và xuất nhập khẩu kháccũng sẽ ảnh hưởng mạnh đến cán cân thương mại Cán cân thương mại còn phụ thuộc vào
cơ cấu của nền kinh tế và chiến lược phát triển công nghiệp của quốc gia
3 Ảnh hưởng của cán cân thương mại đến các biến số kinh tế:
Thứ nhất, cán cân thương mại cung cấp những thông tin liên quan đến cung - cầu
tiền tệ của một quốc gia, cụ thể là thể hiện sự thay đổi tỷ giá hối đoái của đồng nội tệ sovới đồng ngoại tệ Chẳng hạn, nếu một nước nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩunghĩa là cung đồng tiền quốc gia đó có khuynh hướng vượt cầu trên thị trường hối đoáinếu các yếu tố khác không thay đổi Và như vậy, có thể suy đoán rằng, đồng tiền nước đó
sẽ bị sứ c ép gi ả m gi á so v ới đ ồ n g t i ền cá c n ư ớc k h á c N gư ợc l ạ i, n ế u
m ộ t qu ố c gi a x u ấ t k h ẩ u nhiều hơn nhập khẩu thì đồng tiền của quốc gia đó cókhuynh hướng tăng giá
Thứ hai, cán cân thương mại phản ánh khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế
của một quốc gia Nếu như một nước trong nhiều năm liền bị thâm hụt thươngmại trầm trọng thì thể hiện các ngành sản xuất trong nước không có khả năngcạnh tranh quốc tế Và ngược lại, thặng dư cán cân thương mại phản ánh khả năng cạnhtranh cao của hàng xuất khẩu trên thị trường quốc tế Tuy nhiên trong nhiều trường hợp
Trang 4cũng cần phải tính đến yếu tố là một số nước có chính sách hạn chế nhập khẩu (bảo hộ caocho khả năng sản xuất trong nước) còn xuất khẩu có thể tăng mạnh nhờ khai thác được lợi
t h ế n h ư cá c sả n p h ẩ m t h ô , l a o đ ộn g r ẻ … ở gi a i đ oạ n đầ u củ a qu á t r ìn h
t ự do h óa thương mại nên có thể xảy ra tình trạng thặng dư thương mại.Nhưng tình trạng này không nên kéo dài vì sẽ dẫn đến việc hàng hóa trong nước sẽkhông có khả năng cạnh tranh với hàng hóa quốc tế trong dài hạn
Thứ ba, tình trạng của cán cân thương mại phản ánh tình trạng của cán
cân vãng lai và nợ nước ngoài, do đó có ảnh hưởng đến ổn định kinh tế vĩ mô Đây là ảnhhưởng quan trọng nhất của cán cân thương mại tới nền kinh tế và dựa vào đó nhà nước cóthể đưa ra các chính sách để có thể điều chỉnh cán cân thương mại đảm bảo ổn định kinh tế
đề ra những giải pháp thiết thực cho xuất nhập khẩu trong thời gian sắp tới từ
đó giúp điều tiết vĩ mô một cách tốt hơn Do tầm quan trọng của cán cân thương mại nênhầu hết các nước đều công bố tình trạng của nó hàng tháng
II Thực trạng cán cân thương mại Việt –Trung
1 Giai đoạn từ năm 1991 đến năm 2001
Kể từ khi bình thường hoá hoạt động xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Trung Quốc
đã phát triển theo chiều hướng hoàn thiện hơn, tích cực hơn và đã đạt được những thànhtựu đáng kể Trước hết, điều dễ dàng nhận thấy là hoạt động ngoại thương giữa hai nướcđược thực hiện thông qua nhiều phương thức khác nhau như buôn bán chính ngạch, buônbán tiểu ngạch, tạm nhập tái xuất, trong đó buôn bán chính ngạch và buôn bán tiểu ngạch
là hai phương thức chính Đa dạng hoá về phương thức trao đổi đã làm cho hoạt độngngoại thương giữa Việt Nam và Trung Quốc có nhiều nét đặc trưng và cũng là lợi thế củahai bên
Từ năm 1991-2001, kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước tăng lên nhanh chóng
và tăng đều qua các năm
Năm 1991 tổng kim ngạch hai chiều đạt 37,7 triệu USD thì đến năm 2000 đạt2.957,0 triệu USD, đặc biệt năm 2002 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều đã đạt3.654,275 triệu USD tăng 97 lần so với năm 1991 Năm 2002 Tổng kim ngạch hai nướcđạt mức tăng trưởng cao và tăng hơn 1,2 lần so với năm 2000 đã vượt sớm hơn mục tiêu 3
tỷ USD mà hai nước đề ra Trong đó kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốcđạt 1.495,485 triệu USD (xem bảng 1) Cần nói thêm rằng, thương mại Việt - Trung trong
Trang 5thống kê chính thức chưa phản ánh đầy đủ tình hình buôn bán sôi động giữa hai nước vì rấtkhó đưa vào thống kê hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại đã và đang xảy ra trên biêngiới Tình trạng nhập lậu hàng hoá qua biên giới và khai khống trị giá hàng xuất khẩu củamột số doanh nghiệp xuất khẩu nhằm gian lận trong việc hưởng chế độ hoàn thuế VATđang diễn ra với tính chất hết sức nghiêm trọng Nếu tính đầy đủ các con số này thì tìnhhình buôn bán hai chiều sẽ tăng lên, đồng thời con số nhập siêu của Việt Nam vào các năm
2000, 2001 cũng lớn hơn so với số liệu thống kê
Bảng 1 : Kim ngạch XNK hàng hoá hai chiều Việt Nam - Trung Quốc Thời kỳ
Nguồn: Hải quan Việt Nam ( Cục Công nghệ thông tin )
Nhìn chung trong một thời gian khá dài 1991- 2001, kim ngạch xuất nhập khẩu giữaViệt Nam và Trung Quốc khá cân bằng, kim ngạch tăng đều qua các năm và chỉ giảm nhẹvào năm 1996 Sự biến động này có thể chấp nhận được do những dao động của thị trườngqua hàng năm Năm 1997, Việt Nam giảm nhập thiết bị cho các nhà máy đường, xi măng,nhất là đối với các thiết bị của nhà máy xi măng là đứng đã làm giảm kim ngạch nhậpkhẩu, trong khi đó số lượng hàng xuất khẩu không giảm đã dẫn đến hiện tượng xuất siêukhá cao đạt 11,2 triệu USD năm 1996, năm 1997 là 66,7 triệu USD Bên cạnh đó cũng còn
có những nguyên nhân khác dẫn tới tình trạng xuất siêu do khủng hoảng tài chính Châu Á
đã làm giảm nhu cầu nhập khẩu của các nước Hàn Quốc, Thái Lan, Indonesia là những
Trang 6đối tác thương mại lớn của Việt Nam Vì vậy, các Doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Namphải tìm thị trường tiêu thụ hàng hoá của mình tại Trung Quốc Số lượng hàng xuất khẩucủa các vùng nội địa chiếm 75%-80% trong tổng số lượng hàng xuất khẩu, lượng hàngxuất khẩu của vùng biên giới chỉ chiếm 20%- 25% Trong giai đoạn 1991- 2001 Việt Nam
đã nâng cao được kim ngạch xuất nhập khẩu với Trung Quốc và duy trì sự tăng trưởng ổnđịnh , bất chấp những biến động của nền kinh tế khu vực và thế giới Đây là một kết quảđáng ghi nhận trong trao đổi thương mại nói chung và trong quan hệ thương mại Việt -Trung nói riêng
*Cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu:
Cơ cấu hàng xuất khẩu:
Trung Quốc là một trong những nước có nền kinh tế khá phát triển trong khu vựccũng như trên thế giới Với thế mạnh là giá rẻ, công nghệ sản xuất khá tiên tiến, mẫu mãđẹp, sản phẩm của Trung Quốc không chỉ có xu thế ở thị trường Châu Á mà còn chiếmlĩnh được thị trường các nước Châu Âu và Châu Mỹ Một trong những khó khăn của ViệtNam khi xuất khẩu hàng sang Trung Quốc là: những mặt hàng có thế mạnh của Việt Namnhư gạo, chè, cà phê và một số sản phẩm nông nghiệp khác cũng là thế mạnh của TrungQuốc nên những mặt hàng này rất khó mở rộng thị trường và nâng cao số lượng tiêu thụ tạithị trường này Trong giai đoạn đầu sau khi bình thường hoá quan hệ giữa hai nước, hàngxuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc chủ yếu là nông sản và một số loại khoáng sản
có thế mạnh như quặng Crôm, dầu thô Việc nhập khẩu các loại nguyên liệu thô này sẽgiúp Trung Quốc giải quyết được khâu nguyên liệu cho các ngành sản xuất, chế biến trongnước, tận dụng giá lao động rẻ, tạo được nhiều công ăn việc làm cho người lao động cũngnhư nâng cao giá thành sản phẩm Trước yêu cầu cần phải giảm xuất khẩu nguyên liệu thô
và các sản phẩm chưa qua chế biến Trong những năm gần đây,Việt Nam đã và đang giảm
tỷ lệ xuất khẩu nguyên liệu để tận dụng sức lao động sáng tạo trong nước sản xuất sảnphẩm thành phẩm rồi mới xuất khẩu Tuy nhiên, một số nhóm hàng như sản phẩm nhựagiầy dép, hàng dệt may, máy tính và linh kiện, dây cáp điện, cao su, đường tinh cùng một
số mặt hàng thực phẩm khác đã thâm nhập được vào thị trường Trung Quốc nhưng với sốlượng không còn rất khiêm tốn Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, trong năm
2001 ( Bảng 2 ) cho thấy, trị giá mặt hàng dệt may xuất khẩu sang Trung Quốc là 34,8triệu USD, chiếm 1,19% Tổng kim ngạch hàng xuất khẩu; mặt hàng giầy dép các loại là12,39 triệu USD, chiếm 0,42% trong tổng kim ngạch xuất khẩu
Bảng 2 : Một số mặt hàng chủ yếu Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc năm
2001Stt Tên hàng Tên đơn vị Lượng Trị giá( USD)
1 Cà phê Tấn 6.628 2.806.057
2 Cao su Tấn 96.159 67.218.570
3 Chè Tấn 500 837.626
Trang 7Nguồn: Hải Quan Việt Nam ( Cục Công nghệ thông tin )
Cơ cấu hàng nhập khẩu:
Trang 8Nhìn chung, hàng nhập khẩu từ Trung Quốc khá phong phú về chủng loại song chủyếu là các mặt hàng đã qua chế biến và các sản phẩm công nghiệp Tùy theo nhu cầu tiêuthụ của từng năm, từng giai đoạn mà số lượng các mặt hàng nhập khẩu đã tăng hoặc giảm.Theo con số thống kê của Tổng Cục Hải quan, trong giai đoạn 1991 - 1995, các mặt nhậpkhẩu có trị giá lớn là xi măng là 5,15 triệu USD năm 1992, đến năm 1995 là 29,98 triệuUSD; kính xây dựng là 2,392 triệu USD năm 1992 đến năm 1995 là 10,88 triệu USD; thépxây dựng năm 1992 là 8,774 Triệu USD đến năm 1995 là 10,928 triệu USD Trong giaiđoạn 1996 - 2001, cơ cấu hàng hoá nhập khẩu có sự thay đổi do nhà nước ta chủ trươnghạn chế nhập khẩu một số nhóm mặt hàng chiếm tỷ trọng lớn trong kim ngạch nhập khẩugiai đoạn 1991 - 1995 như xi măng, kính xây dựng, thuốc bảo vệ thực vật để bảo vệ vàphát triển sản xuất trong nước Nhà nước khuyến khích nhập một số mặt hàng thiết yếuphục vụ sản xuất công nông nghiệp, các mặt hàng nhập khẩu chiếm tỷ trọng lớn trong giaiđoạn này là Máy móc thiết bị, phụ tùng, xăng dầu, nguyên vật liệu dệt may, phân bón vàlinh kiện xe máy Cũng theo số liệu thống kê của Tổng Cục Hải quan, trong 2 năm 2001( Bảng 3 ), ta đã nhập một lượng lớn máy móc thiết bị với trị giá là 567,277 triệu USDchiếm tỷ trọng 14,9% trong tổng kim ngạch hàng nhập khẩu; xăng dầu là 705,099 triệuUSD chiếm tỷ trọng 18,6 ; nguyên vật liệu dệt may là 202,06 triệu USD và một số mặthàng khác như phân bón là 120,011 triệu USD Các mặt hàng máy móc thiết bị nhậpkhẩu của Trung Quốc chỉ ở trình độ kỹ thuật thấp hoặc trung bình so với khu vực và thếgiới, nhưng khá phù hợp với trình độ phát triển của nước ta trong thời kỳ qua Đối vớinhóm hàng tiêu dùng nhập khẩu, các sản phẩm của Trung Quốc đang cạnh tranh rất mạnhvới hàng sản xuất trong nước do hàng Trung Quốc có mẫu mã đẹp, đa dạng về chủng loại,tuy có chất lượng không cao, chủ yếu là hàng địa phương nhưng giá rẻ, khá phù hợp vớithị hiếu tiêu dùng của thị trường Việt Nam Trước thực tế đó đòi hỏi các doanh nghiệpViệt Nam phải không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm trong nước, hạ giá thành đểtăng tính cạnh tranh của các sản phẩm cùng loại trên thị trường nội địa và khẳng định sảnphẩm của mình trên thị trường khu vực cũng như Quốc tế.
Bảng 3 : Một số mặt hàng chủ yếu Việt nam nhập khẩu từ Trung Quốc năm 2001
STT Tên hàng Tên đơn vị Lượng Trị giá (USD)
1 Chất dẻo nguyên liệu Tấn 6.625 5.047.225
2 Clinker Tấn 21.960.579
3 Linh kiện điện tử và Vi tính USD 249.362.428
4 Máy móc thiết bị, phụ tùng USD 74.122.246
Trang 911 Xăng dầu các loại USD 1.034.914 231.660.566
- nhập khẩu giữa hai nước
Từ hình 1 và bảng 1 cho thấy, trong giai đoạn 2001-2006, xuất nhập khẩu tăng lênmạnh mẽ so với các thời kỳ trước đó Chênh lệch giữa xuất và nhập khẩu lớn, nhưng điềuđáng nói là trong các năm trước đó Việt Nam luôn giữ thế xuất siêu so với Trung Quốc thì
giai đoạn 2001-2006 tình hình đã đảo ngược, Việt Nam rơi vào tình trạng nhập siêu nghiêm trọng.
Bảng 1: Kim ngạch XNK Việt Nam - Trung Quốc phân theo từng kế hoạch 5 năm
Trang 10Giai đoạn Tổng kim ngạchxuất-nhập khẩu
(triệu USD)
Kim ngạch xuấtkhẩu (triệuUSD)
Tăng bìnhquân năm(%)
Kim ngạch nhậpkhẩu (triệu USD)
Tăng bìnhquân năm (%)
Năm 2006, với kim ngạch buôn bán hai chiều đạt 10,421 tỉ USD, "ngưỡng" 10 tỉUSD cũng đã bị vượt qua Tính chung lại, trong 6 năm vừa qua, kim ngạch buôn bán haichiều giữa Việt Nam và Trung Quốc đã tăng bình quân 23,36%/năm, liên tục trong ba nămgần đây, Trung Quốc đã thay Nhật Bản trở thành đối tác thương mại lớn nhất của nước ta
Xét trên tổng thể, các số liệu thống kê của nước ta trong 6 năm gần đây cho thấy,sau bước lùi vào thời điểm năm 2001, xuất khẩu hàng hóa sang thị trường Trung Quốc tuy
đã liên tục phát triển, đặc biệt là bước đại nhảy vọt vào năm 2004, nhưng nhịp độ tăngtrưởng bình quân cũng chỉ là 12,02%
Rõ ràng, đây là con số khá thấp nếu so với nhịp độ tăng trưởng xuất khẩu chung rathị trường thế giới trong cùng kỳ (18,41%/năm), và càng thấp so với nhịp độ tăng trưởngxuất khẩu 19,23%/năm sang 9 đối tác thương mại (gồm Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ô-xtrây-li-a,Xin-ga-po, CHLB Đức, Hà Lan, Anh, Đài Loan và Pháp) hiện đang chiếm 59,20% tổnglượng hàng hóa của nước ta xuất khẩu ra thị trường thế giới
Nếu xem xét một cách chi tiết hơn, vấn đề không phải chỉ là tốc độ phát triển xuấtkhẩu đã bị chững lại, mà đã xuất hiện xu hướng suy giảm một cách hết sức đáng lo ngạihiện nay trong việc phát triển thị trường này
Các kết quả tính toán từ các số liệu thống kê xuất nhập khẩu hàng hóa của ViệtNam với Trung Quốc trong bảy năm gần đây cho thấy, từ xuất phát điểm xuất siêu 110,8triệu USD, bằng 7,79% kim ngạch nhập khẩu năm 2000, chúng ta đã chuyển sang nhậpsiêu gần gấp đôi trong năm 2001 (211,0 triệu USD), bằng 14,48% kim ngạch xuất khẩu vàđến nay vẫn hầu như liên tục tăng "phi mã": năm 2002 tăng lên 6.63,3 triệu USD; năm
2003 tăng gần gấp ba lần (1.734,6 triệu USD); năm 2004 dừng ở mức 1.721,1 triệu USD;năm 2005 tăng gấp 1,64 lần (2.817,9 triệu USD); năm 2006 vừa qua tiếp tục tăng 1,55 lần
và đạt kỷ lục 4.360,9 triệu USD Tính chung lại, trong những năm đầu thập kỷ này, nhịp
độ tăng nhập siêu của nước ta từ thị trường Trung Quốc đã đạt kỷ lục 83,26%/năm
Trang 11Đây thực sự là những mức nhập siêu rất cao, bởi chỉ riêng nhập siêu từ riêng thịtrường này đã chiếm tỷ trọng khá lớn trong "rổ hàng hóa nhập siêu" của nước ta: năm2001: 18,58%; năm 2002: 21,91%; năm 2003: 34,34%; năm 2004: 31,58%; năm 2005:62,12%; năm 2006 đạt kỷ lục 86,10%.
Nếu kể cả thương mại dịch vụ, bao gồm ngân hàng, du lịch, viễn thông và mua điệnthì chắc chắn thâm hụt thương mại của Việt Nam còn cao hơn số liệu đã được Hải quanViệt Nam và Hải quan Trung Quốc công bố
Mặc dù có sự thâm hụt cao trong cán cân thương mại với Trung Quốc, nhưng đó làđiều kiện cho phát triển kinh tế và xuất khẩu sang các thị trường khác Như vậy, mô hìnhxuất nhập khẩu Việt Nam - Trung Quốc có bị thâm hụt cao, nhưng không phải là điều quáphải lo lắng khi thâm hụt này được bù đắp bằng thặng dư từ các thị trường khác Tuynhiên, cũng phải nói rằng: Nhập siêu rất lớn ở một số quốc gia châu Á, xuất siêu ở một sốquốc gia ngoài khu vực châu Á đã trở thành "căn bệnh cố hữu" của nền kinh tế nước ta
Xét về phương thức giao dịch, thương mại Việt Nam - Trung Quốc chủ yếu thựchiện qua đường tiểu ngạch Buôn bán tiểu ngạch tạo thuận lợi cho doanh nghiệp giảm được50% thuế, tiết kiệm một số chi phí bao bì, chất lượng hàng hóa không đòi hỏi cao, thậmchí tránh được kiểm dịch về an toàn vệ sinh Nhưng buôn bán tiểu ngạch có nhiều điểmyếu: bị động, không ổn định, thiếu bền vững, rủi ro cao Yếu tố không chắc chắn trongbuôn bán tiểu ngạch khiến thương mại Việt Nam - Trung Quốc rủi ro cao và cũng tác độngvào các hợp đồng thương mại chính ngạch trong nước Buôn bán tiểu ngạch diễn ra phụthuộc chủ yếu vào giá cả, khi giá tăng dẫn tới hiện tượng tranh mua ở thị trường trongnước, việc tranh mua đối với nhiều loại nông sản gây phá vỡ các hợp đồng của các đối tác
đã ký hợp đồng tiêu thụ nông sản với nông dân
Cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu:
Cơ cấu hàng xuất khẩu:
Hiện nay, Trung Quốc đang là bạn hàng nhập khẩu số 1 về cao su, hạt điều, thứ 3 vềthủy sản, là nước nhập khẩu trên 56% giá trị rau quả tươi xuất khẩu của Việt Nam Ngoài
ra, một số mặt hàng tiêu dùng của Việt Nam cũng bắt đầu thâm nhập và từng bước mởrộng thị phần trên thị trường Trung Quốc như: giày dép, hàng dệt may, linh kiện điện tử
Trong giai đoạn 2001-2006, nhìn chung cơ cấu hàng hóa xuất khẩu sang thị trườngTrung Quốc đã không ngừng được mở rộng Cụ thể, ở thời điểm năm 2001, trong danhmục những mặt hàng chủ yếu của nước ta xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc đạt kimngạch từ 1 triệu USD trở lên tuy gồm 15 mặt hàng, nhưng tổng cộng cũng chỉ đạt 1,156 tỉUSD và chiếm 81,52% tổng kim ngạch xuất khẩu của năm này Năm 2006, tuy danh mụcnày cũng chỉ tăng lên 18 mặt hàng, nhưng đã đạt 2,331 tỉ USD và chiếm 76,93% trongtổng kim ngạch xuất khẩu Nếu năm 2001, quy mô xuất khẩu 10 triệu USD trở lên chỉ gồm
8 mặt hàng, thì con số này trong năm 2006 đã là 13 mặt hàng
Bảng 2: Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang Trung Quốc
(triệu USD)
Trang 12Nguồn: Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương).
Như vậy, đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc là vấn đề mang tínhchiến lược của nước ta hiện nay do Trung Quốc - một nền kinh tế mang tính "công xưởng"của thế giới, và sẽ còn phát triển nhanh trong những năm tới Vấn đề đặt ra là: nếu như cơcấu hàng hóa xuất khẩu không có những bước chuyển mạnh mẽ, xu thế suy giảm tốc độxuất khẩu sang thị trường này sẽ là điều không thể tránh khỏi
Cơ cấu hàng nhập khẩu:
Nếu như trước đây, những mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc chủyếu là: thuốc bắc, bông, vải sợi, hàng dệt kim và quần áo may sẵn, pin các loại, thuốc lá,
xà phòng giặt, nước giải khát, dầu thực vật, đường sữa, đồ dùng gia đình, xe đạp, giấy thìđến giai đoạn này hàng hóa Trung Quốc xuất sang Việt Nam rất phong phú và đa dạng (cóhơn 200 nhóm và mặt hàng, gấp đôi số nhóm và mặt hàng Việt Nam xuất sang Trung
Trang 13Quốc) Trong các mặt hàng và nhóm hàng nhập khẩu nêu trên, hàng hóa là máy móc thiết
bị chiếm 27,95%, nguyên liệu chiếm 19,7%; hàng tiêu dùng chiếm 47% Những nhómhàng có khối lượng nhập lớn trong thời kỳ này là: máy móc nông nghiệp và chế biến nônglâm sản, thiết bị sản xuất xi-măng lò đứng, máy móc cho ngành dệt, thiết bị sản xuất phânbón và các loại máy phát điện cỡ nhỏ
Các số liệu thống kê những năm gần đây cho thấy, nếu như kim ngạch nhập khẩuhàng hóa từ thị trường Trung Quốc năm 2000 chỉ mới là 1,4 tỉ USD, thì năm 2006 đã đạt7,391 tỉ USD, tức là đã tăng 31,59%/năm Đây thực sự là một kỷ lục xét trên nhiều phươngdiện: tăng cao 1,64 lần nhịp độ tăng trưởng nhập khẩu chung từ thị trường thế giới; tăngcao kỷ lục so với nhịp độ tăng nhập khẩu từ 9 thị trường chủ yếu của nước ta trong giaiđoạn này Năm 2006, nhập siêu từ Trung Quốc vẫn ở mức cao 4,36 tỉ USD
Chính vì nhập khẩu hàng hóa từ thị trường này liên tục bùng nổ như vậy, cho nênngay từ năm 2003, Trung Quốc đã vượt Nhật Bản để trở thành quốc gia xuất khẩu hànghóa lớn nhất vào nước ta trong bốn năm qua Con số kim ngạch nhập khẩu hàng hóa củanước ta từ thị trường Trung Quốc lớn hơn gấp 2,44 và 3,12 lần kim ngạch xuất khẩu hànghóa sang thị trường này vào các năm 2006 và 2007 cho thấy một thực tế là: dù thị trườngnước ta còn rất nhỏ, nhưng các doanh nghiệp Trung Quốc đã khai thác thị trường nước tatốt hơn nhiều so với những gì các doanh nghiệp nước ta làm được từ thị trường này
3 Giai đoạn từ 2006 đến nay
Tình hình xuất nhập khẩu với Trung Quốc từ năm 2006 đến 2010
(ĐVT: Triệu Đô la Mỹ)
Xuất khẩu 3.228,1 3.242,8 3.646,1 4.850,1 4.909,0 7.309,0Nhập khẩu 5.899,7 7.391,3 12.710,0 15.973,6 16.441,0 20.019,0
Kim ngạch
thương mại 9127,8 10634,1 16356,1 20823,7 21350,0 27328,0
Thâm hụt 2.671,6 4.148,5 9.063,9 11.123,5 11.532,0 12.710,0
Tỷ lệ tăng 58,5% 55,3% 118,5% 22,7% 3,7% 10,2%
(Nguồn: Tự lập theo số liệu của Tổng cục Thống kê, 2010)
Từ năm 2006, tổng kim ngạch thương mại Việt – Trung có sự tăng trưởng vượt bậc.Nếu như năm 2006, kim ngạch thương mại hai nước chỉ là 10,6 tỷ USD, thì đến hết năm
2010 đã là hơn 27,3 tỷ USD, tăng gần 157%, gấp hơn 2 lần mức tăng của 5 năm trước đó,chiếm tỷ trọng khoảng 17,4% so với tổng kim ngạch thương mại cả nước (157 tỷ USD),