ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU * Bộ môn Ký sinh học Trường Đại học Y Dược Tp Hồ Chí Minh ** Khoa Nội Thần kinh Bệnh viện Chợ Rẫy Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của ch
Trang 1ỨNG DỤNG KỸ THUẬT CHẨN ĐOÁN ELISA
Trang 2SUMMARY
In a 9 –year period, serum samples from 3814 patients suspected of
having parasites were tested by ELISA to detect antibodies to Cysticercus
cellulosae, 163/3814 sera (4.3%) were seropositive Clinical manifestations
included subcutaneous cysticercosis form (4.9%), ocular cysticercosis form (1.4%) and neurocysticercosis form (93.7%) Neurocysticercosis form included asymptomatic form (17.6%), neurocysticercosis caused clinical manifestations form (76.1%)
In cases of neurocysticercosis cause clinical manifestations form, the most common symptoms were: headache (30.6%), seizures (27.8%), intracrianial hypertension (26.9%), paralysis (16.7%) CT Scan showed changes in 73.6% cases of neurocysticercosis cause clinical manifestations form
Trang 3phương pháp sinh thiết, còn bệnh ATSDH ở nội tạng thì chẩn đoán khó, có
thể chẩn đoán bằng hình ảnh như X – quang, CT Scanner, MRI
Xu hướng ngày nay là dùng phương pháp miễn dịch học để chẩn đoán
như ELISA vì ELISA có độ nhạy cao Chúng tôi ứng dụng phương pháp này
để chẩn đoán bệnh ATSDH, từ đó tìm hiểu các thể lâm sàng của bệnh
ATSDH ở người
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
* Bộ môn Ký sinh học Trường Đại học Y Dược Tp Hồ Chí Minh
** Khoa Nội Thần kinh Bệnh viện Chợ Rẫy
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là 3814 bệnh nhân người lớn và
trẻ em nghi ngờ nhiễm ký sinh trùng gồm 2867 bệnh nhân có triệu chứng
thần kinh hoặc CT Scan, MRI não có hình ảnh bất thường, 332 bệnh nhân có
triệu chứng bệnh ở da, cơ, 210 bệnh nhân có triệu chứng bệnh ở mắt, 405
bệnh nhân mắc bệnh nào đó có bạch cầu ái toan trong máu tăng Những
bệnh nhân này được các bác sĩ lâm sàng đề nghị làm huyết thanh chẩn đoán
bệnh ký sinh trùng, trong đó có huyết thanh chẩn đoán bệnh ATSDH
Trang 4Loại nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
Địa điểm và thời gian nghiên cứu:
Các bệnh nhân trẻ em và người lớn ở các bệnh viện và phòng khám tại thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1992 đến 12/2000
KẾT QUẢ
Tỉ lệ huyết thanh dương tính
Bảng 1: Số lượng và tỉ lệ phản ứng huyết thanh dương tính
Số
mẫu
(+) Tì lệ (%)
Trang 53814 163 163/3814=4,3
Ghi chú: Trong số 163 mẫu huyết thanh nhiễm ATSDH gồm 157 trường hợp nhiễm ATSDH, 6 trường hợp đa nhiễm nghĩa là nhiễm ATSDH
và nhiễm thêm một hay nhiều loài ký sinh trùng khác
Bảng 2: Tỉ lệ nhiễm phân bố theo triệu chứng ở các cơ quan
Đa nhiễm
Trang 6Nhận xét: Tỉ lệ nhiễm cao ở những bệnh nhân có bạch cầu ái toan tăng
và bệnh nhân có triệu chứng thần kinh
Để nghiên cứu các thể lâm sàng ATSDH, chúng tôi loại bỏ các trường hợp đa nhiễm Trong số 157 trường hợp nhiễm ATSDH, chúng tôi theo dõi
142 ca với các kết quả sau
Các thể lâm sàng
Dựa theo phân loại của José E H Pittela(11)
Bảng 3: Phân bố 142 trường hợp nhiễm ATSDH theo thể lâm sàng Thể lâm sàng Số
trường hợp
Tỉ lệ (%)
Trang 7= 17,6 Thể
Trang 8Nhận xét: tỉ lệ phân bố các thể lâm sàng khác nhau, thể thần kinh
*Thể
da phối hợp (n=15)
S (n= 22)
Trang 9Nhận xét: các nang sán thường gặp ở chi trên và chi dưới
Bảng 5: Triệu chứng lâm sàng của thể ở da đơn thuần
Triệu
chứng
Số trường hợp (n
= 7)
Tỉ lệ(%)
Mệt
mỏi
= 28,6
Trang 10Ghi chú: (*): 1 ca soi đáy mắt thấy nang sán ở đáy mắt, 1 ca siêu âm
thấy nang sán ở pha lê the
Thể thần kinh có biểu hiện lâm sàng
Bảng 7: Các triệu chứng của thể thần kinh có biểu hiện lâm sàng
Trang 11STT
Triệu
chứng
Trẻ em (n=11)
Người lớn (n= 97)
26 (26,8%)
29 (26,9%)
kinh
6 (54,5%)
24 (24,8%)
30 (27,8%)
thần
Trang 12STT
Triệu
chứng
Trẻ em (n=11)
Người lớn (n= 97)
16 (16,5%)
18(16,7%)
màng não
4 (36,4%)
Trang 13STT
Triệu chứng
Trẻ em (n=11)
Người lớn (n= 97)
trên 38oC
6 (54,5%)
11 (11,3%)
17(15,7%)
Nhận xét: Các triệu chứng, hội chứng hay gặp là nhức đầu, động
kinh, tăng áp lực nội so, liệt vận động
Các xét nghiệm cận lâm sàng
Trang 14Bảng 8: Tỉ lệ tăng bạch cầu ái toan (BCAT) trong máu của các bệnh
nhân nhiễm ATSDH
Thể lâm sàng Số
ca
Tăng BCAT
Tỉ lệ (%)
Bảng 9: Sự thay đổi các thành phần protein và tế bào trong dịch não
tủy của các bệnh nhân ở thể thần kinh có triệu chứng
Trang 15Thành
phần dịch não
tủy
Số mẫu xét nghiệm (n=61)
Bảng 10: Hình ảnh CT Scan của 53 bệnh nhân trong số bệnh nhân
nhiễm ATSDH thể thần kinh có triệu chứng
Số trường hợp làm CT
Hình ảnh bất thường
Hình ảnh bình thường
= 73,6%
14/53
= 26,4%
Trang 16Bảng 11: Kết quả xét nghiệm ELISA của 28 mẫu dịch não tủy của 28
bệnh nhân nhiễm ATSDH thể thần kinh có triệu chứng
Nhận xét: 28 bệnh nhân có huyết thanh dương tính, có triệu chứng
thần kinh, được lấy dịch não tủy để phát hiện kháng thể thì chỉ có 13 mẫu dương tính
BÀN LUẬN
Tỉ lệ huyết thanh dương tính
Trang 17Trong số 3814 mẫu huyết thanh của các bệnh nhân nghi ngờ nhiễm ký sinh trùng, với kỹ thuật ELISA phát hiện có 163 trường hợp bệnh do ATSDH, huyết thanh dương tính với hiệu giá từ 1/800 đến 1/3200, chiếm tỉ
lệ 4,3% (bảng 1)
Các thể lâm sàng ATSDH: (bảng 3)
Tỉ lệ các thể lâm sàng có khác nhau (p<0,001): thể ở da 4,9% (7/142), thể ở mắt 1,4% (2/142), thể thần kinh 93,7% (133/142) Thể thần kinh gồm thể thần kinh không triệu chứng 17,6% (25/142) và thể thần kinh có biểu hiện lâm sàng 76,1% (108/142)
Thể ở da và thể da phối hợp (bảng 4),
Nang ấu trùng có thể gặp ở bất cứ vị trí nào trên cơ thể, nhưng vị trí thường gặp là chi trên và chi dưới phù hợp với các nghiên cứu trước đây(8,13) Triệu chứng ở thể dưới da đơn thuần thường là mệt mỏi, đau nhức tứ chi (bảng 5)
Thể ở mắt
Tỉ lệ 1,4% (2/142) (bảng 6) thấp hơn nghiên cứu của Bernadin (5%)(3), với các triệu chứng nhìn mờ, nhức đầu, giảm thị lực phù hợp với báo cáo của Gurha nang ở mắt làm bệnh nhân nhức đầu, giảm thị lực nhanh(7)
Thể thần kinh
Trang 18Thể thần kinh không triệu chứng
Chiếm tỉ lệ 17,6% (25/142), bệnh nhân đến khám bệnh vì một bệnh khác như viêm họng, cao huyết áp, cường giáp , công thức máu có bạch cầu ái toan tăng gợi ý thầy thuốc lâm sàng cho làm huyết thanh chẩn đoán bệnh ký sinh trùng trong đó huyết thanh chẩn đoán bệnh ATSDH Nghiên cứu của Brandt và cs tại Bắc Ninh Bắc Việt Nam, trong các trường hợp huyết thanh dương tính có 16,6% trường hợp không triệu chứng dù CT Scan não thấy có ấu trùng sống(4)
Thể thần kinh có biểu hiện lâm sàng
Chiếm tỉ lệ 76,1% (108/142) Trong số 108 trường hợp có 14 trường hợp phát hiện có nang sán dưới da tỉ lệ 13% so với y văn thế giới là 13,7%(15)
- Thể thần kinh có biểu hiện lâm sàng ở trẻ em (bảng 7) với các triệu chứng: (1) nhức đầu 18,2% (2/11), tỉ lệ này thấp hơn nghiên cứu của tác giả Morales (60%)(11); (2) động kinh 54,5% (6/11), thấp hơn nghiên cứu của Ferreira (80%)(6), (3) hội chứng tăng áp lực nội sọ 27,3% (3/11), tỉ lệ này cao hơn Morales (4%)(11), thấp hơn nghiên cứu của Singhi (30%)(16), (4) liệt vận động 18,2% (2/11)
Trang 19- Thể thần kinh có biểu hiện lâm sàng ở người lớn với các triệu chứng: (1) nhức đầu 32% (31/97), tỉ lệ này cao hơn nghiên cứu Narata (24%)(12),
kinh 24,8% (24/97), so với nghiên cứu của Trần Kim Ngọc và cs 26,7% (4/15)(18), (3) hội chứng tăng áp lực nội sọ 26,8% (26/97), thấp hơn tỉ lệ của Bello Martínez (33%)(2), (4) liệt vận động 16,5% (16/97) phù hợp với các báo cáo trên y văn thế giới(1,9,12); (5) rối loạn tâm thần 5,2% (5/97), so với nghiên cứu của Trần kim Ngọc và cs 6,7% (1/15)(1) tỉ lệ này cao hơn nghiên cứu của Sousa ở miền đông bắc Brazil (1,7%)(16), thấp hơn trong nghiên cứu của Bello Martínez tại Fundacion Jiménez Díaz Tây Ban Nha (33%)(2); (6) rối loạn thị giác 15,5% (15/97) tỉ lệ này thấp hơn nghiên cứu của Bello Martínez (39%)(2)
Sự khác biệt về tỉ lệ các triệu chứng ở các nghiên cứu thể hiện tính đa dạng của bệnh ấu trùng sán dải heo Tính đa dạng có thể là do (1) số lượng nang ấu trùng, (2) vị trí và giai đoạn phát triển của nang ấu trùng, (3) cường
độ đáp ứng miễn dịch, tình trạng dinh dưỡng và týp HLA của ký chủ và (4)
sự khác biệt dòng sán dải heo trên thế giới
Các xét nghiệm cận lâm sàng
- Tỉ lệ tăng BCAT trong máu của những bệnh nhân nhiễm ATSDH là 59,8% (85/142) Đối với các bệnh nhân nhiễm ATSDH thể thần kinh có
Trang 20triệu chứng thì tỉ lệ tăng bạch cầu ái toan trong máu là 52,8% (57/108) (bảng 8) so với nghiên cứu của Trần Kim Ngọc và cs là 73,3 (11/15)(18)
- Về sự thay đổi thành phần dịch não tủy của những bệnh nhân thể thần kinh có triệu chứng là (bảng 9) 78,7% (48/61) tăng protein (albumin > 40mg%), phù hợp với nghiên cứu của Trần Kim Ngọc (10/13)(18) và tăng bạch cầu với tăng BCAT là 63,9% (39/61), tỉ lệ này cao hơn các tác giả Ferreira và cs (40%)(6)
- Khi làm CT Scan những bệnh nhân bệnh ATSDH thể thần kinh có triệu chứng, (bảng 10) có 26,4% (14/53) không thấy tổn thương, phù hợp với nhận xét của Chandy, ở những bệnh nhân thể thần kinh tại An Độ sinh thiết đúng là nang ấu trùng nhưng nang ấu trùng đơn độc thì CT Scan không thấy tổn thương(5)
- Tỉ lệ dịch não tủy dương tính khi huyết thanh dương tính của những bệnh nhân thể thần kinh có triệu chứng là 46,4% (13/28) (bảng 11) so với nghiên cứu của Trần Kim Ngọc là 3/5(18)
Trang 21kinh chiếm tỉ lệ cao, với các triệu chứng nhức đầu, động kinh, liệt vận động Thể ở da có thể gặp nang ấu trùng ở cổ, lưng, ngực bụng, chi trên, chi dưới trong đó ở chi trên chi dưới chiếm tỉ lệ cao Thể ở da bệnh nhân có các triệu chứng mệt mỏi, đau tứ chi Ở mắt, bệnh nhân thường có triệu chứng nhìn
mờ, nhức đầu, thị lực giảm