1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thử nghiệm ương nuôi cá xiêm và cá bống tương bằng trùng giấm

69 622 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thử Nghiệm Ương Nuôi Cá Xiêm Và Cá Bống Tượng Bằng Trùng Giấm
Tác giả Đào Ngọc Quyền
Người hướng dẫn Phạm Văn Nhỏ
Trường học Nong Lam University
Chuyên ngành Fisheries
Thể loại Thesis
Năm xuất bản 2005
Thành phố Ho Chi Minh City
Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 775,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thử nghiệm ương nuôi cá xiêm và cá bống tương bằng trùng giấm

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA THỦY SẢN

LUẬN VĂN TỐT

NGHIỆP

ĐỀ TÀI:

THỬ NGHIỆM ƯƠNG NUÔI CÁ XIÊM (BETTA

SPLENDES) và CÁ BỐNGTƯỢNG

SINH VIÊN THỰC HIỆN: ĐÀO NGỌC QUYÊN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

9/2005

Trang 2

THỬ NGHIỆM ƯƠNG NUÔI CÁ XIÊM ( BETTA SPLENDES)

và CÁ BỐNG TƯỢNG (OXUELEOTRIS MARMORATA)

BẰNG TRÙN GIẤM (TUBATRIX ACETI)

Thực hiện bởi:

Đào Ngọc Quyên

Luận văn được đệ trình để hoàn tất yêu cầu cấp bằng Kỹ Sư Thủy Sản

Giáo viên hướng dẫn: Phạm Văn Nhỏ

Thành phố Hồ Chí Minh

9/2005

Trang 3

CẢM TẠ

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn:

Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm – Tp.HCM

Ban Chủ Nhiệm Khoa Thủy Sản Trường Đại Học Nông Lâm – Tp.HCM

Cùng toàn thể quý thầy cô trong trường đã truyền đạt kiến thức cho chúng tôi trong suốt những năm học tại trường

Đặc biệt gởi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy Phạm Văn Nhỏ đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ chúng tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài tốt nghiệp

Đồng thời chúng tôi gởi lời cảm ơn đến tất cả các anh chị, các bạn trong và ngoài lớp đã động viên, giúp đỡ chúng tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài

Do thời gian thực hiện đề tài còn có hạn, trang thiết bị còn thiếu thốn và lần đầu tiên làm quen với công việc nghiên cứu nên luận văn của chúng tôi không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong sự góp ý của thầy cô và các bạn

Trang 4

TÓM TẮT

Đề tài được thực hiện tại Trại Thực Nghiệm Khoa Thuỷ Sản Trường Đại Họcï Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh từ ngày 29/3/2005 đến ngày 31/7/2005, nhằm đánh giá ảnh hưởng của các khẩu phần thức ăn khác nhau lên tỷ lệ sống của cá xiêm, cá bống tượng Nghiên cứu bao gồm 2 phần

 Phần A: Kết quả trên cá xiêm

 Phần B: Kết quả trên trùn giấm

Các thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 lần lập lại cho mỗi nghiệm thức Các nghiệm thức ứng với các khẩu phần thức ăn A, B, C, D

 Nghiệm thức 1 (A): 1òng đỏ trứng gà

Nghiệm thức 2 (B): tảo khô Spirulina

 Nghiệm thức 3 (C): thức ăn tổng hợp

 Nghiệm thức 4 (D): trùn giấm

Ở cả 2 phần A và B, kết quả tỷ lệ sống của cá bột ở 4 khẩu phần thức ăn khác nhau thì giống nhau và không sai khác về mặt thống kê (P>0,05)

Trang 5

ABSTRACT

The study was conducted at Fisheries Experimental Farm Of Fisheries Faculty Nong Lam University in HCM city to assess impacts of various diets on survival rate of fry From 29th March to 31st July in 2005 The study comprised two part with 4 diets:

 Part A: Result of experiments on Fightting Fish

Treatment 1 (A): egg yolk

Treatment 2 (B): dried algae Spirulina

Treatment 3 (C): synthesis food

Treatment 4 (D): Vinegar eel

 Part B: Result of experiments on Marble Gobby

Treatment 1 (A): egg yolk

Treatment 2 (B): algae Spirulina

Treatment 3 (C): synthesis food

Treatment 4 (D): Vinegar eel

In part A and B, survival rate of fry fishes in A, B, C, D are similar and not significantly different (P>0,05)

Trang 6

I GIỚI THIỆU

1.1 Đặt Vấn Đề

1.2 Mục Tiêu Đề Tài

2.3 Tình Hình Sản Xuất Giống Cá Bống Tượng 11

2.4 Thức Aên Sử Dụng Trong Quá Trình Ương Cá Bột Lân Cá Hương 13

Trang 7

IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 24

Phần A: Kết Quả Thử Nghiệm Trên Cá Xiêm 24

Giá Tỷ Lệ Sống Của Cá Xiêm Ơû Các Lần Thử Nghiệm 24 4.1.1 Lần thử nghiệm thứ I (từ 24/4/2005 đến 4/5/2005) 24 4.1.2

Lần thử nghiệm thứ II (từ 11/5/2005 đến 27/5/2005) 25 4.1.3

Lần thử nghiệm thứ III (từ 14/6/2005 đến 20/6/2005) 26 4.1.4

Lần thử nghiệm thứ IV (từ 1/7/2005 đến10/7/2005) 28

Phần B: Kết Quả Thử Nghiệm Trên Cá Bống Tượng 31

4.1 Đánh Giá Tỷ Lệ Sống Của Cá Bống Tượng Ơû Các Lần Thử Nghiệm 31

thử nghiệm thứ I (từ 14/4/2005 đến 20/4/2005) 31 4.1.2

Lần thử nghiệm thứ II (từ 8/6/2005 đến 12/6/2005) 32 4.1.3

Lần thử nghiệm thứ III (từ 22/7/2005 đến 31/7/2005) 33

Trang 8

Chỉ tiêu nhiệt độ trong quá trình thí nghiệm 36

Trang 9

DANH SÁCH CÁC ĐỒ THỊ

4.1 Tỷ Lệ Sống Trung Bình Của Cá Xiêm Ơû Giai Đoạn I 24 4.2 Tỷ Lệ Sống Trung Bình Của Cá Xiêm Ơû Giai Đoạn II 26 4.3 Tỷ Lệ Sống Trung Bình Của Cá Xiêm Ơû Giai Đoạn III 27 4.4 Tỷ Lệ Sống Trung Bình Của Cá Xiêm Ơû Giai Đoạn IV 28 4.5 Tỷ Lệ Sống Trung Bình Của Cá Bống Tượng Ơû Giai Đoạn III 33 4.6 Chỉ Tiêu pH Các Buổi Sáng Trong Quá Trình Thí Nghiệm 35 4.7 Chỉ Tiêu pH Các Buổi Chiều Trong Quá Trình Thí Nghiệm 36

Trang 10

DANH SÁCH CÁC BẢNG

4.1 Tỷ Lệ Sống Trung Bình Của Cá Xiêm Có Mật Độ 20con/Lít (Lần IV) 29 4.2 Tỷ Lệ Sống Trung Bình Của Cá Xiêm Có Mật Độ 50con/Lít (Lần IV) 30 4.3 Kết Quả Ương Nuôi Cá Bống Tượng Trong Bình Nhựa (Lần Thứ I) 31 4.4 Kết Quả Ương Nuôi Cá Bống Tượng Trong Bình Nhựa (Lần Thứ I) 32 4.5 Tỷ Lệ Sống Trung Bình Của Cá Bống Tượng (Lần III) 34 4.6 Yếu Tố Nhiệt Độ Trong Quá Trình Thí Nghiệm 37

Trang 11

DANH SÁCH CÁC HÌNH ẢNH

HÌNH ẢNH NỘI DUNG TRANG

Hình 3 Cá Xiêm 2 Ngày Sau Khi Nở 41

Trang 12

I GIỚI THIỆU

1.1 Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây, ngành thủy sản nước ta đã không ngừng phát triển Nhiều mặt hàng thủy hải sản đã có mặt trên thị trường thế giới như: cá basa, tôm sú và một số mặt hàng thủy hải sản khác Để ngành thủy sản có thể ngày càng ổn định và phát triển hơn nữa thì cần phải chú ý đến ba vấn đề sau: con giống, kỹ thuật nuôi và thức ăn Trong đó, thức ăn có thể coi là nhân tố quan trọng nhất

Các loại thức ăn có thể là nguồn gốc động vật hay thực vật, thức ăn tự nhiên hay thức ăn chế biến Để duy trì sự sống và hoạt động của cơ thể, ngoài oxygen mọi sinh vật đều cần có thức ăn Thức ăn là nguồn cung cấp nguyên liệu giúp cho cơ thể sinh trưởng và phát triển, là nguồn vật liệu tái tạo bổ sung những bộ phận hao mòn của cơ thể trong quá trình sống Hơn nữa, thức ăn còn cung cấp nguồn năng lượng cần thiết cho cơ thể hoạt động Cho nên, trong quá trình sống, động vật không ngừng lấy thức ăn từ môi trường bên ngoài Thức ăn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và sự phát triển bình thường của động vật thủy sản Nếu dinh dưỡng không hợp lý có thể gián tiếp ảnh hưởng đến sự phát triển của các bệnh khác nhau mà ngày nay người ta chưa kịp xác định hết Vì vậy thức ăn đóng một vai trò nhất định trong nuôi trồng thủy sản đặt biệt là trong giai đoạn ấu trùng

Hiện nay, ở Việt Nam, có rất nhiều loại thức ăn sống được sử dụng để ương

nuôi cá bột như : Rotifera, Moina, trùng chỉ, lăn quăn, Atermia…nhưng không phải

thức ăn nào cũng phù hợp cho tất cả mọi loài cá, đặc biệt là những loài cá có kích thước nhỏ như cá xiêm, cá bống tượng… Tuy nhiên, trên thế giới, từ lâu, có một loại thức ăn sống rất phổ biến cho các loài cá đặc biệt là cá có kích cỡ nhỏ, đó là trùn giấm

Được sự phân công của Khoa Thuỷ Sản Trường Đại Học Nông Lâm Thành

phố Hồ Chí Minh, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài “Thử Nghiệm Ương Nuôi

Cá Xiêm (Betta splendes) và Cá Bống Tượng (Oxyeleotris marmorata) Bằng Trùn Giấm (Tubatrix aceti)

1.1 Mục tiêu đề tài

Mục tiêu đề tài nhằm:

 Nhằm đánh giá tỷ lệ sống của cá bột cá xiêm và cá bột bống tượng khi cho ăn trùn giấm

 So sánh kết quả tỷ lệ sống của cá khi cho ăn trùn giấm và khi cho ăn các

Trang 13

II TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Đặc điểm sinh học của cá xiêm

2.1.1 Đặc điểm phân loại

Bộ: Perciformes

Bộ phụ: Anabantoidei

Họ: Anabantidae

Giống: Betta

Loài: Betta splendes

Tên tiếng Anh: Fighting fish

Tên tiếng Việt: Cá lia thia, cá đá, cá xiêm, cá chọi

Phân loại theo màu sắc và hình dáng

- Cá lia thia đồng

Gồm 2 loài: cá mang đỏ và cá mang xanh, thường thấy ở các đồng ruộng miền đông và miền tây Nam Bộ

Cá mang đỏ: toàn thân màu xanh da trời, đuôi màu tím nhạt, mang cá màu đỏ

Cá mang xanh: cũng có hình dáng giống cá mang đỏ nhưng màu sắc ở thân xanh đậm và nhanh nhẹn hơn

Cá xiêm (đuôi rẽ quạt)

Hiện nay, loài này được coi là điển hình của loài cá đá Màu sắc của cá đậm, sặc sỡ và lớn hơn cá lia thia đồng Đặc biệt là vây đuôi của cá tròn xoe giống như hình rẽ quạt Toàn thân đậm, ánh lên các màu xanh, đỏ pha vàng nhạt và có viền đỏ Từ loài này có thể chia ra làm 4 loài như sau:

 Cá xiêm đỏ

 Cá xiêm xanh

Trang 14

 Cá xiêm đen

 Cá xiêm xám

Cá phướn

Cá có hình dáng khá hấp dẫn, vi dài với dáng vẻ tha thướt Cá có vây lưng, vây hậu môn và vây đuôi kéo dài rũ xuống như là lá cờ phướn nên mới gọi là cá phướn Loài cá này đá không hay, không chịu được đòn nên ít dùng làm cá đá Chủ yếu chúng được dùng làm cá cảnh nhờ dáng vẻ thướt tha khi bơi lượn

Ngoài ra, người ta còn lai tạo giữa cá xiêm với cá phướn hoặc cá xiêm thuần với cá xiêm lai, từ đó tạo ra nhiều giống cá và đặt tên khác nhau

2.1.2 Đặc điểm hình thái và phân bố

Cá có thân hình thoi Cá thuần chủng có màu xanh biếc, lá mạ, màu đỏ của rượu chát, có hoặc không có hai sọc dọc đậm từ vây lưng tới cuốn đuôi

Cá có tia vi lưng màu đen, các vây xanh nhạt, các vân sẫm gợn sóng

Vi bụng, vi hậu môn của cá có màu đỏ

Những con cá được nuôi làm cảnh có các vây phát triển hơn cá ngoài tự nhiên

Do tập tính hung hăng hay đá nhau của nó nên người ta còn gọi nó là cá đá hay cá chọi

2.1.3 Đặc điểm sinh thái

Cá xiêm là loài cá sống trong môi trường nước ngọt Do có cơ quan hô hấp phụ là mê lộ cho phép chúng sử dụng oxy từ không khí nên cá có thể sống được trong môi trường có ngưỡng oxy thấp hoặc trong những môi trường ô nhiễm…

Cá xiêm có sức sống mạnh Vì vậy, đây là đối tượng dễ chăm sóc và có thể nuôi ở những nới chật hẹp Điều này rất có ý nghĩa khi nuôi riêng cá đực trong những chai lọ để kích thích tính hung hăng, hiếu chiến của chúng

Dù ở ngoài tự nhiên hay trong những bể nuôi nhân tạo, cá xiêm luôn thích ẩn nấp trong hốc

Cá xiêm sống được trong mọi tầng nước

Trang 15

Các yếu tố môi trường sống thích hợp cho cá là:

 Nhiệt độ: 240C (ngoài tự nhiên)

26 - 270C (môi trường nhân tạo)

 pH: 6,5 -7,5 nhưng tốt nhất là từ 6,8 - 7,2

2.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng

2.1.5.2 Thức ăn theo các giai đoạn tuổi

Trang 16

Theo nhiều tài liệu tham khảo cùng kinh nghiệm của các nghệ nhân cá cảnh thì thức ăn và liều lượng cho ăn thay đổi theo từ giai đoạn tuổi

Từ 1 - 3 ngày tuổi, cá dinh dưỡng chủ yếu nhờ noãn hoàng Cá bột mới nở trú ẩn dưới tổ cho đến khi tiêu hết noãn hoàng

Từ 4 - 7 ngày tuổi, cá bắt đầu ăn thức ăn ngoài Loại thức ăn thích hợp cho

cá là infusoria

Từ 8 - 14 ngày tuổi, cá được cho ăn Moina và lòng đỏ trứng gà Ngoài ra,

với cách nuôi dân gian, người ta còn cho cá ăn vài giọt mỡ heo Với loại thức ăn này, tránh cho cá ăn quá nhiều vì sẽ tạo lớp ván mỡ bên trên mặt nước cản sự khuếch tán của oxy từ không khí vào nước

Từ 15 - 21 ngày tuổi, cá có thể ăn được Moina với kích cỡ lớn hơn và trùng

chỉ Theo Dr William T.innes (1990), khi cá khoảng ba tuần tuổi thì cơ quan hô hấp phụ chưa hình thành Vì vậy, việc ương nuôi cá trong giai đoạn này phải chú ý đến mật độ cá và chất lượng nước nuôi Mật độ cá phải vừa phải và phải đảm bảo oxy cần thiết cho cá Nếu mật độ quá dày hoặc chất lượng nước quá xấu sẽ làm hàm lượng oxy hoà tan trong nước thấp Lúc này, cá buộc phải sử dụng đến cơ quan hô hấp phụ chưa hoàn chỉnh, dễ làm cá bị tổn thương… Lượng oxy đòi hỏi không được đáp ứng sẽ dẫn tới tình trạng chết ngạt ở cá

Từ 21 ngày tuổi trở đi, thức ăn là Moina trưởng thành, trùng chỉ, cung quăn… Chúng đặc biệt ưa thích mồi sống chuyển động Nếu cùng một lúc cho cá ăn cả thức ăn sống và thức ăn chết thì cá sẽ ăn mồi sống, còn lỡ nếu bắt mồi chết thì cá sẽ phun

ra ngay

2.1.6 Đặc điểm sinh sản

Để phân biệt giới tính, người ta thường dựa vào màu sắc của cá Màu sắc của cá đực không rực rỡ như cá cái nhưng khi phát dục, màu cá đực lại trở nên rất đẹp

Tuổi thành thục của cá : 3 tháng tuổi Lúc này, cá có kích cỡ khoảng 4cm

Cá thường sinh sản vào buổi sáng kéo dài đến trưa Thời gian đẻ từ 3 - 5 giờ Nhiệt độ nước thích hợp cho cá sinh sản là 25 – 280C (Võ Văn Chi, 1993) Vào mùa sinh sản, sự chuẩn bị tổ và các cuộc giao hoan diễn ra rất thú vị Khi muốn kết đôi với một con cá cái, cá đực sẽ chiếm một diện tích trong bể và nhả

Trang 17

bọt khí ra làm tổ Mỗi bọt khí được bao bọc bởi một màng chất nhờn tiết ra từ miệng Chúng kết dính vào nhau tạo thành một khối bọt có đường kính từ 8 – 10 cm Sau thời gian bị cá đực rượt đuổi, khi cá cái đã sẵn sàng đẻ thì chúng quần ổ và quấn vào nhau Cá đực xoay quanh cá cái, ép và ôm lấy cá cái bằng các vây dài, toàn bộ cơ thể cong vòng một cách dịu dàng Hành động này kéo dài khoảng một phút Theo Bùi Hồng Phúc, 1992 thì hành động này là “sự va chạm có tác dụng kích thích” Sau đó, cá đực buông dần cá cái ra Sự tiết sẹ và trứng bắt đầu

Trứng tiết ra từng nhóm nhỏ, trung bình từ 15 – 25 trứng/lần, đôi lúc đạt

40 – 50 trứng/lần nhưng trường hợp này rất ít Cũng ngay lúc ấy, cá đực tiết sẹ để thụ tinh Sự thụ tinh diễn ra trong môi trường nước

Sau khi trứng được cá đẻ ra, nó sẽ chìm từ từ xuống đáy bể nuôi Cá đực bơi theo và nhẹ nhàng ngậm trứng vào miệng rồi nhanh chóng trồi lên mặt nước, phun trứng vào tổ sao cho trứng dính vào cụm bọt nổi Cá đực cứ tiếp tục như vậy cho đến khi thu lượm hết số trứng rơi dưới đáy Sau đó, nó lại tiếp tục động tác cuộn thân, xoắn quanh con cái như mô tả trên, cứ thế khoảng vài chục lần cho đến khi con cái đẻ xong Sự kết hợp giữa bơi lội và đẻ trứng xảy ra rất ngoạn mục Trong thời gian ép đẻ, cá đực và cái ở gần mặt nước, ngay dưới đám bọt Cá đực luôn giữ bọt, nếu bọt có tan đi, nó lại phun thành đám khác

Một đặc điểm khác ở loài cá này là khi sinh sản, con cái có đặc tính ăn trứng Do đó, trong tự nhiên, sau khi đẻ xong, cá cái sẽ bị cá đực rượt đuổi đi xa một khoảng nào đó Vì vậy, khi bố trí cá đẻ trong khạp, người ra bắt cá cái ra ngay sau khi nó đẻ xong, để tránh cá cái ăn trứng và bị tổn thương do cá đực rượt đuổi

Theo Võ Văn Chi, 1993 thì thời gian để trứng nở là 30 – 40 giờ ở nhiệt độ

28 – 290C

Cá bột mới nở vẫn ở dưới tổ cho đến khi tiêu hết noãn hoàng Nếu con nào tách ra trước khi có đủ khả năng bơi lội thì cá đực sẽ hớp lấy vào miệng và nhẹ nhàng phun trở lại tổ

Trong suốt thời kỳ cá bột còn quá nhỏ, cá đực lại đều đặn việc ngậm cá con và phun chúng ra với những bọt mới Như vậy, nó đảm bảo cho cá con có đủ lượng oxy để hô hấp

Theo Mody, 1932, lúc này, cá chưa mở miệng Chúng hô hấp bằng oxy từ bọt khí Như vậy, việc nhả thêm bọt khí của cá đực là nhằm để đảm bảo lượng oxy cần thiết cho con nó thở

Tầm quan trọng của cá đực trong việc ấp trứng và chăm sóc con được các nghệ nhân cá cảnh đánh giá rằng: “Nếu bắt cá đực ra khỏi tổ sau khi đẻ xong thì hầu

Trang 18

hết hoặc toàn bộ trứng sẽ không nở Chúng bị rơi xuống đáy khạp và bị ung Sự phân hủy của những trứng ung này làm tiêu hao nhiều oxy hoà tan Đồng thời, không có bọt khí do cá đực phun ra Điều này dẫn tới việc môi trường nước nghèo oxy, khả năng sống sống của cá còn lại sẽ giảm xuống Vì vậy, sự có mặt của cá đực rất quan trọng trong sự phát triển của trứng và cá nới nở”

Khi cá con được 5 ngày tuổi, sự có mặt của cá đực lúc này không còn cần thiết nữa Bây giờ, nên bắt nó ra, nếu không sau một thời gian nó có thể ăn con

2.1.7 Mùa vụ sinh sản

Trong tự nhiên, cá xiêm có thể sinh sản quanh năm nhưng mùa sinh sản chính chỉ tập trung vào mùa nắng và các tháng đầu mùa mưa, là từ tháng 2 đến tháng

6 Vì theo kinh nghiệm của các cơ sở nuôi cá cảnh, mùa nắng nhiệt độ nước ấm áp thì

tỉ lệ nở và tỉ lệ sống của cá bột sẽ cao Còn vào mùa mưa và mùa lạnh, cá rất dễ bị nhiễm bệnh, thường gặp là bệnh nấm thuỷ mi

2.2 Đặc điểm sinh học của bống tượng

2.2.1 Đặc điểm phân loại

Bộ: Perciformes

Bộ phụ: Gobioidei

Họ: Eleotridae

Giống: Oxyeleotris

Loài: Oxyeleotris marmorata Bleeker 1952

Tên tiếng Anh: Marble goby

Tên tiếng Việt: Cá bống tượng

2.2.2 Đặc điểm hình thái

Cá bống tượng đầu to, rộng, dẹp bằng Mõm dài nhọn, hướng lên trên, giữa mõm có một u nhô cao Miệng trên rộng, hàm dưới dài hơn hàm trên và đưa ra phía trước Răng nhọn, gốc răng to, xếp thưa thành nhiều hàng trên mỗi hàm Không có râu

Trang 19

Mắt tròn, nhỏ lệch về phía đầu Lưỡi rất phát triển, dẹp bằng, đầu lưỡi tròn Lỗ mũi trước mở ra bằng một ống ngắn

Thân cá mập, phần trước hơi dẹp bằng, phần sau hơi dẹp bên Đuôi thon dài, vẩy nhỏ phủ khắp thân và đầu từ mõm Đầu và phần trước của thân phủ vẩy tròn, phần sau phủ vẩy lươc

Vây đuôi tròn, có màu hơi đỏ hoặc nâu vàng, có nhiều sọc đỏ và nâu hoặc xám tạo thành vân

Mặt lưng có ba đốm đen, một ở sau đầu, một ở gốc vi lưng thứ nhất và một

ở gốc vi lưng thứ hai Mặt bên của thân có nhiều đốm đen to, những đốm này không có hình dáng nhất định

2.2.3 Phân bố

Trong tự nhiên, cá phân bố ở khắp loại hình thuỷ vực nước ngọt từ ao hồ, ruộng, mương, kênh, rạch, sông… Theo Lê Như Xuân và Phạm Đinh Thành (1994), cá bống tượng là loài cá đặc trưng cho vùng nhiệt đới

Trên thế giới, bống tượng được bắt gặp ở Thái Lan, Mã Lai, Brunei, Sumatra, Lào, Campuchia và Việt Nam

Ở miền Nam Việt Nam, cá xuất hiện nhiều ở các sông rạch thuộc hệ thống sông Cửu Long, Đồng Nai và sông Vàm Cỏ

2.2.4 Đặc điểm sinh thái

Theo tác giả Lê Như Xuân và Phạm Minh Thành (1994), cá bống tượng sống ở đáy thuỷ vực, hoạt động về đêm Ban ngày, nó thường vùi mình xuống bùn đáy và có thể sống ở đó nhiều giờ Trong ao, cá ưa ẩn nắp ven bờ, nơi có hang hốc, cỏ rong và thực vật thuỷ sinh thượng đẳng

Cá bống tượng là loài có cơ quan hô hấp phụ nên có thể sống được trong môi trường nước thiếu oxy trong một khoảng thời gian nhất định

Qua kết quả nghiên cứu của Nguyễn Tuấn Dũng và Đỗ Khắc Xuân Diễm (1995), thì cá bống tượng có thể sống được trong môi trường nước có pH từ 4 - 9 nhưng tốt nhất là 6 - 8

Cá cần có dưỡng khí trên 3mg/l, song cá có thể chịu đựng ở môi trường dưỡng khí thấp vì cá có cơ quan hô hấp phụ (http//: www.vietlinh.com.vn - Đi cùng nhà nông)

Trang 20

Khả năng thích ứng với độ mặn của cá bống tượng khá cao so với nhiều loài cá khác Cá bống tượng có thể sống được ở độ mặn 130/00

Theo Lê Như Xuân và Phạm Minh Thành (1994), cá bống tượng thích hợp sống trong môi trường nước ấm áp với nhiệt độ khoảng 25 - 300C

2.2.5 Đặc điểm dinh dưỡng

Cá bống tượng trưởng thành có bộ máy tiêu hoá tiêu biểu cho loài cá dữ điển hình Miệng lớn, răng hàm dài sắc (Lê Như Xuân, Phạm Minh Thành, 1994)

Theo Nguyễn Văn Thạnh (1984), Nguyễn Tuần (1993), cá bống tượng là loài cá ăn động vật Tỷ lệ chiều dài ruột trên chiều dài chuẩn là Li/Ls < 1 Cá bống tượng thì rình bắt mồi

Cá bống tượng ăn mạnh về đêm hơn ban ngày, nước rong ăn mạnh hơn nước kém, nước lớn ăn mạnh hơn nước ròng

Thức ăn của chúng chủ yếu là: tôm, tép, cá nhỏ, cua, ốc, ấu trùng của côn trùng thuỷ sinh… Cá bống tượng không thích ăn những động vật đã ươn thối

Theo Lê Như Xuân và Phạm Minh Thành (1994), cũng như những loài cá khác sau khi tiêu hết noãn hoàn, bống tượng bắt đầu ăn thức ăn ngoài (thường là từ

3 - 4 ngày sau khi nở) Kích cỡ miệng lúc này khoảng 0,08 - 0,2mm Vì vậy, thức ăn cung cấp phải đảm bảo phù hợp với cỡ miệng của cá bống tượng Và những loại thức

ăn mà người ta thường sử dụng như: luân trùng (Branchionus spp), lòng đỏ trứng gà,

bột đậu nành…

Sau 30 ngày tuổi, bống tượng có thể ăn nhiều loại thức ăn như: trùng chỉ

(Tubifex), ấu trùng muỗi lắc, cá, tép, nhuyễn thể xay nhuyễn…

Theo Cheng Phen, 1994 những phân tích thành phần thức ăn trong dạ dày ác mẫu cá thu được ngoài tự nhiên cho thấy:

Loài thức ăn Số dạ dày có chứa thức ăn Tần số xuất hiện(%)

Kết quả khảo sát cho thấy cá bống tượng là loài cá có phổ thức ăn hẹp, đặc biệt cá chỉ ăn mồi động vật Điều này phù hợp với kết quả của Nguyễn Văn Thạnh

Trang 21

(1985) Theo Nguyễn Văn Thạnh (1985) thì tỷ lệ Li/Ls của cá bống tượng rất thấp (Li/Ls = 0.04 - 0.06), cho thấy đây là loài cá ăn động vật điển hình

2.2.6 Tăng trưởng và kích thước tối đa

Cá bống tượng là loài cá có tốc độ tăng trưởng chậm ở giai đoạn cá dưới 100g Cá từ 100g trở lên tăng trưởng khá hơn

Trong điều kiện nhiệt độ 26-300C, trứng cá bống tượng nở sau 25 - 26 giờ Lúc này, cá có chiều dài từ 2,5 - 3mm

Sau khi cá nở 1 ngày, chiều dài cá đạt 3,8mm Cá chuyển động thẳng đứng và từ từ buông mình chìm xuống đáy

Cá nở sau 2 ngày, chiều dài đạt 3,8 - 4mm Mắt có sắc tố đen Vi ngực bắt đầu xuất hiện Cá vẫn còn vận động thẳng đứng

Cá 3 ngày tuổi dài 4 - 4,2mm Túi noãn hoàng đã tiêu biến

Cá 12 ngày tuổi đã xuất hiện đầy đủ các vây

Cá 18 ngày tuổi bắt đầu hình thành vảy và có hình dáng của cá trưởng thành

Cá 30 ngày tuổi dài khoảng 13mm

Cá 45 ngày tuổi dài khoảng 21mm

Cá 60 ngày tuổi dài khoảng 30mm

Cá 75 ngày tuổi dài khoảng 41mm

Cá 90 ngày tuổi dài khoảng 53mm

Ở giai đoạn từ cá bột lên cá hương, cá phải mất thời gian 2 - 3 tháng mới đạt chiều dài 3 - 4cm

Từ cá hương cần phải nuôi 4 - 5 tháng cá mới đạt kích cỡ của cá giống là 100g/con Còn để có kích cỡ 100g/con từ lúc mới đẻ phải mất từ 7 - 9 tháng

Nếu cá giống có trọng lượng 100g/con, để có cá thương phẩm 400g trở lên, phải mất 5 - 8 tháng nếu nuôi ao, 5 - 6 tháng nếu nuôi bè

Kích thước tối đa của cá có thể đạt được là 500mm

Trang 22

2.2.7 Đặc điểm sinh sản

a Phân biệt giới tính

Thông thường, sau khi nuôi vỗ được 1 - 2 tháng, cá đã phát dục và có thể phân biệt đực cái qua quan sát hình dạng bên ngoài

Cá đực có gai sinh dục nhỏ, đầu nhọn hình tam giác

Cá cái có gai sinh dục lớn nhưng không nhọn đầu như gai sinh dục của cá đực

b Tuổi và kích thước thành thục

Theo nghiên cứu của nhiều tác giả trong nước cùng Lê Như Xuân và Phạm Minh Thành (1994), trong tự nhiên, cá bống tượng thành thục sinh dục và tham gia sinh sản lần đầu sau 9-12 tháng tuổi

Trong nuôi và cho sinh sản nhân tạo, cá có thể thành thục sớm hơn 1-2 tháng Kích cỡ cá lúc này khoảng 200g

c Đặc tính và môi trường sinh sản

Nơi đẻ của cá bống tượng thường nằm ven bờ và chìm sâu trong nước, nơi có các cây cỏ thuỷ sinh hay các thân cây chìm Cá đẻ trứng dính thành ô tròn ở dưới các gốc cây, hang hốc ven bờ

Trứng bống tượng giống hình quả lê, có chiều dài từ 1,2 - 1,4mm

Sau khi đẻ, cá bố mẹ bơi quanh tổ và dùng vây đuôi quạt nước để cung cấp đủ lượng oxy cho trứng cá phát triển Và công việc này được chúng thực hiện cho đến khi toàn bộ trứng cá nở hết

d Mùa vụ sinh sản

Mùa vụ đẻ ngoài tự nhiên kéo dài từ tháng 3 - 11 Cá có hệ số thành thục thấp Cá cái thành thục chỉ đạt 1,5 - 2%, nhưng vì trứng có kích cỡ nhỏ nên sức sinh sản cao

Nhiều tác giả nghiên cứu và thấy rằng khả năng sinh sản của mỗi cá thể là khác nhau, dao động từ 2.000 – 30.000 trứng, với số lượng trứng trung bình của mỗi

Trang 23

Thời gian tái phát dục của cá khoảng 30 ngày

2.3 Tình hình sản xuất giống cá bống tượng

2.3.1 Trong nước

Qua nghiên cứu của nhiều tác giả trong nước thì mùa vụ sinh sản của cá bống tượng từ tháng 3 - 11 Tác giả Ngô Bá Thành và ctv (1988) đã kết luận cá đẻ tập trung vào tháng 5 - 6

Tan và Lam, 1973 (trích bởi Nguyễn Tuần, 1993), lần đầu tiên đã cho sinh sản nhân tạo cá bống tượng thành công bằng cách tiêm chế phẩm HCG với phương pháp thụ tinh ướt Phương pháp này đã cho một kết quả hết sức khả quan Tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở rất cao (90%) Nhưng tất cả cá bột đã chết sau đó vài ngày

Ở Việt Nam, từ những năm 1984-1985, các trường đại học, các trung tâm nghiên cứu đã bắt đầu nghiên cứu đối tượng này Khoa Thuỷ Sản Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh đã nghiên cứu đặc điểm sinh học và kỹ thuật sinh sản nhân tạo (Nguyễn Văn Thạnh, 1984, Ngô Bá Thành và ctv, 1988), ương nuôi cá bột lên cá hương giống (Nguyễn Duy Hoà Và Huỳnh Thị Ngọc Anh, 1994), sản xuất giống và gây nuôi thức ăn tự nhiên (Nguyễn Tuấn Dũng và Đỗ Khắc Xuân Diễm, 1995)

Nguyễn Tuần (1993), khoa Thuỷ Sản Trường Đại Học Cần Thơ cũng đã nghiên cứu cá bống tượng về: hình thái, giải phẫu, đặc điểm sinh thái cá con, đặc điểm tiền phôi và phôi, bệnh cá

Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thuỷ Sản II đã nghiên cứu: đặc điểm phân loại, đặc điểm sinh học, kỹ thuật nuôi vỗ cá bố mẹ, sinh sản nhân tạo, ương nuôi từ cá bột lên cá hương và cá giống…

Ủy Ban Khoa Học Kỹ Thuật Tỉnh An Giang bước đầu thành công trong nuôi thịt, nuôi vỗ cá bố mẹ trong bè và tiến hành kích thích sinh sản nhân tạo

Ngô Bá Thành và ctv (1988) đã thử nghiệm sản xuất giống và ương nuôi cá bống tượng với 3 loại thức ăn khác nhau Tỷ lệ sống trung bình của các lô ương từ

3 - 60 ngày tuổi đạt được như sau: 21,78% đối với lô cho ăn lòng đỏ trứng gà; đối với lô cho ăn bột đậu nành thì đạt 13,43%; 12,15% đối với lô cho ăn thức ăn tự nhiên

2.3.2 Trên thế giới

Trang 24

Những báo cáo ban đầu của Tan (1973) và Phinal (1980) trích bởi Tavarutmaneegul và Lin (1988) cho thấy cá bống tượng ở giai đoạn cá bột có tỉ lệ tử vong rất cao, lên tới 100% Nhưng với giá thể thích hợp, Tavarutmaneegul và Lin (1998) đã thành công trong việc thu trứng cá bống tượng và số lượng trứng thụ tinh hơn 80%

Với thức ăn là lòng đỏ trứng gà và luân trùng, cá bột vẫn chết nhiều với tỷ lệ là 90% Có nhiều ý kiến xoay quanh hiện tượng này Nguyên nhân có thể là cá chết đói do thức ăn không phù hợp (Tan và ctv, 1973), hay do mật độ các hạt thức ăn (Tavarutmaneegul và Lin, 1988)

Tavarurmaneegul và Lin (1988) báo cáo rằng trong suốt 30 ngày kể từ sau khi nơ,û cá bống tượng đạt chiều dài trung bình là 1 cm với tỷ lệ sống từ 7 - 55% Vào giai đoạn hai (từ 30 - 60 ngày sau khi nở), khi nuôi với mật độ 20 con/m2 thì cá tăng trưởng cao hơn và tỷ lệ sống cũng cao hơn 75 - 100% Thức ăn của chúng ở giai đoạn

này là Moina.sp, ấu trùng của côn trùng…

Rojanapittaykul (2000) đã thực hiện những nghiên cứu về sự thích nghi của trứng và ấu trùng của cá bống tượng ở những độ mặn khác nhau (0, 10, 20 ppt) Kết quả cho thấy rằng tỷ lệ nở đạt cao nhất khi cá được nuôi trong môi trường nước ngọt Sau 23 ngày tuổi, tỷ lệ tử vong khá cao Nhưng sau 60 ngày tuổi, ở độ mặn 10 ppt tỷ lệ tăng trưởng và tỷ lệ sống đạt rất cao (96,88%) và cá dài 1,94 cm Thức ăn được sử

dụng để ương cá bống tượng từ sau khi nở cho đến 30 ngày tuổi là Chlorella sp, Rotifer, Artemia sp và cuối cùng là Moina sp

Theo Nguyễn Tuần (1993), thì vào những năm cuối của thập niên 70, các vùng Đông Nam Aù đã bắt đầu nuôi và cho đẻ nhân tạo thành công như: Indonesia

(1978), Singapore (1980) và Thái Lan (1980)…

2.4 Thức ăn sử dụng trong quá trình ương cá bột lên cá hương

2.4.1 Thức ăn chế biến

Thức ăn chế biến hay còn gọi là thức ăn khô, thức ăn nhân tạo do con người chế biến lại từ những dạng còn tươi sống rồi mới dùng làm thức ăn cho vật nuôi thuỷ sản

a Lòng đỏ trứng gà

Trứng là loại thực phẩm vừa có nhiều chất béo, nhiều chất đạm đồng thời giàu vitamin và khoáng vi lượng Trứng là món ăn tốt cho trẻ em đang tuổi mới lớn, bệnh nhân đang phục hồi sức khoẻ Và đã từ lâu, trứng là thức ăn phổ biến được dùng để ương nuôi cá bột

Trang 25

Thành phần dinh dưỡng của trứng phụ thuộc vào thức ăn, giống, môi trường sống, trạng thái sức khoẻ và thời gian khai thác của gia cầm

Lòng đỏ trứng gà là khối nhũ tương hình cầu nằm trong màng lòng đỏ, một màng có tính đàn hồi và độ bền cao Màu sắc lòng đỏ trứng phụ thuộc vào giống, thức ăn và khả năng chuyển hoá sắc tố của gia cầm

Lòng đỏ chiếm khoảng 30% khối lượng trứng với thành phần hoá học như sau:

Ngoài ra trong lòng đỏ trứng gà còn có các loại vitamin (trừ vitamin C)

b Thức ăn tổng hợp

Đây là một loại thức ăn công nghiệp với tên thương mại là Rotofier có dạng những hạt mịn, màu lục với nhiều thành phần đa dạng, phong phú Thành phần của thức ăn bao gồm: bột cá, tôm, tảo Spirulina, dầu cá, protein động thực vật, vitamin, chất khoáng bổ sung và màu nhân tạo Thành phần dinh dưỡng của thức ăn được trình bày trên nhãn hộp như sau:

c Tảo khô Spirulina

Spirulina là nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng, không độc, hàm lượng protein

cao hơn bất cứ một loại thức ăn nào khác Theo Lamg Switzer (1980) so sánh hàm lượng Protein có trong tảo và các thực phẩm khác

Trang 26

K: cần cho hoạt động cơ tim

Mg: cần cho hoạt động của thần kinh trung ương và cơ tim

Fe: tạo hồng cầu, dễ hấp thụ với hàm lượng cao Hàm lượng các kim loại thấp, ở giới hạn cho phép sử dụng làm thức ăn Theo Yves Tasser, Beret (1971) thì Spirulina có hàm lượng acid nucleic thấp hơn 5% Các chỉ tiêu trên chứng tỏ sự an toàn khi sử dụng tảo làm thức ăn, không làm tăng hàm lượng acid Urid trong máu

Tảo còn có nhiều ứng dụng trong đời sống con người và nuôi trồng thuỷ sản

Đối với người

Tảo Spirulina là thức ăn nhiều dinh dưỡng có tác dụng điều trị được nhiều bệnh như viêm gan, xơ gan, đái tháo đường, loét dạ dày, viêm tụy mãn tính, rụng tóc

do rối loạn tiêu hóa, phát phì, đục nhân mắt ở người lớn tuổi Theo Hiroshi Nakamra (1980), tảo Spirulina có thể sử dụng cho những người có triệu trứng sau: mệt mỏi, hay

bị choáng, không ăn dễ hạ cân, không ăn rau, dễ bị cảm lạnh, mất cân đối về dinh dưỡng, dễ vỡ, gãy xương, phụ nữ có thai

Các kết quả nghiên cứu cho thấy có thể dùng tảo Spirulina làm thuốc với liều lượng 2 – 8,5g/24 giờ và có thể dùng nhiều ngày liên tiếp Bột tảo Spirulina có thể chế biến thành thuốc cho trẻ sơ sinh non yếu, trẻ suy dinh dưỡng hoặc làm thuốc lợi sữa cho các bà mẹ bị mất sữa tự nhiên do thiếu Lactogel

Ngoài ra, từ Spirulina người ta ly trích được một chất có hoạt tính sinh học phycobiliprotein, là một loại sắc tố lam có vai trò quan trọng trong sự quang hợp của tảo Người ta sử dụng tính chất huỳnh quang của nó để đánh dấu các kháng thể đơn dòng trong việc đoán và phát hiện một số bệnh (Allegari 1989, tài liệu USSI 1989)

Mới đây, một nhóm các nhà khoa học ở trường Đại học Havard Mỹ nhận

thấy chế biến “Phycotene” về bản chất là tập hợp các carotenoid và chlorophyll a

Trang 27

chiết từ Spirulina có tác dụng rất tốt đối với hệ thống miễn dịch ở cơ thể người trong

việc điều trị chống ung thư (Growth, 1989)

Đối với thuỷ sản

Theo Ciffei (1983), khi cho cá chép đỏ ăn tảo Spirulina thì tăng trọng lượng

cơ thể, tăng chiều dài cá và tạo màu sắc sặc sỡ cho cá chép đỏ (Durand Chastel.H.Sautilan San Chez.C, 1975)

Tại Pháp, ở trung tâm quốc gia khai thác đại dương, thí nghiệm được tiến

hành trên tôm cho thấy nhờ ăn tảo Spirulina mà tỷ lệ sống của tôm cao hơn 90%

Ở Việt Nam, những thí nghiệm đầu tiên của Nguyễn Hữu Thước, Đặng Đình Kim, Nguyễn Tiến Cư cùng Giáo Sư Mai Đình Yên (Đại Học Tổng Hợp Hà Nội) trên cá bột, cá hương cá mè trắng cho thấy dùng tảo tươi để nuôi cá làm môi trường tốt hơn, lượng oxy cao hơn giúp tăng mật độ cá từ 6 – 8 lần

Spirulina còn là nguồn thức ăn thích hợp giàu dinh dưỡng cho trai, sò, tằm,

ong, làm thức ăn bổ sung cho lợn, gà vịt… (Hứa Thị Thìa Ry, 1996)

2.4.2 Thức ăn sống

Thức ăn sống là những cơ thể sinh vật còn sống có thể dùng làm thức ăn cho vật nuôi thuỷ sản Ví dụ như: luân trùng, Moina, ấu trùng muỗi lắc… Và loại thức ăn sống được chúng tôi sử dụng trong thử nghiệm là trùn giấm

a Nguồn gốc

Borellus đã phát hiện ra trùn giấm năm 1656 Đây là một loại trùn sống tự

do, không ký sinh và thích nghi trong môi trường có pH thấp Trùn giấm được đánh giá là một loại thức ăn tuyệt vời cho cá hồi trong giai đoạn cá bột (Feeding, Septemper 2002)

Chúng được nuôi trong môi trường rượu táo và trong những quả táo bị thối, mận thối hay đất bùn (Practical Fishkeeping, July 2002)

b Đặc điểm phân loại

Nhóm: Aschelminthes

Ngành: Nematoda

Lớp: Secernentea

Trang 28

Lớp phụ: Rhabditia

Bộ: Rhabditida

Bộ phụ: Cephalobina

Trên họ: Panagrolaimoidea

Họ: Panagrolaimidea

Giống: Turbatrix (Peters, 1927)

Loài: Tubatrix aceti (Mueller, 1783)

c Đặc điểm hình thái

Trùn có kích thước rất nhỏ từ 0,05 - 0,2mm Đường kính thân là 50µm (Canadian feeders) Thân không màu và biến đổi theo màu sắc của môi trường Chúng di chuyển rất nhanh

d Đặc điểm sinh thái

Theo Cao Nguyên Trình (2005), trùn có thể phát triển tốt trong môi trường có pH từ 3 - 5 Trùn có khả năg sống được 24 giờ trong nước ngọt, mặn hay lợ

Chúng tăng trưởng tốt ở nhiệt độ 20 - 300C (Adrian R Tappin, 2002) Theo Peter trong bài Rainbowfish Times, tạp chí The North American Rainbowfish study Group, 1996, nhiệt độ tốt nhất để chúng tăng sinh khối là 60 - 85 0F Chúng có thể chịu đựng được sự thay đổi nhiệt độ lớn và thích nghi tốt với nhiệt độ phòng nhưng không được tiếp xúc với ánh nắng trực tiếp (Living Materials Infor, Science & Technology for Children)

Trùn sống được trong mọi tầng nước vì vậy rất thuận lợi cho các loài cá sống đáy (Feeding, Adrian R.Tappin, 2002)

e Đặc điểm sinh sản

Sau một tuần từ khi bắt đầu nuôi, những con cái mang trứng sẽ xuất hiện Và sẽ mất khoảng 8 ngày nữa kể từ khi trứng thụ tinh và được đẻ ra ngoài (Feeding, Adrian R.Tappin, 2002)

f Thành phần dưỡng chất

Trang 29

Trùn giấm đem lại cho vật nuôi một hàm lượng dinh dưỡng phong phú

So sánh các amoinoa acid giữa trùn giấm với Artemia như sau:

Tubatrix aceti Artemia

g Tình hình sử dụng trùn giấm trên thế giới

Trên thế giới, trùn giấm từ lâu đã được dùng làm thức ăn lý tưởng cho nhiều loài cá vì những ưu điểm:

 Nó có thể sống lâu trong môi trường nước nuôi cá

 Nó sống được trong mọi tầng nước

 Nó không thở bằng oxy nên không cạnh tranh oxy với cá

 Kích cỡ nhỏ phù hợp với mọi cỡ cá, mọi loài cá, đặt biệt là cá bột

 Không mang bất cứ mầm bệnh hay vi khuẩn gây bệnh

 Không đòi hỏi nhiều công chăm sóc

Ở Mỹ, trùn giấm được xem là thức ăn sống ưa thích của cá chép (Cyprio cyprio), cá mè trắng (Hypophthalmichthy molitrix), tôm càng xanh (Penaeus blebcjus) và Crangon crangon

Trang 30

Ở bang California của Mỹ, trùn giấm là thức ăn lý tưởng cho nhiều loài cá như: Blue eyes, Corydoras catfish (Adrian R.Tappin, 2000)

Ở Canada, trùn giấm không những là thức ăn lý tưởng cho cá mà còn cho các loài lưỡng thê (Canadian feeders, 2000)

III VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời gian và địa điểm

3.1.1 Thời gian: từ ngày 29/3/2005 đến ngày 31/7/2005

3.1.2 Địa điểm: Trại Thực Nghiệm Khoa Thuỷ Sản Trường Đại Học Nông Lâm

Thành Phố Hồ Chí Minh

3.2 Vật liệu

3.2.1 Nguồn cá bột

3.2.1.1 Cá bột bống tượng

Trứng cá bống tượng có nguồn gốc từ Trại Sản Xuất Giống Cá Tám Tiếu (Huyện Châu Thành - Ấp Bình Đức - Tỉnh Tiền Giang)

Trứng cá được vận chuyển về Trại Thực Nghiệm Khoa Thuỷ Sản Trường Đại Học Nông Lâm bằng phương pháp vận chuyển khô

3.2.1.2 Cá bột cá xiêm

Cá xiêm được cho sinh sản nhân tạo tại Trại Thực Nghiệm Khoa Thuỷ Sản Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh Nên nguồn cá bột có sẵn tại chỗ

Trang 31

3.2.2 Thức ăn và dụng cụ cho ăn

3.2.2.1 Thức ăn

Đối với cá xiêm, chúng tôi sử dụng 4 loại thức ăn: lòng đỏ trứng gà, thức ăn

tổng hợp, Spirulina và trùn giấm

Khi ương nuôi cá bống tượng trong những bình nhựa (V = 3 lít nước), chúng tôi sử dụng cả bốn loại thức ăn như đối với cá xiêm

Khi ương trong bể xi măng (V = 2000 lít nước), chúng tôi chỉ sử dụng 3 loại thức ăn là: lòng đỏ trứng gà, thức ăn chế biến và trùn giấm

3.2.2.2 Dụng cụ cho ăn

Tất cả các loại thức ăn cho cá bống tượng và cá xiêm đều được chúng tôi cà qua vợt có kích thước mắt lưới là 150µm Riêng đối với trùn giấm, chúng tôi cho cá ăn trực tiếp mà không cần qua bất cứ loại dụng cụ nào

3.2.3 Hệ thống ương nuôi cá bột

Trong nuôi trồng thuỷ sản, hệ thống nuôi phù hợp và nguồn nước đạt chất lượng tốt là một trong những yếu tố quan trọng quyết dịnh thành công của nghề

Với nguồn nước máy đã được lắng kỹ lưỡng và đảm bảo không còn Chlorine, chúng tôi tiến hành công việc nghiên cứu của mình trong các hệ thống như sau

3.2.3.1 Cá xiêm

Cá xiêm được chúng tôi ương nuôi trong những bình nhựa với thể tích như nhau (V = 3lít nước/bình)

3.2.3.2 Cá bống tượng

Lần thử nghiệm thứ I (từ 14/4/2005 đến 20/4/2005)

Cá được ương nuôi thí nghiệm trong những bình nhựa với thể tích như nhau (V = 3lít nước/bình)

Lần thử nghiệm thứ II (từ 8/6/2005 đến 13/6/2005)

Cá cũng được ương trong những bình nhựa như lần đầu

Trang 32

Lần thử nghiệm thứ III (từ 22/7/2005 đến 31/7/2005)

Ở lần thử nghiệm cuối cùng của mình, chúng tôi đã thay những bình nhựa bằng những bể xi măng với thể tích lớn hơn (V = 2000 lít nước/bể)

Mực nước trong mỗi bể cao khoảng 40cm

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm

a Trong ương nuôi cá xiêm

Lần bố trí thí nghiệm thứ I (24/4/2005 đến 4/5/2005)

Cá thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên vào 8 đơn vị thí nghiệm có thể tích như nhau (V=3 lít nước), và được ký hiệu lần lượt là A1, B1, C1, D1, A2, B2, C2, D2 Các khẩu phần thức ăn ứng với A, B, C, D là lòng đỏ trứng gà, tảo khô

Spirulina, thức ăn tổng hợp và trùn giấm Có 2 mật độ khác nhau, 10 con/lít nước là

mật độ ứng với kí hiệu số 1 của các đơn vị thí nghiệm, 50 con/lít ứng với kí hiệu số 2

Ví dụ: A1 là lô có mật độ cá là 10 con/lít nước và được cho ăn lòng đỏ trứng gà Phụ lục 2, bảng 1

Lần bố trí thí nghiệm thứ II (11/5/2005 đến 27/5/2005)

Cá thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên vào 8 đơn vị thí nghiệm có thể tích như nhau (V = 3 lít nước), và được ký hiệu lần lượt là A1, B1, C1, D1, A2, B2, C2, D2 Các khẩu phần thức ăn ứng với A, B, C, D là lòng đỏ trứng gà, tảo khô

Spirulina, thức ăn chế biến và trùn giấm Có 2 mật độ khác nhau, 10 con/lít nước là

mật độ ứng với kí hiệu số 1 của các đơn vị thí nghiệm, 50 con/lít ứng với kí hiệu số 2

Ví dụ: A1 là lô có mật độ cá là 10 con/lít nước và được cho ăn lòng đỏ trứng gà Phụ lục 2, bảng 2

Lần bố trí thí nghiệm thứ III (14/6/2005 đến 20/6/2005)

Cá thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên vào 8 đơn vị thí nghiệm có thể tích như nhau (V = 3 lít nước), và được ký hiệu lần lượt là A1, B1, C1, D1, A2, B2, C2, D2 Các khẩu phần thức ăn ứng với A, B, C, D là lòng đỏ trứng gà, tảo khô

Spirulina, thức ăn tổng hợp và trùn giấm Có 2 mật độ khác nhau, 10 con/lít nước là

mật độ ứng với kí hiệu số 1 của các đơn vị thí nghiệm, 50 con/lít ứng với kí hiệu số 2

Ví dụ: A1 là lô có mật độ cá là 10 con/lít nước và được cho ăn lòng đỏ trứng gà Phụ

Trang 33

Lần bố trí thí nghiệm thứ IV (1/7/2005 đến 10/7/2005)

Cá thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên vào 10 đơn vị thí nghiệm có thể tích như nhau (V = 3 lít nước), và được ký hiệu lần lượt là A1, B1, C1, D1, ĐC1, A2, B2, C2, D2, ĐC2 Các khẩu phần thức ăn ứng với A, B, C, D và ĐC là lòng đỏ

trứng gà, tảo khô Spirulina, thức ăn tồng hợp trùn giấm Có 2 mật độ khác nhau, 20

con/lít nước là mật độ ứng với kí hiệu số 1 của các đơn vị thí nghiệm, 50 con/lít ứng với kí hiệu số 2 Ví dụ: A1 là lô có mật độ cá là 20 con/lít nước và được cho ăn lòng

đỏ trứng gà Phụ lục 2, bảng 4

b Trong ương nuôi cá bống tượng

Lần bố trí thí nghiệm thứ I (14/4/2005 đến 20/4/2005)

Cá thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên vào 12 đơn vị thí nghiệm có thể tích như nhau (V = 3 lít nước), và được ký hiệu lần lượt là A1, B1, C1, D1, A2, B2, C2, D2, a2, b2, c2, d2 Các khẩu phần thức ăn ứng với A, a; B, b; C, c; D, d là

lòng đỏ trứng gà, tảo khô Spirulina, thức ăn tồng hợp trùn giấm Có 2 mật độ khác

nhau, 100 con/lít nước là mật độ ứng với kí hiệu số 1 của các đơn vị thí nghiệm, 500 con/lít ứng với kí hiệu số 2 Ví dụ: A1 là lô có mật độ cá là 100 con/lít nước và được

cho ăn long đỏ trứng gà Phụ lục 2, bảng 5

Lần bố trí thí nghiệm thứ II (8/6/2005 đến 13/6/2005)

Cá thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên vào 8 đơn vị thí nghiệm có thể tích như nhau (V = 3 lít nước), và được ký hiệu lần lượt là A1, B1, C1, D1, A2, B2, C2, D2 Các khẩu phần thức ăn ứng với A, B, C, D là lòng đỏ trứng gà, tảo khô

Spirulina, thức ăn tổng hợp và trùn giấm Có 2 mật độ khác nhau, 100 con/lít nước là

mật độ ứng với kí hiệu số 1 của các đơn vị thí nghiệm, 500 con/lít ứng với kí hiệu số

2 Ví dụ: A1 là lô có mật độ cá là 100 con/lít nước và được cho ăn lòng đỏ trứng gà Phụ lục 2, bảng 6

Lần bố trí thí nghiệm thứ III (27/7/2005 đến 31/7/2005)

Cá thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên vào 9 đơn vị thí nghiệm là những bể ximăng có thể tích như nhau (V = 2 m3 nước), và được ký hiệu lần lượt là A1, A2, A3, B1, B2, B3, C1, C2, C3 Các khẩu phần thức ăn ứng với A, B, C là lòng đỏ trứng gà, trùn giấm và thức ăn tổng hợp Có một mật độ duy nhất là 200con/bể

Phụ lục 2, bảng 7

3.3.2 Quản lý và chăm sóc

Trang 34

Để có được một kết quả tốt nhất đến mức có thể, chúng tôi đã hết sức chú trọng việc chăm sóc, cho cá ăn và thay nước hằng ngày để đảm bảo cá có một môi trường tốt nhất để sinh trưởng Quản lý môi trường nước, thức ăn và cách cho ăn là những gì chúng tôi quan tâm

Để hạn chế sự ô nhiễm nước do thức ăn thừa tiùch tụ, chất thải và xác chết của cá, chúng tôi thực hiện việc thay nước mỗi ngày một lần vào lúc sáng sớm hpặc chiều tối Lượng nước thay mỗi lần là 50%

Cá được cho ăn 3lần/ngày với lượng vừa phải để tránh ô nhiễm môi trường

3.3.3 Các chỉ tiêu theo dõi

3.3.3.1 Chỉ tiêu chất lượng nước

3.3.3.2 Tỷ lệ sống

Dựa vào số cá thả và thu được sau thời gian nuôi, chúng tôi sẽ tính ra được tỷ lệ sống của từng đơn vị thí nghiệm như sau:

Số cá thả x 100 Tỷø lệ sống (%) =

Số cá thu

3.4 Phương pháp thu thập số liệu

Sau thời gian nuôi, cá sẽ được vớt ra để đếm số lượng con còn sống

3.5 Phương pháp phân tích số liệu

Ngày đăng: 19/03/2013, 15:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Đồ thị 4.1 Tỷ lệ sống của cá xiêm khi kết thúc thí nghiệm - Thử nghiệm ương nuôi cá xiêm và cá bống tương bằng trùng giấm
th ị 4.1 Tỷ lệ sống của cá xiêm khi kết thúc thí nghiệm (Trang 36)
Đồ thị 4.2 Tỷ lệ sống của cá xiêm khi kết thúc thí nghiệm - Thử nghiệm ương nuôi cá xiêm và cá bống tương bằng trùng giấm
th ị 4.2 Tỷ lệ sống của cá xiêm khi kết thúc thí nghiệm (Trang 38)
Đồ thị 4.3 Tỷ lệ sống của cá xiêm khi kết thúc thí nghiệm  Chuù thích: - Thử nghiệm ương nuôi cá xiêm và cá bống tương bằng trùng giấm
th ị 4.3 Tỷ lệ sống của cá xiêm khi kết thúc thí nghiệm Chuù thích: (Trang 39)
Đồ thị 4.4 Tỷ lệ sống của cá xiêm khi kết thúc thí nghiệm - Thử nghiệm ương nuôi cá xiêm và cá bống tương bằng trùng giấm
th ị 4.4 Tỷ lệ sống của cá xiêm khi kết thúc thí nghiệm (Trang 41)
Bảng 4.1 Tỷ lệ sống trung bình của cá ở những lô có mật độ 20 con/lít nước - Thử nghiệm ương nuôi cá xiêm và cá bống tương bằng trùng giấm
Bảng 4.1 Tỷ lệ sống trung bình của cá ở những lô có mật độ 20 con/lít nước (Trang 42)
Bảng 4.3 Kết quả ương nuôi cá bột bống tượng trong bình nhựa (lần thứ I ) - Thử nghiệm ương nuôi cá xiêm và cá bống tương bằng trùng giấm
Bảng 4.3 Kết quả ương nuôi cá bột bống tượng trong bình nhựa (lần thứ I ) (Trang 44)
Phụ lục 2, bảng 6. - Thử nghiệm ương nuôi cá xiêm và cá bống tương bằng trùng giấm
h ụ lục 2, bảng 6 (Trang 45)
Đồ thị 4.5 Tỷ lệ sống của cá bống tượng khi kết thúc thí nghiệm  Chuù thích: - Thử nghiệm ương nuôi cá xiêm và cá bống tương bằng trùng giấm
th ị 4.5 Tỷ lệ sống của cá bống tượng khi kết thúc thí nghiệm Chuù thích: (Trang 46)
Bảng 4.5 Tỷ lệ sống trung bình của cá thí nghiệm - Thử nghiệm ương nuôi cá xiêm và cá bống tương bằng trùng giấm
Bảng 4.5 Tỷ lệ sống trung bình của cá thí nghiệm (Trang 47)
Đồ thị 4.6 Giá trị pH vào buổi sáng qua thời gian thử nghiệm - Thử nghiệm ương nuôi cá xiêm và cá bống tương bằng trùng giấm
th ị 4.6 Giá trị pH vào buổi sáng qua thời gian thử nghiệm (Trang 48)
Đồ thị 4.8 Nhiệt độ trong quá trình nuôi - Thử nghiệm ương nuôi cá xiêm và cá bống tương bằng trùng giấm
th ị 4.8 Nhiệt độ trong quá trình nuôi (Trang 51)
Bảng 4.6 Yếu tố nhiệt độ trong quá trình thí nghiệm - Thử nghiệm ương nuôi cá xiêm và cá bống tương bằng trùng giấm
Bảng 4.6 Yếu tố nhiệt độ trong quá trình thí nghiệm (Trang 51)
Hình 1 Hình dạng trùn giấm (Tubatrix aceti) - Thử nghiệm ương nuôi cá xiêm và cá bống tương bằng trùng giấm
Hình 1 Hình dạng trùn giấm (Tubatrix aceti) (Trang 55)
Hình 2 Cá bống tượng 1 ngày sau khi nở - Thử nghiệm ương nuôi cá xiêm và cá bống tương bằng trùng giấm
Hình 2 Cá bống tượng 1 ngày sau khi nở (Trang 55)
Hình 3 Cá xiêm 2 ngày sau khi nở - Thử nghiệm ương nuôi cá xiêm và cá bống tương bằng trùng giấm
Hình 3 Cá xiêm 2 ngày sau khi nở (Trang 56)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w