1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thử nghiệm sử dụng thức ăn chế biến để ương nuôi cá lóc môi trề

62 580 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thử nghiệm sử dụng thức ăn chế biến để ương nuôi cá lóc môi trề (Channa sp.)
Tác giả Nguyễn Thị Hoàng Thanh
Người hướng dẫn Ts. Lê Thanh Hùng
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm
Chuyên ngành Thủy sản
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2005
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 599,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thử nghiệm sử dụng thức ăn chế biến để ương nuôi cá lóc môi trề

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

KHOA THỦY SẢN

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

SINH VIÊN THỰC HIỆN: NGUYỄN THỊ HOÀNG THANH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Tháng 08/2005

Trang 2

Nguyễn Thị Hoàng Thanh

Luận văn được đệ trình để hoàn tất yêu cầu cấp bằng Kỹ Sư Thuỷ Sản

Giáo viên hướng dẫn: Ts Lê Thanh Hùng

Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 08/2005

Trang 3

ii

TÓM TẮT

Đề tài “Thử nghiệm sử dụng thức ăn chế biến để ương nuôi cá Lóc môi trề

(Channa sp.)” được thực hiện tại trại thực nghiệm khoa Thủy sản, Trường Đại Học

Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh từ ngày 17/4/2005 đến ngày 19/6/2005

Thí nghiệm 1 được thực hiện nhằm khảo sát ảnh hưởng của thức ăn chế biến lên tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá Lóc môi trề ở giai đoạn bột Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên, gồm 3 nghiệm thức (NT): NT1 (cho ăn TĂCB), NT2 (cho ăn Trùn chỉ – TĂCB), NT3 (cho ăn Trùn chỉ – Cá tạp), mỗi nghiệm thức được lập lại 3 lần Cá thí nghiệm có trọng lượng trung bình 0,033g, mật độ nuôi 150 con/bể Sau 21 ngày nuôi, kết quả cho thấy cá bột cá Lóc môi trề có thể sử dụng hiệu

quả thức ăn chế biến vào ngày thứ 14 sau khi nở

Thí nghiệm 2 được tiến hành để so sánh tốc độ tăng trưởng của giống cá Lóc môi trề và cá Lóc đen khi sử dụng thức ăn chế biến để ương nuôi Sự tăng trưởng của

2 giống cá được khảo sát trong bể kính với mật độ 30 con/bể Cá thí nghiệm được cho ăn TĂCB Mỗi giống cá là một nghiệm thức và được lặp lại 2 lần Cá được nuôi trong khoảng thời gian 14 ngày Kết quả cho thấy giống cá Lóc môi trề có tăng trọng cao hơn nhưng cá Lóc đen lại có khuynh hướng tăng nhanh về chiều dài

Trang 4

iii

ABSTRACT

The tiltle of the study “Study on the use of antificial diet to culture larvae of

snakehead fish (Channa sp.)” was carried out in the Exprimental Station of the

Fisherry Faculty in The University of Agriculture and Forestry, Ho Chi Minh city from 17th April to 19th Jun in 2005 The study has 2 experiments

The first experiment was set up to examine the effect of antificial diet to growth speed and survival rate of snakehead larvea The experiment was set up random, consits of three treatments: NT1 (was fed antificial diet), NT2 (was fed Tubifex – antificial diet), NT3 (waseach treatment was repeated 3 times The snakeheah fish of experiment weigh 0.033g, density of nourishing was 150 fish per aquaria After 21 days, the result showed that snakehead fish larvae can be fed antificial diet at the 14th after hatching

The second experiment was establish to compare growth rate of 2 generic snakehead fish when they was fed antificial deit The growth of 2 generic snakehead fish were investigated in aquaria with density of 30 fish per aquaria Fish of experiment was fed antificial deit Each generic was one treatment which was repeated 2 times Fish was cultured for 14 days The result showed that the weight of Moi Tre grows faster than Loc Den but the length of Loc Den increase than Moi Tre

Trang 5

iv

LỜI CẢM TẠ

 Xin chân thành cảm tạ:

 Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh

 Ban chủ nhiệm khoa Thủy sản trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh

 Quý thầy cô trong và ngoài khoa đã tận tình chỉ bảo, dạy dỗ tôi trong suốt thời gian ngồi trên ghế giảng đường

Xin chân thành cảm ơn thầy Lê Thanh Hùng đã dạy dỗ, tận tình hướng dẫn

chỉ bảo tôi trong suốt thời gian thực tập hoàn thành luận văn tốt nghiệp cuối khóa

 Chân thành cảm ơn các anh, chị ở trại thực nghiệm Thuỷ sản – Khoa Thủy sản trường Đại họa Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, cùng các bạn sinh viên trong và ngoài lớp NTTS 27 đã giúp đỡ, động viên tôi trong trong suốt quá trình học tập tại trường

Do thời gian thực hiện đề tài có hạn cộng với kiến thức còn hạn chế, nên luận văn chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Rất mong nhận được những đóng góp từ phía quý thầy cô cũng như các bạn sinh viên để đề tài ngày càng hoàn thiện hơn

Trang 6

v

MỤC LỤC

2.2.1.2 Khả năng sử dụng các loại thức ăn khác nhau ở cá Lóc đen bột 7

Trang 7

vi

3.6.1 Thí nghiệm 1: Khảo sát ảnh hưởng của thức ăn chế biến (TĂCB) lên

tốc độ tăng trưởng và tỉ lệ sống của cá Lóc môi trề ở giai đoạn cá bột 12 3.6.2 Thí nghiệm 2 : So sánh tốc độ tăng trưởng của giống cá Lóc môi trề và cá

4.1 Thí Nghiệm 1: Khảo Sát Aûnh Hưởng Của Thức Aên Chế Biến Lên Tốc Độ Tăng Trưởng Và Tỷ Lệ Sống Của Cá Lóc Môi Trề Ơû Giai Đoạn Cá Bột 16

Trang 8

vii

4.2 Thí nghiệm 2 So Sánh Tốc Độ Tăng Trưởng Của Giống Cá Lóc Môi Trề Và

PHỤ LỤC

Trang 9

viii

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 4.5 Thành phần hóa học của các loại thức ăn thí nghiệm 18

Bảng 4.8 Tỷ lệ cá bị ăn lẫn nhau trong quá trình thí nghiệm (%) 20

Bảng 4.10 Bảng phân bố tần số về trọng lượng của cá thí nghiệm sau 21

Bảng 4.16 Tỷ lệ tăng chiều dài tương đối (%) của hai giống cá 29

Trang 10

ix

DANH SÁCH CÁC ĐỒ THỊ VÀ HÌNH ẢNH

Đồ thị 4.4 Tốc độ tăng trưởng tương đối (SGR) của cá thí nghiệm 26

Trang 11

I GIỚI THIỆU 1.1 Đặt Vấn Đề

Thủy sản là tặng phẩm của thiên nhiên dành cho con người Việc khai thác và bảo vệ hợp lý nguồn tài nguyên này là hết sức cần thiết Vì vậy bên cạnh việc khai thác nguồn thủy sản từ sông biển cần phải có những kỹ thuật tiên tiến trong sản xuất giống, ương nuôi để phục vụ cho nhu cầu dinh dưỡng cũng như để bù đắp cho lượng thủy sản đánh bắt mỗi năm từ tự nhiên

Cá là nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, chứa các loại axit amin thiết yếu, các axit béo không no cần thiết cho sự phát triển thể chất và trí tuệ của con người Những người sử dụng cá thường xuyên trong bữa ăn sẽ có tuổi thọ trung bình cao hơn so với những người sử dụng thực phẩm từ thịt

Trong khi các loại cá da trơn như cá Tra, cá Basa chủ yếu nhằm xuất khẩu thì cá Lóc lại đáp ứng cho nhu cầu nội địa Từ những người có thu nhập thấp, trung bình đến cao đều có thể sử dụng cá Lóc làm nguồn thực phẩm trong bữa ăn hàng ngày

Cá Lóc môi trề (Channa sp.) là loài phân bố rộng và sống được ở nhiều loại

hình mặt nước khác nhau nhờ khả năng chịu đựng tốt với điều kiện môi trường Chúng là loài mắn đẻ và đẻ nhiều lần trong năm do đó chúng có khả năng khôi phục quần đàn khá nhanh Vào những năm 95 – 97, một số hộ thuộc khu vực thuộc tỉnh Đồng Tháp và An Giang đã tiến hành nuôi cá Lóc và đã phát triển thành phong trào Hình thức nuôi thường đi đôi với vấn đề giải quyết thức ăn cũng như biện pháp phòng trị bệnh cho cá Trong tự nhiên, cá Lóc là loài cá chuyên ăn mồi sống cho nên muốn nuôi cá Lóc trong ao với mật độ cao như hiện nay thì vấn đề nghiên cứu loại thức ăn thay thế hoàn toàn hay một phần cá tạp là rất cần thiết Trong những năm qua đã có rất nhiều nghiên cứu trên các loài cá Lóc và vấn đề đặt ra là làm sao để tăng được năng suất ương và nuôi Một trong những hướng nghiên cứu cho mục tiêu này là tìm hiểu về đặc điểm ăn của cá trong giai đoạn bột và hương để chế biến thức ăn phù hợp

Xuất phát từ những vấn đề trên, được sự phân công của Khoa Thủy Sản,

Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi thực hiện đề tài:

“Thử nghiệm sử dụng thức ăn chế biến để ương nuôi cá Lóc môi trề

(Channa sp.)’’ Việc sử dụng thức ăn chế biến thay thế cho thức ăn tươi sống để ương

nuôi cá Lóc phải đảm bảo dinh dưỡng và nhằm hạn chế mầm bệnh khi ương nuôi bằng thức ăn tự nhiên và chủ động hơn khi nuôi thương phẩm

1.2 Mục Tiêu Đề Tài

 Xác định thời điểm cá Lóc môi trề bột sử dụng hiệu quả thức ăn chế biến

Trang 12

 Khảo sát ảnh hưởng của thức ăn chế biến lên tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá Lóc môi trề ở giai đoạn bột

 So sánh tốc độ tăng trưởng của giống cá Lóc môi trề và cá Lóc đen khi sử dụng thức ăn chế biến để ương nuôi

Trang 13

II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Đặc Điểm Sinh Học Của Cá Lóc môi trề

Tên Việt Nam: cá Lóc môi trề

Tên tiếng Anh: Striped snake head fish (Smith, 1945; trích bởi Nguyễn Văn Hải, 1997)

2.1.2 Phân bố

Cá Lóc có vùng phân bố rộng như: Aán Độ, Thái Lan, Trung Quốc, Lào, Miến Điện, Philippine Ơû Việt Nam, cá Lóc có vùng phân bố từ Bắc đến Nam Đặc biệt ở các loại hình thủy vực nước ngọt của đồng bằng sông Cửu Long như ao, hồ, kênh rạch, đồng ruộng…

Tuy nhiên, việc mở rộng khai thác các vùng đất thấp ngập nước để sản xuất Nông nghiệp và việc sử dụng các loại thuốc trừ sâu đã làm thu hẹp vùng phân bố của chúng (Red Data book of Viet Nam - voll, Animals), (trích bởi Nguyễn Văn Hải, 1997)

2.1.3 Đặc điểm hình thái

Cá Lóc có thân dài, hình trụ tròn, phần dưới hơi dẹp bên Toàn thân cá và đầu được phủ kín bằng vảy lược Đầu lớn đỉnh đầu rộng, dẹp bằng Mõm ngắn hơi hướng lên, miệng rộng Mặt lưng có màu xanh đen đến đen, nhạt dần hai bên Mặt bụng màu trắng sữa Vây lưng, vây hậu môn không có tia gai cứng và kéo dài về phía sau tới gần gốc vây đuôi Vây đuôi tròn, một thùy Hai bên thân có các sọc đen

Trang 14

2.1.4 Ñaịc ñieơm dinh döôõng

Caù Loùc laø loaøi caù döõ, mieông roông, raíng saĩc, phaøm aín Giai ñoán aâu truøng môùi nôû, caù dinh döôõng baỉng noaõn hoaøn trong khoạng 3 – 5 ngaøy Sau khi heât noaõn hoaøn chuùng chuyeơn sang thöùc aín beđn ngoaøi coù kích côõ nhoû nhö caùc loaøi ñoông vaôt phuø du (luađn truøng, giaùp xaùc chađn cheøo, …) vöøa côõ mieông Khi daøi khoạng 5 - 6 cm, caù thöôøng saín moăi vaø baĩt moăi chụ ñoông, chuùng theơ baĩt caùc loaøi teùp nhoû Khi cô theơ ñát chieău daøi tređn 10 cm, caù coù taôp tính aín nhö caù tröôûng thaønh (Ngođ Tróng Lö, 1994)

Caù Loùc thích aín caùc loái thöùc aín laø ñoông vaôt töôi soâng nhö caù nhoû, tođm teùp, cua, bó gáo,… Khi phađn tích thöùc aín trong dá daøy cho thaây thöùc aín chụ yeâu cụa caù Loùc laø ñoông vaôt goăm: caù nhoû (46,7%), tođm teùp (20,12%), cua (18,9%), thöïc vaôt thụy sinh thöôïng ñaúng vaø ñoông phieđu sinh (14,26%) (Nguyeên Thò Caơm Vađn, 1994; trích bôûi Nguyeên Thò Thanh, 2005)

Ôû caùc vuøng nöôùc, caù coù toâc ñoô bôi nhanh, con moăi côõ nhoû thöôøng khođng thoaùt khoûi mieông caù, caù Loùc coù theơ ñôùp con moăi daøi baỉng nöûa thađn cụa noù Chuùng aín mánh vaøo muøa heø, khi nhieôt ñoô giạm xuoâng döôùi 12oC caù ngöøng kieâm aín (Ngođ Tróng Lö, 2001)

Tính aín thòt laên nhau cụa caù Loùc gioâng ñöôïc döïa tređn kích thöôùc, hình thaùi cụa ñoô roông mieông, ñoô roông ñaău vaø chieău daøi cô theơ (chieău daøi con moăi toâi ña (mm) ñoâi vôùi chieău daøi con vaôt aín thòt) Söï khaùc nhau veă kích côõ laøm taíng tyû leô aín nhau, nhöng tyû soâ giöõa chieău daøi vaôt moăi/vaôt saín moăi giạm khi taíng chieău daøi vaôt saín moăi Tyû leô aín nhau laø 100% (suoât 5 ngaøy thí nghieôm) khi tyû leô giöõa caù nhoû hôn so vôùi caù lôùn hôn laø 0,35 nhöng tyû leô aín laên nhau giạm ñeân 43% khi tyû leô chieău daøi caù nhoû hôn so vôùi caù lôùn hôn taíng ñeân 0,64 Vieôc gia taíng thöùc aín cheâ bieẫn cuõng laøm giạm tính aín laên nhau laø 83% nhöng ñaõ giạm ñeân 43% khi cho aín haøng ngaøy vôùi tyû leô 15% tróng löôïng

cô theơ Tuy nhieđn, hieôn töôïng aín laên nhau laø khođng theơ traùnh khoûi ôû loaøi naøy nhöng coù theơ giạm raât nhieău baỉng caùch phađn côõ vaø cho aín tuøy yù (toâi ña) (Qin JianGuang vaø ctv, 1996; trích bôûi Nguyeên Thò Ngóc Lan)

2.1.5 Ñaịc ñieơm sinh tröôûng

Sinh tröôûng laøsöï gia taíng veă kích thöôùc vaø tróng löôïng cụa cô theơ trong ñôøi soâng Moôt trong nhöõng ñieău kieôn quan tróng ạnh höôûng ñeân söï sinh tröôûng cụa caù laø thöùc aín Cuøng moôt loaøi caù nhöng soâng trong caùc thụy vöïc coù cheâ ñoô dinh döôõng khaùc nhau thì toâc ñoô sinh tröôûng khaùc nhau

Söï sinh tröôûng cụa caù Loùc luùc coøn nhoû chụ yeâu taíng tröôûng veă chieău daøi (Phám Vaín Khaùnh, 2000; trích bôûi Nguyeên Thò Thanh, 2005)

Trang 15

Cá Lóc 1 tuổi thân dài 15,8 cm nặng 137g, cá lớn nhanh vào mùa xuân hè Cá lớn 19 – 39 cm, nặng 100 – 750g Cá 2 tuổi thân dài 38 – 45cm, nặng 600 – 1.400g Cá 3 tuổi thân dài 45 – 49cm, nặng 1.200 – 2.000g

Cá có thể sống trên 10 năm, dài 67 – 85cm, nặng 7.000 – 8.000g

2.1.6 Đặc điểm sinh sản

Trong tự nhiên, cá thành thục sinh dục vào năm thứ 2 của đời sống (Lo - Chai Chen, 1990; trích bởi Nguyễn Văn Hải, 1997) Tuy nhiên theo Mai Đình Yên, cá có thể thành thục sớm hơn, khoảng 1 tuổi với kích cỡ cá là 25cm, nặng 0,3kg

Cá cỡ lớn 1 – 2 tuổi bắt đầu đẻ trứng Trong 1 năm có thể đẻ 5 lần, mỗi lần đẻ cách nhau khoảng 15 ngày, sau khi đẻ nếu vớt hết trứng đem ương chỗ khác thì khoảng cách giữa 2 đợt đẻ có thể rút ngắn lại (Ngô Trọng Lư, 2001) Sau mỗi lần đẻ, cá bố mẹ bảo vệ các con khoảng 1 tháng rồi tiếp tục đẻ lần khác Số lượng trứng trong mỗi lần sinh sản của cá khoảng 5.000 – 10.000 trứng Một cá Lóc dài cỡ 35cm đẻ được khoảng 10.000 trứng Như vậy, so với các loài cá khác như : cá Chép, cá Mè Trắng, cá Trắm Cỏ… thì sức sinh sản của cá Lóc rất thấp Tuy nhiên điều này phù hợp với quy luật sinh thái: cá có tập tính bảo vệ con thì sức sinh sản thấp và tỷ lệ sống cao (Nguyễn Văn Hải, 1997)

Sức sinh sản phụ thuộc vào trọng lượng cá bố mẹ, bình quân dao động trong khoảng từ 10.000 – 15.000 trứng/tổ ở cá có trọng lượng từ 1,0 – 1,5kg và 5.000 – 10.000 trứng/tổ đối với cá có trọng lượng 0,5 – 0,8kg (Nguyễn Văn Kiểm và ctv, 1999)

Mùa đẻ ở miền Bắc từ tháng 4 – 8, đẻ rộ vào tháng 4 – 5 Cá thường đẻ ở nơi yên tĩnh có nhiều cây cỏ thực vật thủy sinh, đẻ vào sáng sớm, sau mỗi trận mưa rào 1 – 2 ngày Trước lúc đẻ, cá dùng miệng thu những cây rong, cỏ nước làm tổ hình tròn, đường kính tổ khoảng 40 – 50cm Sau khi đẻ, cá bố mẹ bảo vệ tổ đẻ đến lúc trứng nở thành con mới thôi Ơû nhiệt độ 20 – 35oC sau 3 ngày trứng nở thành con (Ngô Trọng

Lư, 2001)

Mùa vụ sinh sản trong tự nhiên chủ yếu từ tháng 5 – 7 Chúng thường đẻ sau những cơn mưa lớn, hệ số thành thục của cá Lóc trong thời gian này đạt khoảng 0,5- 1,5% (Phạm Văn Khánh, 2000)

Trong môi trường tự nhiên, 3 ngày sau cá tiêu hết noãn hoàn Khi còn nhỏ cá sống thành từng đàn ở tầng mặt, cá con thân dài 5 – 4cm bắt đầu tách khỏi đàn sống độc lập

Trang 16

2.1.7 Môi trường sống của cá Lóc

2.1.7.1 Nhiệt độ

Cá Lóc có thể sống và phát triển tốt trong những thủy vực nông cạn như ruộng lúa, kênh mương tưới tiêu, hầm hố nhờ vào cơ quan hô hấp phụ trên mang (Mohsin và Ambak, 1983) Cá thích sống ở nơi có rong đuôi chó, cỏ dừa, tóc tiên vì nơi này chúng dễ ẩn mình để rình mồi Vào mùa hè, cá thường sống tầng mặt, vào mùa đông khi nhiệt độ xuống dưới 8oC, chúng thường xuống sâu hơn Ơû nhiệt độ 6oC cá ít hoạt động

Nhiệt độ nước trong ao hồ tương đối ổn định và điều hòa hơn ở trên cạn, có thể nhận thấy rõ ở mùa đông càng xuống sâu càng ấm, về mùa hè nước ở sâu mát hơn trên tầng mặt Ơû những hồ lớn, nhiệt độ nước vào mùa đông khoảng 12oC trong khi đó nhiệt độ không khí có thể xuống 7 – 8oC Mùa hè nhiệt độ không khí lên đến

36 – 37oC nhưng trong nước chỉ 33 - 34oC Nhiệt độ nước ban ngày nóng hơn ban đêm khoảng 1 – 3oC Nhiệt độ ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ tiêu hoá, sự sinh sản của cá Nhiệt độ nước thích hợp cho các loài thủy sản nuôi là 26 – 32oC Nếu nhiệt độ thấp hơn hoặc cao hơn, phát triển của thủy sản không bình thường Khi nhiệt độ thay đổi đột ngột 3 – 4oC có thể làm tôm, cá chết

Cá Lóc thích nghi rộng với biên độ nhiệt, khi nhiệt độ nước từ 11 – 40oC cá vẫn sống Nhiệt độ thích hợp nhất từ 20 – 30oC

2.1.7.2 Ôxy hòa tan

Các loài thủy sản đều cần có ôxy từ 3 – 8mg/l để phát triển bình thường Khi ôxy hòa tan còn 2mg/l, cá sẽ nổi đầu, xuống đến 0,4mg/l cá sẽ chết ngạt Tuy nhiên, một số loài thủy sản có cơ quan hô hấp phụ thở được khí trời như Rô đồng, cá Lóc, Lươn… có thể sống được ở môi trường có hàm lượng ôxy thấp, DO bằng không

Hàm lượng ôxy trong các ao nhỏ thường thấp, ở tầng mặt (0 – 0,5m) từ 7,5 đến 8,5mg/l, càng xuống sâu ôxy giảm dần Thường cá con có ngưỡng ôxy cao hơn cá trưởng thành và các loài cá sống ở tầng mặt có ngưỡng ôxy cao hơn cá sống ở tầng đáy Cá Lóc con có tập tính sống thành đàn ở tầng mặt và tập tính này mất dần khi cá lớn, cá lớn sống riêng lẻ ở tầng đáy săn mồi tích cực

Cơ quan hô hấp phụ của cá Lóc nằm ở một đầu trên xương cung mang thứ nhất gọi là cơ quan trên mang Cơ quan trên mang là một lớp biểu bì có nhiều mao mạch giúp cá sống được ở môi trường cạn một khoảng thời gian (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993; trích bởi Nguyễn Thị Thanh, 2005)

Trang 17

2.1.7.3 Độ pH

Các loài thủy sản cần có pH thích hợp 6,5 – 8,5, thích hợp nhất là 7,3 – 8,3

pH trên 9 và dưới 6,5 một số đối tượng thủy sản vẫn sống được nhưng phát triển chậm Một số loài cá có thể sống ở độ pH = 5 như cá Sặc rằn, Rô đồng, cá Tra… song chúng phát triển chậm

Cá Lóc thích nghi được với pH từ 4,3 – 9,4

2.2 Thức Ăn Và Tập Tính Aên Của Cá Lóc

2.2.1 Sơ lược tình hình nghiên cứu dinh dưỡng của cá Lóc

2.2.1.1 Sự lựa chọn thức ăn của cá bột cá Lóc đen

Kết quả nghiên cứu của Qin JianGuang và ctv.(1997), trích bởi Nguyễn Thị Ngọc Lan đã mô tả khá chi tiết về sự chọn lựa thức ăn của cá Lóc đen Nhóm tác giả này cho rằng trong điều kiện phòng thí nghiệm thì cá bột cá Lóc đen có chiều dài 6 - 7mm, độ mở của miệng là 0,55mm sẽ chọn thức ăn là ấu trùng Artemia và không ăn thức ăn chế biến, cá bắt đầu ăn thức ăn chế biến khi được 12mm chiều dài và cỡ miệng mở rộng tới 1mm Trong phòng thí nghiệm và trên ruộng, thức ăn của cá thay đổi khi kích cỡ cá tăng Đối với cá dài 15 – 20mm thì nhóm giáp xác râu ngành và giáp xác chân chèo chiếm 96% lượng thức ăn Cá dài 30 – 40mm, thức ăn là động vật nổi giảm đáng kể và tăng ăn động vật đáy Các tác giả cũng lý giải rằng việc chuyển đổi tự động vật nổi sang động vật không xương sống đáy không phải do việc giản động vật nổi có sẵn trong môi trường mà nó liên quan đến sự thay đổi cấu trúc lược mang của cá Mật độ động vật không xương sống đáy thấp trong những thí nghiệm trên ruộng đã làm giảm tỷ lệ sinh trưởng ở cá khi cá thay đổi thức ăn tư øđộng vật nổi sang động vật đáy

2.2.1.2 Khả năng sử dụng các loại thức ăn khác nhau ở cá Lóc đen bột

Qin và ctv.,1997, (trích bởi Nguyễn Thị Ngọc Lan, 2004) ương cá Lóc đen bột

ở ba giai đoạn bằng các loại thức ăn khác nhau, giai đoạn 1 cho ăn 6 loại thức ăn như

Trang 18

ở bảng 2.1 trong 30 ngày, giai đoạn 2 chuyển dần cho cá ăn thức ăn chế biến trong 7 – 10 ngày và sang giai đoạn 3 chỉ cho ăn thức ăn chế biến Kết quả cho thấy ở giai đoạn 1, khi cho ăn thức ăn thứ 4, cá đạt chiều dài và khối lượng cao hơn cá ở các nghiệm thức khác Cá ăn thức ăn thứ 3 thì có tỷ lệ chết (không do ăn nhau) lớn hơn cá

ở các nghiệm thức còn lại Cá ăn thức ăn thứ 6 có khối lượng cao nhất Nhóm tác giả này kết luận rằng có thể tập cho cá ăn thức ăn chế biến theo phương pháp sau: (i) cho cá ăn ấu trùng Artemia bổ sung thức ăn chế biến trong 30 ngày, sau đó loại bỏ dần ấu trùng Artemia trong giai đoạn 7 – 10 ngày (ii) chỉ cho ăn ấu trùng Artemia sống trong 30 ngày, 7 – 10 ngày tiếp theo cho ăn hỗn hợp cả Artemia sống và thức ăn chế biến và sau cùng chuyển hoàn toàn sang thức ăn chế biến

Bảng 2.1 Thí nghiệm của Qin và ctv 1997

1 Không ăn

2 Chỉ cho ăn thức ăn chế biến

3 Aáu trùng Artemia sống vàtrứng bào xác của Artemia

4 Chỉ cho ăn trứng bào xác của Artemia tẩy vỏ

5 Thức ăn chế biến và ấu trùng Artemia sống

6 Thức ăn chế biến và trứng bào xác Artemia

2.2.1.3 Khả năng sử dụng thức ăn chế biến ở cá bột:

Việc sử dụng thức ăn chế biến ở giai đoạn cá bột đã được nghiên cứu trên

nhiều loài và đem lại kết quả khả quan như ở cá Clarias gariepinus (Verreth và Van Tongeren, 1989), Heterobranchus longifilis (Kerdchuen and Legendre,1994) Đối với

cá ăn động thì nghiên cứu này còn nhiều hạn chế Theo một số tác giả thì việc sử dụng thức ăn chế biến ở giai đoạn sớm của cá bột thường dẫn đến tình trạng cá tăng trưởng kém và tỷ lệ sống thấp (Person- Le Ruyet và ctv., 1993) Nguyên nhân do ở giai đoạn này cá chưa có dạ dày và thiếu men tiêu hoá (Munilla - Murán và ctv., 1990) hoặc do thức ăn chế biến không kích thích sự bắt mồi của cá làm giảm lượng thức ăn cá ăn vào (Person - Le Ruyet và ctv., 1993)

Thời gian cá bột sử dụng hiệu quả thức ăn chế biến khác nhau tùy loài Ơû cá

chẽm (Dicentrarchus labrax) là 20 ngày sau khi nở (Zambonino Infante và ctv., 1997), cá Clarias gariepinus và Clarias macrocephalus là 4 ngày sau khi nở (Verreth

và Tongeren, 1989; Fermin và Bolivar, 1991; trích bởi Nguyễn Thị Ngọc Lan, 2004)

2.2.2 Một số loại thức ăn cho cá thí nghiệm

2.2.2.1 Trùn chỉ:

Trang 19

Đây là loại thức ăn tự nhiên rất tốt trong việc ương nuôi các loại cá vì nó đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng và đa số các loài cá đều thích bắt mồi di động hơn là bắt mồi tĩnh

Phân loại (Võ Văn Chi, 1993 )

Ngành giun đốt: Annelides

Lớp giun ít tơ: Oligochaeta

Họ: Tubificidae

Giống: Tubifex

Tên thường gọi: Trùn chỉ, trùn máu

Trong tự nhiên, chúng hiện diện ở đáy kênh rạch, cống rãnh, ở chỗ nước nông của đầm hồ, nơi có nhiều chất hữu cơ Loài này sống tụ thành đám, khi có động thì rút vào bùn Thân có hình ống, màu đỏ, dài từ 1,5 – 3cm, phần đầu cắm vào bùn để ăn mùn bã hữu cơ, phần đuôi di động theo dòng nước (Trần Công Tam, Nguyễn Diệp Sơn, 1985) Chính vì nơi sống ô nhiễm như vậy nên cần phải làm sạch trước khi cho cá ăn bằng cách xử lý trong dung dịch muối loãng 0,1% Tuy nhiên cách này sẽ không hiệu quả nếu số lượng trùn quá lớn, thời gian xử lý như thế nào để gọi là sạch (cũng chỉ sạch ở bên ngoài mà không thể ở bên trong cơ thể trùn) Hơn nữa, do tụ thành đám nên chúng khó tách ra khỏi chất bẩn theo một số tác giả như Axelrod (1956), Mc Inerny (1966) thì trùn chỉ nên được đạt trong một lọ dười vòi nước chảy nhỏ giọt liên tục nhưng cũng không thể làm sạch một cách hoàn hảo được nên vẫn đưa vào bể những vi khuẩn có hại Ngoài ra, trùn chỉ còn là ký chủ trung gian của

một số bào tử trùng ký sinh như Myxobollus, Henneguya ký sinh ở da, vây, mang,

đường tiêu hóa Nếu số luợng quá nhiều sẽ gây hoại tử ở những sợi mang, cản trở hô hấp, ở cá nhỏ thì bị suy nhược (Andrews, 1988)

Mặc dù vậy trùn chỉ vẫn là dạng thức ăn được các người nuôi cá thích sử dụng Theo Yakupitiyage (1994), những dạng sinh vật đáy đã được sử dụng thành công để thay thế bột cá trong khầu phần thức ăn cho các loài cá khác nhau như cá Rô phi

(Orecchromis niloticus), cá Trê (Clarias spp) Cũng theo tác giả trên, nếu cá tiêu thụ

một số lượng đáng kể thức ăn tự nhiên thì hầu hết nhu cầu vitamin của cá sẽ được cung cấp đầy đủ

Thành phần dinh dưỡng trong giun ít tơ (%) theo Dorokhop, Pakhomop, Poliacop (1968 , 1975; trích bởi Trần Văn Vỹ, 1982, trang 38) như sau:

 Proteins : 6.8

 Lipid : 0.6

Trang 20

 Ưu điểm

 Là loại mồi sống phù hợp với tính ăn của cá

 Hàm lượng dinh dưỡng cao

 Khi cá ăn không hết, trùn chỉ vẫn sống, tập trung thành đám trên nền đáy và tiếp tục làm thức ăn cho cá

 Nguồn cung cấp trùn chỉ không ổn định

2.2.2.2 Thức ăn chế biến

Thức ăn cho tôm cá do phải cho ăn trong môi trường nước nên nó cần có những yêu cầu chế biến đặc biệt để đáp ứng với điều kiện cho ăn này Về thành phần dinh dưỡng, chúng cũng cần chủ yếu là proteins, glucid, lipid, vitamin và các chất khoáng Những thành phần bổ sung cũng sử dụng như khi cho gia súc gia cầm: một số vitamin, một số axit amin, một số chất khoáng vi lượng, một số chất kích thích tiêu hóa Vì vậy sự khác biệt giữa thức ăn thủy sản với thức ăn gia súc, gia cầm là ở công nghệ chế biến Nó thường phải ở dạng viên hay dạng sợi khó tan trong nước, tạo độ kết dính các phần tử nguyên liệu trong thức ăn để thức ăn không tan trong nước trong một thời gian nhất định cho tôm cá kịp ăn hết Nếu thức ăn bị tan rã, tôm cá không ăn được sẽ gây lãng phí lớn, chất lắng động tích lũy ở đáy gây ô nhiễm môi trường nước và độc hại cho tôm cá nuôi

Trang 21

Việc sản xuất thức ăn nhân tạo cho cá đòi hỏi sự cân nhắc kỹ lưỡng để không những đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng tối thiểu cho cá mà còn phải phù hợp với tập tính bắt mồi, cỡ miệng cá, độ cứng, độ tan của thức ăn trong nước

Thức ăn chế biến dạng ướt

Các nguyên liệu tươi, nguyên liệu khô, có bổ sung premix khoáng, vitamin theo sự hướng dẫn Thức ăn này thường có độ ẩm từ 35 – 45%

 Ưu điểm

 Mùi vị hấp dẫn tôm cá

 Các chất dinh dưỡng không bị tổn thất do không phải qua khâu xử ý nhiệt

 Nhược điểm:

 Không bảo quản được lâu

 Khi cho ăn thừa, thức ăn sẽ bị hư và chìm dần xuống đáy gây ô nhiễm nước và sinh sản nhiều vi khuẩn

2.2.2.3 Thức ăn cá tạp

Cá tạp là nguồn cung cấp đạm động vật dùng làm thức ăn cho cá Lóc, Lóc bông, Trê lai Cá có thể để nguyên hay xay nhuyễn ra Thành phần dinh dưỡng của cá tạp thay đỗi tùy theo giống loài, cách bảo quản Cá tạp có hàm lượng prôtêin thay đổi từ 50 – 80% trọng lượng khô

Trang 22

III VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời Gian Và Địa Điểm Nghiên Cứu

Đề tài được thực hiện tại Trại Thực Nghiệm Thủy Sản, Khoa Thủy Sản Trừơng Đại Học Nông Lâm,Tp Hồ Chí Minh

Thời gian thực hiện đề tài được tiến hành từ ngày17/4/2005 đến ngày 19/6/2005

3.2 Đối Tượng Nghiên Cứu

Cá Lóc môi trề (channa sp.) 7 ngày tuổi

3.3 Vật Liệu Và Trang Thiết Bị

 Hệ thống các bể kính

 Hệ thống sục khí, ống siphon

 Thau nhựa, vợt vớt cá

 Các nguyên liệu làm thức ăn

 Máy xay thức ăn

 Cân điện tử hai số lẻ để xác định trọng lượng cá mỗi đợït kiển tra

3.5 Thức Aên Cho Cá Thí Nghiệm

 Thức ăn chế biến dạng ướt

 Trùn chỉ

 Cá tạp xay

Trang 23

50 lít Cá được bố trí ngẫu nhiên với mật độ 150 con/bể

Sơ đồ bố trí thí nghiệm như sau:

Hình 4.1 Hệ thống bể nuôi thí nghiệm

Trang 24

Thí nghiệm được cho ăn với 3 loại thức ăn khác nhau:

 Nghiệm thức 1: cho cá ăn thức ăn chế biến (TĂCB) vào ngày đầu tiên sau khi bố trí thí nghiệm (cá 7 ngày tuổi)

 Nghiệm thức 2: trong 7 ngày đầu cho cá ăn trùn chỉ, sau đó loại bỏ dần thức ăn trùn và thay thế hoàn toàn bằng thức ăn chế biến (TĂCB) vào tuần thứ 2

 Nghiệm thức 3: trong 7 ngày đầu cho cá ăn trùn, sau đó loại bỏ dần thức ăn trùn chỉ và thay thế hoàn toàn bằng cá tạp xay vào tuần thứ 2

* Chăm sóc và quản lý

Cá được cho ăn với khẩu phần từ 10 – 30% trọng lượng thân (cho ăn theo nhu cầu) Cho ăn mỗi ngày 4 lần lúc 7 : 00 giờ , 10 : 30 giờ, 14 :00 giờ và 17 : 30 giờ Theo dõi và ghi nhận về hoạt động ăn, bơi lội, bắt mồi của cá và đếm số cá chết Thức ăn thừa, phân cá được siphon 2 lần/ ngày Các bể thí nghiệm được sục khí liên tục

3.6.2 Thí nghiệm 2 : So sánh tốc độ tăng trưởng giữa cá Lóc môi trề và cá Lóc đen khi sử dụng thức ăn chế biến để ương nuôi

Thí nghiệm được bố trí trong 4 bể kính có thể tích 50lít/bể Mật độ cá thí nghiệm là 30 con/bể Thời gian thí nghiệm là 14 ngày Thí nghiệm có 1 yếu tố (yếu tố giống cá) gồm 2 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức được lập lại 2 lần Các điều kiện môi trường được giữ như nhau

 Nghiệm thức 1 : cá Lóc môi trề Nguồn cá được lấy từ thí nghiệm 1 ở những nghiệm thức đã được tập cho ăn thức ăn chế biến Sau khi thí nghiệm 1 hoàn tất, cá con được chọn lại cho đều cỡ, đếm và cân để xác định trọng lượng ban đầu

 Nghiệm thức 2 : cá Lóc đen tương đương độ tuổi và đã được cho ăn thức ăn chế biến từ nhỏ

* Chăm sóc và quản lý

Mỗi ngày cho cá ăn 4 lần vào lúc 7 :00 giờ, 10 : 30 giờ,14 : 00 giờ, 17 : 30 giờ Cho ăn đến khi cá không ăn nữa thì dừng lại (cho ăn thoã mãn) Mỗi ngày thay nước

1 lần vào buổi sáng Số cá chết, thức ăn thừa phân cá được siphon mỗi ngày

3.7 Chuẩn Bị Thức Aên Và Phương Pháp Cho Aên

Thí nghiệm 1 và 2 dùng công thức thức ăn chế biến dạng ướt gồm các thành phần cơ bản: cá xay (200g), sữa không béo (100g), lòng đỏ trứng gà (10 cái), dầu gan mực (3%), vitamin (1 – 2%), premix (1 – 2%) Các nguyên liệu này được xay đều, hấp chín và trữ trong tủ đông, khi cho ăn thì ray nhỏ cho cá ăn

Trang 25

3.8 Phương Pháp Thu Thập Số Liệu

3.8.1 Thí nghiệm 1

Khi bố trí thí nghiệm cá được cân ngẫu nhiên để xác định trọng lượng ban đầu Trong quá trình thí nghiệm định kỳ 7 ngày thu mẫu 1 lần bằng cách cân ngẫu nhiên 30 con ở mỗi bể thí nghiệm

3.8.2 Thí nghiệm 2

Xác định trọng lượng ban đầu bằng cách cân toàn bộ số cá ở mỗi bể Mỗi tuần thu mẫu 1 lần Những ngày cân trọng lượng sẽ không cho ăn vào buổi sáng để tránh gây sốc cá

3.9 Các Yếu Tố Thủy Lý Hóa Của Nước Trong Bể :

 Nhiệt độ đo bằng máy đo nhiệt độ (2 lần/ ngày lúc 7 giờ sáng và 14 giờ chiều)

 Oxy hòa tan đo bằng máy đo D (1 tuần/ lần)

 pH đo bằng bộ test pH (1 tuần/ lần)

 NH3 đo bằng Test Ammonia (1 tuần/ lần)

3.10 Các chỉ tiêu tính toán

Thí nghiệm 1:

 Tỷ lệ sống (%) – Survival Rate

TLS( %) =100 *(số cá ngày thứ i/số cá ban đầu)

Trong đó : i là ngày thu mẫu

 Tăng trọng ( g) – Weight Gain

Trong đó :

Wt : trọng lượng cá sau thí nghiệm (g)

Wo : trọng lượng cá ban đầu (g)

 Tốc độ tăng trưởng đặc biệt (%/ ngày) – Specific Growth Rate

SGR = 100 * (ln Wt – ln Wo)/ t

Trang 26

Trong đó :

LnWo : Logarith neper của trọng lượng cá đầu thí nghiệm

LnWt : Logarith neper của trọng lượng cásau thí nghệm

t : thời gian thí nghiệm

 Tăng trưởng khối lượng theo ngày (g) – Daily Weight Gain

DWG = WG/ t hay (Wc – Wđ)/ t

 Sự phân đàn

Dựa vào hệ số biến động (Cv)

Cv (%) =100*SD/XtbTrong đó

SD : độ lệch chuẩn trọng lượng của cá thí nghiệm (g)

Xtb : trọng lượng trung bình của cá thí nghiệm (g)

Wđ : trọng lượng kiểm tra đợt đầu (g)

Ws : trọng lượng kiểm tra đợt sau (g)

 Chiều dài

Tỷ lệ tăng chiều dài tương đối (%) = (Ls – Lđ)/Lđ *100%

Trong đó:

Lđ : chiều dài kiểm tra đợt đầu (cm)

Ls : chiều dài kiểm tra đợt sau (cm)

 Tỷ lệ sống

Tỷ lệ sống (%) = 100*(Nt/No)

Trang 27

Trong đó :

No : số lượng cá ban đầu thí nghiệm

Nt : số lượng cá sau thí nghiệm

3.11 Phương Pháp Xử Lý Thống Kê

Các số liệu được tính toán và xử lý thống kê trên phần mềm Statgraphics for Windows, sử dụng trắc nghiệm LSD để xem xét sự khác biệt giữa các nghiệm thức

Trang 28

IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Thí Nghiệm 1: Khảo Sát Aûnh Hưởng Của Thức Aên Chế Biến Lên Tốc Độ Tăng Trưởng Và Tỷ Lệ Sống Của Cá Lóc Môi Trề Ơû Giai Đoạn Cá Bột

Cá Lóc là loài cá dữ trong tự nhiên, cá bột cá Lóc môi trề ăn các loài động vật nổi như luân trùng và các động vật phù du khác Trong số nhiều loài động vật nổi và

động vật đáy, giống Moina (Cladocera) và trùng chỉ được sử dụng phổ biến nhất vì

chúng không làm mất dưỡng chất như thức ăn chế biến và kích thước phù hợp với cỡ miệng của hầu hết các loài cá (Verreth và ctv., 1993; trích bởi Nguyễn Thị Ngọc Lan, 2004)

Trong nghiên cứu cũng như ngoài thực tế, việc chuyển từ thức ăn tươi sống sang thức ăn nhân tạo được thực hiện càng sớm càng tốt nếu nó không ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá bột Nếu cá sử dụng tốt thức ăn nhân tạo thì sẽ hạn chế được những bệnh lây nhiễm qua thức ăn tươi sống và chủ động được nguồn thức ăn trong ương nuôi

Trong thí nghiệm này các lô thí nghiệm được nuôi trong điều kiện thủy lý hóa như nhau Thức ăn được cho ăn tối đa cho đến khi cá không ăn nữa thì sẽ điều chỉnh cho phù hợp (cho ăn thỏa mãn) để đánh giá sự tăng trưởng

4.1.1 Các yếu tố môi trường

Trong quá trình sinh trưởng và phát triển của các loài thuỷ sản nói chung và cá Lóc môi trề nói riêng đều chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố môi trường và các yếu tố sinh học khác Dưới đây là một số yếu tố thủy lý hoá của thí nghiệm

4.1.1.1 Nhiệt độ

Nhiệt độ nước ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ tiêu hóa, sự sinh trưởng và phát triển của cá Nhiệt độ quá thấp hay quá cao thì sự phát triển của cá không bình thường hay khi nước thay đổi đột ngột 3 – 4oC có thể làm cá chết

Bảng 4.1 Yếu tố nhiệt độ trong thí nghiệm

Nhiệt độ (oC) Thời gian

17/4 – 24/4

25/4 – 01/5

02/5 – 08/5

29,0 28,5 29,0

27,5 27,0 27,0

1,5 1,5 2,0

Trang 29

Biến thiên nhiệt độ trong thí nghiệm dao động trong khoảng 27,0 – 29,0oC Dao động nhiệt trong ngày không vượt quá 2oC nên không ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá

4.1.1.2 Độ pH

pH cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động sống của cá pH thấp hay cao sẽ tác động xấu lên chất nhờn của mang, da cá, ngăn cản sự hô hấp làm cá chết ngạt Yếu tố pH của thí nghiệm được trình bày qua bảng sau

Bảng 4.2 Yếu tố pH trong thí nghiệm

7,1 6,5 7,0

7,5 7,1 6,5

6,7 6,9 6,6

7,3 6,8 6,7

7,0 6,8 6,5 Qua bảng trên cho thấy pH biến đổi không đáng kể, khoảng dao động từ 6,5 – 7,5 là thích hợp cho sự sinh trưởng của cá

4.1.1.3 Hàm lượng oxy hòa tan (DO)

Bảng 4.3 Yếu tố oxy hòa tan trong thí nghiệm

6,5 6,5 7,0

6,0 6,2 6,5

7,0 6,5 6,5

5,0 5,9 5,5

6,1 6,5 6,5

Hàm lượng oxy hòa tan dao động trong khoảng từ 5,0 – 7,0 thường thấp vào buổi sáng và cao vào buổi chiều do qua một đêm cá ăn và thải phân nhiều Tuy nhiên đối với cá Lóc là loài có cơ quan hô hấp phụ thì khoảng dao động này không gây ảnh hưởng nhiều đến sự sinh trưởng của cá

4.1.1.4 Hàm lượng Ammonia tổng số

Trang 30

Bảng 4.4 Hàm lượng Ammonia

NH3 (mg/l) Thời Gian

0,40 – 0,90 0,02 – 0,05 0,02 – 0,03

0,40 – 0,80 0,80 – 2,00 0,50 – 2,00

Hàm lượng NH3 phụ thuộc vào lượng đạm trong thức ăn dư, phân Theo kết quả phân tích thành phần dinh dưỡng của các loại thức ăn ở bảng 4.5 thì hàm lượng prôtêin trong thức ăn chế biến là 37,38%, ở trùng chỉ là 59,90% và trong cá tạp xay là 42,90% Trong tuần thứ 1, NT2 và NT3, hàm lượng NH3 cao hơn ở NT1 do thức ăn là trùn chỉ Từ tuần thứ 2, hàm lượng NH3 ở NT2 giảm còn ở NT3 tăng cao vì lúc này trùn chỉ đã được thay thế bằng TĂCB ở NT2 và cá tạp xay ở NT3 Ở NT1, hàm lượng

NH3 luôn ổn định tuy nhiên môi trường nước ở những nghiệm thức sử dụng TĂCB dễ bẩn do thức ăn và phân cá mau chóng tan rã trong nước

4.1.2 Thành phần hóa học của các loại thức ăn thí nghiệm

Bảng 4.5 Thành phần hóa học của các loại thức ăn thí nghiệm

(g/ 100 trọng lượng khô)

Các loại thức ăn Thành phần hoá học

(% vật chất khô) Trùn chỉ (*) TĂCB dạng ướt (**) Cá xay (***)

(*) (***) Theo Nguyễn Thị Ngọc Lan, 2004

(**) Theo kết quả phân tích của Trần Thị Kim Thơ và Vũ Thị Phương Thúy, 2005

Kết quả phân tích cho thấy hàm lượng prôtêin trong thức ăn chế biến thấp hơn

so với trùn chỉ và cá tạp (37,38%; 59,90%; 42,90%) nhưng vẫn phù hợp với nhu cầu chất đạm của các loài cá Hàm lượng lipit của thức ăn chế biến cao nhất (28,36%) đáp ứng đầy đủ nhu cầu chất béo tương đối cao của cá nhỏ là 18 – 30% (Nguyễn Thị Ngọc Lan, 2004)

4.1.3 Tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá thí nghiệm

Cá thí nghiệm được cho ăn các loại thức ăn khác nhau Sau mỗi tuần sẽ có sự chuyển đổi thức ăn để xác định thời điểm cá Lóc môi trề sử dụng hiệu quả thức ăn chế biến thông qua sự tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá

Trang 31

Bảng 4.6 Sơ lược tiến trình thí nghiệm

Trùn chỉ TĂCB TĂCB

Trùn chỉ Cá tạp xay Cá tạp xay

4.1.3.1 Tỷ lệ sống

Ngoài tốc độ tăng trưởng thì thức ăn còn ảnh hưởng tới tỷ lệ sống ở mỗi nghiệm thức Qua tỷ lệ sống, ta có thể đánh giá được chất lượng dinh dưỡng cũng như sự thích nghi của cá với loại thức ăn đó Tỷ lệ sống của cá thí nghiệm được tính dựa trên số cá chết đếm được xác và số cá mất đi do bị ăn lẫn nhau

Bảng 4.7 Tỷ lệ sống (%) của cá thí nghiệm

84,44  3,15 b79,11  2,04 b76,44  3,15 b

82,67  1,77 b76,22  2,77 b69,33  3,46 c

Ghi chú: Giá trị thể hiện là số trung bình và độ lệch chuẩn Các giá trị trên cùng một hàng có chữ cái giống nhau thì khác nhau không có ý nghĩa thống kê (p<0,05)

Kết quả cho thấy trong 7 ngày đầu ở NT1 khi cho cá ăn thức ăn chế biến, có tỷ lệ sống cá bột thấp nhất (40,44%) và khác biệt rất có ý nghĩa so với 2 nghiệm thức còn lại NT2 và NT3 cá sử dụng thức ăn tươi sống là trùn chỉ thì có tỷ lệ sống tương đối cao và khác biệt không có ý nghĩa vơí nhau (84,44% và 82,67%)

Trong 7 ngày kế tiếp, tỷ lệ sống của cá ở các nghiệm thức tiếp tục giảm, trong đó, tỷ lệ sống ở NT1 vẫn là thấp nhất và khác biệt có ý nghĩa so với NT2 và NT3, song chúng tôi nhận thấy số cá chết hằng ngày và số cá mất đi giảm đáng kể Riêng đối với NT2, đã được loại bỏ dần thức ăn tươi sống để thay thế bằng thức ăn chế biến, thì trong những ngày đầu có số cá chết từ 2 – 3 con/ngày, về sau giảm dần và không chết nữa Ơû NT3, thức ăn đã được thay thế bằng cá tạp xay

Qua 7 ngày cuối của thí nghiệm, tỷ lệ sống ở 3 nghiệm thức đều khác nhau có

ý nghĩa trong đó chúng tôi nhận thấy tỷ lệ sống của cá ở NT1 giảm ít nhất và ổn định hơn do cá ở nghiệm thức này đã lớn và quen dần vơí thức ăn chế biến, tỷ lệ sống của cá ở NT2 là cao nhất lần lượt là 24,22%; 76,44%; 69,33% Điều này cho thấy nếu cho cá ăn thức ăn chế biến ngay từ những ngày đầu khi cá vừa tiêu hết noãn hoàn thì tỷ lệ sống thấp Từ ngày thứ 14 sau khi tiêu hết noãn hoàn, cá có thể sử dụng hiệu quả thức ăn chế biến

Ngày đăng: 19/03/2013, 15:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hỡnh 4.1 Heọ thoỏng beồ nuoõi thớ nghieọm - Thử nghiệm sử dụng thức ăn chế biến để ương nuôi cá lóc môi trề
nh 4.1 Heọ thoỏng beồ nuoõi thớ nghieọm (Trang 23)
Bảng 4.1  Yếu tố nhiệt độ trong thí nghiệm - Thử nghiệm sử dụng thức ăn chế biến để ương nuôi cá lóc môi trề
Bảng 4.1 Yếu tố nhiệt độ trong thí nghiệm (Trang 28)
Đồ thị 4.1 Tỷ lệ sống của cá thí nghiệm - Thử nghiệm sử dụng thức ăn chế biến để ương nuôi cá lóc môi trề
th ị 4.1 Tỷ lệ sống của cá thí nghiệm (Trang 33)
Bảng 4.9  Sự phân đàn của cá thí nghiệm sau 21 ngày nuôi. - Thử nghiệm sử dụng thức ăn chế biến để ương nuôi cá lóc môi trề
Bảng 4.9 Sự phân đàn của cá thí nghiệm sau 21 ngày nuôi (Trang 34)
Đồ thị 4.3 Tăng trọng của cá thí nghiệm - Thử nghiệm sử dụng thức ăn chế biến để ương nuôi cá lóc môi trề
th ị 4.3 Tăng trọng của cá thí nghiệm (Trang 38)
Đồ thị 4.4 tốc độ tăng trưởng tương đối (SGR) của cá thí nghiệm - Thử nghiệm sử dụng thức ăn chế biến để ương nuôi cá lóc môi trề
th ị 4.4 tốc độ tăng trưởng tương đối (SGR) của cá thí nghiệm (Trang 39)
Hình 4.1 Cá Lóc môi trề ở các nghiệm thức sau 21 ngày nuôi - Thử nghiệm sử dụng thức ăn chế biến để ương nuôi cá lóc môi trề
Hình 4.1 Cá Lóc môi trề ở các nghiệm thức sau 21 ngày nuôi (Trang 40)
Bảng 4.14 Tỷ lệ tăng trọng (%) của hai giống cá - Thử nghiệm sử dụng thức ăn chế biến để ương nuôi cá lóc môi trề
Bảng 4.14 Tỷ lệ tăng trọng (%) của hai giống cá (Trang 41)
Bảng 4.13 Tăng trưởng về trọng lượng của hai giống cá - Thử nghiệm sử dụng thức ăn chế biến để ương nuôi cá lóc môi trề
Bảng 4.13 Tăng trưởng về trọng lượng của hai giống cá (Trang 41)
Bảng 4.16 Tỷ lệ tăng chiều dài tương đối (%) của hai giống cá - Thử nghiệm sử dụng thức ăn chế biến để ương nuôi cá lóc môi trề
Bảng 4.16 Tỷ lệ tăng chiều dài tương đối (%) của hai giống cá (Trang 42)
Bảng 4.15 Tăng trưởng về chiều dài của của hai giống cá - Thử nghiệm sử dụng thức ăn chế biến để ương nuôi cá lóc môi trề
Bảng 4.15 Tăng trưởng về chiều dài của của hai giống cá (Trang 42)
Bảng 4.7 Tỷ lệ sống của cá thí nghiệm sau 21 ngày - Thử nghiệm sử dụng thức ăn chế biến để ương nuôi cá lóc môi trề
Bảng 4.7 Tỷ lệ sống của cá thí nghiệm sau 21 ngày (Trang 46)
Bảng 4.13 Tăng trọng của cá ở thí nghiệm 2 - Thử nghiệm sử dụng thức ăn chế biến để ương nuôi cá lóc môi trề
Bảng 4.13 Tăng trọng của cá ở thí nghiệm 2 (Trang 48)
Bảng 4.15 Tỷ lệ tăng chiều dài của cá ở thí nghiệm 2 - Thử nghiệm sử dụng thức ăn chế biến để ương nuôi cá lóc môi trề
Bảng 4.15 Tỷ lệ tăng chiều dài của cá ở thí nghiệm 2 (Trang 49)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w