Hơnnữa, ở tầm vĩ mô trong hệ thống kế toán quốc gia, đồng tiền với chức năngthước đo giá trị đã được vận dụng để tính toán tổng mức GDP, GNP trongtừng thời kì.. Cuối cùng, chức năngphươn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA NGÂN HÀNG – TÀI CHÍNH
- -BÀI TẬP NHÓM TÀI CHÍNH QUỐC TẾ NÂNG CAO
§Ò tµi: Vị thế của đồng USD qua các thời kì
Trang 2Mục lục
Phần 1: cơ sở lý thuyết 3
1 Tiền tệ và chức năng của tiền tệ 4
1.1 Khái niệm tiền tệ 4
1.2 Chức năng tiền tệ 4
1.2.1 Chức năng phương tiện giao đổi 5
1.2.2 Chức năng thước đo giá trị 6
1.2.3 Chức năng phương tiện tích lũy 6
2 Chức năng tiền tệ quốc tế 7
2.1 Chức năng phương tiện trao đổi quốc tế 9
2.1.1 Cơ sở lý thuyết 9
2.1.2 Độ trễ của việc chuyển đổi phương tiện thanh toán quốc tế 13
2.2 Chức năng thước đo giá trị quốc tế 14
2.3 Chức năng phương tiện tích lũy quốc tế 17
3 Hệ thống tiền tệ quốc tế 18
3.1 Khái quát hệ thống tiền tệ quốc tế 18
3.2 Phân loại hệ thống tiền tệ quốc tế 19
Phần 2: vai trò của đồng dollar qua các thời kì 21
1 Lịch sử đồng dollar 21
2 Đồng dollar trong thời kỉ bản vị vàng 22
3 Đồng dollar trong thời kì hai đại chiến thế giới 23
4 Đồng dollar trong chế độ Bretton Woods hay chế độ bản vị dollar.25 4.1 Hoàn cảnh ra đời của Bretton Woods 25
4.2 Nguyên tắc hoạt động của Bretton Woods 28
4.3 Vị thế của đồng dollar trong hệ thống Bretton Woods 30
4.3.1 Chức năng thước đo giá trị 31
4.3.2 Chức năng làm phương tiện tích lũy 31
4.3.3 Chức năng làm phương tiện trao đổi 35
5 Đồng dollar trong thời kì hậu chế độ Bretton Woods 35
5.1 Giá trị đồng dollar từ 1973-nay 35
5.1.1 Chỉ số USD index 35
5.1.2 Giá trị đồng dollar giai đoạn 1980-1985 37
5.2 Vị thế đồng dollar từ 1973-nay 44
5.2.1 Dollar với vai trò là phương tiện giao đổi quốc tế 44
5.2.2 Dollar với vai trò là thước đo giá trị quốc tế 47
Trang 35.2.3 Dollar với vai trò là phương tiện tích lũy quốc tế 50
6 Vị thế đồng dollar trong tương lai 56
6.1 Quan hệ đồng dollar-nhân dân tệ: liệu có xảy ra chiến tranh tiền tệ 57 6.1.1 Vị thế của đồng nhân dân tệ 57
6.1.2 Tương quan giữa đồng nhân dân tệ và dollar 60
6.2 Quan hệ đồng dollar-euro: liệu đồng euro có thay thề vị trí đồng dollar 68 6.2.1 Sự hình thành đồng euro 68
6.2.2 Tương quan của đồng euro với đồng dollar 71
Phần 3: vị thế của đồng dollar trong nền kinh tế Việt Nam 77
1 Tổng quan về thực trang dollar hóa ở Việt Nam 77
2 Biểu hiện dollar hóa trong nền kinh tế Việt Nam 78
3 Tác động tình trạng dollar hóa tại Việt Nam 81
Trang 4Phần 1: cơ sở lý thuyết
1 Tiền tệ và chức năng của tiền tệ
1.1 Khái niệm tiền tệ
Sự ra đời của tiền tệ gắn liền với quá trình phát triển của sản xuất vàlưu thông hàng hóa Trong thời kì đầu của chế độ cộng sản nguyên thủy, vớicông cụ sản xuất thô sơ, sản xuất chỉ nhằm tự cung tự cấp, khối lượng sảnphẩm ít ỏi Khi đời sống cộng động phát triển, ý thức phân công lao độngđược hình thành và lượng sản phẩm dư thừa làm nảy sinh quan hệ giao đổigiwuax các thị tộc Trong giai đoạn này, trao đổi mang tính ngẫu nhiên vàđược thực hiện bằng cách trực tiếp H-H’ Đây là một bước tiến lớn để xã hộicông xã thoát khỏi tình trạng tự cung tự cấp Tuy nhiên, hình thức mua bánnày có nhiều điểm bất tiện Hai bên trao đổi mua bán phải có nhu cầu phùhợp về hàng hóa, khối lượng hàng hóa, và phải thống nhất được tỷ lệ giá trịhàng hóa trao đổi Hình thức này chỉ phù hợp trong giai đoạn nền sản xuấtcòn sơ khai và quan hệ trao đổi chưa mở rộng Khi năng suất lao động đượcnâng cao và hàng hóa trên thị trường trở nên phong phú và đa dạng, người takhông giao đổi trực tiếp mà đặt ra vật trung gian làm phương tiện trao đổi:H- vật trung gian- H’ Ban đầu vật trung gian được chọn là những hàng hóamang nét đặc trung phổ biến của từng vùng, sau đó đó vật trung gian là mộtloại hàng hóa chung, được chấp nhận phổ biến Vật trung gian đó trở thànhtiền tệ
Trang 5Tiền tệ đã tồn tại dưới nhiều hình thức từ dạng hóa tệ, kim tệ (vàng
và bạc), và ngày nay chủ yếu là thời đại của tiền giấy và tiền ngân hàng làloại tiền hoàn toàn dựa trên sự tín nhiệm mà không có vật đảm bảo
1.2 Chức năng tiền tệ
1.2.1 Chức năng phương tiện giao đổi
Tiền thực hiện chức năng này khi đóng vai trò là phương tiện đápứng cho nhu cầu lưu thông hàng hóa và các quan hệ giao dịch khác trong đờisống kinh tế, xã hội Để thực hiện chức năng này tiền phải được lưu thôngtức là phải được trao và được nhận trong quan hệ: H-T-H’ Chức năng nàycủa tiền bao gồm sự có mặt của tiền trong quan hệ mua bán trả tiền ngay (T
và H vận động song song), trong những quan hệ mua bán chịu (T và H vậnđộng tách rời) và ngay cả những quan hệ thành toán khác như thanh toánlương, nộp thuế…
Chức năng phương tiện trao đổi là chức năng cơ bản của tiền tệ Nókhông chỉ giúp chúng ta phân biệt giữa tiền với những tài sản khác nhưchứng khoán, bất động sản mà còn biểu hiện một trạng thái động của tiền tệkhi bộc lộ bản chất kinh tế vốn có Thực hiện chức năng này, tiền tệ đã tạođiều kiện cho quan hệ trao đổi hàng hóa trở nên thuận tiện Giả sử không cótiền tệ, chúng ta sẽ quay lại với hình thức trao đổi sản phẩm trực tiếp và nhưvậy việc hao phí thời gian khi phỉa kiếm tìm một nhu cầu phù hợp về sảnphẩm trao đổi là tất nhiên, điều này sẽ làm hạn chế quá trình lưu thông hànghóa, đặc biệt trong điều kiện kinh tế có chuyên môn hóa cao và phân cônglao động ngày càng sâu sắc
Đối với người sản xuất, khi hàng hóa tiêu thụ được nghĩa là chuyển
từ hình thái H sang hình thái T cho thấy hàng hóa sản xuất ra được thị
Trang 6trường chấp nhận, giá trị hàng hóa được thực hiện Mặt khác, giúp cho ngườisản xuất bảo tồn được giá trị sản phẩm không bị xâm thực do điều kiện tựnhiên Với lượng tiền tệ đang sở hữu người ta có thể chuyển đổi ra bất kìmón hàng hóa nào để thỏa mãn nhu cầu Nói cách khác tiền tệ đã tạo mộtkhả năng thanh toán tức thì và đây chính là ý nghĩa thiết thực của tiền tệtrong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay
1.2.2 Chức năng thước đo giá trị
Với chức năng này, tiền tệ trở thành thước đo chung để biểu thị và
so sánh giá cả của tất cả hàng hóa, từ đó làm cho đời sống kinh tế được đơngiản hóa Bởi lẽ, trong nền kinh tế phát triển với sự tham gia của hàng nghìnmặt hàng trên thị trường, nếu không có một đơn vị thanh toán chung người
ta sẽ tốn nhiều thời gian để xác định những quan hệ tỷ lệ giữa các hàng hóavới nhau khi muốn thực hiện trao đổi Khi có một đơn vị thanh toán chung,người ta không chỉ quy định được mức giá hiện tại mà còn dự đoán cả giá trịtương lai Mặt khác, thông qua việc biểu hiện giá trị bằng thước đo chung,tiền tệ còn tạo điều kiện để người ta có thể so sánh, đánh giá và lựa chọn cácloại hàng hóa trên thị trường
Vận dụng chức năng này của tiền tệ đã giúp cho các doanh nghiệp
có thể hạch toán tổng hợp chi phí sản xuất , tính giá thành sản phẩm và qua
đó đánh giá hiệu quả kinh doanh để chọn phương án đầu tư thích hợp Hơnnữa, ở tầm vĩ mô trong hệ thống kế toán quốc gia, đồng tiền với chức năngthước đo giá trị đã được vận dụng để tính toán tổng mức GDP, GNP trongtừng thời kì Từ đó, ngoài việc phục vụ cho qua trình phân phối tổng sảnphẩm quốc dân, tiền tệ còn giúp chúng ta đánh giá được hiệu quả của nềnkinh tế để có chiến lược khai thác và sử dụng hợp lý
1.2.3 Chức năng phương tiện tích lũy
Trang 7Đồng tiền không chỉ được sử dụng cho chi tiêu mà còn được thựchiện tích lũy để đề phòng rủi ro trong tương lai hoặc tích lũy để tiêu dùng,nghĩa là ta muốn chuyển nhu cầu tiêu dùng từ thời điểm này sang thời điểmkhác Trước đây, trong chế độ lưu thông tiền kim loại, người ta tích lũy tiền
tệ như một dạng của cải xã hội nên việc chôn dấu kim loại quý trong chum,
lọ là phổ biến Ngày nay, khi các doanh nghiệp có nhu cầu đầu tư mở rộngsản xuất , dân cư có nhu cầu mua sắm sản phẩm có giá trị cao, người tathường tích lũy dưới dạng tiền tiền giấy hoặc số dư trên tài khoản kí quỹ ởngân hàng Chức năng tiền tệ là phương tiện tích lũy cho phép người sở hữu
nó dự trù một sức mua cho các giao dịch tương lai
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, chức năng tích lũy này không chỉ có ởtiền tệ mà phần lớn các tài sản dạng động sản, vật trang sức, chứng khoánđều có thể đóng vai trò lưu trữ giá trị, thậm chí trong một số trường hợp nhưnền kinh tế có phạm phát thì tích lũy một số dạng tài sản khác có tính ưu việthơn tiền mặt Mặc dù vậy, đồng tiền thực hiện chức năng đã tạo điều kiệnlưu giữ một khả năng sử dụng ngay tức khắc (tính thanh khoản), trong khicác dạng dự trữ tài sản khác đòi hỏi thời gian và chi phí giao dịch khi cầnchuyển sang tiền để sử dụng
2 Chức năng tiền tệ quốc tế
Cũng như bất kì loại tiền tệ nào, một đồng tiền quốc tế cũng có 3chức năng chính: được dùng để thanh toán hoạt động thương mại và tàichính quốc tế, dùng để xác định giá cả, được tích trữ làm đồng tiền dự trữquốc tế Nếu xét trên giác độ của chủ thể tham gia thị trường tài chính quốc
tế, đồng dollar có 6 chức năng Đồng dollar được sử dụng làm phương tiệnthanh toán trong những giao dịch tư nhân hoặc làm phương tiện để ngân
Trang 8hàng trung ương mua bán để điều tiết tỷ giá Thước đo giá trị thể hiện ở việcnhiều hợp đồng thương mại quốc tế được định giá bằng đồng dollar và một
số nước neo đồng tiền của mình vào đồng dollar Cuối cùng, chức năngphương tiện tích lũy được thề hiện ở việc chính phủ các nước tích trữ đồngdollar hoặc các giấy tờ có giá bằng đồng dollar làm dự trữ quốc tế và cánhân dùng đồng dollar để đảm bảo giá trị tài sản của mình (một nguyên nhân
có thể dẫn tới hiện tượng dollar hóa)
Chức năng của
tiền
Chính phủ (ngân hàng trungương)
nhiều đồng tiền
Xác định giá trị các hoạtđộng thương mại và tàichính
Phương tiện tích
lũy
Dự trữ quốc tế Đồng tiền thay thế (đô la
hóa)
Trong từng trường hợp cụ thế, việc phân tích những chức năng này
có thể được tiến hành theo chiều ngang hoặc chiều dọc Trong chế độ bản vịvàng, vàng thực hiện chức năng của tiền đối với chính phủ( vàng là cơ sởxác định giá trị của các đồng tiền trên thế giới, vàng dùng làm dự trữ quốc tế
và chính phủ dùng vàng để điều chỉnh tỷ giá) và đồng bảng Anh( sterling)thực hiện chức năng của tiền đối với cá nhân trong nền kinh tế Trong cơ chế
tỷ giá “con rắn trong hang” của các đồng tiền châu Âu vào giữa những năm
70, các đồng tiền được neo giá lẫn nhau tuy nhiên đồng dollar vẫn đượcdùng làm phương tiện can thiệp của chính phủ và làm dự trữ quốc tế Thậmchí chúng ta có thể tách biệt chức năng phương tiện trao đổi và thước đo giá
Trang 9trị Một ví dụ rất nổi tiếng là quốc gia vùng vịnh Persian năm 1974 đã ấnđịnh giá dầu của họ với đồng dollar nhưng lại chỉ chấp nhận thanh toán bằngđồng bảng Anh.
2.1 Chức năng phương tiện trao đổi quốc tế
Đối với tư nhân, vai trò làm phương tiện trao đổi quốc tế của mộtđồng tiền thể hiện bằng việc nó được dùng phổ biến trong việc thanh toángiao dịch quốc tế Nếu phân theo chủ thể tham gia giao dịch, giao dịch quốc
tế có thể chia thành 3 loại: thanh toán giữa những tổ chức phi tín dụng vớinhau, thanh toán giữa tổ chức tín dụng và tổ chức phi tín dùng, và thành tóangiữa các tổ chức tín dùng
Quan hệ giữa các tổ chức phi tín dụng với nhau chủ yếu là hoạt độngkinh doanh quốc tế Ở đây, đồng dollar đóng vai trò thước đo giá trị: xácđịnh giá trị của các hợp đồng giao dịch, và sẽ được đề cập trong phần 2.Trong quan hệ giữa các tổ chức phi tài chính và tổ chức tài chính, đồngdollar không đóng vai trò đặc biệt nào Một ngân hàng ở Thụy Điển có thểbán đồng kronor (curon) để lấy đồng pesetas (đồng tiền của Tây Ban Nha)hoặc ngược lại và không có sự tham gia gì của đồng USD Đồng dollar thểhiện chức năng phương tiện thanh tóan của mình là trong quan hệ thanh tóanliên ngân hàng “Gần như tất cả hoạt động giao dịch liên ngân hàng nào, dùchủ thể tham gia ở trong nước hay quốc tế, đều có sự liên quan đến việc muabán đồng usd lấy một đồng tiền nước ngoài khác Điều này đúng ngay cả khimột ngân hàng dự định mua đồng mark bằng đồng bảng.” (Kubarych 1978,p.18)
Đối với chính phủ phương tiên thanh toán của đồng tiền quốc thểđược họ sử dụng để can thiệp vào thị trường liên ngân hàng Ngay cả cộng
Trang 10đồng chung châu Âu cũng phải dùng đến đồng dollar để can thiệp tỷ giátrong hệ thống tiền tệ của mình.
2.1.1 Cơ sở lý thuyết
Để hiểu rõ hơn việc quá trình dùng đồng tiền chung làm phương tiêntrao đổi quốc tế, ta xét mô hình 3 quốc gia
Hình 1: mô hình thành toán giữa 3 quốc gia
Nguồn: the international role of dollar, Paul Krugman
Giả sử thế giới chỉ bao gồm 3 quôc gia: A, B và C Mỗi quốc gia cóđồng bản tệ tương ứng là , , Hình 1.a thề hiện sự thanh toán thế giới
Pab, Pbc, Pca là giá trị cuối cùng của hoạt động kinh tế quốc tế, đo lường cùngmột đơn vị và được coi là cân bằng song phương Vậy việc thanh toán đượcthực hiện như thế nào? Khả năng thứ nhất, được thể hiện ở hình 1.b, rằng
Trang 11việc thanh toán được tiến hành trực tiếp Cả ba đồng bản tệ đều được sửdụng trong giao dịch Trong trường hợp đó, số lượng giao đổi ở mỗi thịtrường đều đúng bằng gía trị thanh toán cuối cùng Tuy nhiên, nếu nước A làđối tác buôn bán và đầu tư rất lớn của nước B và C và giá trị của quan hệkinh tế với A lớn hơn rất nhiều quan hệ của B và C: Pab, Pca >>Pbc Trongtrường hợp đó, việc giao đổi đồng và đồng sẽ tiết kiệm hơn nếu thôngqua đồng , và việc thanh toán sẽ giống như hình 1.c Việc thanh toán giántiếp này làm mở rộng thị trường đối với đồng và tăng cuờng thêm lợi thếcủa nó trên thị trường tiền tệ quốc tế Đồng trở thành phương tiện trao đổiquốc tế.
Tiếp theo, ta nghiên cứu thế giới bao gồm N quốc gia Việc xem xétthế giới với N quốc gia làm có phần phức tạp hơn nhưng những nguyên tác
cơ bản vẫn không thay đổi Có 2 khả năng trong sự phát triển của hệ thốngtiền tệ quốc tế Thứ nhất, đồng tiền của một quốc gia từ chỗ là một đồng bản
tệ trở thành phương tiện thanh toán quốc tế thông qua hiệu ứng “bóngtuyết” Thế giới sử dụng chung một phương tiện thanh toán Thứ hai, hệthống tiền tệ thế giới trở thành đa cực với những khu vực sử dụng chung mộtphương tiện giao đổi
Trong trường hợp thứ nhất, hiện tượng “bóng tuyết” có thể được giảithích bằng ví dụ sau Giả sử thế giới bao gồm rất nhiều quốc gia nhỏ, mộtvài quốc gia lớn, trong đó chỉ có một quốc gia nhỉnh hơn những quốc giacòn lại Dễ thấy, việc thanh toán quốc tế giữa những quốc gia lớn sẽ sử dụngtrực tiếp đồng tiền của họ và việc thanh toán của những quốc gia nhỏ sẽ sựdụng gián tiếp đồng tiền của quốc gia lớn nhất (như trong mô hình ba quốcgia) Điều này dẫn tới việc thị trường sử dụng tiền tệ của nước lớn nhất nàyđược mở rộng, phạm vi ảnh hưởng của đồng tiền này lớn dần Khi tầm ảnhhưởng của đồng tiền này phát triển đến một mức độ nhất định, việc thanh
Trang 12toán giữa những quốc gia lớn với nhau lại tuân theo mô hình ba quốc gia vàđồng tiền của quốc gia lớn nhất sẽ trở thành đồng tiền thế giới Điều nàygiúp giải thích được quá trình hình thành vị trí thống trị của đồng bàng Anhtrong quan hệ kinh tế quốc tế
Trường hợp thứ 2, thế giới hình thành nhiều cực; nhiều đồng tiền sẽđược sử dụng đồng thời làm phương tiện thanh tóan quốc tế Xét quan hệcủa 5 quốc gia A, B, C, D, E có đồng bản tệ lần lượt , , , , Giá trị cầnthanh toán giữa năm quốc gia là Pab, Pbc, etc và việc thanh toán ở từng thịtrường là T, T, etc Nếu quốc gia A, B là những quốc gia lớn tươngđương nhau, đồng tiền của 2 nước sẽ được sử dụng làm phương tiện thahtoán cho những nước có quan hệ kinh tế gần gũi Từ đó, hình thành nên khuvực sử dụng tiền tệ của từng nước Trong “khu vực alpha” (nước A và C)việc thanh toán đều thông qua đồng và “khu vực beta” (nước B và E) việcthanh toán đều thông qua đồng Nước D không thuộc khu vực nào nên cóthế thanh toán thông qua cả 2 thị trường và Đồng tiền của quốc gia A
và B đều trở thành đồng tiền thanh toán quốc tế Hệ thống tài chính quốc tế
có 2 cực - Cấu trúc lưỡng cực trong việc thanh tóan quốc tế đã từng tồntại trong thời kì chiến tranh thế giới với hệ thống dollar-sterling (bảng Anh)
và được hứa hẹn là tương lai của hệ thống thanh toán quốc tế
Hình 2: mô hình thanh toán đa cực
Trang 13Nguồn: the international role of dollar, Paul Krugman
2.1.2 Độ trễ của việc chuyển đổi phương tiện thanh toán quốc tế
Nếu sự lựa chọn một đồng tiền làm phương tiện thanh toán là kếtquả của phạm vi giao dịch đồng tiền đó và nếu một đồng tiền được chọn làmphương tiện thanh toán tự nó mở rộng thị trường, thì sự lựa chọn phươngtiện thanh toán có thể tự tồn tại Có nghĩa là khi một đồng tiền của một nước
đã được chấp nhận làm phương tiện thanh tóan toàn cầu thì tự nó sẽ có khảnăng duy trì vị thế của mình cho dù việc giao dịch quốc tế của quốc gia đó bịgiảm sút Khi một thị trường giao dịch của một đồng tiền quốc tế được hìnhthành, chi phí của nó sẽ ngày được giảm xuống và để chuyền sang thanhtoán bằng một đồng tiền khác phát sinh thêm chi phí Hệ quả là việc thay đổiphương tiện thanh tóan chỉ xảy ra khi quy mô giao dịch đã thay đổi hoàntoàn và việc chuyển đồng tiền thanh tóan mang lại lợi ích lớn hơn khỏan chiphí mới phát sinh Bởi vậy, việc lựa chọn phương tiện thanh toán khó có
“sức ỳ” rất lớn Nói cách khác, khi một sự chuyển dịch từ một đồng tiền nàysang đồng tiền khác xảy ra, nó sẽ tồn tại trong một khoảng thời gian dài
Trang 14Đồng tiền được lựa chọn làm phương tiện thanh toán quốc tế là hệ quả của
cả lịch sử và hiện tượng trễ (hysteresis)
Điều này lý giải nguyên nhân đồng bảng Anh vẫn tiếp tục là đồngtiền thanh toán quốc tế cho dù nền kinh tế nước Anh đã không còn giữ vị trí
số một Năm 1914, khi chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra đã làm rạn nứt hệthống thanh tóan bằng đồng bảng và tạo cơ hội cho đồng dollar, cũng nhưđối thủ của nó lúc đó: đồng franc Pháp, nổi lên Tuy nhiên, chúng khôngngay lập tức thay thế được đồng bảng, thậm chí cho đến cuối những năm 40,
vị thế đồng bảng có vẻ vẫn lấn áp được đồng dollar Ngay cả khi đã thànhlập hệ thống Bretton Woods vào năm 1944, đồng dollar cũng chưa được sủdụng rộng rãi như đồng bảng Mãi đến tận cuối những năm 60, đầu nhữngnăm 70, đồng bảng mới biến mất trên bản đồ thế giới vào Việc đồng bảngvẫn duy trì được vị thế thống trị của mình qua hơn nửa thế kỉ sau khi nướcAnh mất vị trí nền kinh tế hàng đầu thế giới là một minh chứng ấn tượng chotính ỳ của việc lựa chọn một đồng tiền làm phương tiện chuyển đổi
2.2 Chức năng thước đo giá trị quốc tế
Đối với chính phủ, đồng tiền quốc tế còn là một thước đo giá trị củađồng tiền bản tệ Trong thời kì Bretton Woods, phần lớn các đồng tiền trênthế giới đều được biểu hiện qua đồng dollar Hiện nay, chỉ còn một số lượngrất ít những nước có nền kinh tế nhỏ vẫn duy trì chế độ tỷ giá này do việccác quốc gia trên thế giới từ bỏ chế độ tỷ giá cố định, áp dụng chế độ tỷ giáthả nổi hoàn toàn hoặc có điều tiết
Đối với tư nhân, chức năng thước đo giá trị của đồng tiền quốc tế thểhiện ở việc nó xác định được giá trị các hoạt động kinh tế quốc tế Tronghoạt động thương mại giữa hai quốc gia, việc xác đinh giá trị hợp đồng
Trang 15thường được ưu tiên sử dụng đồng tiền của quốc gia xuất khẩu Bảng 1 chobiết tỷ lệ sử dụng đồng nội tệ trong việc xác định giá trị của hợp đồng xuất
và nhập khẩu theo thứ tự giá trị kim ngach xuất khẩu của các nước trên thếgiới Có thể thấy, đồng nội tệ được ưu tiên cho việc định giá hàng xuất khẩu.Phạm vi giao dịch quốc tế của quốc gia càng lớn thì đồng nội tệ quốc gia nàycàng được sử dụng nhiều hơn Nhật là trường hợp đặc biêt Mặc dù kimngach xuất khẩu quốc gia này đứng thứ 2 thế giới nhưng do chính sách chínhtrị của Nhật không để đồng Yên trở thành đồng tiền quốc tế nên hợp đồnggiao dịch của Nhật được xác định bằng đồng dollar
Bảng 1: đồng tiền định giá hợp động thương mai quốc tế
Nguồn: Page (1977), Rao and Magee (1980)
Tuy nhiên, trong thực tế, nhiều nước lại thích sử dụng đồng tiền củamột nền kinh tế lớn Trong trường hợp đó, đồng tiền của một quốc gia mạnh,
có phạm vị giao dịch rộng sẽ có lợi thế trở thành thước đo giá trị thế giới
Hình 3 chỉ ra cách quyết định lựa chọn đồng tiền định giá hoạt độngkinh tế quốc tế Các nước trên thế giới được phân thành 4 loại: Mỹ, những
Trang 16nước nhiều lợi thế, những nước ít lợi thế, và những nước LDC Hình mũi tênchỉ hướng xuất khẩu
Hình 3: mô hình lựa chọn tiền tệ trong hoạt động thương mại quốc tế
Nguồn: the international role of dollar, Paul Krugman
McKinnon đã đưa ra cụm từ “khu thương mại I”( Tradables I) và
“khu thương mại II”( Tradables II) để giải thích thêm cho quyết định sửdụng đồng tiền nào cho việc định giá giá trị hàng xuất/ nhập khẩu Khuthương mại I chỉ những sản phẩm có tính đặc thù riêng và việc mua bánđược xác định bằng đồng tiền của nước xuất khẩu và chỉ bằng đồng tiền củanước nhập khẩu chi trong trường hợp nước nhập khẩu có nền kinh tế lớn rấtnhiều hơn nước xuất khẩu Khu thương mại II là những sản phẩm thốngthường, được buôn bán trên thị trường quốc tế và thường được định giá bằngđồng dollar
Để kinh doanh tốt với một hợp đồng được định giá bằng đồng tiềnnước ngoài, công ty phải rất thông thạo hoạt động trên thị trường ngoại hối
Trang 17để đảm bảo gía trị hợp đồng không bị giảm Trong trường hợp khu thươngmại I, người xuất khẩu thường là một công ty sản xuất một sản phẩm đặcthù; giá của nó thường được định bằng đồng nội tệ Bởi vậy một chiến lượcgiá thông thường đủ để giữ giá đồng nội tệ cố định Trong trường hợp đấy,chỉ có người nhập khẩu phải lo lắng về sự biến động tỷ giá trên thị trườngngoại hối Người xuất khẩu trong khu thương mại II, ngược lại, bán sảnphẩm mà giá của nó phụ thuộc chủ yếu vào thị trường thế giới Tất cả hợpđồng mua bán sản phẩm này được định bằng cùng một đồng tiền trên toànthế giới, không xét trường hợp hợp đồng bao gồm tỷ giá của hợp đồng tươnglai Trong trường hợp này, đồng tiền dùng làm phương tiên trao đổi thế giớiđược sử dụng chủ yếu
Kindleberger đã sử dụng sự giống nhau giữa tiền và ngôn ngữ đểgiải thích về chức năng này của đồng dollar Nếu bạn muốn giao tiếp vớimột người nước ngoài, một hoặc cả 2 người phải học một ngôn ngữ nướcngoài Nếu người bạn của bạn đến từ một quốc gia lớn và bạn là công dâncủa một quốc gia nhỏ, 2 người sẽ có xu hướng sử dụng ngôn ngữ của ngườibạn kia Nếu cả 2 người đều đến từ một quốc gia nhỏ, 2 người sẽ sử dụngngôn ngữ quốc tế Nếu một thương nhân Hà Lan và một thương nhân ngườiĐức hợp tác kinh doanh, họ có thể tạo hợp đồng bằng tiếng Đức và định giábằng đồng mark Nếu một thương gia Hà Lan hợp tác với một thương giaBrazil, hợp đồng của họ có nhiều khả năng được viết bằng tiếng Anh và sửdụng đồng dollar Lập luận trên có vẻ khá lỏng lẻo tuy nhiên lại là cách giảithích dễ hiểu về việc sử dụng đồng dollar trong các hợp đồng kinh doanhquốc tế Những phân tích sâu hơn là không cần thiết cho phạm vi nghiêncứu
2.3 Chức năng phương tiện tích lũy quốc tế
Trang 18Ngân hàng trung ương các nước thường có một tỷ lệ dự trữ quốc tế.
Ở nhiều quốc gia trên thế giới khoản dự trữ này tồn tại dưới dạng giấy tờ cógiá bằng dollar như tài khoản tiền gửi nước ngoài, trái phiếu chính phủMỹ…Tư nhân cũng chuyển tài sản của mình ra những đồng tiền mạnh khác
để đảm bảo giá trị tài sản của mình, trong đó dollar được sử dụng phổ biến
Chức năng này là hệ quả tất yếu của hai chức năng trên Khi mộtđồng tiền được tin dùng là phương tiện giao đổi và thước đo giá trị, tínhthanh khoản của có được đảm bảo Điều đó có nghĩa là khỏan dự trữ bằngdollar của ngân hàng có thể ngay lập tức được chuyền sang một ngoại tệkhác nều ngân hàng có nhu cầu Điều đó cũng có nghĩa là bất kể khoản dựtrữ nào cũng có thể chuyền thành dollar để phục vụ cho việc can thiệp củangân hàng trên thị trường ngoại hối Với những nước lớn, quá trình nàyđược tiến hành rất nhiều Họ mua và bán đồng dollar với các đồng tiền khác
để tác động lên không chỉ đồng nội tệ mà còn lên tiền tệ của các nước khác.Theo những quyết sách chính trị, mà những nước liên kết ở châu Âu (banđầu là chế độ tỷ giá con rắn trong hang và sau đó là EMS) đã liên tục dự trữđồng dollar chứ không phải là đồng tiền của nhau
Tuy nhiên, trong chế độ tỷ giá thả nổi hiện nay, ngay cả giá trị củađồng tiền quốc cũng không đảm bảo Bởi vậy, cả chính phủ lẫn người dânđều đang có xu hướng đa dạng hóa tài sản của mình nên đồng tiền thế giới(hiện nay là đồng dollar) giảm dần vị thế độc tôn trong chức năng này
3 Hệ thống tiền tệ quốc tế
3.1 Khái quát hệ thống tiền tệ quốc tế
Trang 19Các mối quan hệ kinh tế quốc tế nói chung và các quan hệ kinh tếđối ngoại của các quốc gia nói riêng bằng cách này hay cách khác đều đượcbiểu hiện thông qua các quan hệ tiền tệ Từ đây đã hình thành nên hệ thốngtiền tệ Hệ thống tiền tệ là tập hợp các quy tắc, thể lệ và tổ chức nhằm tácđộng tới các quan hệ tài chính - tiền tệ giữa các quốc gia trên thế giới Domỗi hệ thống tiền tệ ra đời và chỉ vận hành có hiệu quả trong những điềukiện thích hợp về kinh tế, chính trị và xã hội nhất định nên khi những điềukiện này thay đổi sẽ dẫn tới sự sụp đổ của hệ thống tiền tệ Cho đến nay đã
có năm hệ thống tiền tệ được sử dụng, bao gồm: chế độ bản vị vàng, hệthống Giơ – Noa, hệ thống Bretton Woods (còn gọi là chế độ bản vị USD),
hệ thống Giamaica, và chế độ bản vị SDR
3.2 Phân loại hệ thống tiền tệ quốc tế
Hệ thống tiền tệ quốc tế phát triển qua 2 giai đoạn chính: giai đoạn lưu thông tiền kim loại và giai đoạn lưu thông tiền giấy
Chế độ lưu thông tiền kim loại bao gồm
Chế độ lưu thông đơn bản vị là chế độ chỉ sử dụng một thứ kim loại làm vật ngang giá chung Cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa, các kim loại được chọn làm bản vị cũng thay đổi từ kim loại kém giá trịđến kim loại quý
Chế độ lưu thông song bản vị là chế độ tiền tệ trong đó hai thứ kim loại quý là vàng và bạc đều được chọn làm vật ngang giá chung Sự tồn tại cả vàng lẫn bạc trong giao dịch đã áp dụng phổ biến trong những năm đầu thế kỉ 19 tại Pháp, Thụy Sĩ, Bỉ, Mỹ và Ý
Chế độ bản vị vàng là chế độ tiền tệ trong đó vàng được chọn làm kim loại tiền tệ Chế độ này được xem như hình thái cổ điển của chế độ
Trang 20tiền đúc bằng vàng và cũng là chế độ đặc trung cho chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh.s Khoảng đầu thế kỉ 20, chế độ tiền tệ này đã phổ biến ở hầu hết các nước
Chế độ lưu thông tiền giấy bao gồm
Chế độ bản vị Anh xuất phát từ tình hình các nước đều bị giảm
dự trữ vàng do phải chi dùng cho chiến tranh thế giới thứ nhất nên đều không có khả năng duy trì chế độ bản vị vàng Hội nghị thanh toán quốc tế được tổ chức tại Gie-nơ (Ý) đã đề ra phương án xây dựng chế độ bản vị dựa trên đồng bản Anh( ₤) Theo chế độ tiền tệ này, các nước công nhận đồng ₤
là đồng tiền dự trữ và thanh toán quốc tế Đồng tiền các nước khác mang tính chất phụ thuộc , nghĩa là việc phát hành và lưu thông ngoài cơ sở bằng vàng có thể dựa trên có sở đảm bảo bằng ₤.Ngoài ra , với ưu thế là chủ nợ các nước châu Âu, $ được thừa nhận là đồng tiền quốc tế, làm đối trọng với đồng ₤
Chế độ Bretton Woods là chế độ tỷ giá cố định trong đó đồng tiền các nước được định xác định giá so với đồng USD ở một tỷ lệ xác định
và đồng USD được đảm bảo bằng vàng với tỷ lệ 35$/ounce Các nước cam kết duy trì tỷ giá của mình với đồng USD với biên độ giao động là ±1% Tổ chức tiền tệ quốc tế IMF được thành lập để giáp sát và hỗ trợ các nước duy trì tỷ giá này
Chế độ lưu thông hiện đại là các quốc gia tự quyết định chính sách tỷ giá của mình Sau khi Bretton Woods sụp đổ, tỷ giá được thả nổi theo thị trường Các quốc gia có thể lựa chọn chính sách tỷ giá cố định: buộcchặt đồng tiền của nước mình vào đồng tiền của một nước khác, chính sách
tỷ giá thả nổi có điều tiết hoặc thả nổi hoàn toàn
Trang 21Phần 2: vai trò của đồng dollar qua các thời
kì
1. Lịch sử đồng dollar
Sự hình thành của đồng dollar được bắt nguồn từ khoảng 1690,trước khi nước Mỹ ra đời mà chỉ gồm những vùng thuộc địa VịnhMasachusetts là nơi đầu tiên sử dụng đồng giấy bạc để thanh toán chi phíquân đội, sau đó các vùng thuộc địa khác nhanh chóng bắt chước
Vương quốc Anh đặt rất nhiều luật về việc sử dụng tiền tệ của thuộcđịa và sau đó cấm hẳn thứ tiền này Vào năm 1775, khi các thuộc địa chuẩn
bị khai chiến với Anh, đại hội châu lục (Continential Congress) cho ra đờiđồng tiền chung của châu lục (Continential currency) Tuy nhiên đồng tiềnnày không tồn tại lâu vì không đủ tiềm lực tài chính và dễ bị làm giả
Sau đó, quốc hội đặc cách thành lập ngân hàng quốc gia đầu tiên ởPhiladephia, ngân hàng Bắc Mỹ (the Bank of North America) để hỗ trợ tàichính cho chính phủ Đồng dollar được chon trở thành đơn vị tiền tệ của Hoa
Kì vào năm 1785 Đạo luật đúc tiền (Coinage Act) năm 1792 đã giúp thốngnhất việc đúc tiền vàng, bạc và tiền xu đang được vận hành Năm 1861, giấybạc xanh (greenbacks) được Abraham Lincoln đưa vào hệ thống tiền tệ vào
để hỗ trợ tài chính cho cuộc nội chiến Nam-Bắc Việc in tiền xanh được cảitiến, bao gồm con dấu của bộ tài chính và chữ kí được khắc sâu vào đồngtiền để phân biệt với đồng tiền giả Vào năm 1863, quốc hội Mỹ thống nhất
hệ thống ngân hàng trong nước và cho phép bộ tài chính Mỹ giảm sát việcphát hành giấy bạc của ngân hàng trung ương Điều này đã trao cho các ngân
Trang 22hàng quốc gia quyền phát hành tiền và mua trái phiếu chính phủ dễ dàng hơnvẫn bị kiểm soát
Đạo luật cục dự trữ liên bang (Federal Reserve) năm 1913 đã cho rađời ngân hàng trung ương nước Mỹ giúp cho việc điều hành hoạt động ngânhàng trong nước một cách đồng bộ, phù hợp với những thay đổi của hệthống tài chính Mỹ Cục dữ trữ liên bang cho ra đời một loại tiền tệ mới làtiền giấy dự trữ liên bang (Federal Reserve Note) Tờ tiền đầu tiên được in radưới dạng tờ 10 dollar vào năm 1914 Sau đó, hội đồng quản trị của cục dựtrữ liên bang quyết định giảm kích thước của tiền 30% để giảm chi phí intiền Kích thước và thiết kế của đông dollar được giữ nguyên cho đến nay
Hiện nay, ngoài Mỹ còn có một vài quốc gia nhỏ bị dollar hóa hoàntoàn; sử dụng dollar như đồng tiền chính thức của quốc gia Những nước đólà: quần đảo Virgin British, East Timor, Ecuador, El Salvador, quần đảoMarshall, liên bang Mỉconesia, Palau, Panama, quần đảo Pitcairn, và quầnđảo Turks và Caicos
2. Đồng dollar trong thời kỉ bản vị vàng
Trước chiến tranh thế giới thứ nhất, nền kinh tế thế giới được vậnhành dưới chế độ bản vị vàng Đồng tiền của mỗi quốc gia đều được quy đổithành vàng theo một tỉ lệ nhất định Chế độ này tạo ra một hệ thống tỷ giá cốđịnh Đồng tiền của một nước có thể được trao đổi với một đồng tiền khácvới một tỉ lệ không đổi, phụ thuộc vào giá trị của từng đồng tiền với vàng
Tỷ giá cố định thúc đẩy thương mại quốc tế bằng cách lọai bỏ hoàng toàn rủi
ro tỷ giá Tuy nhiên hệ thống này có 2 nhược điểm Thứ nhất, dưới chế độbản vị vàng, các nước chủ động kiểm soát chính sách tiền tệ vì số lượng tiềnđược quyết đình bởi số lượng vàng nước đó dự trữ được Thứ hai, chính sách
Trang 23tiền tệ của tất cả các nước đều phụ thuộc vào việc khai thác ở các mỏ vàng.Vào những năm 70, 80 ở thế kỉ 19, khi việc khai thác vàng giảm sút làmnguồn cung tiền trên toàn cầu tăng quá chậm so với tốc độ tăng trường kinh
tế Hậu quả là giảm phát xảy ra Sau đó, mỏ vàng lớn được khám phá ởAlaska và Nam Phi vào những năm 90 làm lượng cung tiền tăng quá nhanhvào gây ra lạm phát Chế độ bản vị vàng bắt đầu sụp đổ khi chiến tranh thếgiới thứ nhất nổ ra và chính thức chấm dứt khi hệ thống Bretton Woods rađời vào năm 1944
Trong chế độ bản vị vàng, đồng bảng Anh (sperling) là đồng tiềnđược sử dụng rộng rãi nhất, đựoc coi là đồng tiền quốc tế lúc bấy giờ .Thống kê cho thấy có từ 60 đến 90% giao dịch quốc tế trong thế kỉ 19 sửdụng đồng bảng Năm 1899, tỷ lệ dự trữ đồng bảng Anh của các tổ chứcchính thức giao dịch trên thị trường ngoại hối gấp đôi tổng tỷ lệ của 2 đồngFranc và đồng Mark Có thể nói, vàng được chính phủ các nước dùng cíhnhthức để thực hiện những chức năng của tiền tệ (dự trữ quốc tế, mua bán đểcan thiệp vào thị trường và định giá đồng tiền nước mình), và khu vực tunhân dùng đồng bảng để thực hiện những chức năng tiền tệ (định giá hoạtđộng kinh tế, thanh toán, và bảo đảm giá trị tài sản)
Trong khoảng thời gian này, đồng usd chỉ có vai trò là đồng bản vịcủa nước Mỹ
3. Đồng dollar trong thời kì hai đại chiến thế giới
Năm 1914, đại chiến thế giới thứ nhất nổ ra buộc các nước chấm dứtchuyển đổi đồng tiền của mình ra vàng Hệ thống tỷ giá cố định thời kì bản
vị vàng phải nhường chỗ cho chế độ tỷ giá thả nổi Chính phủ các nước thayđổi chính sách tiền tệ tài trợ cho chiến tranh làm cho lạm phát bùng nổ Do
Trang 24Mỹ tham chiến muộn và trung tâm chiến tranh xảy ra ở châu Âu là cho lạmphát của châu Âu lớn hơn nhiều so với Mỹ Kết quả là sức cạnh tranh của
Mỹ tăng lên nhanh chóng, đồng dollar dẫn xây dựng được vị thế trong hệthống tiền tệ thế giới
Hình 4: kim ngạch xuất khẩu của Mỹ và Anh trong giai đoạn
1900-1956
Nền kinh tế Mỹ từ 1872 đã vượt Anh về quy mô nhưng phải đếnnăm 1915, kim ngạch xuất khẩu Mỹ mới có thể vượt Anh, sau đó tăng mạnhtrong suốt thời kì chiến tranh Cùng với sự phát triển của xuất khẩu, từ 1914trở đi, Mỹ chuyền dần từ vị trí người đi vay sang người cho vay Thêm vào
đó, trong khi các nước thả nổi đồng tiền của mình, Mỹ vẫn duy trì tỷ giá củadollar với vàng Dollar trở thành đồng tiền duy nhất chuyển đổi sang vàngtrong những năm 20
Trang 25Tất cả các yếu tố trên đã xây dựng cho vị thế là phương tiện chuyểnđổi và phương tiện tích lũy quốc tế của đồng dollar Dollar được sử dụngmột cách rộng rãi trong những hoạt động tài chính và thương mại quốc tế.Tài sản ghi bằng đồng dollar trở thành một danh mục đầu tư hấp dẫn Trongthời gian này, đồng dollar không có chức năng làm thước đo gía trị vì mặc
dù giữ được tỷ lệ cố định so với vàng, nhưng vì các đồng tiển khác đều đươcthả nổi nên thực chất dollar cũng được thả nổi so với những đồng tiền khác
Tuy nhiên, trong thời kì đại chiến thế giới, đồng bảng Anh vẫn giữđược vị trí cao nhất trong hệ thống tiền tệ quốc tế Bất chấp việc nền kinh tếAnh ngày càng tụt hậu, Anh từ người cho vay trở thành con nợ của Mỹ, mấtsức mạnh quân sự và nguồn nguyên liệu rẻ từ các nước thuộc địa, etc, đồngbảng Anh vẫn thực hiện cả 3 chức năng tiền tệ quốc tế Trong vị thế là đồngtiền dự trữ quốc tế, đồng bảng vẫn được tin dùng Cho đến tận những năm
1940, giá trị của những giấy tờ có giá bằng bảng vẫn gấp 2 giá trị nhữnggiấy tờ có giá bằng USD Đây là hệ quả sức ỳ hay độ trễ của quyết địnhdùng một đồng tiền quốc tế (phân tích mục 1 phần lý thuyết) Vị thế làmphương tiện thanh toán vẫn được duy trị có sự cạnh tranh mạnh của đồngdollar và đồng franc Đại suy thoái 1930 xảy ra chia hệ thống tiền tệ thế giớithành những khối tiền tệ không liên kết trong đó 2 khối lớn nhất là khốiđồng bảng Anh và khối đồng dollar làm đối trọng của nhau
4. Đồng dollar trong chế độ Bretton Woods hay chế độ bản vị dollar
4.1 Hoàn cảnh ra đời của Bretton Woods
Trang 26Hệ thống Bretton Woods ra đời khi chiến tranh thế giới thứ 2 sắp đếnhồi kết thúc Năm 1944, 730 đại diện cho 44 nước đồng minh đến dự hộinghị tài chính-tiền tệ liên hiệp quốc tổ chức tại khách sạn MountWashington, New Hampshire, Mỹ Nhằm xây dựng một thế giới hòa bình và
ổn định sau chiến tranh, các nhà lãnh đạo đã thống nhất với nhau những vấn
đề chính và từ đó cho ra đời hệ thống tiền tệ quốc tế mới: hệ thống BrettonWoods Những vấn đề chung đã thống nhất là:
Thứ nhất, thế giới cần một hệ thống tiền tệ quốc tế mới thay thế chế
độ bản vị vàng cũ Chiến tranh thế giới thứ nhất đã phá hủy chế độ bản vịvàng Sau đó, nhiều quốc gia đã nỗ lực khôi phục lại chế độ bản vị vàng nhưtrước chiến tranh thế giới Ví dụ như, vào đầu những năm 20 thế kỉ 20, một
số nước châu Âu dự định khôi phục chế độ bản vị vàng nhưng lượng vàngcủa họ không đủ và phản ứng rất chậm so với những thay đổi của thị trường.Trong những năm chiến tranh, các quốc gia in tiền liên tục để đáp ứng chiphí chíến tranh khổng lồ sinh những đồng tiền không được bảo đảm và gây
ra lạm phát Sau đó, họ lại thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ quá mức vàcạnh tranh gay gắt với nhau về lượng vàng dự trữ đã dẫn đến đại suy thái(the Great Inflation) những năm 1930 và sự sụp đổ hoàn toàn của chế độ bản
vị vàng
Thứ hai, hệ thống tiền tệ thế giới cần phải duy trì tỷ giá ổn định.Cuộc đại suy thoái năm 1930 là bài học lớn về hậu quả của chính sách tỷ giábất ổn Trong nhưng năm 30, hầu hết các nước đều từ bỏ chế độ bản vị vànglàm cho đồng tiền bản tệ không được bảo đảm Do nạn thất nghiệp tràn lan
và Mỹ ra tăng áp lực buộc phe đồng minh phải hoàn trả các khoản nợ, khiếncho nhiều nước ra sức giảm giá đồng tiền của mình để thúc đẩy xuất khẩu.(chính sách này còn gọi là “ăn xin của nước làng giếng”- “beggar thyneighbour”) Tuy nhiên, khi nước chủ nhà có lợi thì một quốc gia khác sẽ bi
Trang 27thiệt Bởi vậy, khi một nước giảm giá đồng tiền của mình lập tức bị mộtnước khác trả đũa bằng hành động tương tự Chiến lược này có thể giúp cácquốc gia tăng dự trữ quốc tế trong ngắn hạn nhưng lại gây ra hiều hậu quảtrong trung và dài hạn Việc cạnh tranh đó đã gây ra vòng xoáy giảm pháttrên thế giới, thu nhập quốc nội sụt giảm mạnh, thất nghiệp tràn lan, thươngmại quốc tế gần như bị đông cứng Trong những năm 30, thưong mại quốc
tế chỉ diễn ra trong từng khối tiền tệ- gồm những quốc gia dùng chung mộtđồng tiền ví dụ như khối đồng bảng Anh gồm vuơng quốc Anh và một sốnước thuộc địa Tỷ giá liên tục thay đổi, đồng tiền các nước không đượcđịnh giá đúng làm cho rủi ro giao dịch quốc tế quá lớn
Thứ ba, các nhà lãnh đạo cũng đồng quan điểm rằng cần giảm bớtnhững rào cản kinh tế Cordell Hull, bộ trưởng bộ ngoại giao Hoa Kì, là mộttrong những người chỉ ra mối liên hệ này Ông đã từng phát biểu: “ Sự giaothương tự do sẽ kéo theo hòa bình; thuế cao, hàng rào thuế quan nặng nề, vàmôi trường cạnh tranh bất bình đẳng sẽ tạo ra chiến tranh…nếu chúng ta có
tự do hơn trong lưu thông hàng hóa…bỏ bớt những cản trở, phá rối, và khácbiệt…thì một quốc gia có thể sẽ không trở nên ganh ghét với những quốc giakhác và mức sống của tất cả các quốc gia đều được nâng lên Những điều đó
sẽ loại bỏ nhiều bất mãn kinh tế, cái mà đã khơi mào ra chiến tranh Nhờ đóchúng ta có cơ hội được hưởng một nền hòa bình mãi mãi.”
Thứ tư, các nước thống nhẩt rằng hệ thống tiền tệ mới cần có sự canthiệp của chính phủ Những hậu quả của đại suy thoái 1930 đã làm tạo ranhu cầu có một nền kinh tế tăng trưởng bền vững và việc làm ổn định, cái
mà khó có thể đạt được nếu không có sự điều tiết vĩ mô của chính phủ.Thêm vào đó, những lý thuyết kinh tế của trường phái Keynes ra đời củng
cố thêm sự cần thiết của việc can thiệp của chính phủ vào hoạt động kinh tế.Tuy nhiên, sự can thiệp sâu của chính phủ vào nền kinh tế có thể dẫn đến sự
Trang 28phân cực mạnh khi các quốc gia đặt lợi ích dân tộc lên trên hết Cuộc đại suythoái 1930 là hệ quả của việc các nước không hợp tác với nhau để đạt đượcnhững mục tiêu chung mà hành động đơn lẻ, tự phát dẫn tới cuộc canh tranhgiảm giá đồng tiền, tạo ra sự sụp đổ của hệ thống bản vị vàng, bất ổn trongchính trị từng quốc gia, và chiến tranh thế giới Bài học được rút ra qua nhânxét của Harry Dexter White: “Sự thiếu vắng những liên kết kinh tế ở mứccao ở những quốc gia phát triển … chắc chắn sẽ gây ra cuộc chiến kinh tế,màn mở đầu và nguyên nhân chính của chiến tranh quân sự trong phạm vịlớn hơn.” Bởi vậy các quốc gia tham dự hội nghị đã đồng ý sự can thiệp củachính phủ phải được tiến hành đồng bộ và thống nhất trên phạm vi quốc tế.
4.2 Nguyên tắc hoạt động của Bretton Woods
Trên cơ sở những vấn đề chung thống nhất được, Mỹ đề nghị một hệthống tiền tệ quốc tế trong đó các nước cam kết sẽ hợp tác chặt chẽ việc intiền để đảm bảo một tỉ giá cố định giữa các nước tạo điều kiện cho thươngmại quốc tế được tiến hành dễ dàng hơn, làm giảm thuế và các hàng rào thuếquan Nhiều nhà kinh tế học cho rằng chính sách tiền tệ được đảm bảo bằngvàng sẽ ngăn chặn được việc chính phủ in tiền vượt quá nhu cầu của nềnkinh tế Hơn nữa, Hoa Kì lúc đó đóng góp một nửa năng lực sản xuất của thếgiới và hơn 75% dự trữ vàng, các nhà lãnh đạo quyết định thiết lập hệ thốngtiền tệ quốc tế là chế độ tỷ giá cố dịnh nhưng có thể điều tiết Mỗi đồng tiềnquốc gia được ấn định một tỷ giá trung tâm với USD và được phép giaođộng trong biên độ 1% Trong khi đồng dollar được cố định với vàng với
tỉ lệ 35 dollar = 1 ouce vàng Thực chất, hệ thống tiền tệ thế giới mới cũnggiống như hệ thống bản vị vàng nhưng đồng dollar được dùng làm đồng tiềnquốc tế thay cho vàng
Trang 29Hội nghị cũng đồng thời thành lập hai tổ chức quốc tế mới là Quỹtiền tệ quốc tế IMF( International Monetary Fund) và ngân hàng tái thiết vàphát triển quốc tế IBRD(International Bank for Reconstruction andDevelopment), được gọi tắt là ngân hàng thế giới WB( World Bank) Nhiệm
vụ của IMF là theo dõi và giám sát Bretton Woods, còn nhiệm vụ ban đầucủa WB là trợ giúp công cuộc tái thiết những nền kinh tế châu Âu bị chiếntranh tàn phá Trong thực tế, WB được bao gồm hai tổ chức là IBRD và hiệphội phát triển quốc tế IDA( International Development Association) Hiệphội có vai trò huy động vốn từ nước giàu để cho vay lại các nước nghèo kémphát triển với những điều kiện ưu đãi về lãi suất Một tổ chức thứ ba là công
ty tài chính quốc tế IFC( International Finance Corporation) IFC được gắnvới WB và cung cấp các dịch vụ về đánh giá rủi ro trong đầu tư cho cácthành phần kinh tế tư nhân củâ các nước đang phát triển
Mỗi quốc gia được yêu cầu duy trì tỷ giá trung tâm của đồng bản tệvới USD, nhưng trong trường hợp cán cân thanh toán quốc tế( nhấn mạnhvào cán cân vãng lai) bị mất cân đối cơ bản thì có thể tiến hành phá giá haynâng giá đồng tiền Trong trường hợp tỷ giá thay đổi ở mức nhỏ hơn 10% thìIMF không có ý kiến can thiệp Nhưng nếu thay đổi ở mức cao hơn thì phải
có sự chấp thuận của IMF Khả năng thay đổi tỷ giá trung tâm là giải phápcuối cùng nhắm giúp cân bằng BP
Theo thỏa ước về IMF, các quốc gia thành viên phải can kết chuyểnđổi không hạn chế nội tệ đối với các giao dịch vãng lai Quy định này cónghĩa là chính phủ các nước vẫn có thể sử dụng các biện pháp khác nhau đểkiểm soát chu chuyển vốn, nhưng không được ngăn cản các công dân nướcmình cũng như công dân nước ngoài mua bán nội tệ để sử dụng vào giaodịch vãng lai Hay nói cách khác, cam kết chuyển đổi đồng bản tệ chỉ có giátrị đối với các giao dịch trên tài khoản vãng lai chứ không có giá trị đối với
Trang 30các giao dịch trên tài khoản vốn Tính không bắt buộc chuyển đổi đối vớicác giao dịch vốn đã tạo ra sự hoài nghi bao trùm rằng di chuyển vốn sẽ lànguyên nhân của bất ổn tiểm năng
IMF có nhiệm vụ đảm bảo cho hệ thống chế độ tỷ giá cố định hoạtđộng một cách trơn tru và hiệu quả, nói cách khác là giảm tối thiểu nhu cầuphá giá và nâng giá đồng tiền các quốc gia thành viên bằng cách cung cấpcho mỗi quốc gia thành viên một hạn mức tín dụng thường xuyên để tài trợcho thâm hụt tạm thời của BP Độ lớn của mức hạn chế tín dụng này tỷ lệvới tầm quan trọng của nền kinh tế và được phản ành bằng tỷ trọng đónggóp của quốc gia đó vào IMF Cơ cấu đóng góp của mỗi quốc gia như sau:1/ 4 là bằng tài sản dự trữ (chủ yếu là bằng vàng) và 3/ 4 bằng đồng bản tệ.Như vậy, IMF đã có một lượng tiền trong tay để cho vay những nước đangđối mặt với khó khăn về BP Mỗi quốc gia khi có khó khăn về BP đượcquyền tự động rút lần 1 bằng 25% hạn mức tín dụng Sau đó, chỉ những quốcgia chấp nhận chính sách kinh tế khắc khổ do IMF đề ra sau mỗi lần rút vốn
sẽ có quyền rút vốn 4 lần tiếp theo, mỗi lần 25% Như vậy, mỗi quốc gia cóthể rút tín dụng tối đa bằng 125% hạn mức tín dụng Những điều kiện để rútvốn 4 lần sau goi là điểu kiện rút vốn IMF và chúng thường bao gồm một hệthống các giải pháp của IMF nhắm hoàn thiện BP của quốc gia thành viên.Khi rút vốn, mỗi thành viên dùng đồng bản tệ của mình mua tài sản dự trữ(thông thường là dollar) Mọi khoản vay từ IMF đều phải được hoàn trảtrong thời hạn từ 18 tháng đến 5 năm, và việc hoàn trả được tiến hành bằngviệc quốc gia thành viên dùng tài sản dự trữ để mua lại đồng bản tệ củamình
4.3 Vị thế của đồng dollar trong hệ thống Bretton Woods
Trang 314.3.1 Chức năng thước đo giá trị
Trong hệ thống Bretton Woods, chức năng làm thước đo giá trị đượcchính phủ các nước chính thức hóa bằng việc quy định các đồng tiền của cácnước thành viên trong hệ thống đều được định giá qua đồng dollar và đượccam kết duy trì tỷ giả trung tâm với độ dao động không quá 1%
Bảng 2: tỷ giá một số đồng tiền các nước với đồng dollar
Thời gian Đồng tiền (nước) Tỷ giá (so với 1$ US)
Nguồn: giáo trình tài chính quốc tế
Tuy nhiên, đối trên thị trường, chức năng thước đo giá trị không ưutiên cho dollar Thâm chí cho đến những năm 60, việc tính toán giá trị củahợp đồng buôn bán không ưu tiên đồng dollar
4.3.2 Chức năng làm phương tiện tích lũy
Chức năng làm phương tiện tích lũy của đồng dollar ngày càng pháttriển, và cuối cùng trở thành một trong những nguyên nhân chính gây ra sựsụp đổ của hệ thống Bretton Woods
Tháng 3 năm 1947, khi chế độ Bretton Woods chính thức được đưavào hoạt động, nhìn chung các đồng tiền chưa được tự do chuyển đổi Các
Trang 32nước rơi vào tình trạng thiếu hụt lớn lượng dollar cần thiết trong khi cán cânthương mại của Mỹ lại thặng dư lớn Các ngân hàng trung ương trên thếgiới, đặc biệt là khu vực châu Âu, đều không có đủ lượng dự trữ dollar cầnthiết Để Bretton Woods được hoạt động, Mỹ phải có trách nhiệm đưa đồngdollar được sử dụng trên toàn cầu
Từ 1947 đến 1958, USD được đưa ra thế giới dưới dạng nhữngchương trình hỗ trợ kinh tế của Mỹ: gói viện trợ cho Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kìtheo học thuyết Truman nhằm lật đổ cách mạng cộng sản, gói viện trợ chonhững nước đang phát triển ủng hộ Mỹ, gói cứu trợ Marshall cho việc táithiết châu Âu Từ năm 1948 đến 1954, Mỹ đã cung cấp cho 16 nước Tây Âu
17 tỷ dollar Vào năm 1958, Tây Âu đã tích tụ đủ lượng dollar cần thiết đểtiến hành tự do chuyển đổi đồng tiền của mình Bretton Woods hoạt độngtrơn tru nên mặc dù đầu những năm 50, BP của Mỹ bắt đầu thâm hụt vớiĐức và Nhật nhưng không hề gây lo ngại
Tuy nhiên, việc ngân hàng trung ương các nước liên tục dự trữdollar tạo ra những bất ổn và làm cho Bretton Woods sụp đổ Năm 1960,trong tác phẩm “Gold and the Dollar crisis”, Robert Triffin đã chỉ ra rằngthương mại quốc tế phát triển sẽ làm tăng dự trữ ngoại hối quốc tế mà chủyếu là USD Dự trữ ngoại hối quốc tế tăng chỉ có thể xảy ra khi mà BP của
Mỹ phải thâm hụt và BP của các nước khác thặng dư Hơn nữa, do BP thặng
dư nên các nước phải tiếp tục mua dollar để ngăn chặn đồng tiền nước mìnhtăng giá làm xói mòn sức cạnh tranh hàng hóa xuất khẩu Điều này đặt Mỹvào tình huống khó xử Một mặt, nếu Mỹ dùng các biện pháp hạn chế sựthâm hụt BP sẽ dẫn đến thiếu hụt dữ trữ quốc tế như những năm 1947 làmcho hệ thống Bretton Woods không hoạt động và gây giảm phát toàn cầu.Mặt khác, nếu Mỹ cứ để mặc cho BP của mình thâm hụt sẽ xói mòn lòng tinvào dollar Một khi chính phủ Mỹ bộc lộ mất khả năng chuyển đổi USD
Trang 33sang vàng theo mức giá $35/ ounce thì các ngân hàng, thay vì dự trữ dollar,
sẽ đổi dollar sang vàng Đến khi lượng vàng không đủ, chính phủ Mỹ sẽphải từ chối việc chuyển đổi vàng và dẫn đến sự sụp đổ của Bretton Woods
Thực tế diễn ra như tiên đóan của Triffin Cuối những năm 60, BPcủa Mỹ liên tục thâm hụt Những khỏan chi cho chiến tranh Việt Nam làmcho BP của Mỹ xấu đi Lòng tin vào dollar Mỹ bị giảm sút Các ngân hàngtrung ương bắt đầu chuyển dần dự trữ sang vàng, lượng vàng của nước Mỹliên tục bị chảy ra khỏi biên giới
Trang 34Nguồn: giáo trình tài chính quốc tế
Thêm vào đó là việc đầu cơ khốc liệt đồng dollar đã gia tăng áp lựcbuộc tổng thống Mỹ Nixon phải chính thức tuyên bố đồng dollar khôngđược tiếp tục chuyển đổi sang vàng nữa vào ngày 15 tháng 8 năm 1971 Sau
đó, các nước đã nỗ lực phục hồi Bretton Woods nhưng đều thất bại Ngày 19tháng 3 năm 1973, khi thị trường ngoại hối mở cửa giao dịch trở lại thì đồngtiền các nước châu Âu đã liên kết cùng thả nổi đối với đồng USD BrettonWoods chính thức sụp đổ
4.3.3 Chức năng làm phương tiện trao đổi
Chế độ Bretton Woods đã đưa đồng dollar trở thành đồng tiền traođổi quốc tế Đây là hệ quả tất yếu của 2 chức năng trên Khi đồng dollarđược sử dụng làm thước đo các đồng tiền khác và làm dự trữ quốc tế, hoạtđộng thanh toán quốc tế tất yếu sẽ ưu tiên dùng đồng dollar Hơn nữa, sauchiến tranh, nhiều nước, đặc biệt là khu vực Tây Âu có nhu cầu rất lớn vềnhập khẩu từ Mỹ trang thiết bị máy móc, nguyên vật liệu phục vụ cho côngcuộc tái thiết nền kinh tế Nhờ đó, thương mại của Mỹ ngày càng mở rộnglàm tăng phạm vị sử dụng USD
5. Đồng dollar trong thời kì hậu chế độ Bretton Woods
5.1 Giá trị đồng dollar từ 1973-nay
Trang 35Chỉ số USD liên quan đến 17 nước (trong đó có 12 nước trong khuvực sử dụng đồng Euro và 5 nước khác với tiền tệ thể hiện bằng chỉ số USD)
có giao dịch thương mại lớn với Mỹ, những nước này đồng thời có thịtrường ngoại hối phát triển mạnh với tỷ giá hối đoái điều chỉnh tùy theonhững đối tượng tham gia vào thị trường Chỉ số USD được tính 24h/ngày, 7ngày/tuần Bởi vì chỉ số USD được tính toán dựa trên giá trị tỷ lệ ngoại hối,chỉ số này nhiều khi có thể khác với giá trị tính toán sử dụng dữ liệu từnhững nguồn khác.17 quốc gia chỉ chiếm một phần nhỏ trên thế giới song rấtnhiều đồng tiền khác phải theo sát chỉ số Dollar U.S Chính điều này khiếnUSDX trở thành công cụ rất tốt để đo lường sức mạnh toàn cầu của đồngDollar U.S
Giá trị khởi đầu của USDX là 100 vào năm 1973 Nếu hiện nay,USDX là 86.212 nghĩa đồng Dollar đã rớt 13.788% kể từ lúc khởi đầu của
Trang 36chỉ số (86.212 – 100.000) Nếu USDX là 120.650 nghĩa là giá trị của đồngDollar đã tăng 20.650% kể từ lúc khởi đầu của chỉ số (120.650 – 100.000)
USDX được tính bằng một công thức hết sức phức tạp và đòi hỏitính chặt chẽ cao
USDX = 50.14348112 x EUR/USD^(-0.576) x USD/JPY^(0.136) x
GBP/USD^(-0.119) x USD/CAD^(0.091) x USD/SEK^(0.042) x
USD/CHF^(0.036)
Hình 5: biểu đồ chỉ số USD từ năm 1973-2010
Từ năm 1973 đến nay, USD index biến đổi liên tục đáng chú ý nhất
là giai đoạn tăng giá mạnh 1980-1985, giai đoạn sụt giảm liên tục 2002-nay
5.1.2 Giá trị đồng dollar giai đoạn 1980-1985
Trang 37Trong khoàng thời gian từ tháng 1 năm 1980 đến tháng 3 năm 1985đồng USD không ngừng tăng giá Tỷ giá danh nghĩa cũng như tỷ giá thựccủa USD tăng gần 50%.
Nguyên nhân chính khiến cho đồng USD tăng giá mạnh mẽ là dochính sách vĩ mổ của Mỹ và các nước châu Âu được điều chỉnh khác nhau.Các ngân hàng châu Âu áp dụng chính sách thắt chặt đồng thời cả tiền tệ lẫntài khóa Trong khi đó, Mỹ áp dụng chính sách thắt chặt tiền tệ nhưng nớilỏng tài khóa Kết quả là thâm hụt ngân sách tăng từ $16 tỷ năm 1979 lênđến $204 tỷ năm 1986 Chính sách mở rộng tài khóa quá mức làm cho mứclãi suất thực của Mỹ cao hơn của châu Âu, dẫn đến luồng vốn đổ vào Mỹngày càng lớn Nhờ đó, giá trị của đồng USD ngày càng được nâng cao
Tuy nhiên, việc USD tăng giá cũng gây nhiều bất lợi cho Mỹ Trướchết, đó là sự thu hẹp các ngành sản xuất hàng xuất khẩu cũng như các ngànhsản xuất hành cạnh tranh với hàng nhập khẩu, dẫn đến cán cân vãng lai của
Mỹ xấu đi rõ rệt Trước tình hình đó, Quốc hội Mỹ kêu gọi phải áp dụngbiện pháp bảo hộ nhằm chống đỡ với hàng hóa các nước bạn Nhật và cácnước châu Âu ngày càng chịu áp lực từ gia tăng bảo hộ từ phía Mỹ cho rangnguyên nhân chính gây ra thâm hụt cán cân thương mại của Mỹ là do thâmhụt ngân sách, và kêu gọi Mỹ thắt chặt chính sách tài khóa Những tranhchấp này được giải quyết bằng hiệp định Plaza
Tháng 5 năm 1985, hiệp định Plaza được hình thành Nội dung củahiệp định nói lên rằng tỷ giá của USD không phản ành đúng thay đổi của cácthông số kinh tế cơ bản Chính phủ Mỹ cam kết sẽ giảm thâm hụt ngân sách
và Nhật sẽ tìm kiếm các biện pháp kích cầu nền kinh tế Các nước cam kếthợp tác với nhau chặt chẽ hơn nữa để khiến cho USD tiếp tục giảm giá Đểlàm được điều này, các chính phủ mua mark, yên vào và bán dollar ra
Trang 38Sau hiệp định Plaza, dollar giảm giá liên tục theo chiều thằng đứngtrong suốt năm 1986 Giá trị dollar giảm nhanh đến mức năm 1987, cácnước G-7 tiến hành họp tại Paris công bố hiệp định Louvre Hiệp định nóirằng, chính phủ các nước đã can thiệp để dollar giảm đáng kể và các tỷ giá
đã phản ánh được các thông số kinh tế cơ bản Chính phủ các nước cũngthỏa thuận sẽ hợp tác chặt chẽ với nhau để duy trì mức tỷ giá giao động hợp
lý xung quanh tỷ giá trung tâm Trong hiệp định, các nước đặt ra mục tiêuduy trì sự giao động tỷ giá USD với mark và yên trong biên độ 5% Tuynhiên, thảo thuận này không được công bố
Sau hiệp đinh Louvre, tỷ giá được duy trì tương đối ổn định
5.1.3 Giá trị đồng dollar giai đoạn 2002-nay
5.1.3.1 Diễn biến giá trị đồng dollar trong giai đoạn từ 2002-nay
Sau sự kiện 11/9/2001, đồng dollar liên tục mất giá và chạm đáy vàonăm 2009, hậu quả của khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007 xuất phát từ
Mỹ Từ năm 2002 đến nay, đồng dollar đã mất giá trên 20%
Trong thời gian qua, đồng USD giảm giá kỷ lục so với các đồng tiềnchủ chốt cũng như so với các đồng tiền châu Á khác Kể từ đầu năm 2007tới nay, đồng USD nhìn chung đã mất giá khoảng 16%.Trong giai đoạn từtháng 7 đến tháng 9/2007, giá trị đồng USD đã giảm 5,4% so với đồng Euro
và giảm 6,8% so với đồng yên Nhật Đồng USD liên tục xuống dốc khôngphanh trong những tháng cuối năm 2007 Đồng USD đã thực sự đạt đượcmột dấu mốc khi nó vượt cả mức thấp nhất so với đồng Mark Đức hồi đầunăm 1995, tương đương với khoảng 1,455-1,457 USD/Mark và đồng Eurotăng lên với 1 Euro đổi được 1,48 USD Đồng đôla Canada (CAD) đã tănglên mức cao nhất trong gần nửa thế kỷ qua so với đồng USD, tương đươngvới 1 CAD đạt xấp xỉ 1,05 USD Đồng Bảng Anh đã có lúc tăng lên 2,0317USD/bảng Anh - mức cao nhất kể từ năm 1981
Trang 39Trên các thị trường châu Á, đồng USD liên tục giảm giá so với đồngbaht Thái Lan và đạt ngưỡng 34 Baht/USD - mức thấp nhất kể từ saucuộc khủng hoảng tài chính năm 1997-1998 Đồng Peso của Philippinescũng đã tăng lên mức cao nhất trong 7 năm qua so với đồng USD, trong khiđồng dollar Singapore tăng cao nhất kể từ 10 năm nay Tại Ấn Độ, đồngRupee tăng 12% so với đồng USD trong năm Còn đồng Rupiah củaIndonesia, đồng Won của Hàn Quốc, đồng đôla Đài Loan đều tăng mạnh sovới đồng USD Đồng Nhân dân tệ (NDT) của Trung Quốc liên tục lập cácmức cao kỷ lục mới trong nhiều phiên giao dịch liên tiếp Nếu tính từ đầunăm đến nay, đồng NDT đã 67 lần lập mức cao kỷ lục và tăng tổng cộngtrên 4% Đồng đôla Australia (AUD) cũng đã tăng lên 0,9023 USD/AUD -mức cao nhất trong 23 năm qua
5.1.3.2 Nguyên nhân của sự sụt giảm giá trị đồng dollar
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến giá các đồng tiền, đặc biệt là tầmảnh hưởng của thâm hụt ngân sách, chính sách lãi suất trên khắp thế giới, sựmất cân đối thương mại, những điểm khác biệt về tăng trưởng kinh tế vàchính sách kiểm soát tiền tệ
Nguyên nhân đầu tiên dẫn tới sự sụt giảm giá trị đồng dollar là mứcthâm hụt ngân sách khổng lồ của Mỹ Sau sự kiện 11/9/2001, Mỹ liên tục bỏ
ra nhiều triệu dollar cho cuộc chiến chống khủng bố, và tiếp theo là thamchiến ở Trung Đông Việc nới lỏng chính sách tài khóa quá mức, cùng với
sự sụt giảm uy tín của Mỹ đã khiến cho giá trị của đồng dollar liên tục sụtgiảm
Đồng USD đã chịu sức ép trong 4 năm qua do tình trạng thâm hụt tàikhoản vãng lai của Mỹ Và gần đây là những lo ngại về lĩnh vực cho vay thếchấp yếu, gây tác động tiêu cực đến nền kinh tế lớn nhất thế giới này Mấtcân bằng trong cán cân thanh toán là vấn đề đáng lo ngại trong vòng 10 năm
Trang 40trở lại đây đối với nhiều nước Theo thống kê của IMF, thâm hụt cán cânbuôn bán của Mỹ trong năm 2006 tương đương 6% GDP, mức cao chưatừng có trong lịch sử nước này Trong khi đó, một số nước châu Á nhưTrung Quốc và Nhật Bản lại đạt thặng dư thương mại ngày càng lớn Năm
2006, thặng dư thương mại của Nhật Bản đạt 3,9% GDP, trong khi con sốnày của Trung Quốc là 9,4% GDP Các số liệu Hải quan Trung Quốc cũngcho biết khối lượng thặng dư mậu dịch của nước này trong 9 tháng đầu năm
đã lên tới 185,7 tỷ USD, vượt qua cả số lượng thặng dư mậu dịch của cảnăm 2006 (177,47 tỷ USD) Dự đoán thặng dư thương mại năm 2007 củaTrung Quốc sẽ tăng lên 250 - 300 tỷ USD Xu hướng thâm hụt thương mạikéo dài đã tạo nên áp lực khiến đồng USD tiếp tục giảm giá
Một nhân tố khác cũng có tác động đồng thời lên đồng USD là đầu
tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Đồng USD yếu đã kích thích luồng vốn lớn từnước ngoài đổ vào Mỹ Nhờ vào việc đồng Euro có sức mua mạnh, cácdoanh nghiệp trong khu vực Eurozone và Anh có thể đẩy mạnh chuyểnhướng đầu tư và mua lại các công ty Mỹ Năm 2000, khi người ta bắt đầu đềcập tới vấn đề đồng Euro yếu, châu Âu đã đầu tư 125 tỷ USD vào Mỹ dướidạng FDI Năm 2006, con số này đã giảm xuống chỉ còn 122 tỷ USD vàtrong 6 tháng đầu năm 2007 mới chỉ có 12,1 tỷ USD được giải ngân tronglĩnh vực này Trong khi đó, luồng FDI từ Mỹ sang châu Âu đã tăng từ 77 tỷUSD năm 2000 lên 127 tỷ USD năm 2006, và trong 6 tháng đầu năm 2007,con số này cũng đã đạt 85 tỷ USD Như vậy, tính từ năm 2006 đến nay,dòng vốn FDI có xu hướng chảy từ Mỹ sang châu Âu Và xu hướng nàycũng đã được kiểm chứng trên phạm vi toàn cầu khi mà trong 6 tháng đầunăm 2007, lượng vốn FDI vào Mỹ là 85 tỷ USD, trong khi lượng vốn chạy
ra khỏi Mỹ lại lên tới 150 tỷ USD Thêm vào đó là cán cân tài khoản vãng