1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Chiến lược phát triển đánh giá di truyền cho ngành chăn nuôi bò thịt ở các nước pot

210 230 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 210
Dung lượng 2,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bhuiyan 26 Hiện trạng và xu thế phát triển ngành thịt bò ở Trung Quốc Zeng Qingkun1, Yang Bingzhuang, Shang jianghua, vμ Qin Jing 32 Sản xuất thịt bò ở ấn Độ Kiran Singh 40 Chiến l−

Trang 1

Biªn tËp: Jack Allen and Ancharlie Na-Chiangmai

Trung t©m Nghiªn cøu N«ng nghiÖp Quèc tÕ ¤xtr©ylia

Canberra, 2002

Trang 2

Trung tâm nghiên cứu nông nghiệp quốc tế Ôxtrâylia (ACIAR) được Nghị viện Ôxtrâylia sáng lập vào tháng 6 năm 1982 Nhiệm vụ của ACIAR là giúp đỡ các nước đang phát triển giải quyết các khó khăn trong phát triển nông nghiệp; thúc đẩy hợp tác nghiên cứu giữa các nhà khoa học

Ôxtrâylia và các nước đang phát triển trong các lĩnh vực mà Ôxtrâylia đặc biệt có thế mạnh

Trung tâm Tin học Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (ICARD) là cơ quan trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam thực hiện nhiệm vụ tổng hợp, phân tích, cung cấp thông tin, xuất bản và phát hành các ấn phẩm nông nghiệp và phát triển nông thôn; quản lý thư viện ngành nông nghiệp Việt Nam và trang Web Agroviet

Bản dịch tiếng việt do Trung tâm tin học nông nghiệp và phát triển nông thôn (ICARD) thực hiện năm 2004, dưới sự cho phép của Trung tâm nghiên cứu nông nghiệp quốc tế Ôxtrâylia (ACIAR)

Kỷ yếu hội thảo ACIAR

Loạt ấn phẩm này bao gồm toàn bộ kỷ yếu hội thảo khoa

học hoặc hội nghị chuyên đề do ACIAR tổ chức hoặc tài trợ

ấn phẩm được phát hành tới một số tổ chức cá nhân và cơ

quan khoa học quốc tế

Trang 3

M.O Faruque and A.K.F.H Bhuiyan

26 Hiện trạng và xu thế phát triển ngành thịt bò ở Trung Quốc

Zeng Qingkun1, Yang Bingzhuang, Shang jianghua, vμ Qin Jing

32 Sản xuất thịt bò ở ấn Độ

Kiran Singh

40 Chiến l−ợc phát triển về đánh giá di truyền sản xuất thịt bò ở Inđônêxia

Andi Djạanegara vμ Kusuma Diwyanto

48 Báo cáo vùng: CHDCND Lào

Akhane Phomsouvanh

59 Chọn giống chăn nuôi bò thịt ở Malaysia

M.Aiff Omar

69 Các chiến l−ợc phát triển đánh giá di truyền về trâu và bò ở Pakistan

M.Sajjad Khan

71 Những chiến l−ợc phát triển đánh giá di truyền chăn nuôi bò thịt ở Pakistan

Nasrullah Panhwer vμ U.N Khan

Anura S Premasunderra

104 Chọn giống bò và trâu ở Sri Lanka

K.C Somapala

113 BREEDPLAN: Một cách khác để thử nghiệm thực địa trâu và bò ở Thái Lan

Sawat Thummabood

120 Nhân giống bò ở Việt Nam

Võ Văn Sự vμ Đặng Vũ Bình

126

Trang 4

4

Khái quát về BREEDLAN

Yodchai Tongthainan

170 BREEDPLAN: Một cách khác để thử nghiệm thực địa trâu và bò ở Thái Lan

Sawat Thummabood

173 Thiết kế chương trình chọn giống

Hans Graser

180 Quản lý bền vững tài nguyên di truyền trâu và bò thịt ở Châu á

D.E Steane, H Magner vμ V Khumnirdpetch

189

Dự án di truyền và giống bò thịt ở Việt Nam và hướng tương lai

Brian M Burns, Đặng Vũ Bình vμ Võ Văn Sự

Đại biểu các trường Đại học và tổ chức khác 230

Cán bộ Cục Phát triển chăn nuôi 232

Trang 5

Lời nói đầu

Cục phát triển chăn nuôi (DLD) của Thái Lan đặc biệt ưu tiên đến những nghiên cứu về cải thiện di truyền bò thịt và trâu đầm lầy Một chương trình giống quốc gia đã được thiết lập trong nhiều thập kỷ qua nhằm thúc đẩy ngành sản xuất thịt Ban đầu việc chọn lọc giống cho tỷ lệ tăng trưởng cao được tiến hành dựa trên một cuộc tổng kiểm tra về khả năng sản xuất Các đặc tính về tăng trưởng và sinh sản được các trạm trực thuộc DLD theo dõi trong suốt hơn 20 năm qua Vào năm 1993, Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế Ôxtrâylia (ACIAR) đã hỗ trợ kinh phí cho dự án AS1/1993/011 cho phép DLD cùng với Viện Nghiên cứu Kinh doanh Nông nghiệp (ABRI) xây dựng một hệ thống dữ liệu phục vụ cho công tác đánh giá và cải thiện di truyền

bò thịt và trâu ở Thái Lan Các dữ liệu trên máy tính sẽ được phân tích bằng một chương trình nhập liệu và phân tích về lý lịch giống/khả năng sản xuất mang tên group breedplan được sáng chế ở Ôxtrâylia bởi ABRI và Ban Di truyền và giống gia súc (AGBU) Các giá trị về giống của mỗi con vật nuôi thu được nhờ sử dụng một mô hình phân tích đa tính trạng trong phương pháp dự báo tuyến tính ngẫu nhiên (BLUP) khi đánh giá chéo đàn ảnh hưởng của các yếu tố về quản lý, tác

động về mặt môi trường và các yếu tố phi di truyền cũng được tính đến

Trọng tâm trước tiên của dự án ACIAR là cải thiện di truyền cho đàn bò thịt và trâu đầm lầy của Thái Lan thông qua chương trình giống quốc gia của chính phủ bằng cách ứng dụng chương trình breedplan ebvs để chọn lọc các giống ưu việt Sau này dld còn sử dụng các chương trình khác nhau để đưa các giống ưu việt này vào hệ thống chăn nuôi ở nông thôn

Hệ thống này hiện đang được dld mở rộng, bao gồm các dữ liệu thu được từ các làng xã

Điều này giúp các nông trại quốc doanh (nhà nước) sản xuất được giống bố mẹ mang đặc tính di truyền tốt để phát huy hiệu quả trong môi trường nông thôn Ngoài việc cải thiện khả năng di truyền của gia súc, chương trình còn được sử dụng để huấn luyện cho người nuôi về phương thức cải thiện giống đồng thời khuyến cáo dùng ebvs làm công cụ phục vụ cho công tác này Nhờ đó hy vọng ebvs sẽ được biết đến rộng rãi hơn và được sử dụng trong khâu thương mại giống

Việc đưa nông thôn tham gia vào chương trình giống sẽ giúp cho việc bảo tồn di truyền tại chỗ các giống trâu bò bản địa cộng với yếu tố vật tư đầu vào thấp và hệ thống chăn nuôi bền vững

sẽ giúp đáp ứng được nhu cầu về thịt bò của thị trường nội địa

Hội thảo được tổ chức nhằm tạo điều kiện cho Thái Lan có thể chia xẻ kinh nghiệm và thành quả với các nước Đông Nam á khác có cùng điều kiện sản xuất và mắc phải những khó khăn tương

tự với mục đích chia sẻ thông tin và giải pháp cũng như thúc đẩy hợp tác về giống và chăn nuôi bò thịt ở khu vực Đông Nam á

Hội thảo này sẽ không thể thực hiện được nếu thiếu sự hợp tác và hỗ trợ của aciar, dld, abri và các đại biểu của các nước tham dự hội thảo Những người tổ chức đặc biệt cám ơn tới:

Trang 6

6

• Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế Ôxtrâylia vì sự hỗ trợ đáng kể về tài chính,

• Dr Rapeepong Vondee, Tổng giám đốc DLD và đông đảo đội ngũ nhân viên của DLD đã

đóng góp đáng kể vào dự án ACIAR và hội thảo này

Các đề xuất tại hội thảo đã được xây dựng với sự tham gia tích cực của các đại biểu thuộc các nhóm Sự đóng góp này là vô cùng quý báu bởi 13 nước tham gia là đại diện của hơn 3.1 tỷ người, 382 triệu con bò và 152 triệu con trâu Những đề xuất này nhằm thúc đẩy hơn nữa sự hợp tác về chương trình giống trong khu vực Đông Nam á, không chỉ ở cấp độ các nhà nghiên cứu mà còn ở các cấp của chính phủ có ảnh hưởng sâu sắc đến vấn đề chính sách trong nước và giữa các quốc gia

Ancharlie Na – Chiangmai, Phụ trách Nhóm nghiên cứu trâu, DLD

Jack Allen, Giám đốc kỹ thuật, ABRI

Trang 9

Hội thảo Quốc tế về những chiến lược Phát triển

Đánh giá Di truyền để sản xuất thịt bò

ở các nước đang phát triểnKhuyến nghị

Các hệ thống đăng ký động vật là cần

thiết Các chương trình chọn giống động vật

cũng như việc giám sát và quản lý các

chương trình và các sáng kiến khác cần

phải có chúng Việc nhận diện động vật

một cách thường xuyên, rõ ràng và thống

nhất (đặc biệt đối với bò thịt và trâu) cần

thiết là sự đánh giá căn bản với việc nhận

diện đó phải tương hợp với những hệ thống

theo dõi định hướng trên máy tính Nên áp

dụng các hệ thống nhận dạng đơn giản và

hiệu quả hơn là các hệ thống đã có ở địa

phương - đặc biệt đối với động vật nằm

trong các chương trình cải tiến giống Các

kỹ thuật đo lường và xác định đặc điểm cần

được tiêu chuẩn hoá trong phạm vi một

quốc gia và giữa các quốc gia sao cho các

đặc tính chung nhất đều được theo dõi đầy

đủ Về mặt này, Uỷ ban Quốc tế về Đăng

ký Động vật (ICAR) có thể là cơ quan trợ

giúp hữu ích

Các chương trình chọn giống và quản lý

giống quốc gia chú trọng mạnh tới cấp sản

xuất làng xã có thể sẽ mang lại sự đánh giá

quan trọng Các chương trình này cần có

mục tiêu xác định rõ ràng với sự cam kết

lâu dài từ phía chính phủ để bảo đảm thành

công Các quyết định về chính sách và tài

chính của chính phủ sẽ được xem xét trên

cơ sở những cam kết này Trong khung

cảnh ấy, việc xem xét lại những hệ thống

và những chiến lược hiện có là rất cần thiết,

sau đó cần áp dụng những sáng kiến để bảo đảm rằng những thay đổi được thực thi thực tế là hữu ích và bền vững trong các

hệ thống sản xuất và tiếp thị

Điểm chủ yếu trong các chương trình chọn giống là việc cải tiến những đặc tính

địa phương qua việc sử dụng tất cả những

kỹ thuật thích hợp và đánh giá và tối ưu hoá các dòng gen quan trọng để phổ biến những đặc tính di truyền được cải tiến đến ngành mục tiêu Các chiến lược lai tạo giống nên được phát triển, nhất là ở những nơi các giống nhập nội thể hiện có giá trị thực

Các hệ thống sản xuất khi cần có thể thay đổi theo vùng, điều kiện khí hậu, thị trường và xã hội Trong khi sự ủng hộ và giám sát quy mô quốc gia là rất quan trọng, các hệ thống sản xuất cần phát triển theo trọng tâm vùng Các mục tiêu chọn giống dài hạn cần được phát triển theo những hệ thống sản xuất ở địa phương và đáp ứng nhu cầu của các thị trường chủ yếu Các nhu cầu này cần được sự ủng hộ và khuyến khích thông qua việc người sản xuất sử dụng các kỹ thuật khuyến nông tiêu biểu như tổ chức thăm quan thực địa, trình diễn tại chỗ /tại xã hướng vào các nhóm mục tiêu Mục đích của việc triển khai này là giúp những người sản xuất ở cấp làng xã sản xuất nhiều hơn và có lợi nhuận nhiều hơn, ổn định sản xuất lâu dài mà không cần

sự giúp đỡ từ bên ngoài của Nhà nước hoặc các tổ chức khác

Trang 10

10

Hợp tác đào tạo đa ngành, trong phạm

vi quốc gia và giữa các quốc gia và các tổ

chức là cực kỳ quan trọng để phát triển các

hệ thống sản xuất bền vững và hiệu quả

Tất cả các nhóm đều được khuyến khích

tham gia vào việc thảo luận và những kế

hoạch hợp tác khi mà ít hệ thống có thể

phát triển và trở nên bền vững mà lại không

có một sự tiếp cận về đào tạo đa ngành Sự

hợp tác về các chính sách quốc tế và quốc

gia cần phải ở cấp Chính phủ

Uỷ ban Chăn nuôi và Thú y Động vật

châu á và Thái Bình Dương (APHCA) được

lập theo sáng kiến của FAO sẽ thực hiện

các chương trình chọn giống trọng điểm cho

vùng hướng vào sự hợp tác và phát triển

của các nước nhằm đạt được những kết

quả cao nhất từ các nguồn tài nguyên hạn

chế ở cấp làng xã Các chiến lược và chính

sách dài hạn hướng tới việc chọn giống cần

được phát triển và khuyến khích Trong

toàn vùng có nhu cầu rất lớn về phối hợp

huấn luyện nghề nghiệp, và việc chia sẻ

các chuyên gia của chính các nước đang

phát triển là quan trọng

Viện Đăng ký Chăn nuôi Quốc tế

(ILRRI), FAO và ICAR sẽ khuyến khích sự

hợp tác theo vùng hướng đến việc đăng ký

động vật và phát triển những đặc tính phục

vụ cho vùng Đông Nam á Sự hợp tác cần

được mở rộng giữa các nước qua những

cuộc gặp gỡ hội thảo tập trung vào các vấn

đề quan trọng của vùng ILRI cần đề xuất

và kết nối các cơ sở dữ liệu những kết quả nghiên cứu và để nó sẵn có dưới hình thức

điện tử (nghĩa là chiến lược dựa vào mạng Web) sao cho các nhà nghiên cứu và các tổ chức giúp đỡ tiếp cận được với những sự phát triển mới nhất trong một thời gian hợp

lý Hệ thống điện tử này cũng sẽ được sử dụng trong giao thiệp hàng ngày và giải quyết những khó khăn trên cơ sở thảo luận nhóm

Sự hợp tác giữa các nhà khoa học và nghiên cứu được khuyến khích thông qua các cuộc hội thảo và các trang thông tin

được nối kết trên mạng Liên hiệp các Hội Chăn nuôi á - Ôxtrâylia (AAAP) sẽ tạo điều kiện cho các hoạt động gặp gỡ phạm vi trong nước và giữa các nước để xúc tiến những cuộc thảo luận vùng chia sẻ những khó khăn, ý tưởng và những kết quả nghiên cứu Những hoạt động này sẽ tập trung vào cả hai vấn đề nghiên cứu và các chương trình giống ứng dụng Một phần của những cuộc gặp gỡ này, là những phiên chuyên đề nơi thuyết trình việc áp dụng và giám sát những hệ thống sản xuất ở cấp làng xã Việc tài trợ cho những người tham gia hoạt

động ở cấp làng xã và sự giúp đỡ của các

tổ chức quốc tế như ACIAR và JICA, được

đánh giá là rất quan trọng

Trang 11

B¸o c¸o vïng

Trang 13

Báo cáo vùng: Ôxtrâylia

Jack Allen 1

Tóm tắt

ở Ôxtrâylia bò thịt được nuôi tại các doanh nghiệp có sở hữu rất đa dạng Các chủ sở hữu chuyên bò thịt chiếm khoảng 58% lượng bò thịt của Ôxtrâylia và các doanh nghiệp không chuyên bò thịt chiếm 28% Thông thường, khoảng 20% số doanh nghiệp bò thịt lớn của

Ôxtrâylia chiếm gần 80% đàn bò thịt Việc đánh giá về di truyền bò Ôxtrâylia được thực hiện qua hệ thống đánh giá BREEDPLAN của Viện Nghiên cứu Kinh doanh Nông nghiệp Hai mươi Hội Chọn giống đã có đánh giá di truyền qua cơ sở dữ liệu của họ ở một số giống, phả

hệ và những chi tiết về đặc điểm sản xuất đã được thu thập trên 30 năm nay Khoảng 100.000 bê đẻ mỗi năm đang được bổ sung thêm vào cơ sở dữ liệu này, ở đó BREEDPLAN tính toán những giá trị giống ước tính cho hơn 17 tính trạng

1. Giám đốc Kỹ thuật, Viện Nghiên cứu kinh doanh Nông nghiệp, Đại học Tổng hợp New England, Armidala, Ôxtrâylia

Ôxtrâylia là một lục địa đảo và là một trong sáu

nước lớn trên Thế giới Dân số 19 triệu người và

diện tích 7.692.030 km2 (Bảng 1) chiếm hơn 5%

tổng số đất đai trên Thế giới Ôxtrâylia là một khu

vực có phạm vi khí hậu rộng từ các vùng nhiệt đới

phía bắc qua một vùng rộng lớn đất đai khô cằn

trong nội địa tới những vùng ôn đới phía nam

Người ta đều biết đây như là "Lục địa Khô",

phần lớn đất dai khô cằn, với 80% có lượng mưa

trung bình ít hơn 600 mm một năm và 50% ít hơn

300 mm (trung bình 450 mm) Những ảnh hưởng

có tính chất mùa vụ lớn với phạm vi nhiệt độ từ

50oC đến dưới không độ Tuy nhiên, nhiệt độ cực

thấp không thấp như các lục địa khác

Ôxtrâylia trải qua nhiều biến cố của tự nhiên,

Ôxtrâylia, trong khi phần lớn diện tích bị ảnh hưởng mặn và chua tự nhiên Những đặc điểm của thổ nhưỡng này rất hạn chế, đặc biệt cho hoạt động sản xuất nông nghiệp hoặc hoàn toàn không hoạt động được nông nghiệp

Trừ vùng Antarctica, Ôxtrâylia là một lục địa khô nhất thế giới Mùa hè miền bắc ẩm ướt phù hợp với việc chăn thả bò thịt, trồng mía và những cây ăn quả nhiệt đới khác ở những vùng duyên

Trang 14

14

hải Điều kiện về mùa hè của miền nam Ôxtrâylia

khô hơn thuận lợi cho trồng lúa mỳ và các cây hoa

màu cạn khác, chăn thả cừu và bò sữa (vùng có

lượng mưa cao hơn) cũng như bò thịt Trong ngay

mỗi vùng hàng năm cũng thường xảy ra những

trận mưa bất thường ở những vùng khô cằn và nửa

khô cằn Những trận mưa bất thường thường dẫn

đến thời kỳ không mưa kéo dài Dù có những trận

mưa theo mùa hay những trận mưa bất thường thì

Ôxtrâylia vẫn đòi hỏi phải dự trữ nước, 70% nước

dự trữ (kể cả nước ngầm) là để dành cho nông

nghiệp Việc dự trữ cố gắng đảm bảo đủ nước

cung cấp cho hoạt động nông nghiệp liên tục suốt

năm Không thể khác được, chính thuỷ lợi đã giúp

cho Ôxtrâylia mở rộng được diện tích hoạt động

sản xuất nông nghiệp

Sự bốc hơi lại là một yếu tố quan trọng khác

về môi trường của Ôxtrâylia làm ảnh hưởng đến

sản xuất nông nghiệp Mùa hè kèm theo với nắng

nóng làm cho tỷ lệ bốc hơi càng cao

Từ khi có người châu Âu định cư, thảm thực

vật ở Ôxtrâylia thay đổi rất lớn Đặc biệt, phần

lớn diện tích rừng và hệ thống thực vật rừng đã

cạn kiệt, chủ yếu để hoạt động sản xuất nông

nghiệp Diện tích thay đổi nhiều nhất là để mở

mang trồng trọt hoặc chăn thả Những diện tích

khác, đặc biệt những vùng nửa khô cằn nơi

phát triển đồng cỏ bản xứ, hiện nay đã thấy

những tín hiệu trở lại của cây rừng và cây thân

bụi

Mặc dù điều kiện môi trường của Ôxtrâylia

khắt khe, nông nghiệp vẫn là hình thức phát triển

mạnh nhất trong sử dụng đất Tháng Ba năm

1999, ước tính tổng diện tích nông nghiệp ở

Ôxtrâylia là 453,7 triệu ha, chiếm khoảng 59%

tổng diện tích đất đai Diện tích đất đai còn lại

của Ôxtrâylia gồm đất bỏ hoá (chủ yếu là đất cát

ở miền tây và miền trung Ôxtrâylia) Đất nguyên

thuỷ dự trữ (chủ yếu nằm ở miền Bắc), gồm đất

rừng, đất thuê khai thác mỏ, các công viên quốc

gia và các vùng đô thị

Đồng cỏ chăn nuôi chiếm diện tích lớn nhất trong nông nghiệp Ôxtrâylia Hoạt động này đã dẫn đến việc thay thế phần lớn những diện tích thảm thực vật bản xứ bằng những đồng cỏ và những giống cỏ của vùng có mưa và những vùng

được tưới

Tháng Ba năm 1999, 5% đất nông nghiệp

Ôxtrâylia là trồng trọt các cây hoa màu, hơn 5%

là đồng cỏ và được trồng cỏ Duy trì khuynh hướng này, vào khoảng 10% đất đai nông nghiệp của Ôxtrâylia được trồng cấy mỗi năm kể từ những năm 1980 Cho đến tận lúc này, diện tích

đất được trồng cấy hoặc gieo trồng cỏ đã được

mở mang rất nhanh Việc mở mang này có thuận lợi do việc tăng cường sử dụng phân bón, cung cấp nước được cải thiện và giảm được số lượng

đàn thỏ do bệnh dịch thỏ

Tình hình chung về Ôxtrâylia và nông nghiệp

Ôxtrâylia được giới thiệu ở Bảng 1 Tổng thu nhập hàng năm của các ngành nông nghiệp ước gần 28

tỷ AUD$ năm 1998-99 (Hình 1) Tiêu thụ bình quân đầu người các sản phẩm nông nghiệp khác nhau được liệt kê trong Bảng 2 Trong Hình 2 chỉ

ra khuynh hướng tiêu thụ các loại thịt khác nhau

Đμn bòThống kê cơ bản

Trước khi người châu Âu đến định cư vào những năm 1800, Ôxtrâylia không có trâu bò Sau đó, số lượng bò cứ tăng lên đều đặn đạt cao nhất 33,4 triệu con năm 1976 rồi giảm đi cho tới nay chỉ còn xấp xỉ 26,6 triệu con (Bảng 3) Tuy nhiên, số lượng gia súc nói chung của Ôxtrâylia

bị ảnh hưởng nhiều do sự biến động lớn về khí hậu qua các năm

Bò sữa nói chung có số lượng hạn chế ở miền nam, các huyện miền duyên hải của Victoria, New South Wales, Nam Ôxtrâylia và Tây

Ôxtrâylia Tuy nhiên, đàn bò thịt lại tăng lên ở hầu hết các vùng của Ôxtrâylia, mà tập trung chủ yếu ở Queensland và New Sounth Wales (Hình 3

và Bảng 4)

Trang 15

Bảng 1 Thống kê chung về Ôxtrâylia

Tổng dân số

Tỷ lệ gia tăng hàng năm

Diện tích đất đai

(39% nhiệt đới, 61% ôn đới)

Sử dụng đất đai ở Ôxtrâylia

7.692.030 km2

59% tổng số đất 23,3 tr ha (5,1%) 22,5 tr ha (5,0%) 407,9tr ha (80,9%)

278.700 129.100 16,171 tr AU$

7401 tr AU$

5418 tr AU$

145,226 18,954

8674 33,163 13,963

773

579

1129

6002,5 triệu 1,3%

Hình 1 Tổng thu nhập (tỷ AU$) trên năm của công nghiệp Nguồn: Australia Bureau of Stastics

Trang 16

38,3 kg 1,7 kg 22,1kg 17,5kg 6,9kg 24,1kg 101,71kg 8,8kg 3,2kg 18,0kg

Bảng 3 Số lượng gia súc mỗi năm

('000)

Cừu ('000)

Lợn ('000)

tấn trọng lượng thịt xẻ với gần một nửa được sản

xuất ở Queensland (Hình 4) Ôxtrâylia xuất khẩu

66% sản lượng thịt của mình (Hình 5) và là ước

xuất khẩu thịt bò lớn nhất thế giới (Hình 6)

Thị trường xuất khẩu bò sống đặc biệt quan

trọng về đầu ra cho người chăn nuôi ở miền Bắc

Ôxtrâylia Đông Nam á là thị trường chủ yếu

(Hình 7) vì khoảng cách vận chuyển tương đối

ngắn và các giống Bos indicus chịu đựng tốt với

những điều kiện nhiệt đới trong khi vận chuyển

và khi cập bến Bò nói chung được đưa đi vỗ béo

trước khi giết mổ Sạch bệnh cũng là điều cực kỳ

quan trọng để giữ được những thị trường quan trọng này

Bảng 4 Trâu bò theo tuổi, giống, mục đích

và Bang

1994

(‘000)

1999 (‘000)

Nguồn: Australia Bureau Statistics

Bò thịt ở Ôxtrâylia được nuôi bởi các doanh nghiệp với sở hữu rất đa dạng Theo điều tra năm 1998-99 của ABARE về ngành nông nghiệp

Ôxtrâylia thì trong số 71.600 trang trại cá thể, ước

có 17.700 trang trại chủ yếu là hoạt động bò thịt (chuyên thịt bò) Hơn 22.800 trang trại khác có nuôi trên 50 bò thịt nhưng lại liệt vào loại xí nghiệp ngoài bò thịt (doanh nghiệp không chuyên thịt bò) Các doanh nghiệp chuyên thịt bò chiếm khoảng 58% lượng bò thịt của Ôxtrâylia và các doanh nghiệp không chuyên thịt bò chiếm 28%

Phần lớn trâu bò nuôi bằng cỏ nhưng số nuôi bằng thức ăn hạt chiếm 17% đàn hoặc 20% sản lượng thịt

Trang 17

H×nh 2 Xu h−íng tiªu dïng thÞt ('000 tÊn) theo lo¹i thÞt

Meat and Livestock Australia

Bß/Km H¬n 30 8-30 1-8

NhËt B¶n 36%

Canada 5% Hµn Quèc 9%

Nguån ABS/AFFA H×nh 5 S¶n l−îng thÞt bß vµ xuÊt khÈu

Tæng xuÊt khÈu thÞt bß = 868.000 tÊn SW

Trang 18

18

Quy mô đàn trung bình của chủ sở hữu

chuyên thịt bò là 765 con, mặc dầu gần một nửa

số chủ sở hữu này ít hơn 300 con (Hình 8) Thông

thường, khoảng 20% số doanh nghiệp bò thịt lớn

của Ôxtrâylia chiếm gần 80% đàn bò thịt Năm

1998-99 xấp xỉ một phần ba các chủ sở hữu

chuyên thịt bò nằm ở Queensland, kế đó 29% ở

NSW và 23% ở Victoria

Ước tính sự đóng góp của ngành bò thịt cho

thu nhập vùng nông thôn Ôxtrâylia khoảng 4-5 tỷ

AUD Hơn 17% giá trị sản phẩm nông nghiệp của

Ôxtrâylia và 14% thu nhập có được từ bán sản

phẩm là nhờ đóng góp trực tiếp của ngành bò

thịt

Thống kê về thành phần giống của bò thịt ở

Ôxtrâylia thì chưa được thu thập với mức độ lớn

Tuy nhiên, trong phạm vi miền Bắc Ôxtrâylia nơi chủ yếu chăn nuôi bò thịt nhiệt đới, thì giống indicus chiếm ưu thế (Bảng 5)

Bảng 5 Ước tính cơ cấu đàn bò thịt ở Bắc

Ôxtrâylia

Brahman Indicus/Taurus cross Các bò nhiệt dới khác Anh và châu Âu Santa Gertrudis Các giống khác

25,0% 38,4% 10,2% 16,1% 6,2% 3,6%

Nguồn: ABARE Australia Farm Survey - 2000 Miền Bắc gồm Queenssland, Northern Territory vμ các vùng Pillbara vμ Kimberley của Western Ôxtrâylia

Hình 6 10 nước xuất khẩu lớn nhất 1999

Indonesia 18,7%

Jordan 4,5%

Malaysia 7,7%

Egypt 28,7%

Lybya 2,7%

Nước khác 3,7%

Brunei 2,0%

Philippines 31,9 %

Hình 7 Xuất khẩu bò sống của Ôxtrâylia

Nguồn: ABS/AFFA Tổng xuất khẩu bò sống = 841.372 con

Trang 19

Lĩnh vực giữ giống của Ôxtrâylia đã trải qua

việc tái phân phối cơ bản các kiểu giống trong 10

năm qua (Bảng 6) Giống như việc đăng ký các

giống nói chung giảm khoảng 25%, vai trò tương

đối của các giống bò châu Âu cũng đã giảm

mạnh tới 50% mặc dù Charolaiss đã giữ vững

được mức đăng ký của mình tuy chỉ ở mức nhỏ

bé Thật là lý thú, chỉ có giống bò Anh được theo

dõi, đăng ký với số lượng lớn bê, ngược lại với

khuynh hướng này, giống Angus là kiểu giống tốt

dể sản xuất thịt pha rất được ưa thích ở thị trường

Nhật bản

Thông tin về khả năng sản xuất

Việc sản xuất thịt bò ở Ôxtrâylia được phân

thành vùng miền bắc (nhiệt đới) và miền nam (ôn

đới) Ôxtrâylia Sức sản xuất biến động đáng kể

trong phạm vi miền và giữa các miền và còn phụ

thuộc kiểu giống và phương thức quản lý nói

chung

Bảng 7 nêu các chỉ số về khả năng sản xuất

Thị trường thì rất đa dạng nhưng các nhu cầu

thường bấp bênh (Bảng 8)

Vỗ béo đã trở nên quan trọng ở Ôxtrâylia từ

năm 1991 khi thị trường thức ăn hạt ở Nhật rất

sẵn sàng cho việc chăn nuôi bò thịt ở Ôxtrâylia

Có trên 850 cơ sở vỗ béo hoạt động có tín nhiệm

ở Ôxtrâylia., chiếm vào khoảng 17% đàn hoặc

khoảng 20% sản lượng thịt ở Ôxtrâylia Năm

1999, có 518.144 vật nuôi đã kết thúc vỗ béo trước khi giết mổ (Hình 9)

Các đặc điểm trâu bò nuôi bằng thức ăn hạt chủ yếu là:

• Thị trường lotfed fullset của Nhật cho ăn trên 360 ngày – hướng dẫn Nhật bản;

• Thị trường shortfed fullset của Nhật cho ăn

được xác định bởi:

• Giá xuất khẩu grainfed fullset của Nhật;

• Giá lương thực và các thành phần thức ăn khác;

• Nhu cầu và giá thịt bò nuôi bằng thức ăn hạt ngay trong nước Ôxtrâylia;

• Chi phí cho người nuôi

Phương pháp thông thường nhất để bán bò thịt ở Ôxtrâylia (Hình10) là thông qua hệ thống

đấu giá (41% bò được bán theo phương pháp này) Sức mạnh truyền thống của sân đấu giá là người mua có thể xem xét con vật mà họ đang chào giá; và giá cả ở đây có sự cạnh tranh

50 40 30 20 10 0

Nguồn :ABARE

Hình 8 Phân bố các chủ sở hữu chuyên thịt bò về quy mô đàn 1998-99

„ Phần của chủ sở hữu … Phần của đàn

Nguồn: ABARE

Hình 8 Phân bố các chủ sở hữu chuyên thịt bò về quy mô đàn 1998 - 99

Trang 20

20

B¶ng 6 B¶ng ®¨ng ký bß thÞt cña ¤xtr©ylia theo gièng

Gièng bß Anh vµ gièng cã gèc ¤xtr©ylia 1990 1995 2000Angus

714

559 n.a

- n.a

176.742

16.623 26.941 24.067 11.680

451

328 n.a

Trang 21

Hình 9 Bò nuôi Ôxtrâylia (1999)

Nguồn: ALFA/MLA Tổng = 518.144 con

NSW 35,8%

WA 4,4%

SA 6,0%

gọi là Over-the-HOOKs (OTH) Dưới hệ thống

này giá được thoả thuận trực tiếp với những người

thu mua chế biến và hiện nay 32% bò lại bán

trong hệ thống sản xuất chăn nuôi và thịt Lý do

chính là để giảm thiểu stress ở vật nuôi bằng

cách giảm thiểu quá trình vận chuyển vật nuôi và

bắt chúng phải chịu những điều kiện mới lạ trong

khi vận chuyển, lưu giữ và trong sân bán

Các phương pháp bán trực tiếp như OTH có

thể cung cấp cho những người sản xuất nhiều

thông tin về chất lượng thịt xẻ của gia súc họ nuôi

và giảm sự hư hại thịt xẻ gây ra bởi các điều kiện

của sân bán đấu giá

Các chương trình di truyền vμ giống

Việc đánh giá về di truyền của bò ở Ôxtrâylia

được thực hiện qua hệ thống đánh giá

BREEDPLAN của Viện Nghiên cứu Kinh doanh

Nông nghiệp Hệ thống này sẽ được thảo luận

trong cuộc hội thảo

Bảng 7 Chỉ số biểu thị khả năng sản xuất

trong ngành sản xuất bò thịt Ôxtrâylia

Bắc

Miền Nam

Trọng lượng sống khi giết mổ (kg)

15

5

2 3,5

180 0,8 2,5

400

20

10

5 2,5

Ghi chú: Số liêụ trong bảng nμy chỉ thuần tuý để

có được khái niệm về các chỉ số Các số liệu hiện tại biến động rất lớn trong phạm vi thị trường vμ giữa các thị trường, giữa các giống, các khu vực vμ các vùng nhiệt đới/ôn đới

Hai mươi Hội Chọn giống đã đánh giá về di truyền học qua cơ sở dữ liệu của họ ở một số giống, phả hệ và những chi tiết đặc điểm sản xuất

đã được thu thập trên 30 năm nay Khoảng 100.000 bê mỗi năm đang được bổ sung thêm vào cơ sở dữ liệu mà BREEDPLAN tính được những Giá trị giống ước tính cho hơn 17 tính trạng Những đặc điểm tiềm năng được theo dõi là:

Trang 22

• Tốc độ nghiền (liên quan đến tính mềm của thịt ở bò miền Bắc Ôxtrâylia);

5-12 5-12 7-22 7-22 7-22 7-22 7-22

0 và 2T

0 và 2T 0-6T 0-6T 0-6T 0-6T 0-6T

Các chương trình nghiên cứu có ý nghĩa về

chất lượng thịt, về lai tạo giống, sự khác nhau về

giống, hiệu quả thức ăn và các khía cạnh khác

trong ngành chăn nuôi bò cũng được thực hiện ở

Ôxtrâylia

Đμn trâu

Ôxtrâylia không có đàn trâu bản xứ Có dưới

100 trâu giống Đầm lầy (Swamp) được nhập về chủ yếu từ Timor, Kisar và các hòn dảo khác của Indonexia giữa những năm 1820 và 1850 Những con trâu này trở thành nền móng cho sự phát triển đàn trâu hoang dã của Ôxtrâylia Đàn trâu trở nên phong phú đến nỗi không kiểm soát nổi ở

92-93 93-94 94-95 95-96 96-97 97-98 98-99

60

50 40

30 20 10

0

%

Bán tại bãi Bán OTH Bán đấu giá

Ngoại hạng Loại khác Chuyển nhượng giữa các trại

Hình 10 Các đặc điểm thị trường bò Ôxtrâylia

Nguồn: ABARE

Trang 23

vùng đồng bằng cận duyên hải của miền Bắc

Ôxtrâylia và đạt tới đàn tối đa khoảng 350.000

con vào những năm 1980

Giữa các năm 1880 và 1956, miền Bắc

Territory (NT) người ta giết trâu chủ yếu để lấy da

Vào những năm 1958 và 1961 thịt trâu được

làm thực phẩm cho người ăn Cuối những năm

1980, Chính phủ Ôxtrâylia thực hiện một Chiến

dịch Tiêu diệt bệnh sảy thai truyền nhiễm và

bệnh lao (BTEC) để bảo vệ thị trường xuất khẩu

thịt của Ôxtrâylia Trong khi đàn trâu chưa thấy

biểu hiện nào của bệnh sảy thai truyền nhiễm thì

bệnh lao đã nhiễm trung bình khoảng 3% trong

đàn hoang dã (trên 20% ở một số vùng duyên

hảỉ) và đàn trâu đã bị giết mổ với số lượng lớn

trước khi Ôxtrâylia tuyên bố sạch bệnh lao vào

năm 1977 Chiến dịch BTEC đã làm giảm số

lượng đàn trâu xuống mức hiện tại còn khoảng

40.000 đến 50.000 con

Thống kê cơ bản

Chương trình BTEC đã làm giảm số lượng

đàn xấp xỉ 14.000 con trâu nuôi thuộc vùng

NT Sau đó đàn nuôi được tăng dần lên khoảng

20.000 con hiện nay Số lượng đàn hoang bị

giảm đi ở những vùng không có bệnh lao và

gần 15 năm nay chưa được điều tra, hiện ước

tính có khoảng giữa 15.000 đến 30.000 con

Đàn hoang chủ yếu sống lang thang ở vùng

Top End của miền NT (chủ yếu ở

Aboriginal-owned Arnhem Land nằm về phía đông

Katherine và Darwin)

Vùng Top End thuộc miền Bắc Territory

đã có trên 30-40 chủ sở hữu nuôi trâu Tuy

nhiên, trâu nuôi còn được phát triển ra tất cả

các Bang khác của Ôxtrâylia trừ bang

Queensland ở đó Chính quyền Bang không

cho phát triển thêm Phần lớn sự đầu tư vào

trâu nuôi ở miền nam được thực hiện trong 8

đến 10 năm trước

Hầu như tất cả trâu nuôi của Ôxtrâylia là giống Swamp (Đầm lầy) có một số nhỏ thuộc giống Riverines được nhập chủ yếu để lai tạo Tuy nhiên, một nông dân tư nhân ở Victoria đã nhập khoảng 100 con trâu Riverines từ Bungari

và Italia và đã gây dựng đàn trâu sữa ở Camperdown (Victoria)và vùng Eyre Peninsula (Nam Ôxtrâylia) Tuy nhiên, tất cả số trâu tăng trội lên đều bị giết mổ mà không để cho các đàn khác làm giống

Thông tin về khả năng sản xuất

Phần lớn trâu nuôi lấy thịt đều ở miền NT ở đó quy mô sở hữu khoảng 20 đến 4000 con Chăn nuôi dựa vào thức ăn cỏ, hầu hết những người chăn nuôi đều thích nuôi loài trâu bản xứ vì nó có thể tận dụng được những đồng cỏ không yêu cầu cao về quản lý và chất lượng cỏ ở điều kiện này

tỷ lệ sinh đẻ đạt vào khoảng 50% với trâu cái có trọng lượng khoảng 350-400 kg

Những con trâu này dành cho thị trường Brunei khoảng 2000 đầu con mỗi năm - trước đây chỉ có 600-800 con mỗi năm Trâu đực lớn hơn (>350 kg) giá 1,35 AUD 1 kg trọng lượng hơi Những con trâu (nặng 340-390 kg không có quá

2 răng thật) giá 1,35 AUD cho mỗi kg hơi được cung cấp cho thị trường siêu thị Brunei

Dưới những đồng cỏ cải tiến và quản lý tốt, trâu cái thụ thai đạt 80% hoặc cao hơn với 4-6 tuần sau thụ tinh, trâu cái nặng 450-600 kg, khoảng cách giữa hai kỳ đẻ là 12-14 tháng (làm thịt những con cái không chửa và cạn sữa) thời gian mang thai giữa 320-330 ngày Tỷ lệ nghé chết từ 8-10% trong phạm vi tuần đầu và sau đó,

điều này thường do con mẹ chăm sóc tồi (cũng

có thể xảy ra do buộc thẻ cho nghé sớm) hoặc

do những sai sót khác (chuồng trại đơn sơ, chó cắn,vv) Sán lãi và các loại bệnh tật nói chung không xảy ra, đặc biệt trên những đồng cỏ loại tốt Trong thời kỳ sinh trưởng chủ yếu con vật

Trang 24

24

tăng trọng từ 1-1,2 kg mỗi ngày và nghé đạt

khoảng 150-300 kg ở 12 tháng tuổi tuỳ theo

giống và chất lượng đồng cỏ Giống Riverine lai

hay Riverine thuần là giống nằm vị trí cao hơn cả

trong thang xếp loại

Thị trường thịt trâu ở Ôxtrâylia rất nhỏ bé và

có xu hướng đưa đến những thị trường thích hợp

Bảng 10 cho thấy số lượng trâu giết mổ ở vùng

NT trong hơn 14 năm qua Chương trình BTEC là thời kỳ có tỷ lệ giết mổ cao nhất , các tỷ lệ giết

mổ gần đây phản ánh những thị trường trong nước hiện tại

Bảng 9 Xuất khẩu trâu sống từ Darwin, Bắc Territory

99

0

0 0

Nguồn: Buffalo news, Dec 2000, Australia Buffalo Industry Coucil

Bảng 10 Số lượng trâu giết mổ ở lò mổ miền BắcTerritory

của chi nhánh Trâu vùng NT cung cấp cho các

nhà hàng, những người buôn bán thịt trâu vv Dù

nó chỉ chiếm khoảng 200 con mỗi năm ở thị

trường Darwin, TenderBuffTM lại có giá hấp dẫn

3,10 AUD$ cho 1 kg trọng lượng móc hàm Có

những đặc điểm khắt khe (Bảng 11) cho những

trâu đạt đựơc giá này, nếu con nào sai sót một

hoặc nhiều hơn những đặc điểm ấy thì bị chiết

khấu cao 10-40% Để đạt được những đặc điểm

này trâu ít nhất phải được chăn thả trên những

đồng cỏ cải tiến Nhân viên DPIF giám sát những

trâu TenderBuff giết mổ trong ngày ở lò mổ và

còn mang mẫu đi đánh giá vào ngày hôm sau

Bảng 11 Đặc điểm thịt của TenderBuf

Đặc điểm Giới hạn chấp nhận Trọng lượng thịt xẻ

Chiều sâu lớp mỡ Tuổi

Quản lý thịt xẻ

pH của thịt

150-300 kg 3-12 mm ở vị trí P8 Chưa có răng thật Kích thích điện Dưới 5,8 sau 18 giờ treo Quy mô đàn ở các bang khác nói chung nhỏ, dưới 100 con Tỷ lệ tăng trưởng nghé ở các bang miền nam rất tốt đạt 300-400 kg ở 12 tháng tuổi

ở các vùng có khí hậu ẩm ướt, cần phải kiểm soát phòng chống bệnh sán lá Chịu lạnh cũng là một khó khăn ở những nơi trống trải và lộng gió

Trang 25

Các Bang khác của Ôxtrâylia với các thị

trường nhỏ thường do những người buôn bán

thịt địa phương điều hành Một phần giao cho

các nhà hàng, phần còn lại đem chế biến (xúc

xích, vv.) Thị trường cũng hạn chế bởi những

khó khăn do thức ăn thay thế thịt bò gây ra

Năm 2000 giá 1 kg thịt xẻ ở New Shouth Wales

là 1,85 $

Các chương trình di truyền vμ chọn giống

DPIF vùng NT khởi động một số chương

trình nhằm cải tiến ngành chăn nuôi trâu ở

miền Top End Họ tài trợ cho các chương trình

cũng như phát triển các thị trường và nâng cao

nhận thức về ngành này

Bảo tồn di truyền gia súc nhai lại vμ trâu

Tất cả bò và trâu ở Ôxtrâylia đều được nhập

từ ngoài vào bằng con vật/tinh trùng/phôi không

có đàn bò hoặc trâu bản xứ trước khi có sự định

cư của người châu Âu vào những năm 1800

Tμi liệu tham khảo

Các phần quan trọng của bản báo cáo này

được soạn thảo từ các nguồn sau:

• Australia Bureau Stastics (htt://www.abs.gov.au)

• Meat and Livestock Australia (http://wwwmla.com.au)

• Australia Registered Cattle Breeders association (http://abri.une.edu.au)

Ông Barry Lemcke Northern Teritory Departement of Primary Industries and Fisheries (DPIF) đã cung cấp hầu hết những nội dung thông tin về đàn trâu cho báo này

Trang 26

Chọn giống trâu bò ở Bangladesh

M.O Faruque 1 and A.K.F.H Bhuiyan 1

Tóm tắt

Bangladesh có 21,18 triệu bò năm 1984 và hiện nay có 21,57 triệu con Đàn bò ở Bangladesh gồm chủ yếu thuộc tip indigenous deshi Bangladesh còn có hai giống bò sữa, viz Red Chitagong (RC) và Pabna Cattle (PC) Nước này không có giống hoặc loại bò thịt nhập nội Năm 1998, Bangladesh sản xuất 1,41 triệu tấn sữa và 1.066.000 tấn thịt bò Theo

điều tra về nông nghiệp và chăn nuôi tiến hành năm 1984, Bangladesh có 0,46 triệu con trâu

Số lượng trâu hiện nay khoảng 722.769 con sở hữu bởi 270.228 hộ (1,52% tổng số hộ trong cả nước) Số trâu bình quân trên đầu hộ hiện nay là 2,67 con Mới đây Bộ Nghề Cá và Chăn nuôi thành lập một Uỷ ban thực hiện những biện pháp về bảo vệ di truyền vật nuôi gồm cả trâu lẫn bò

92o41' kinh đông Bangladesh là một vùng châu

thổ của ba con sông lớn - Ganges, Brahmaputra

và Megna Một nước phần lớn là bằng phẳng trừ

một vùng đồi núi ở phía đông bắc và đông nam

Biên giới phía nam được bảo vệ bởi Vịnh Bangal

Diện tích Bangladesh 147.570 km2, dân số 126

triệu người

Mật độ dân số khoảng 854 người trên một

km2, tăng trưởng dân số hàng năm là 1,8% Hiện

nông nghiệp chiếm khoảng 32% tổng sản phẩm

quốc dân GDP theo giá hiện tại và thất nghiệp

chiếm khoảng hai phần ba tổng lực lượng lao

động Đóng góp của chăn nuôi trong tổng thu

nhập nông nghiệp tăng nhanh khoảng 7% đến

12% trong 10 năm qua

Địa hình Bangladesh có thể chia thành bốn vùng sinh thái chính: vùng mưa hay ngập lụt, vùng đất ẩm ướt, vùng đất đồi và vùng duyên hải Bangladesdh có khoảng 14,5 triệu ha đất sử dụng, trong đó khoảng 12,33 triệu ha trồng cấy hàng năm Còn lại 2,23; 1,533; 1,18; và 0,46 triệu

ha ương ứng được sử dụng cho trang trại, rừng,

và đồng cỏ Bangladesh hiện có khoảng 17,83 triệu hộ trong số đó có 6, 03 triệu hộ phi nông nghiệp Trong các hộ làm nông nghiệp, 58,2%, 11,65%, và 1,67% tương ứng là những hộ sản xuất nhỏ (<1,5 acre), trung bình (1,5 -7,49 acre)

và sản xuất lớn (>7,50 acre) Có 28,11% trong tổng số hộ không có đất trồng trọt Bò, dê và gà

là những nguồn thịt chủ yếu ở Bangladesh Ngoài

ra, còn có một khối lượng lớn các loại thịt trâu, cừu, lợn và vịt Sản xuất và sử dụng thịt được trình bày ở Bảng 1

26

Trang 27

Bảng 1 Sản xuất các loại thịt khác nhau

(triệu tấn)

Năm Loại thịt

774 36.536 21.930 -

161.000 4.000 126.000 3.000 110.000

- 15.000*

1 DLS; 2 FAO, *Dự đoán riêng

Đμn bò

Thống kê cơ bản

Bangladesh có 21,18 triệu con bò năm 1984

(Anon.1984) và hiện nay có 21,57 triệu con

(Anon 1996) Đại bộ phận trong số bò này là do

8.171.294 hộ nuôi chiếm 45,83% tổng số hộ

trong cả nước Bình quân cả nước về đầu bò cho

mỗi hộ là khoảng 3,0 con trong đó tương ứng cho

hộ nông dân nhỏ (<1,5% acre), trung bình

(1,5-7,49 acre) và nông dân lớn (>7,5 acre) là 2,0; 2,0

và 4,0 Tuy nhiên ở những vùng sản xuất sữa và

trang trại sản xuất hàng hoá thì quy mô đàn lớn

hơn nhiều

Đàn bò của Bangladesh gồm chủ yếu giống

Indigenous deshi Cũng có một số bò lai với

những kiểu gen khác nhau (lai Holstein, Jersey, Sahiwal và Sindhi với indigenous) hiện chiếm khoảng 2-3% tổng đàn bò cả nước Ngoài ra còn

có hai giống bò sữa, viz Red Chitagong (RC) và Pabna Cattle (PC) Ước chừng số lượng bò Red Chitagong và Pabna Cattle tương ứng khoảng 5.000 và 100.000 con Không có giống nhập nội nào kể cả bò thịt Trừ những đàn mang tính nghiên cứu, đàn thương mại và ở vùng đồi, bò

được nuôi dưới hệ thống bán thâm canh ở những đàn nghiên cứu và nuôi thương mại bò

được nuôi dưới hệ thống thâm canh ở các vùng

đồi bò được nuôi dưới hệ thống quảng canh Năm 1998, Blangladesh sản xuất 1,41 triệu tấn sữa và 160.000 tấn thịt bò

và sữa tươi Sản phẩm của họ được bán trong các thành phố và thị trấn

Đặc điểm RC Pabna Sahiwal Holstein HL2 SL1

Trọng lượng sơ sinh (kg)

Tuổi con đầu (tháng)

Tuổi đẻ lứa đầu (tháng)

Thời gian tạo sữa (ngày)

Trang 28

28

Thịt được bán qua phương thức truyền thống

Người ta giết mổ những con đực và những con

cái già giống indigenous deshi Khoảng 0,25-0,30

triệu bò đực từ 3-6 tuổi bị giết mổ trong một ngày

hội của cộng đồng Hồi giáo Những con bò đực

này được vỗ béo ở các miền khác nhau trong

nước Trọng lượng sống trung bình của bò Deshi

là 233 kg Nhiều bò già và bò bị loại di chuyển tự

nhiên đến từ ấn Độ thường được giết mổ và tiêu

thụ ở các chợ địa phương

Những khó khăn gắn với việc chăn nuôi bò là:

(i) nguồn gen di truyền nghèo nàn và thiếu chính

sách lành mạnh và phù hợp về giống ; (ii) thiếu

đăng ký động vật và hệ thống đánh giá về di

truyền; (iii) dinh dưỡng không đầy đủ; (iv) Thiếu

dịch vụ chăm sóc thú y từ các Cơ quan Dịch vụ

Chăn nuôi (DLS); (v) không có cơ quan thương

mại chuyên ngành chăn nuôi bò

Chương trình di truyền vμ chọn giống

Hiện nay Bangladesh có 7 đàn dưới sự quản

lý của DLS, một đàn dưới sự quản lý BLRI và

một đàn được quản lý bởi BAU Những đàn vật

nuôi được đăng ký theo dõi này bao gồm khoảng

5.000 bò với các kiểu gen khác nhau, viz Red

Chitagong, Pabua, Sahiwal, Holstein, Sahiwal

cross, và Holssein cross Ngoài các đàn được

đăng ký này còn có một số trang trại thương mại

ở xung quanh các thành phố lớn như Dhaka,

Chitagong, Khulna v.v Năm 1996, Bangladesh

có khoảng 26.000 trang trại nuôi bò sữa thương

mại Tuy nhiên hiện nay con số này giảm khoảng

300 Các trang trại thương mại này chủ yếu nuôi

giống lai Holstein F1 hoặc F2 Công ty Hợp tác

Sản xuất Sữa Bangladesh (BMPCUL) thành lập

năm 1964, cũng quản lý những đàn được đăng ký

ở cấp nông dân ở những vùng vựa sữa và có trên

100.000 bò đã được đăng ký Mới đây Uỷ Ban vì

sự Tiến bộ Nông thôn Bangladesh (BRAC), một

tổ chức NGO và ba hợp tác xã tư nhân cũng đã

thực hiện những chức năng tương tự BMPCUL Tuy nhiên, chưa biết được chính xác về số nông dân và số lượng bò liên quan đến chương trình của họ Các tổ chức phi chính phủ NGO, các trang trại tư nhân và các công ty đã giữ được việc theo dỗi số liệu về sữa và sức khoẻ vật nuôi Trong những đàn được đăng ký và của BMPCUL, các ghi chép về sữa,về pửa hệ và sức khoẻ vật nuôi đã được duy trì Tuy nhiên, những phương pháp được ICIAR phê chuẩn về việc

đăng ký động vật vẫn tiếp tục được dùng ở Bangladesh

Bangladesh có lịch sử từ lâu về việc nhập nội những chất mầm (germplasm) ngoại lai được ghi lại như sau:

1930-1937: Hariana; 1937: Hariana, Sindhi và Sahiwal; 1960: Sindhi, Sahiwal và Tharparker; 1967: 50% Holsstein và Jersey, 1973: Hostein và Jersey (Ôxtrâylia); 1987: Sahiwal; 1989: Holsstein từ Tây Ban nha; 1992: Sahiwal; 1992: AFS từ Ôxtrâylia; 1983: tinh đông từ Đức, New Zealand và Kenya; 987: tinh đông từ Ôxtrâylia và New Zealand; 1990-2000: tinh đông Freisian từ Pháp, USA v.v (Bhuiyan 1997)

Chương trình chọn giống hiện tại đã được chấp nhận năm 1982 là: (i) gây giống những con cái ở thành thị, bán thành thị và vùng vựa sữa với 60% Friesian-50% Sahiwal/đực bản xứ; (ii) gây giống những con cái ở vùng nông thôn với 50% Friesian-50% đực indigenous Tuy nhiên trong những trang trại thương mại, lại đang sử dụng100% Friesian Năm 1999, chính sách chọn giống đã được xem xét lại và đã khuyến cáo cho dùng tinh trùng của 50% Freisian-50% indigenous để phát triển chăn nuôi quảng canh truyền thống, tăng cường dùng tinh trùng của chất mầm (germplasm) indigenous đã được cải tiến và phát triển thâm canh sản xuất sữa

Chính sách này đang được điều hành bởi Trại Chọn giống Bò Trung ương (CCBS), 23 trung tâm

Trang 29

thụ tinh nhân tạo ( A.I), 420 chi nhánh trung tâm

A.I và khoảng 550 điểm A.I Tác động của chính

sách trước đây chưa đem lại hiệu qủa thoả mãn

nên một chính sách giống mới đã được đề ra

BMPCUL và BRAC hiện đã bắt đầu thực hiện

chính sách giống của chính mình Họ đã đưa

công tác A.I vào các trại đực giống và sử dụng

tinh trùng nhập nội

Bangladesh cũng thử khả năng thích nghi

công nghệ MOET ở các cơ sở trung tâm của

chính phủ Thế hệ đầu tiên đạt được qua MOET

bởi các kỹ thuật phi giải phẫu gần đây đã được

áp dụng ở CCBS Mặc dù hiện đã có thị trường

thịt bò rất ổn định, bất cứ nguồn di truyền bò nào

cũng vẫn được nhập vào Bangladesh

Đμn trâu

Thống kê cơ bản

Theo điều tra nông nghiệp và chăn nuôi tiến

hành năm 1984, Bangladesh có 0,46 triệu con

trâu Số trâu hiện tại có khoảng 722.769 (Anon

1996) được sở hữu bởi 270.228 hộ (1,2% tổng só

hộ trong cả nước) Bình quân trâu trên một hộ

hiện là 2,67 con Quy mô sở hữu tương ứng trên mỗi hộ nông dân nhỏ, trung bình, lớn là 2,41; 3,0

và 3,49 con Khoảng 35% số trâu của cả nước

được sở hữu bởi hộ nông dân quy mô vừa Tuy nhiên, ở những vùng duyên hải có một số gia

đình nuôi đến 600 trâu Đàn trâu có thể được phân chia thành các loại/giống sau

(a) Giống indigenous nước 433.200 con; (b) Bangladeshi Surti 4500 con; (c) Trâu Đầm lầy bản xứ 37.500 con; (d) Giống lai (Lai NiliRavi) 40.000 con; (e) Giống khác 207.569 con; (f) NiLiRavi 120 con

Đàn trâu này được nuôi ở các vùng nông nghiệp sinh thái đặc trưng, tức là vành đai mía, trong vùng đất đầm lầy, ở miền duyên hải và các

đảo cát của sông Brahmaputra ở vành đai mía, trâu được sử dụng vào mục đích làm sức kéo và trâu đực chiếm ưu thế Vùng duyên hải và lưu vực sông Brahmaputra trâu được sử dụng vừa lấy sữa vừa để kéo ở những vùng này, đàn trâu gồm cả đực và cái, như chỉ ra ở Bảng 3

Bảng 3 Số lượng trâu theo giới ở những vùng lựa chọn của Banglađesh

ở vùng đất sình lầy, trâu được sử dụng để lấy

sức kéo và để lấy thịt Trừ những vùng thấp của

miền duyên hải, trâu ở Bangladesh được nuôi dưới hệ thống bán thâm canh Tuy nhiên, chỉ có

Trang 30

30

một số ít trâu tập trung qua hệ thống này Năm

1998, Bangladesh sản xuất 22,000 tấn thịt bò và

khoảng 4000 tấn thịt trâu

Khả năng sản xuất của trâu

Bảng 4 nêu khả năng sản xuất của các loại

trâu khác nhau

Thời kỳ có chửa của trâu Surti là 309 ngày

Khoảng cách giữa 2 kỳ đẻ của nó là 389 ngày

Sữa trâu ở Bangladesh được sử dụng hầu hết

để sản xuất sữa chua và pho mát Việc vắt sữa

do nông dân hay những người chăn nuôi trâu

thực hiện Sữa bán trực tiếp cho nông dân hay

những người thu mua Thịt trâu nói chung không

được bán ở các thành phố và thị trấn ở nông

thôn, trâu cũng như bò được giết mổ và bán công khai ở các chợ Thường người ta giết mổ những trâu già và loại thải Lái buôn mua trâu ngay gần chợ bán trâu bò rồi mổ và bán thịt ngay trong ngày

Có một số vấn đề khó khăn trong việc sản xuất và cải tiến trâu ở Bangladesh đó là: (i) hệ thống sản xuất trâu hiện có không ngang tầm với khuynh hướng kinh tế-xã hội hiện tại; (ii) chưa có khẩu phần bổ sung cho thời kỳ cạn sữa và chưa

có nghé con đủ để tăng đàn ; (iii) dịch vụ chăm sóc thú y của DLS chưa đầy đủ; (iv) chưa có hệ thống đăng ký khoa học; (v)thiếu chính sách chọn giống trâu phù hợp; (vi) chưa có hệ thống tiếp thị có tổ chức cho sản xuất sữa và thịt

Bảng 4 Đặc điểm của các giống trâu

Chiều cao cơ thể cái sơ sinh (cm)

Chiều cao cơ thể cái trưởng thành (cm)

Chu kỳ cho sữa (ngày)

Bangladesh hiện chỉ có ba đàn trâu được

đăng ký theo dõi: (i) một đàn 198 con được

nuôi giữ ở Trang trại Chọn giống Trâu do DLS

quản lý; (ii) một đàn 26 con được nuôi giữ ở

Trại Sữa của Đại học Nông nghiệp Bangladesh (BAU); và (iii) một đàn 460 con

được nuôi gĩư trong hệ thống hợp tác xã ở những vùng nông thôn khác nhau dưới sự quản lý của Cục Chọn giống và Di tuyền Động vật từ năm 1997

Trang 31

Trước năm 1960, việc chọn giống trâu ở

Banglsdesh có một chương trình nghiêm túc được

thực hiện bởi chính những người nông dân

Chương trình lai tạo với trâu đực NILi-Ravi đã bắt

đầu từ năm 1960 Theo đó các con đực NILi-

Ravi được đưa vàog vùng duyên hải để sản xuất

các thế hệ lai đời sau thông qua giao phối tự

nhiên Đồng thời đẫ tiến hành thông qua A.I do

BAU thực hiện từ năm 1960 đến năm 1978 Tuy

nhiên, vẫn chưa có chương trình tiếp theo để thực

hiện lai tạo các đời sau ở cấp làng xã Việc chọn

giống mang tính đại trà ở tất cả các cấp mà

không theo một chương trình có tổ chức và có kế

hoạch nào

Bảo tồn di truyền trâu bò

Bò Red Chittagong, Baladeshi Surti và trâu

đầm lầy đều có nhu cầu bảo tồn di truyền học

Trại Sữa Trường Đại học Nông nghiệp

Bangladesh đã thu thập một số bò Red

Chittagong và Bangkadeshi Surti để nhân giống

và bảo tồn DLS cũng thu thập bò Red

Chittagong nhằm mục đích bảo tồn Hiện tại chưa

có sự cố gắng bảo tồn trâu đầm lầy Mới đây, Bộ

Cá và Chăn nuôi đã thành lập một uỷ ban để

chuẩn bị những biện pháp bảo tồn di truyền chăn

nuôi gồm cả trâu lẫn bò

Tμi liệu tham khảo

Anon 1984 Bangladesh agriculture and Livestock Census, Republic of Banglsdesh Anon 1996 Bangladesh agriculture and Livestock Census, Republic of Banglsdesh anon.1997-2002 Fifth five Year Plan, the Govement of Reep Republic of Banglsdesh Bhuiyan A.K.F.H 1997 Cattle breeding and improvement Strategy in Bangladesh-Past, Present and Future Keynote paper presented

at a national seminar organised by the directorate of Livestock Services, Govement of the Peoples Republic of Bànlsdesh agricultural Research Council (BARC), Dhka, 25 May,

1997, 1-6

Faruque, M.O 1999 Genotypie difference

in meat quality and quantity of market animal

of Banglaesh Report of the University Grants Commission of Banglsdesh, Dhaka, 19 pages Faruque, M.O 2004 Identification of best genotype of Buffalo for Dairy purposse in Bangladesh and to improve their productivity Final Report, Bangladesh agricultural University Research Council, Dhaka, 80 papes

Trang 32

Hiện trạng và xu thế phát triển ngành thịt bò ở Trung Quốc

Zeng Qingkun1, Yang Bingzhuang 1 , Shang jianghua 1 , vμ Qin Jing 1

Tóm tắt

Trung Quốc có nguồn tài nguyên rất phong phú về cả trâu lẫn bò và chất lượng thịt tốt, nhưng chưa được khai thác một cách đầy đủ Trong 30 năm qua, sản xuất thịt bò của Trung Quốc đã được cải thiện rất nhiều nhờ chính sách của nhà nước Với đà phát triển của công nghệ và mức sống của người dân được nâng lên, thì nhu cầu về thịt bò chất lượng cao sẽ tăng lên, và ngành thịt bò ở Trung Quốc có triển vọng phát triển rất lớn

Theo tài liệu Điều tra Thống kê lần thứ 5 vào

năm 2000 thì dân số Trung Quốc có trên 1,295 tỷ

người, là nước có dân số lớn nhất thế giới Chính

phủ Trung Quốc đã tiến hành kế hoạch hoá gia

đình từ năm 1980, nên tỷ lệ tăng dân số hàng

năm giới hạn là 1% (Anon 2000)

Nguồn tμi nguyên đất đai

Trung Quốc có tổng diện tích đất 9,6 triệu km2, bằng một phần mười lăm của tổng đất đai thế giới, hai phần ba là vùng núi và 10,3% đất canh tác (Bảng1)

Bảng 1 Nguồn tài nguyên đất và sử dụng

Tổng diện tích đất đai

100,0 10,3 2,8 29,8 23,3 4,7 6,9

Nguồn: Yearbook for the Peoples Republic of China in 1998 (Anon.1998)

32

Trang 33

So sánh về tiêu thụ thịt

Xét về lịch sử, bò ở Trung Quốc được sử

dụng chủ yếu là vào mục đích lấy sức kéo với tỷ

lệ sử dụng làm thực phẩm thấp, dẫn đến việc

cung cấp thịt cho thị trường bị hạn chế Sử dụng

thịt bò bình quân đầu người năm 1956 chỉ có

3,29 kg trong khi thịt lợn là 17,24 kg (Bảng 2)

Những năm gần đây, do người dân có sự thay

đổi về cách ăn truyền thống - ăn kiêng, nên

người ta tăng sử dụng thịt có tỷ lệ mỡ thấp và tỷ

lệ đạm cao

Bảng 2 So sánh sử dụng thịt (đơn vị:

kg/người/năm)

Năm Sản phẩm

1994 1995 1996 Thịt lợn

Thịt bò

Thịt gia cầm

Trúng tươi

17,2 3,10 4,13 9,68

17,24 2,44 3,97 9,37

17,24 3,29 3,97 9,64

Nguồn: Yearbook of Chinese Food Industry in

1997 (Anon 1997)

Chính sách phát triển nông nghiệp

Mặc dầu diện tích đất đai của Trung Quốc

đứng thứ ba thế giới, nhưng bình quân đầu

người chỉ đạt 0,073 ha, do dân số đông Để

giải quyết vấn đề lương thực, cần thiết phải

phát triển một nền nông nghiệp với sản lượng,

hiệu quả và chất lượng cao, đặc biệt phát triển

những loài nhai lại ăn cỏ kinh tế Hiện nay

Chính phủ Trung Quốc đang thúc đẩy hai

ngành sản xuất rất quan trọng là sữa và sau đó

thịt và tiếp tục hoạch định những chính sách

thích hợp để phát triển công nghiệp

Đμn bò

Thống kê cơ bản

Theo ước tính của FAO từ năm 1991 đến năm

2000, thì số bò ở Trung Quốc tăng rất nhanh Đàn

đã tăng từ 59,616 triệu lên 81,983 triệu, với tỷ lệ tăng trung bình năm 3,8%; sản lượng thịt bò tăng

từ 1,597 triệu tấn lên 5,023 triệu tấn, tỷ lệ tăng trung bình hàng năm 21,8%; sản lượng sữa tăng từ 5,653 triệu tấn lên 9,009 triệu tấn với tỷ lệ tăng trưởng trung bình năm 5,9% (Bảng 3) (Anon 1991-2000) Trung Quốc có 26 giống bò điạ phương, về lịch sử người ta nuôi với mục đích lấy sức kéo Một nghiên cứu trong 20 năm qua cho thấy bò điạ phương của Trung Quốc cho chất lượng thịt cao, hiện đã có sự thay đổi dần về mục

đích sử dụng là từ nuôi để lấy sức kéo sang nuôi lấy thịt và sữa Để cải tiến việc chăn nuôi bò người

ta đã nhập nội trên 10 giống bò thịt và sữa tốt nổi tiếng đưa vào Trung Quốc và lai với các giống địa phương Việc làm này đã cải thiện được chất lượng sữa và thịt của bò địa phương Hiện tại, số bò thịt

địa phương và bò thịt lai chiếm 15% tổng số đàn bòi ở Trung Quốc (Zan và cộng sự 1999)

Thông tin về khả năng sản xuất

Đặc điểm thịt bò

Sau khi vỗ béo, tỷ lệ thịt móc hàm của bò Trung Quốc ngang với những giống bò chuyên thịt Chẳng hạn, tỷ lệ thịt móc hàm của bò Qinchuan Cattle và bò Jinan Cattle tương ứng là 64,22% và 63,44%, (so sánh với Limousin 64%, Angus 65%, Charolaiss 67%, Shorthorn 65%, Hereford 59,8%, Helvetic Simmental 62,9% và German Simmental 62,9%); Tỷ lệ thịt trên 53% (Bảng 4) Những số liệu này chứng tỏ rằng giống bò Trung Quốc thuần chủng có đặc tính thịt rất tốt Trước đây tỷ lệ thịt móc hàm bò Trung Quốc được coi là thấp, do không có thời kỳ vỗ béo thích hợp

Trang 34

kg

77.627,672 3.296.374 7.257.517 23.443.440 140,6

75.861.129 3.333.490 7.891387 22.916.420 145,

69.102.938 4.105.401 7.644.204 29.690.104 138,3

76.850.267 4.485.381 8.016.726 32.585.292 137,7

79.198.309 4.710.873 8.644.380 34.086.816 138,2

81.983.409 5.022.873 9.009.275 35.787.816 140,4

Nguồn: FAO statisics (Anon 1991-2000)

Bảng 4 Đặc điểm của tỷ thịt móc hàm của bò Trung Quốc

565,03 363,25 64,22 306,44 54,54

45,04 32,85 2,21 29,48 1,71

30

30

30

25 25

541,87 343,98 63,44 292,75 54,20

45,58 32,99 2,07 30,77 1,84

42,47 28,27 1,25 26,70 1,60 Giống

Ke'erqing Fuzhou Bohai Mục

576,26 356,09 61,73 300,02 51,94

68,79 46,03 1,49 40,91 1,61

10

10

10

10 10

585,80 362,98 62,05 302,21 51,62

66,35 37,62 1,58 33,56 1,25

44,22 28,85 1,75 24,71 1,89

Nguồn: Jiang 1996

Những chi tiết về thị trường

Nói chung, phần lớn nông dân giết thịt bò đực

ở tuổi 3 có trọng lượng trên 480 kg để bán; còn

với bò sữa già hơn bò đực thì thường giết mổ sau

khi đã được vỗ béo vừa phải

Theo nguyên tẵc, các động vật nói chung đều

phải mang đến lò mổ để bảo đảm sức khoẻ cộng

đồng Thông thường, thịt bò khi đem đến chợ vẫn

còn tươi

Những năm gần đây, Trung Quốc đã tiến hành chuẩn hoá về phân hạng thịt bò, căn cứ vào

đó để sản xuất bò có chất lượng cao và điều đó

đã thúc đẩy việc xuất khẩu thịt bò

Những trở ngại trong sản xuất

Những trở ngại chính trong sản xuất là sự khác biệt về thời tiết giữa các mùa, bệnh tật và phương thức nuôi dưỡng

Trang 35

Chương trình di truyền vμ chọn giống

Đăng ký theo dõi giống

Việc Đăng ký Giống Tốt được tiến hành ở

nhiều vùng nông thôn, những cơ sở sản xuất và

khu vực thuộc dự án Các khoản mục đăng ký

theo dõi gồm ID động vật, ngày sinh, phả hệ (như

ID và đặc điểm sản xuất về đực giống và con

mẹ), đặc điểm sản xuất, hình thể bên ngoài, kích

thước cơ thể, trọng lượng cơ thể, chỉ số di truyền

và chỉ số đặc điểm chung

Nguồn di truyền mới

Có trên 10 giống bò thịt và bò sữa ngoại tốt

đã liên tục được đưa vào Trung Quốc, gồm

Holstein, Simmental, Limousin, Charolais,

Hereford, Shortorn và Angus, đã cải tiến được

một số giống bò lai Trung Quốc và cải thiện

được những đặc tính sữa thịt của chúng

Các chương trình chọn giống quốc gia

Mục tiêu chọn giống

Nhằm sản xuất bò chuyên thịt và sữa tốt bằng

cách chọn giống thuần chủng và lai tạo

Chỉ số chọn giống

Chỉ số đặc điểm sữa: sản lượng sữa 305 ngày

gần đạt hoặc tiến tới đạt mức quốc tế với tỷ lệ mỡ

Lượng tiêu thụ thịt và sữa bình quân đầu

người hàng năm ít hơn nhiều so với mức trung

bình thế giới Bò là nguồn thịt và sữa chủ yếu

trong thời gian trước mắt cũng như về lâu dài

trong tương lai Vì vậy, bò sẽ là mục tiêu chính cho các chiến lược phát triển, và mở ra triển vọng cho tương lai

Phát triển bò thịt nhằm vào việc cải thiện đặc

điểm và chất lượng thịt để có thể đạt được phần lớn thịt ăn trong khẩu phần hàng ngày cho con người; đồng thời phát triển bò sữa nhằm tăng sản lượng và thoả mãn nhu cầu về sữa (Zhou 2000)

Để phát triển tiềm năng ngành chăn nuôi bò thịt ở Trung Quốc, chiến lược thức ăn cần được chú trọng, và các giống bò chuyên thịt ngoại tốt

sẽ được nhập để lai với bò có sức sản xuất thấp

để cải thiện đặc điểm và chất lượng thịt bò Mặt khác, cần cải tiến việc chọn lọc giống bò Trung Quốc để phát triển các giống bò thịt ưu tú cho Trung Quốc

Đμn trâu

Thống kê cơ bản

Theo đánh giá của FAO, trâu được nuôi ở 18 tỉnh của Trung Quốc và đàn trâu tăng nhẹ từ 21,712 triệu năm 1991 lên 22,599 triệu năm

2000, hiện tại chiếm khoảng 21,6% tổng số đàn gia súc của Trung Quốc (Anon 1991-2000) Tỷ lệ tăng trưởng bình quân năm 0,41% thấp hơn tỷ lệ tăng trưởng bình quân năm của thế giới (1,04%) (Bảng 5)

Có 18 giống trâu địa phương ở Trung Quốc, chúng thuộc giống đầm lầy Chúng được sử dụng làm sức kéo do có đặc điểm thấp về sữa và thịt Trong 20 năm qua, đặc điểm sữa và thịt của trâu

đã được cải thiện bằng cách lai tạo và chọn lọc, mục đích sử dụng đã thay đổi từ sử dụng làm sức kéo sang lấy sữa và thịt

Trang 36

kg tấn

22.928.259 3.007.502 301.625 100,3 2.200.000

23.597.103 2.507.297 251.582 100.3 2.300.000

21.733.463 3.246.209 325.565 100.3 2.450.000

22.556.688 3.387.463 339.403 100.02 2.450.000

22.676.620 3.667.685 367.403 100.2 2.450.000

22.598.620 3.605.685 361.403 100,2 2.450.000

Nguồn: Science of Chinese Buffalo (Zhang et al 2000)

Thông tin về khả năng sản xuất

Sinh trưởng vμ đặc điểm thịt của trâu

Tỷ lệ sinh trưởng giữa giống trâu địa phương

Trung Quốc và giống trâu sông Murrah nhập nội

và trâu NiLi-Ravi trong hai năm đầu tương tự

nhau, nhưng trâu lai cao hơn do ưu thế lai (Bảng

6) Trọng lượng cơ thể của trâu địa phương

trưởng thành kém hơn trâu Murrah và kém xa

trâu NiLi-Ravi hơn 200 kg (Bảng 7)

Những chi tiết thị trường

Tiêu chuẩn không được thống nhất, nhìn

chung thì trâu được giết mổ ở 24 tháng tuổi sau

thời kỳ vỗ béo vừa phải Chúng được các công ty

giết mổ thương mại thu gom và kiểm dịch giống

như lợn để bảo đảm rằng con vật bán ra bảo

đảm khoẻ mạnh và sau đó được vận chuyển tới

những chợ đầu mối

Do yêu cầu tiêu dùng hàng ngày của con

người và sự hạn chế về trang thiết bị của lò mổ,

thịt được cung cấp tới thị trường là thịt tươi Sản

phẩm đông lạnh chất lượng còn thấp

Những hạn chế về sản xuất

Thay vì thời tiết mùa vụ và bệnh tật, sự ảnh

hưởng chủ yếu đến sản xuất trâu là chăn nuôi

Đăng ký theo dõi giống trâu

Kế hoạch đăng ký giống tốt được bắt đầu ở các trại chọn giống động vật, các hộ và các vùng nông thôn, những nơi có chăn nuôi trâu Chỉ số chọn lọc là thành phần chính kết hợp với chỉ số phả hệ và chỉ số sản xuất tổng thể Lý lịch giống trâu tốt gồm ID động vật, ngày tháng năm sinh, màu lông, số lần đã chửa đẻ (tuổi), phả hệ (ID của con mẹ và con bố và đặc điểm sữa của con mẹ), đặc điểm sữa (năm, số lần chửa đẻ, tỷ lệ mỡ sữa của 305 ngày cho sữa) Điểm số tổng thể, kích thước cơ thể, trọng lượng cơ thể, chỉ số di truyền và chỉ số sản xuất tổng thể Trâu được

đăng ký lý lịch trâu tốt chỉ khi chúng đạt một trong những điểm sau:

a một hoặc nhiều hơn những mục trong các chỉ số chọn giống trâu;

b giá trị bảo tồn của chỉ số di truyền đối với nghé được lựa chọn bởi các chỉ số di truyền;

c 100% các chỉ số khả năng sản xuất tổng thể đối với nghé được lựa chọn theo chỉ số khả năng sản xuất tổng thể, từ đó những con đực và con đực giống ưu tú được dùng để chọn giống và những con cái cũng như con cái giống được đưa vào đàn giống hạt nhân;

Trang 37

Bảng 6 Đặc điểm sinh sản và sản xuất một số giống trâu

NiLi-Ravi

Murrah lai

Ravi lai

NiLi-Giống lai Khoảng thời gian mang thai

đực cái

đực cái

450 0,71 0,62 0,46 0,43 547,8

485,0

447,5 0,63 0,60

491,7 446,5

839,5 0,62 0,55 0,38 0,36 487,1

428,9

471,4 0,65 0,55 0,43 0,48 888,0 622,4

531 0,64 0,6 0,42 0,49 821,1 659,8

535 0,63 0,51

473,2

486,7

481,2 0,45 0,61 0,45 0,58 642,6

506,2 0,78 0,72 0,6 0,58 922,5 662,1

Nguồn: Science of Chinese Buffalo (Zhang et al.2000)

Bảng 7 So sánh đặc điểm thịt trâu đực

(tháng)

Trọng lượng trước giết mổ (kg)

Trọng lượng thịt

xẻ (kg)

Trọng lượng thịt (kg)

Tỷ lệ thịt móc hàm (%)

Tỷ lệ thịt (%)

Tỷ lệ thịt - xương

Diện tích cơ lưng - mắt (cm 2 ) Giống địa phương

216,0

447 398,0 361,0 440,7 313,3 292,0 436,7

109,8

251 205,6 206,1 230,6 170,3 210,9 219,1

85,0 190,4 165,5 173,5 187,0 132,8 164,5 171,9

50,8 56,2 51,9 57,1 52,4 54,4 53,7 50,1

39,3 42,6 41,3 48,1 42,4 42,3 41,9 39,3

1:3,4 1:4,8 1:4,1 1:4,9 1:4,5 1:3,8 1:3,6 1:3,6

40,7

156 75,1 47,9

Nguồn: Science of Chinese Buffalo (Zhang et at 2000)

Nguồn di truyền mới

Trâu Murrha từ ấn Độ và trâu NiLi-Ravi từ

Pakistan tương ứng được đưa vào Trung Quốc từ

1957 và 1974 Trong số này, đàn tăng và chọn lọc

trong hơn 20 năm từ hàng chục lúc đầu lên hàng

trăm hiện nay bằng cách sử dụng giống thuần

chủng và từ nguồn tinh đông sản xuất được Viện

Nghiên cứu Trâu thuộc Tỉnh Quảng Tây Trung

Quốc đã sử dụng hai giống trâu sông để lai tạo với

trâu địa phương Sản lượng sữa trung bình 305

ngày của trâu lai ba máu đã đạt trên 2100 kg thậm

chí còn trên 3800 kg đối với những cá thể cao

nhất Tỷ lệ thịt móc hàm và tỷ lệ thịt của trâu đực tương ứng là 54,4% và 42,25%

Chính phủ ấn Độ đã chuyển cho một đợt tinh trâu Murrah từ năm 1995 Hiện nó vẫn đang được

sử dụng ở Viện Nghiên cứu Trâu Quảng Tây, nơi

có một quá trình tốt về chọn giống trâu Murrah thuần

Chương trình chọn giống

Mục tiêu chọn giống

Nhằm chọn được các giống trâu mới với hai mục đích sữa và thịt

Trang 38

38

Phương pháp chọn

Mô hình lai hai giống: sử dụng những phương

pháp lai mới nhất; và Mô hình lai ba giống: sử

dụng các phương pháp lai dần dần

Chỉ số chọn giống

Chỉ số đặc điểm sữa: sản lượng sữa 1500 kg

ở chu kỳ cho sữa đầu tiên 305 ngày và tỷ lệ mỡ

sữa 7,0%

Chỉ số đặc điểm thịt: nặng trên 350-400 kg ở

tuổi 18-24 tháng, tỷ lệ thịt móc hàm trên 50% và

tỷ lệ thịt trên 10%

Phân bố việc cải tiến giống trâu

Nhiều vùng sản xuất trình diễn đã được đưa

vào các chương trình chọn giống nhằm đẩy

mạnh phát triển việc chọn lọc và sản xuất giống

trâu Chẳng hạn, tinh đông viên được cấp tương

ứng đúng với các giống hoặc loại trâu của các

trạm cải tiến và chọn lọc giống tỉnh hoặc thành

phố phù hợp với chương trình phân phối đã định

trước

Chương trình chọn giống tư nhân

Việc chọn giống thuần hay giống lai đều được

tiến hành theo tình hình và điều kiện thực tế của

những vùng khác nhau

Chính sách chọn giống

Việc phát triển trâu với mục đích tăng gấp đôi

lượng thịt và sữa là con đường giải quyết hiệu

quả những khó khăn trong việc cung cấp thịt và

sữa cho vùng miền nam Trung Quốc

Chính phủ Trung Quốc đã quan tâm đến sự

phát triển và sử dụng nguồn tài nguyên trâu

Tháng Mười 1974, Văn phòng Khoa học và Giáo

dục cũ thuộc Bộ Nông nghiệp đã tổ chức cho 14

tỉnh một cuộc Hội thảo về Chăn nuôi Trâu tại

thành phố Nam Ninh thuộc tỉnh Quảng châu Tại

cuộc hội thảo này đã thành lập một Nhóm Điều

phối về Cải tiến và Chọn giống Trâu Quốc gia nhằm tổ chức và điều phối các hoạt động nghiên cứu khoa học và sản xuất trâu trong toàn quốc Tháng Chín 1987, Văn phòng Chăn nuôi Gia súc

cũ thuộc Bộ Nông nghiệp đã tổ chức một cuộc Hội thảo về Phát triển và Sử dụng Trâu tại Bắc kinh để triển khai kế koạch sơ bộ và tiến tới thành lập một Nhóm chuyên gia và Dự án về Phát triển Trâu Quốc gia vào tháng Tư 1989 Tháng Bảy 1991, Uỷ ban Khoa học Công nghệ Quốc gia cũ đã phân một Dự án Phát triển Sữa Trâu cho cả hai tỉnh Quảng Tây và Quảng Đông Năm 1996, Cơ quan Dự án Sữa Trung ương thuộc Bộ Nông nghiệp đã tổ chức cho ba tỉnh Quảng Tây, Vân Nam và Quảng Đông triển khai

Dự án Phát triển Trâu EU - Trung quốc về lai cải tiến và chọn giống, đào tạo kỹ thuật, phát triển sữa và chế biến sữa trâu Hơn nữa, Chính phủ Trung Quốc mong muốn phát triển bò, trâu và trâu sữa như là một phần trong Kế hoạch Phát triển Kinh tế Quốc gia 2001-2005 Với sự trợ giúp của Chính phủ ngành nuôi trâu đã có những bước phát triển mạnh mẽ Hiện tại, tỉnh Quảng Tây có một đàn trâu lớn nhất Trung Quốc (4.800.000 con)

Khuynh hướng phát triển tương lai

• Phát triển trâu địa phương ở miền nam Trung Quốc chuyển từ lấy sức kéo sang sản xuất thịt, đặc biệt những trâu có những đặc

điểm di truyền tốt như kích thước cơ thể lớn

và tỷ lệ sinh trưởng cao, để có thể cải thiện các đặc điểm sản xuất và chất lượng với thời hạn vỗ béo ngắn

• Gia tăng đàn trâu được chọn lọc với đặc

điểm sản xuất sữa cao bằng cách chọn giống thuần hoặc lai tạo giống sữa, thúc đẩy phát triển ngành sản xuất sữa trâu ở những vùng thích hợp

Trang 39

• Tăng cường chọn lọc và bảo tồn nguồn tài

nguyên giống trâu tốt Sử dụng công nghệ

sinh học như MOET để đẩy nhanh tốc độ

chọn những giống trâu tốt nhằm thúc đẩy

việc cải tiến giống trâu

Bảo tồn di truyền bò vμ trâu

Các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã làm

những thực nghiệm so sánh nhiều năm cho

thấy rằng thịt bò Trung Quốc được giết mổ sau

khi vỗ béo đạt được cấp thịt bò đặc biệt về tất

cả các chỉ tiêu, với chất lượng cao nhất, lượng

vị đặc biệt, mềm và ngon; trong khi tăng trọng/

ngày của một số giống trâu Trung Quốc ở 24

tháng tuổi vẫn đạt ngang với các giống tốt

nhập nội Điều này chứng tỏ rằng trâu bò

Trung Quốc có nguồn tài nguyên di truyền tốt

với đặc điểm thịt tốt

Việc bảo tồn di truyền trâu và bò được thực

hiện thông qua việc bảo tồn động vật sống,

bảo tồn tinh đông, phôi và thiết lập một ngân

hàng gen

Tμi liệu tham khảo

Anon 1997 Yearbook of the industry of China Beijing: The Light Industry Publishing House of China Anon.1998 Yearbook of the industry of China Statistics Bureau, Govement of China Beijing: The statistics Publishing House of China

Anon 2000 The World Population Data in 2000 Human Population and Family Planning, 47(5); 58-63 Anon 1991-2000 FAO database, http://apps.fao.org

Jiang, H.M 1996 Research Report on Meat Performance of Chinese Cattle Journal of cattle, 22(3); 10-16

Zan, L.S., Zhang, K.Z., and Guo, Z.C.1999 Enhancing of importation, reproduction anf special variety breeding of beef cattle Journal of Cattle , 25(4); 35-36

Zhou, G.H 2000 Current situation and strategies fer the beef industry in China Livestosk and Veterinary, 32(1); 16-17

Zhang C.X., Wu W.Q and zou, L.S 2000 Science of Chinese Bufflo Nanning; Science and Technology Publishing House of Guangxi

Trang 40

ta đã tiến hành chọn lọc, nhưng ở những vùng nhất định lại khuyến khích việc lai giống với tinh của những giống nhập nội sử dụng những con cái thuần địa phương Việc bảo tồn di truyền, điều tra, mô tả đặc điểm, bảo tồn và các chương trình cải tiến một số giống bản xứ khác nhau được điều hành dưới Dự án Mạng lưới về Nguồn tài nguyên Di truyền Động vật Mục đích là để xác định tình trạng đàn, các điều kiện kinh tế-xã hội và những đặc điểm giống

để xây dựng một chương trình bảo tồn những giống đang có chiều hướng giảm dần về số lượng

1 Phó Tổng Giám đốc (Khoa học Động vật), Hội đồng Nghiên cứu Nông nghiệp, Krishi Bhavan, New Delhi-110001, Ân Độ

ấn Độ là một nước có đàn gia súc lớn nhất

thế giới, theo thống kê hiện tại thì có trên 470

triệu con và theo tài liệu điều tra chăn nuôi chính

thức mới nhất năm 1992 có tỷ lệ tăng trưởng hơn

1,5% mỗi năm

Diện tích ấn Độ nhỏ hơn 3% diện tích của thế

giới nhưng ngược lại nó đã có tới 55% số lượng

trâu, 16% lượng bò; 20% lượng dê và xấp xỉ 4%

lượng cừu của thế giới Hiện tại, chăn nuôi và các

sản phẩm chăn nuôi chiếm khoảng 26% trong tổng sản phẩm nông nghiệp của ấn Độ Mặc dù phần thu nhập của nông nghiệp chiếm trong GDP của ấn Độ có giảm đi, giá trị thu nhập từ những sản phảm chăn nuôi vẫn có chiều hướng tăng lên

Ngành sản xuất sữa chiếm khoảng 66% giá trị của sản phẩm chăn nuôi Sản xuất sữa và chăn nuôi gia súc đóng một vai trò sống còn

40

Ngày đăng: 02/08/2014, 00:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3. Số l−ợng gia súc mỗi năm - Chiến lược phát triển đánh giá di truyền cho ngành chăn nuôi bò thịt ở các nước pot
Bảng 3. Số l−ợng gia súc mỗi năm (Trang 16)
Bảng 6. Bảng đăng ký  bị thịt của Ơxtrâylia theo giống - Chiến lược phát triển đánh giá di truyền cho ngành chăn nuôi bò thịt ở các nước pot
Bảng 6. Bảng đăng ký bị thịt của Ơxtrâylia theo giống (Trang 20)
Hình 9. Bị ni Ơxtrâylia (1999) - Chiến lược phát triển đánh giá di truyền cho ngành chăn nuôi bò thịt ở các nước pot
Hình 9. Bị ni Ơxtrâylia (1999) (Trang 21)
Bảng 4.  Đặc điểm của các giống trâu. - Chiến lược phát triển đánh giá di truyền cho ngành chăn nuôi bò thịt ở các nước pot
Bảng 4. Đặc điểm của các giống trâu (Trang 30)
Bảng 1. Nguồn tài nguyên đất và sử dụng - Chiến lược phát triển đánh giá di truyền cho ngành chăn nuôi bò thịt ở các nước pot
Bảng 1. Nguồn tài nguyên đất và sử dụng (Trang 32)
Bảng 3. Số l−ợng nuôi, bán và sản l−ợng thịt bò - Chiến lược phát triển đánh giá di truyền cho ngành chăn nuôi bò thịt ở các nước pot
Bảng 3. Số l−ợng nuôi, bán và sản l−ợng thịt bò (Trang 34)
Bảng 7. So sánh đặc điểm  thịt trâu đực - Chiến lược phát triển đánh giá di truyền cho ngành chăn nuôi bò thịt ở các nước pot
Bảng 7. So sánh đặc điểm thịt trâu đực (Trang 37)
Bảng 2. Đàn bò bản xứ và bò lai (triệu con) - Chiến lược phát triển đánh giá di truyền cho ngành chăn nuôi bò thịt ở các nước pot
Bảng 2. Đàn bò bản xứ và bò lai (triệu con) (Trang 42)
Bảng 5. Trọng lượng sơ sinh và trọng lượng cơ thể trưởng thành của những giống bò khác nhau - Chiến lược phát triển đánh giá di truyền cho ngành chăn nuôi bò thịt ở các nước pot
Bảng 5. Trọng lượng sơ sinh và trọng lượng cơ thể trưởng thành của những giống bò khác nhau (Trang 43)
Bảng 8. Trọng lượng sơ sinh và trọng lượng cơ thể trưởng thành của các giống trâu khác nhau - Chiến lược phát triển đánh giá di truyền cho ngành chăn nuôi bò thịt ở các nước pot
Bảng 8. Trọng lượng sơ sinh và trọng lượng cơ thể trưởng thành của các giống trâu khác nhau (Trang 45)
Bảng 9. Đặc điểm sinh sản của các giống trâu khác nhau - Chiến lược phát triển đánh giá di truyền cho ngành chăn nuôi bò thịt ở các nước pot
Bảng 9. Đặc điểm sinh sản của các giống trâu khác nhau (Trang 46)
Bảng 3. Đàn bị ở các tỉnh của Inđơnêxia  1995-99 - Chiến lược phát triển đánh giá di truyền cho ngành chăn nuôi bò thịt ở các nước pot
Bảng 3. Đàn bị ở các tỉnh của Inđơnêxia 1995-99 (Trang 51)
Bảng 6. Đàn trâu ở các tỉnh của Inđônêxia  1995-1999 (x 1000 con) - Chiến lược phát triển đánh giá di truyền cho ngành chăn nuôi bò thịt ở các nước pot
Bảng 6. Đàn trâu ở các tỉnh của Inđônêxia 1995-1999 (x 1000 con) (Trang 54)
Bảng 8. Sản xuất tinh đông ở các trung tâm AI (1998/1999) - Chiến lược phát triển đánh giá di truyền cho ngành chăn nuôi bò thịt ở các nước pot
Bảng 8. Sản xuất tinh đông ở các trung tâm AI (1998/1999) (Trang 56)
Bảng 9. Chương trình thụ tinh nhân tạo cho bị (1977). - Chiến lược phát triển đánh giá di truyền cho ngành chăn nuôi bò thịt ở các nước pot
Bảng 9. Chương trình thụ tinh nhân tạo cho bị (1977) (Trang 57)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w