Trong những trường hợp này, không thể liên hệ giữa giá trị của co ngót và giá trị của ñộ ẩm cân bằng; sự mất nước xảy ra rất nhanh và luôn luôn có sự cân bằng giữa nước bên trong và hơi
Trang 1khi mẫu thử mảnh (vài milimet) Nhiều nhà thực nghiệm ñã tiến hành ño trong những ñiều kiện như vậy [ALEXANDER, 1959; MILLS, 1966; VERBECK, 1968]
Nếu mẫu hồ xi măng không ñủ thời gian ñể thuỷ hoá, thì nó ñược coi như vật liệu xốp nhưng trơ về phương diện hoá học Trong trường hợp này hy vọng có thể ñi xa hơn và dẫn ñến lý thuyết về co ngót “khô”
Trong những trường hợp này, không thể liên hệ giữa giá trị của co ngót và giá trị của ñộ ẩm cân bằng; sự mất nước xảy ra rất nhanh và luôn luôn có sự cân bằng giữa nước bên trong và hơi nước bên ngoài môi trường không khí Do ñó cần phải xác ñịnh giá trị của co ngót theo hàm lượng nước bốc hơi (hay là sự mất mát khối lượng mẫu thử) ðối với tất cả các loại hồ xi măng, với tuổi và tỷ số N/X bất kỳ , người ta chia ra hai giai ñoạn liên co ngót tiếp nhau ( hình 7.9) Chúng ta gọi hai giai ñoạn này theo hai chữ cái A và B và gọi tắt là “co ngót A” và “co ngót B”
Hình 7.9 Sự tăng co ngót theo sự giảm khối lượng (theo VEBECK 1968) hồ ở
tuổi 7 ngày, tỷ số N/X = 0.5)
ðường cong mô tả sự thay ñổi co ngót ñược biểu diễn bằng hai ñoạn thẳng; ñoạn ñầu qua gốc toạ ñộ, tương ứng với co ngót giai ñoạn A; ñoạn 2 tương ứng với giai ñoạn B Trục thẳng ñứng QD ở bên phải tương ứng với hàm lượng nước nhào trộn Nước trong hồ có thể chia thành các ñoạn OM, MN và NQ
NQ: phần nước không bay hơi (trong ñiều kiện thí nghiệm): 32% lượng nước nhào trộn
OM: phần nước mất ñi trong giai ñoạn A: 52% lượng nước nhào trộn
Trang 2MN: phần nước mất ñi trong giai ñoạn B: 16% lượng nước nhào trộn
- Giai ñoạn A gây ra bởi sự dịch chuyển nước mao quản
- Giai ñoạn B gây ra bởi sự dịch chuyển nước trong các lỗ rỗng
Hình 7.10 Co ngót giai ñoạn A của mẫu hồ 28 ngày tuổi
ðường cong liền ñược vẽ bởi ALEXANDER (1959) cho mẫu hồ xi măng có tỷ
số N/X bằng 0.4 Hai ñường thẳng (chấm-gạch) ñược vẽ bởi VERBECK (1968) cho 2 mẫu hồ có tỷ số N/X bằng 0.3 và 0.5; ở ñây hai ñường thẳng ñi qua gốc toạ ñộ ñược vẽ gần ñúng (tỷ suất co ngót là hằng số trong suốt quá trình mất nước) Ta thấy rằng kết quả của co ngót cuối cùng của giai ñoạn A của năm 1959 và năm 1968 khá giống nhau; tỷ suất co ngót giai ñoạn A cùng mức ñộ với nhau
Trang 3Hình 7.11: Sự thay ñổi của tỷ suất co ngót giai ñoạn A theo thời gian của hồ xi
măng(theo VERBECK 1968)
Tỷ suất co ngót trung bình giai ñoạn A của mẫu hồ xi măng tăng theo thời gian ;
nó ñạt giá trị ít thay ñổi tại tuổi 90 ngày
Trên hình vẽ ñường cong của mẫu hồ có tỷ số N/X từ 0.5 ñến 0.7 trùng nhau (rất giống nhau) (ñường có nét liền)
ðường nét ñứt , tương ứng với mẫu hồ xi măng có tỷ số N/X là 0.3 nằm trên ñường cong có tỷ số N/X là 0.5 và 0.7
ðể ñánh giá kết quả thực nghiệm người ta dùng “tỷ suất co ngót T”
% l−îng khèi m gi¶
ngãt co
= T
T là góc nghiêng của tất cả các ñiểm của ñường cong
Trang 4A gd cuèi l−îng m¸t khèi mÊt
A gd céng tæng ngãt co
=
Tỷ suất trung bình giai ñoạn A của hồ xi măng tăng theo thời gian (hình 7.11); ñiều này có thể liên quan ñến sự giảm dần dần bán kính mao quản những lỗ rỗng mao quản bị thay thế dần dần bởi các sản phẩm thuỷ hoá
Ở cùng tuổi như nhau, tỷ suất co ngót trung bình giai ñoạn A không phụ thuộc vào tỷ số N/X trong hồ xi măng nếu tỷ số này vượt qúa 0.5; khi N/X dưới 0.5 tỷ suất này tăng nếu tỷ số N/X giảm (hình 7.11) ðiều này không chỉ phù hợp một phần so với những ñiều ñã biết trong cấu trúc của hồ xi măng: Tại tuổi ñã cho, kích thước mao quản trung bình tăng nếu tỷ số N/X tăng nhưng ñiều này chỉ ñúng khi tỷ số N/X lớn hơn hay nhỏ hơn 0.5
Ta có thể tóm tắt ở ñây những gì ñã xảy ra: khi so sánh những mẫu hồ xi măng
có ñộ tuổi hay tỷ số N/X khác nhau, người ta thấy rằng tỷ suất co ngót trung bình tăng khi bán kính mao quản nhỏ
Co ngót giai ñoạn A dường như tăng chậm theo tỷ số N/X trong những hồ xi măng ở tuổi rất lớn Hình 7.12 cho thấy sự thay ñổi này của mẫu hồ xi măng ở tuổi 90 ngày Co ngót tổng cộng giai ñoạn A của mẫu hồ này thay ñổi từ 0.33 ñến 0.57% khi
tỷ số N/X thay ñổi từ 0.3 ñến 0.7 (hình 7.12)
Hình 7.12 Sự thay ñổi của co ngót tổng cộng giai ñoạn A của vữa XM ở tuổi 90 ngày theo tỷ số N/X của vữa (theo kết quả thí nghiệm của VERBECK 1968)
Co ngót giai ñoạn B
Trang 5Tỷ suất co ngót giai ñoạn B sấp xỉ là hằng số trong suốt quá trình mất nước của giai ñoạn B (ALEXANDER, 1959; MILLS , 1966; VERBECK, 1968) Nó phụ thuộc rất ít vào tuổi của mẫu hồ xi măng (ALEXANDER, 1959; VERBECK, 1968) và ít khi giống nhau ñối với những mẫu hồ có tỷ số N/X khác nhau (VERBECK, 1968)
Ta biết rằng cấu trúc của sản phẩm thuỷ hóa là giống nhau Ví dụ, ñộ rỗng nhanh chóng ñạt ñến giá trị tối thiểu (26%) không phụ thuộc vào thời gian và tỷ số N/X Bởi vì các yếu tố cấu trúc còn lại của hồ xi măng (ñáng kể ñến là kích thước mao quản) thay ñổi rất lớn với các tham số này, chúng ta còn phải bàn luận thêm khi coi co ngót giai ñoạn B là do sự dịch chuyển nước trong các lỗ rỗng do các sản phẩm thuỷ hoá tạo nên
Giá trị của tỷ suất co ngót giai ñoạn B, theo các nhà thực nghiệm thì khác biệt một chút ( có thể là do thay ñổi tốc ñộ mất nước hay sự thay ñổi hàm lượng của xi măng); nó tuân theo thứ tự : 4% (ALEXANDER, 1959) hay 7% (VERBECK, 1968) có nghĩa là gấp từ 100 ñến 200 lần giá trị tỷ suất co ngót trung bình giai ñoạn A Nó còn phụ thuộc vào kích thước mao quản và kích thước lỗ rỗng:
binh trung rçng lç kÝnh B¸n
binh trung n qu¶
mao kÝnh B¸n A
binh trung ngãt co
suÊt
Tû
B ngãt co suÊt
Trang 6Tuổi càng cao thì khả năng biến dạng của hồ xi măng dưới tác dụng của tải trọng càng kém (môñun ñàn hồi tăng theo thời gian) Tuy nhiên co ngót vẫn lớn; ñiều này chứng tỏ rằng ứng suất do co ngót tăng theo thời gian và nhanh hơn mô ñun ñàn hồi
Sự tăng ứng suất này gắn liền ñáng kể với sự tăng diện tích bề mặt của hồ xi măng theo thời gian
Co ngót tổng cộng giai ñoạn B dường như phụ thuộc một chút vào tuổi của hồ xi măng; nó tăng theo tỷ số N/X (bảng 7.2)
Bảng 7.2
Co ngót tổng cộng giai ñoạn B
(giá trị thu ñược theo VERBECK, 1968)* 0.6% 0.7% 0.8%
* Những giá trị này phụ thuộc vào tốc ñộ mất nước và thời gian thí nghiệm (vì khi kết thúc thí nghiệm tất cả nước theo giả thiết có thể bốc hơi không chắc chắn là bốc hơi hết (ALEXANDER, 1959 thấy rằng những giá trị nhỏ hơn từ 2 ñến 3 lần do lượng nước mất ñi ít hơn)
Hình 7.14 Biến dạng của vữa XM theo thời gian
Với tuổi giống nhau, co ngót tổng cộng tăng nếu tỷ lệ N/X tăng; sự tăng lên này của co ngót tổng cộng là do sự tăng lên của co ngót giai ñoạn A hoặc co ngót giai ñoạn
B Nó ñã ñược biết ñến trong rất nhiều thí nghiệm khoa học ( thực hiện trên những mẫu thử rắn chắc trong ñiều kiện mất nước.; trong những trường hợp tương tự, co ngót cuối cùng tăng theo tỷ số N/X (VENUAT, 1960) Tuy nhiên nếu chúng ta so sánh hình 7.13 và hình 7.14, ta sẽ thấy rằng co ngót tổng cộng giai ñoạn A và tỷ suất co ngót
Trang 7trung bình giai ñoạn A có thể thay ñổi theo chiều ngược lại Với cùng giá trị lượng tổn thất khối lượng co ngót của hồ xi măng có tỷ số N/X bằng 0.3 lớn hơn so với khi N/X bằng 0.5; nhưng lượng tổn thất khối lượng tổng cộng thì nhỏ hơn nên co ngót tổng cộng nhỏ hơn (hình 7.14)
Trong những ñiều kiện thường gặp trong thực tế, sự mất nước không bao giờ kết thúc; ñầu tiên bởi vì ñộ ẩm tương ñối thường khá cao (ñộ ẩm trung bình hàng năm ở Bretagne là 85%, ở Côte d’Azur là 70%); Sau ñó là do ñộ lớn của các hạt và sự mất nước xảy ra rất chậm ( xem phần giới thiệu) Vì ta không thể loại trừ một phần co ngót giai ñoạn B do ñó co ngót giai ñoạn A là quan trọng hơn Trong những ñiều kiện khí hậu ôn ñới thông thường , co ngót của bê tông trong kết cấu (kích thước hạt lớn nhất là 20mm) vào khoảng 3.10-4, nhỏ hơn 10 lần so với hồ xi măng có tỷ số N/X bằng 0.3
Sự giảm từ 10 (hồ) xuống 1 (bê tông) là do có mặt của cốt liệu; những hạt cốt liệu làm cản trở co ngót của hồ nhưng có thể gây ra những vết nứt nhỏ
6.3 Co ngót của mẫu thử vữa rắn chắc vừa mất nước do bay hơi
Chúng ta vừa nghiên cứu ảnh hưởng riêng rẽ của các mất nước do bay hơi và mất nước do phản ứng thuỷ hoá (trước giai ñoạn rắn kết và trong giai ñoạn rắn kết) Bây giờ ta nghiên cứu biến dạng gây ra bởi sự tổng hợp hai nhân tố này Sự thuỷ hoá tạo ra cường ñộ, có nghĩa là liên tục thay ñổi cấu trúc của hồ xi măng theo thời gian; một nguyên nhân khác tạo ra cường ñộ là sự cácbonat hoá
Chắc chắn là sai lầm nếu coi biến dạng tổng cộng của mẫu thử bị mất nước do phản ứng hydrat và do bay hơi là tổng cộng của các biến dạng bên trong Tuy nhiên, sự sấy khô làm thay ñổi biến dạng bên trong vì ít nhất là 2 nguyên nhân:
Nó làm thay ñổi tốc ñộ và mức ñộ của các phản ứng thuỷ hoá; người ta biết qua thực tế phản ứng thuỷ hóa dừng lại khi gần với một giá trị nào ñó của ñộ ẩm cân bằng (khoảng 80%);
Nó làm giảm sự nở của các hoá chất ban ñầu; do ñó sẽ gặp một sự khó khăn khi sử dụng xi măng nở hay “không co ngót”
Mối liên hệ giữa thuỷ hoá và bay hơi có thể có ảnh hưởng rất lớn ñến biến dạng ngay sau khi rắn kết; ngược lại ảnh hưởng của nó có thể bỏ qua trong hai trường hợp sau:
Trước khi rắn kết và trong khi rắn kết khi mà co ngót do bay hơi (còn gọi là co ngót dẻo “retrait plastique”) lớn hơn rất nhiều so với co ngót sau khi quá trình rắn kết
Các mẫu thử ở tuổi lớn (lớn hơn 7 ngày) bởi vì biến dạng sau khi qúa trình rắn kết có thể bỏ qua
Trang 8Co ngót của mẫu hồ ở tuổi lớn xấp xỉ với co ngót ở tuổi cố ựịnh; chúng ta sẽ không bàn luận thêm ở ựây Co ngót ban ựầu (trước khi quá trình rắn kết) cần nghiên cứu thêm, ứng với giai ựoan này hồ rất dễ biến dạng Cuối cùng giai ựoạn trung gian ựược nghiên cứu qúa ắt ựể bàn luận thêm ở ựây ; chúng tôi sẽ ựưa ra một vắ dụ ựơn giản về một nguyên nhân khác gây ra Ộcường ựộỢ: ựó là co ngót do cacbonat hóa
6.3.1 Co ngót giai ựoạn ựầu (sớm) do bay hơi (hay co ngót dẻo)
Co ngót giai ựoạn ựầu do bay hơi xảy ra trong vài giờ, rồi sau ựó hồ sẽ trở nên khó biến dạng hơn đó là một hiện tượng ựộng lực hoạ (cân bằng với bên ngoài) Giá trị cuối cùng của co ngót tăng do các nhân tố:
- Khoảng thời gian trước khi rắn kết hay khi rắn kết
Thời gian: Trong thực tế co ngót dẻo bắt ựầu xảy ra ngay sau khi bề mặt bên
ngoài mất nước Co ngót này tiến dần ựến một giá trị ổn ựịnh trong giai ựoạn trước rắn kết và giảm ựột ngột khi bắt ựầu rắn kết Nếu sử dụng luồng hơi nóng và khô thì lượng nước bay hơi có thể lớn hơn và co ngót dẻo sẽ xảy ra rất nhanh, vài chục phút ngay sau khi thi công [RAVINA, 1968]
Nhiệt ựộ thấp hay phụ gia làm giảm tốc ựộ rắn kết có thể làm tăng thời gian xảy
ra co ngót dẻo, do ựó làm thay ựổi giá trị co ngót cuối cùng
Hình 7.15 Co ngót ban ựầu do khô Co ngót của mẫu vữa ( N/X=0.5) ở 200C,
ựộ ẩm tương ựối 45%, tốc ựộ gió 8m/giây (30km/h)
Tốc ựộ: tốc ựộ của co ngót dẻo phụ thuộc rất lớn vào tỷ lệ thành phần và tốc ựộ
bay hơi nước [JAEGERMANN, 1969]; nó phụ thuộc vào áp suất hơi (có thể do nhiệt
ựộ môi trường) và tốc ựộ gió Ảnh hưởng của tốc ựộ gió thường rất lớn ; khi lặng gió
và ựộ ẩm tương ựối là 45% thì giá trị co ngót cuối cùng là 10-3; nó lớn gấp 10 lần nếu tốc ựộ gió là 8m/giây (hình7.15) Ảnh hưởng của kắch thước mẫu cũng rất quan trọng,
Trang 9với cùng một loại vật liệu; tại chiều sâu 10cm tính từ bề mặt co ngót bằng 60% so với
co ngót tại chiều sâu 3.5cm [BARON, 1971]
6.3.2 Về mối liên hệ giữa bay hơi và rắn kết: co ngót do cacbonat hoá
Như ñã nói, chúng ta thiếu một số yếu tố nào ñó ñể xử lý co ngót tổng cộng của
hồ vừa mất nước do bay hơi vừa rắn chắc; người ta có thể giả thiết rằng, có tồn tại một mối liên hệ nào, có nghĩa là co ngót tổng cộng tại thời ñiểm nào ñó không phải là tổng của co ngót trước khi kết thúc rắn kết và co ngót sau khi kết thúc rắn kết Một ví dụ về mối liên hệ giữa mất nước và rắn kết là co ngót do cácbonat hoá; rất dễ nghiên cứu trong trường hợp này vì tốc ñộ cácbonat hoá chậm hơn rất nhiều so với tốc ñộ thuỷ hoá ngay khi kết thúc rắn kết
Nguyên nhân gì gây ra cacbonat hoá; khí cacbonic trong không khí phản ứng với vôi tôi do thuỷ hoá xi măng ñể hình thành cacbonat canxi; vôi bị tan ra và hình thành cacbonat kết tủa ; phương trình phản ứng như sau:
Ca(OH)2 + CO2 => CaCO3 + H2O Khí cacbonic không chỉ phản ứng với tinh thể vôi mà còn với các thành phần hydrat khác (trừ canxi sunfat)
Kinh nghiệm thu ñược về co ngót do cacbonat hoá như sau:
- Cho mẫu thử rắn chắc trong nước không có CO2 sau ñó ñể mẫu trong không khí không chứa CO2 ; người ta chắc chờ cho co ngót sẽ ổn ñịnh và ño giá trị co ngót là R(h)
- ðặt mẫu thử tương tự vào môi trường không khí có cùng ñộ ẩm nhưng có chứa
CO2 ; người ra ño ñược giá trị co ngót khác và cho rằng co ngót do cacbonat hoá cộng thêm vào co ngót trước ñó, giá trị ñó khoảng 1.2R(h) Co ngót tổng cộng của mẫu thử khoảng 2.2 R(h)
Do ñó co ngót do cacbonat hoá :
- Xảy ra khi không mất nước (bởi vì ñộ ẩm cân bằng giống nhau)
- Tỷ lệ với co ngót do mất nước ra môi trường bên ngoài
Co ngót do cacbonat hoá xảy ra trước khi mất nước thì không có thêm co ngót
bổ xung nào nữa
Cơ chế của co ngót do cacbonat hoá như sau: [POWER, 1962]
Co ngót do cacbonat hoá là do sự hoà tan của tinh thể vôi bị nén (cácbonat hoá không có sự hoà tan thì không gây ra co ngót)
Trang 10Giá trị của co ngĩt do cacbonat hố tỷ lệ với sự tăng tức thời khả năng chịu nén
do sự dịch chuyển của vơi trong những vùng chịu nén sang vùng khơng chịu nén
Cơ chế này chỉ được kiểm chứng trong một khuơn phạm vi nào đĩ; điều này cĩ thể chấp nhận nhưng chưa được chứng minh Lợi thế của nĩ là cĩ thể đưa ra khả năng
co ngĩt khi bị mất nước do bay hơi hay mất nước do nguyên nhân bên trong
Thay đổi thể tích ở giai đoạn đầu
Khi nước di chuyển ra khỏi lỗ rỗng, thì sự co ngĩt sẽ xảy ra Trong bê tơng, khi chuyển từ trạng thái dẻo (tươi) sang trạng thái rắn chắc thì chắc chắn sẽ cĩ sự mất nước xảy ra Các quá trình và giai đoạn mất nước sẽ được xem xét tại đây
Sự thay đổi thể tích đã được đề cập đến khi bàn luận về quá trình thuỷ hố xi măng Nguyên nhân chủ yếu là do sự giảm thể tích của hệ xi măng+nước: khi hồ xi măng cịn dẻo, nĩ bị co thể tích và mức độ co phụ thuộc vào tỷ lệ phần trăm của thể tích tuyệt đối của xi măng khơ Tuy nhiên, mức độ thuỷ hố trước giai đoạn ninh kết thì nhỏ và khi vữa xi măng đã rắn chắc và phát triển cường độ một cách tương đối thì
sự co ngĩt do mất nước bởi các phản ứng thuỷ hố bị giảm rất nhiều
Nước cĩ thể mất do bay hơi trên bề mặt của bê tơng khi bê tơng ở trạng thái dẻo
Sự mất nước tương tự cĩ thể xảy ra bởi sự hút nước khi đặt mẫu trên trên bê tơng khơ hoặt đất khơ Co ngĩt này được gọi là “co ngĩt dẻo” bởi vì bê tơng vẫn ở trạng thái dẻo Mức độ co ngĩt dẻo bị ảnh hưởng bởi lượng nước mất đi trên bề mặt của bê tơng, lượng nước mất đi này lại phụ thuộc vào nhiệt độ, độ ẩm mơi trường và tốc độ giĩ Tuy nhiên, tốc độ mất nước khơng dự đốn được mức độ co ngĩt và tốc độ mất nước lại phụ thuộc vào độ cứng của hỗn hợp Nếu lượng nước mất đi trên một đơn vị diện tích vượt quá lượng nước dịch chuyển ra bề mặt do sự thấm hút và lượng nước này lớn thì cĩ thể gây ra nứt bề mặt Nĩ được gọi là nứt do co ngĩt dẻo (plastic shrinkage cracking) Khơng cho nước bay hơi và thốt ra ngay sau khi đổ bê tơng thì cĩ thể ngăn ngừa được những vết nứt này
Phương pháp cĩ hiệu quả để ngăn ngừa những vết nứt do co ngĩt dẻo là làm giảm tốc độ bay hơi nước từ bề mặt của bê tơng: người ta gợi ý rằng khơng nên vượt quá giá trị 1 kg/m2 trên giờ (0.2 lb/ft2 trên giờ) Nên nhớ rằng sự bay hơi tăng khi nhiệt
độ của bê tơng cao hơn nhiều so với nhiệt độ mơi trường; trong điều kiện như vậy, co ngĩt dẻo cĩ thể xảy ra thậm chí nếu độ ẩm tương đối của khơng khí cao Do đĩ điều tốt nhất là ngăn cản bê tơng tránh tác động của mặt trời và giĩ, thi cơng, hồn thiện nhanh và bảo dưỡng rất sớm ngay sau khi thi cơng Nên tránh thi cơng bê tơng trực tiếp trên nền đất khơ
Trang 11Các vết nứt có thể phát triển và vượt qua các vật cản, chẳng hạn như cốt thép hoặc cốt liệu lớn; các vết nứt này ñược gọi là nứt khi ninh kết dẻo (plastic settlement cracking), vết nứt này ñược ñề cập ñến trong phần Bê tông trong ñiều kiện nhiệt ñộ cao (Concrete in Hot Weather) Vết nứt dẻo cũng có thể phát triển trong tấm bê tông
có kích thước ngang lớn và co ngót theo phương ngang khó khăn hơn nhiều so với co ngót theo phương dọc: các vết nứt sâu ñược hình thành Những vết nứt như vậy ñược gọi là nứt trước ninh kết (pre-setting cracks) Các vết nứt do co ngót dẻo thường song song với nhau, cách nhau 0.3 ñến 1m (1 ñến 3 ft) và chúng có chiều sâu ñáng kể Chúng thường không phát triển ra phía cạnh tự do của bê tông bởi vì không có sự cản trở co ngót
Co ngót dẻo tăng nếu tăng hàm lượng xi măng trong hỗn hợp hoặc giảm tỷ số N/X Mối quan hệ giữa mất nước do bay hơi và co ngót dẻo không phải là ñường thẳng; ví dụ, kéo dài giai ñoạn ninh kết làm cho nước mất do bay hơi tăng và dẫn ñến làm tăng co ngót dẻo Mặt khác khả năng dịch chuyển nước ra ngoài chậm thì làm giảm tốc ñộ mất nước do bay hơi trên bề mặt do ñó làm giảm nứt do co ngót dẻo Trong thực tế, vết nứt là vấn ñề cần lưu ý
Bảng 7.3 Co ngót dẻo của hồ xi măng ñể trong không khí có ñộ ẩm tương ñối là 50% và nhiệt ñộ là 200C (680F)
Bảng 7.3
Tốc ñộ gió
Co ngót sau 8 giờ kể từ khi ñổ khuôn 10-6
0 0.6 1.0
7 – 8
0 1.35 2.25
C 7.1.Quan hệ ứng suất – biến dạng
ðường cong quan hệ ứng suất – biến dạng của PIC dùng monome MMA ñược thí nghiệm xác ñịnh ñến khi phá huỷ và biểu diễn PIC có mối liên hệ ứng suất biến dạng gần như ñường thẳng cho tận ñến khi phá huỷ Cho ñến 90% cường ñộ giới hạn ñường cong không có sự thay ñổi ñáng kể ðường cong ứng suất biến dạng của bê tông thấm polyme Styren TMPTMA cũng có ñặc tính như vậy Môñun ñàn hồi tăng từ
27 Gpa ( bê tông thường) ñến 49 Gpa với mẫu thử dùng dùng MMA
4.7.2 Cường ñộ chịu nén
Ảnh hưởng của polyme ñến cường ñộ chịu nén của PIC sẽ tăng mạnh khi hàm lượng polyme tăng từ 2-4% theo thể tích Với monome là metyl metacrylat, hàm lượng