Khảo sát quy trình nuôi tôm sú thâm canh bằng phương pháp sinh học tại trại tôm Thành Mỹ
Trang 1Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Hiện nay vấn đề nuôi tôm CN – BCN đối với tất cả những vùng nuôi tôm sú trên
cả nước đã và đang gặp rất nhiều khó khăn, thử thách Người nuôi tôm vừa phải đối đầu với sự ô nhiễm môi trường, dịch bệnh, chất lượng tôm giống, vừa phải chịu ảnh hưởng của sự biến động quá cao giá cả đầu vào như: giống, thức ăn, hóa chất, … Bên cạnh đó, giá bán sản phẩm tôm của người nuôi lại ngày càng mất giá do ảnh hưởng của
sự khủng hoảng kinh tế toàn cầu Trước những khó khăn trên thì người nuôi tôm phải
áp dụng cho mình một biện pháp nuôi mới để giảm được chi phí đầu tư sản xuất cũng như là để tăng lợi nhuận Bằng những kinh nghiệm thực tế qua việc quản lý quy trình nuôi tôm bằng chế phẩm sinh học mà chúng tôi trình bày sau đây nhằm giúp cho người nuôi hạn chế được vốn đầu tư, dễ dàng trong quản lý, rủi ro thấp nhưng lợi nhuận lại cao Mô hình nuôi tôm sú thâm canh bằng phương pháp sinh học là cơ sở để xuất bán được tôm sạch, kích cỡ lớn, đủ điều kiện cạnh tranh trong xu thế ngày nay đa số các nước nuôi tôm CN – BCN đều thiên về tôm thẻ chân trắng
Xã An Đức của huyện Ba Tri là xã tiếp giáp nhiều với kênh rạch và bị nhiễm mặn trong 6 tháng, sản xuất nông nghiệp kém hiệu quả Bà con tại đây nuôi tôm quảng canh, hình thức nuôi này chỉ đạt năng suất thấp, dễ bị nhiễm dịch bệnh và không có hiệu quả kinh tế mà diện tích đất sử dụng phải lớn Được sự hổ trợ của chính quyền địa phương nên các hộ nông dân tại đây đã chủ động chuyển đổi sang nuôi tôm công nghiệp trên vùng đất bị nhiễm mặn này Nhưng do ý thức cộng đồng kém nên chỉ mới phát triển nuôi trong những năm gần đây mà hiện nay môi trường nước tại đây đã bị ô nhiễm, một phần cũng do tôm giống tại đây có nguồn gốc không rõ ràng chưa được kiểm dịch đầy đủ nên tôm nuôi thường bị nhiễm bệnh gây thiệt hại cho bà con nuôi tôm
Nghề nuôi tôm đã từng bước được cải tiến nhưng vẫn còn gặp nhiều khó khăn về
Trang 2trình nuôi tôm sú thâm canh bằng chế phẩm sinh học để quản lý môi trường, phòng ngừa dịch bệnh là việc cần thiết Loại chế phẩm sinh học nào sử dụng hiệu quả tại đây
Từ mục đích trên, được sự chấp thuận của Khoa Thủy Sản Trường Đại Học Nông Lâm
TP Hồ Chí Minh, chúng tôi thực hiện đề tài : “ Khảo sát quy trình nuôi tôm sú
(Penaeus monodon) thâm canh bằng phương pháp sinh học tại trại tôm Thành Mỹ
(Bến Tre)”
1.2 Mục tiêu đề tài
- Tìm hiểu quy trình nuôi tôm sú thâm canh bằng phương pháp sinh học
- Đánh giá hiệu quả của chế phẩm sinh học lên môi trường và tăng trưởng của tôm sú
- Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình nuôi tại đây
Trang 3Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Tình hình nuôi tôm trên thế giới
Nghề nuôi tôm sú phát triển rất nhanh trên thế giới Hiện nay, loài này được nuôi
ở hơn 22 quốc gia trên thế giới, giữ vai trò rất lớn trong việc cải thiện đời sống của các cộng đồng dân cư ven biển và tạo nguồn thu ngoại tệ
Theo FAO, sản lượng tôm sú năm 1997 chiếm 52 % sản lượng tôm nuôi trồng toàn thế giới, với tốc độ tăng trưởng trung bình 2 % trên năm Ở các vùng nuôi tôm chủ yếu trên thế giới, Ðông Nam Á là vùng dẫn đầu chiếm 53,7 % tổng sản lượng tôm toàn thế giới trong tổng số 54 quốc gia có ngành công nghiệp nuôi tôm phát triển (thống kê của FAO năm 1997) (nguồn: khoahocthuysan.org)
Năm 2000, sản lượng tôm sú nuôi đạt 571,5 nghìn tấn, chiếm 52,3 % tổng sản lượng các loại tôm nuôi (FAO 2002)
Nghề nuôi tôm trên thế giới đã trải qua nhiều thế kỷ nhưng nghề nuôi tôm hiện đại chỉ thực sự ra đời kể từ năm 1930, khi các nhà khoa học Nhật Bản sản xuất được giống nhân tạo nhưng chỉ bùng nổ từ những năm 80 khi tôm giống đã được sản xuất ra với số lượng lớn để cung cấp cho người nuôi (Lê Long Triều, 2008)
Trên thế giới có hai khu vực nuôi tôm lớn là Tây bán cầu gồm các nước Châu
Mỹ La Tinh và Đông bán cầu gồm các nước Nam Á và Đông Nam Á Theo Nguyễn Văn Hảo, 2000 thì năm 1997 ở khu vực Tây bán cầu, Ecuador đạt 130.000 tấn chiếm
66 % tổng lượng tôm nuôi của khu vực Khu vực Đông bán cầu thì sản lượng tôm nuôi
là 462.000 tấn chiếm 70 % tôm nuôi trên thế giới Trong đó, Thái Lan là nước đứng đầu, kế đến là Indonesia, Trung Quốc, Bangladesh, Việt Nam (Lê Long Triều, 2008)
2.2 Tình hình nuôi tôm tại Việt Nam
Theo Bộ NN&PTNT năm 2009, cả nước sẽ giảm 35.000 ha diện tích NTTS xuống còn 1.065.000 ha với sản lượng ước đạt là 2,3 triệu tấn, trong đó: cá tra nuôi là
Trang 4Ông Bùi Đức Quý, Cục phó Cục NTTS – Bộ NN&PTNT cho biết, diện tích NTTS giảm nguyên nhân là tình hình tiêu thụ tôm trên thế giới đang giảm mạnh do suy thoái kinh tế; thị trường nhập khẩu tôm chủ lực là Mỹ đang có dấu hiệu ngưng lại, thị trường Nhật Bản giảm từ 32 % còn 19 %, Giá tôm nguyên liệu trong nước cũng
đã giảm xuống mức thấp nhất trong vòng 10 năm qua Hiện tại các tỉnh ĐBSCL, giá tôm nguyên liệu hiện giảm từ 10 - 15 % so với năm trước đó (2008) (fistenet.gov.vn)
Những thuận lợi của nghề nuôi tôm sú
Theo thống kê mới nhất của FAO về xuất khẩu tôm sú trên thế giới, số liệu năm
2006, Việt Nam tiếp tục 4 năm liền đứng thứ 1 về giá trị xuất khẩu, đạt 1,25 tỷ USD
Về sản lượng Việt Nam đứng thứ 4, với 131.615 tấn, sau Thái Lan, Ấn Độ, Indonesia Giá trị xuất khẩu đã hình thành xu thế tăng liên tục Giá xuất khẩu bình quân trong 5 năm trở lại đã tăng từ 5,96 lên 9,53 USD/kg, đây là nguyên nhân đẩy giá trị xuất khẩu tôm sú của Việt Nam đứng đầu thế giới Giải thích về điều này có thể do Việt Nam xuất khẩu tôm cở lớn, nên được giá hơn
Cũng theo số liệu công bố của FAO, năm 2006 Việt Nam đứng thứ 8 thế giới về xuất khẩu thủy sản (vn.euvietnam.com)
Năm 2009, diện tích nuôi tôm sú toàn vùng ĐBSCL có thể lên đến 566.000 ha Ngày 29/1 đến 1/2/2009, thương lái từ thành phố Hồ Chí Minh xuống tận ao nuôi tôm của bà con ở các tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, … để mua tôm sú sống loại 40 con/kg, giá 125.000 đồng/kg Với mức giá như hiện nay thì giá tôm tăng hơn gấp đôi
so với thời điểm thu hoạch chính vụ năm 2008 Vụ nuôi tôm năm 2008, thương lái mua tôm loại 40 con/kg với giá chỉ 60.000 đồng/kg, có thời gian giá giảm chỉ còn 55.000 đồng/kg Nhiều hộ nuôi tôm vô cùng phấn khởi vì ngay trong đầu năm mới tôm bán được giá, lợi nhuận cao, đó là tín hiệu khả quan cho vụ nuôi tôm năm 2009 (www.kinhtenongthon.com.vn)
Những khó khăn của nghề nuôi tôm sú
Theo Sở NN&PTNT tỉnh Cà Mau, qua thống kê năm 2008, năng suất tôm nuôi bình quân của Cà Mau chỉ đạt 356 kg/ha; trong khi tại Bạc Liêu là 500 kg/ha; Sóc Trăng là 1.200 kg/ha; Bến Tre là 4.300 kg/ha (camau-rtv.org.vn)
Trang 5VASEP dự báo trong quí 2/ 2009, sức mua của nhiều nước trên thế giới tiếp tục giảm, biến động tỷ giá ở các nước không có lợi cho xuất khẩu Trong khi đó, phần lớn sản phẩm tôm sú của Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Nhật Bản, nhưng cuối tháng
5 – 2009, giá tôm tại thị trường này đã giảm 10 – 20 % so với thời điểm cùng kỳ năm trước Các nhà nhập khẩu dự báo, tình trạng khó khăn trong xuất khẩu tôm sẽ còn kéo dài đến tháng 8 – 2009
Tại ĐBSCL, hơn 1 tháng nữa bước vào thu hoạch tôm sú chính vụ Hiện tại, tôm nguyên liệu loại 20 con/kg giá 117.000 đồng, 30 con/kg giá 95.000 đồng và 80.000 đồng loại 50 con/kg Trong khi đó, giá thức ăn cho tôm đang đứng ở mức cao, cùng với những rủi ro về thị trường xuất khẩu, dịch bệnh, tạo nên sức ép khá lớn cho người nuôi tôm ĐBSCL Đó là chưa kể đến việc nông dân thiếu vốn bỏ ao, do chậm tiếp cận nguồn vốn kích cầu của Chính phủ, điều này làm cho diện tích nuôi tôm ở các tỉnh giảm so với vụ trước
Theo Phạm Nam Dương - phó giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Trà Vinh cho biết:
“Năm nay, ảnh hưởng thời tiết, giá tôm nguyên liệu không ổn định, chi phí nuôi (thức
ăn, con giống, chế phẩm sinh học, công lao động, ) tăng cao, nhiều địa phương thả nuôi tôm chậm và mật độ thưa hoặc chuyển sang nuôi các đối tượng khác như: cua biển, cá chẽm, cá kèo, Do đó, tại Trà Vinh vụ nuôi tôm sú năm 2009 khó đạt kế hoạch đề ra” Năm 2009, tỉnh Trà Vinh đưa ra kế hoạch thả nuôi trên 2,5 tỉ con giống với diện tích 27.450 ha Cuối tháng 5 – 2009, diện tích thả nuôi tại Trà Vinh là 18.300
ha, giảm 6.700 ha so với cùng kỳ năm trước Đến nay, khoảng 30 % diện tích bị thiệt hại phải chuyển sang nuôi các loại thủy sản khác,
Tính đến đầu tháng 6 – 2009, diện tích tôm sú thiệt hại của vùng ĐBSCL đã gần 10.000 ha, trong đó tại Sóc Trăng diện tích thiệt hại hơn 1.407 ha, Bạc Liêu là 3.000
ha, Bến Tre trên 105 ha (www.vietlinh.com.vn)
2.3 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre
2.3.1 Điều kiện tự nhiên
Theo Phòng NN&PTNT, huyện Ba Tri trong năm 2008 thì:
2.3.1.1 Vị trí địa lý
Trang 6Bản đồ hành chính huyện Ba Tri (www.bentre.gov.vn)
Huyện Ba Tri nằm ở phía cuối cù lao Bảo, là một trong ba huyện ven biển của tỉnh Bến Tre, có diện tích 355,53km2,chiếm 15,7 % diện tích toàn tỉnh, gồm 23 xã và 1 thị trấn
Huyện Ba Tri nằm về phía đông của tỉnh Bến Tre, có tọa độ địa lý:
Từ 106028’17’’ đến 106041’25’’ độ kinh đông
Từ 9057’38’’ đến 10011’14’’ độ vĩ bắc
Phía Đông Bắc giáp sông Ba Lai và huyện Bình Đại
Phía Tây Nam giáp sông Hàm Luông và huyện Thạnh Phú
Phía Tây và Tây Bắc giáp huyện Giồng Trôm
Phía Đông và Đông Nam giáp với biển Đông
Huyện Ba Tri nằm giữa hai con sông huyết mạch của tỉnh là Ba Lai và Hàm Luông, có bờ biển dài 12 km với cảng cá An Thủy là trung tâm thủy sản của tỉnh Huyện có ba vùng sinh thái: nước ngọt, nước lợ và nước mặn, thích hợp cho việc phát triển các hệ thống canh tác đa dạng, đặt biệt là NTTS
Trang 72.3.1.2 Thời tiết và khí hậu
Huyện nằm trong miền khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, nhưng lại nằm ngoài ảnh hưởng của gió mùa cực đới, nên nhiệt độ cao, ít biến đổi trong năm, nhiệt độ trung bình hằng năm từ 260C – 270C (www.bentre.gov.vn)
2.3.1.3 Thủy văn
Ba Tri là huyện ven biển Đông, chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều, biên
độ dao động từ 1,2 – 2,4 m Nguồn nước chủ yếu của huyện được cung cấp từ hai con sông Ba Lai – Hàm Luông và 50 kênh rạch vào sâu trong nội đồng, tổng chiều dài hệ thống kênh rạch lớn lên đến 128 km (www.bentre.gov.vn)
2.3.1.4 Địa hình và thổ nhưỡng
Địa hình
Đất đai đa dạng, xen kẽ giữa các nền đất phù sa là các giồng cát có cao trình cao, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập trung dân cư, xây dựng các kết cấu hạ tầng
Khu vực Tây và Tây Bắc có địa hình bằng phẳng, ít chia cắt, thuận lợi cho việc
bố trí công trình thủy lợi ngọt hóa cải tạo đất, các hệ thống canh tác nông nghiệp tập trung theo hướng thâm canh và đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi
Khu vực Đông và Đông Nam có địa hình thấp, độ mặn tương đối ổn định, thuận lợi cho việc bố trí NTTS theo hướng tăng tỷ trọng nuôi CN – BCN (Lê Long Triều, 2008)
2.3.2 Hiện trạng kinh tế - xã hội
Theo Phòng thống kê huyện Ba Tri trong năm 2008 thì:
Trang 82.3.2.1 Cơ cấu hành chính
Huyện Ba Tri có 23 xã, một thị trấn với 113 khóm ấp
2.3.2.2 Dân số và lao động
Diện tích tự nhiên của huyện là 355,53 km2, dân số là 205.773 người, mật độ dân
số bình quân khoảng 578 người/km2 (Theo cục thống kê tỉnh Bến Tre, 2007)
2.3.2.3 Kế hoạch phát triển
Theo Phòng NN&PTNT thì huyện Ba Tri năm 2008:
Ngành NTTS phát triển đưa thủy sản thành ngành kinh tế mũi nhọn thực sự Dựa trên cơ sở phát triển các đối tượng nuôi xuất khẩu: tôm sú, nghêu, sò
Tiếp tục chuyển đổi đất lúa, đất muối kém hiệu quả sang nuôi tôm thâm canh, trên cơ sở phát triển bền vững
Đẩy mạnh công tác ứng dụng và chuyển giao khoa học kỹ thuật cho người dân trong lĩnh vực nuôi và khai thác thủy sản
Tăng cường công tác kiểm tra phòng ngừa dịch bệnh, thực hiện tốt quyết định
4024 của Ủy Ban Nhân Dân tỉnh về vệ sinh an toàn thực phẩm trong nuôi tôm thâm canh và an toàn vệ sinh thực phẩm trong sản phẩm khai thác (Lê Long Triều, 2008)
2.3.3 Hiện trạng nuôi tôm sú tại huyện Ba Tri
Năm 2008, huyện Ba Tri có tổng diện tích nuôi gần 5.000 ha, đạt 103,66 %, tăng 4,3 % so cùng kỳ Diện tích nuôi tôm sú là 3.413 ha, trong đó có 1.100 ha nuôi tôm thâm canh
Năm 2009, huyện tập trung xây dựng hệ thống thủy lợi có hiệu quả hơn cho nuôi trồng, nhất là bảo đảm nuôi an toàn, hạn chế ô nhiễm môi trường Nuôi phải có ao lắng, lọc đúng theo qui định Hoàn chỉnh qui trình nuôi mới, đối tượng mới để thay thế các vùng nuôi không còn phù hợp (www.vietlinh.vn)
Trang 92.3.4 Các mô hình nuôi tôm sú tại huyện Ba Tri
2.3.4.1 Nuôi thâm canh, bán thâm canh
Năm 2008, diện tích nuôi tôm CN - BCN là 1.095 ha, đạt 117,7 % kế hoạch, so với năm 2007 thì tăng 172 ha từ nuôi tôm quảng canh Năng suất bình quân đạt 6 – 7 tấn/ha (Lê Long Triều, 2008)
2.3.4.2 Nuôi quảng canh
Diện tích nuôi tôm quảng canh trong năm 2008 là 1.495 ha đạt 88,4 % kế hoạch
so với năm 2007 giảm 207 ha, nguyên nhân là do chuyển lên nuôi tôm thâm canh Nguồn giống tôm tự nhiên được lấy vào đầm qua cửa cống vào các thời kỳ triều cường trong tháng từ 4 – 6 ngày theo chu kỳ con nước 15 và 30 âm lịch Năng suất đạt từ 200 – 300 kg/ha Hình thức nuôi này đã dần xóa bỏ trong những năm gần đây
2.3.4.3 Nuôi quảng canh cải tiến
Nhiều hộ nuôi tôm sú theo mô hình quảng canh cải tiến đã mang lại hiệu quả kinh cao, tiêu biểu là hộ anh Nguyễn Văn Nghe ở ấp 5, xã An Hiệp, huyện Ba Tri Thả giống cỡ từ 2 – 3 cm, mật độ nuôi 10 con/m2, sau hơn 3 tháng nuôi, tôm đạt trọng lượng khoảng 40 con/kg, năng suất ước đạt 2 tấn/ha, trừ chi phí thì lãi trên 50 triệu đồng
2.3.4.4 Nuôi tôm lúa
Diện tích nuôi tôm lúa năm 2008 là 120 ha, đạt 100 % kế hoạch so với năm 2007 không tăng Thả giống nhân tạo, mật độ là 4 – 6 con/m2, tôm giống thả kích cỡ từ 2 – 3 cm/con Thời gian nuôi là 4 tháng, năng suất trung bình năm 2008 là khoảng 0,3 tấn/ha
2.3.4.5 Nuôi tôm rừng
Diện tích nuôi tôm rừng năm 2008 là 497 ha, đạt 100 % kế hoạch không tăng so với năm 2007 Hình thức nuôi là thu giống tự nhiên, cứ 15 – 30 ngày thì thu hoạch một lần (theo con nước) Mô hình này phụ thuộc trực tiếp đến nguồn lợi thủy sản của tự nhiên Tôm thu hoạch có kích thước nhỏ, năng suất và hiệu quả không cao
Trang 102.3.4.6 Nuôi sinh thái
Năm 2007, huyện Ba Tri có hơn 950 ha nuôi thâm canh và bán thâm canh, trong
đó có 60 ha nuôi theo quy trình sinh thái, tập trung ở hai xã Vĩnh An và An Hòa Tây Quy trình nuôi tôm sinh thái chủ yếu sử dụng hệ thống cung cấp oxy đáy kết hợp với cấy vi sinh tạo điều kiện cho vi khuẩn có lợi phát triển trong ao, giúp tôm phát triển tốt, có sức đề kháng cao, ít nhiễm bệnh, môi trường ổn định,
(nguồn: www.fistenet.gov.vn)
2.4 Sơ lược về tôm sú
Theo Vũ Thế Trụ, 1993 thì tôm sú được phân loại và có các đặc điểm sau:
Loài: Penaeus monodon
Tên Tiếng Anh: Giant/ Black Tiger Shrimp
Tên Tiếng Việt: tôm sú
Trang 112.4.2 Các đặc điểm của tôm sú
Phân bố
Bản đồ phân bố tôm sú (fao.org)
Phạm vi phân bố của tôm sú khá rộng, vùng nhiệt đới dến cận nhiệt đới, từ ấn Độ Dương qua Nhật Bản, ĐàiLoan, phía Đông Tahiti, phía Nam châu Úc và phía Tây châu Phi (Racek - 1955, Holthuis và Rosa - 1965, Motoh - 1981, 1985) Nhìn chung, tôm sú phân bố từ kinh độ đông 300 – 1550, từ vĩ độ 350 bắc tới 350 nam xung quanh các nước vùng xích đạo, đặc biệt là Indonesia, Malaixia, Philippines
Tại Việt Nam, tôm sú có nhiều ở các vùng biển miền trung Tôm bột (postlarvae), tôm giống (juvenile) và tôm gần trưởng thành có tập tính sống gần bờ biển và rừng ngập mặn ven bờ Khi tôm trưởng thành thì di chuyển xa bờ vì chúng thích sống vùng nước sâu hơn
Trang 12Chu kỳ sống của tôm sú
Hình 2.1 Vòng đời tôm sú (nuoitomsu.blogspot.com)
Hình 2.2 Các giai đoạn phát triển của tôm sú (www.maivietbio.com.vn)
Các giai đoạn phát triển ấu trùng tôm sú :
Nauplii: 6 giai đoạn: 36 – 51 giờ, các Nauplii bơi từng đoạn ngắn rồi nghỉ, lột vỏ
4 lần, mỗi lần khoảng 7 giờ, tự sống bằng noãn hoàng, không cần thức ăn
+ N1: dài khoảng 0,4 mm, dày 0,2 mm
+ N2: dài khoảng 0,45 mm, dày 0,2 mm
+ N3: dài khoảng 0,49 mm, dày 0,2 mm
Trang 13+ N4: dài khoảng 0,55 mm, dày 0,2 mm
+ N5: dài khoảng 0,61 mm, dày 0,2 mm
Zoea: 3 giai đoạn: 105 – 120 giờ, các Zoea bơi liên tục gần mặt nước, lột vỏ 2 lần, mỗi lần khoảng 36 giờ, ăn thực vật phiêu sinh
+ Z1: dài khoảng 1 mm, dày 0,45 mm, xuất hiện hai phần dầu và bụng rõ rệt + Z2: dài khoảng 1,9 mm, xuất hiện mặt và chủy
+ Z3: dài khoảng 2,7 mm, xuất hiện gai trên bụng
Mysis: 3 giai đoạn : 72 giờ, các Mysis bơi hướng xuống sâu, đuôi đi trước, đầu đi sau
+ M1: dài khoảng 3,4 mm, có hình dạng của tôm trưởng thành, xuất hiện các cặp chân bụng, đuôi và quạt đuôi, các gai bụng thu nhỏ lại
+ M2: dài khoảng 4 mm
+ M3: dài khoảng 4,4 mm, chân bụng dài hơn, phân thành đốt nhỏ, xuất hiện răng trên chủy
Postlarvae: giai đoạn gần trưởng thành
Juvenile: giai đoạn trưởng thành
Hình thái cấu tạo
Trên cơ thể tôm sú có vệt sọc màu xám đậm, hơi xanh hoặc nâu đỏ Tôm có chủy dài hơi cong, phía trên chủy có 7 – 8 răng và dưới chủy có 3 răng
Hình 2.3 Hình thái tôm sú (aquatic.plus.vn)
+ Mũi khứu giác và râu: cơ quan nhận biết và giữ thăng bằng cho tôm
Trang 14+ 3 cặp chân hàm: lấy thức ăn và bơi lội
+ 5 cặp chân ngực: lấy thức ăn và bò
‰
Bảng 2.1 Đặc điểm môi trường sống của tôm sú (Sandeep K Mukhi, B K Das, B Masdavi, C K Misra and K Pani Prasad, 2001)
Chỉ tiêu Thích hợp nhất Chú thích
Nhiệt độ 27 – 310C Giảm ăn khi nhiệt độ < 270C và > 310C
Độ mặn 15 – 20 ‰ Dao động trong ngày < 5 ‰
pH 7,5 – 8,5 Dao động trong ngày < 0,5
Trang 15Trong ao nuôi, tôm sú bắt mồi mạnh vào lúc sáng sớm và nhất là lúc chiều tối Trong tự nhiên, chúng bắt mồi mạnh ở giai đoạn trưởng thành và sử dụng các loại thức
ăn như giáp xác sống đáy
Tôm sú là loài ăn tạp, hàm lượng thức ăn và loại thức ăn tùy thuộc vào giai đoạn phát triển khác nhau của chúng Chúng thích ăn các động vật sống và di chuyển chậm hơn là xác thối rữa hay mảnh vụn hữu cơ Thức ăn ưa thích là nhuyễn thể, giun nhiều
tơ, giáp xác, ấu trùng của động vật đáy Tôm sống ngoài tự nhiên ăn 85 % là giáp xác, cua nhỏ, động vật nhuyễn thể hai mảnh vỏ, còn lại 15 % là cá, giun nhiều tơ, thuỷ sinh vật, mảnh vụn hữu cơ, cát bùn
- Cơ quan sinh dục của tôm đực gồm:
+ Một đôi tuyến tinh phân nhiều thùy
+ Một đôi ống dẫn tinh
+ Một đôi túi tinh Túi tinh đổ ra gốc chân bò thứ 5
Tôm cái:
- Cơ quan sinh dục phụ của tôm cái là thelycum Thelycum nằm ở gốc đôi chân
bò thứ 5 Thelycum gồm một tấm giữa và hai tấm hai bên, là nơi nhận và lưu giữ các
bó tinh trùng của tôm đực
- Cơ quan sinh dục của tôm cái là một đôi buồng trứng phân thùy và ống dẫn trứng Ống dẫn trứng mở ra ở gốc đôi chân bò thứ 3
- Khi tôm cái vừa lột xác, tôm đực thường giao vĩ, đưa túi tinh cho tôm cái
Tuổi thành thục:
Trang 16Tuổi thành thục sinh dục của tôm đực và tôm cái từ tháng thứ 8 trở đi Xác định
sự thành thục của tôm cái dễ hơn, chỉ cần quan sát có túi tinh ở cơ quan sinh dục phụ Phương pháp xác định thành thục ở con đực khó hơn, chỉ khi nào tìm thấy được tinh trùng ở cuối ống dẫn tinh Thường dựa vào trọng lượng để xác định khi con đực nặng
từ 50 gam trở lên Hormone điều khiển sự thành thục sinh dục (GIH) được sản xuất bởi tế bào thần kinh trong cơ quan X của cuống mắt, vận chuyển tới tuyến giáp sinap đưa vào kho dự trữ và khi cần thì tiết ra Sự thành thục sinh dục của tôm sú thông qua tác động của tuyến nội tiết, khi cắt mắt tức là thúc đẩy chu kỳ lột xác, đem lại sự thành thục nhanh chóng hơn Trong tự nhiên, tôm sú bắt mồi nhiều hơn khi thuỷ triều rút Tôm sú nuôi trong ao, hoạt động bắt mồi nhiều vào sáng sớm và chiều tối Tôm bắt mồi bằng càng, sau đó đẩy thức ăn vào miệng, thời gian tiêu hoá 4 – 5 giờ trong dạ dày
Con cái thành thục ngoài tự nhiên có trọng lượng từ 100 – 300 gam cho 300.000 - 1.200.000 trứng Nếu cắt mắt nuôi vỗ trong bể xi măng, thành thục và đẻ, cho số lượng trứng từ 200.000 - 600.000 trứng Tôm cái đẻ trứng vào ban đêm (thường từ 22 giờ đến 2 giờ) Trứng sau khi đẻ được 14 – 15 giờ, ở nhiệt độ 27 – 280C sẽ nở thành ấu trùng (nauplii) (www.khoahocthuysan.org)
Lột xác
Khi trọng lượng và kích thước tăng lên mức độ nhất định, tôm phải lột bỏ lớp vỏ
cũ để lớn lên Sự lột xác thường xảy ra vào ban đêm Sự lột xác đi đôi với việc tăng thể trọng Khi quan sát tôm nuôi trong bể, hiện tượng lột xác xảy ra như sau: Lớp biểu
bì giữa khớp đầu ngực và phần bụng nứt ra, các phần phụ của đầu ngực rút ra trước, theo sau là phần bụng và các phần phụ phía sau, rút ra khỏi lớp vỏ cứng, với động tác uốn cong mình toàn cơ thể Lớp vỏ mới mềm sẽ cứng lại sau 1 – 2 giờ với tôm nhỏ, 1 – 2 ngày đối với tôm lớn Tôm sau khi mới lột xác, vỏ còn mềm nên rất nhạy cảm với môi trường sống thay đổi đột ngột Trong quá trình nuôi tôm nên điều chỉnh môi trường nuôi kịp thời Hormone hạn chế sự lột xác (MIH) được tiết ra do các tế bào trong cơ quan của cuống mắt, truyền theo sợi trục tuyến xoang, chúng tích luỹ lại và chuyển vào trong máu, nhằm kiểm tra chặt chẽ sự lột xác Các yếu tố bên ngoài như ánh sáng, nhiệt độ, độ mặn, điều này có ảnh hưởng tới tôm đang lột xác (Lê Long Triều, 2008)
Trang 17Chương 3 ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN
3.1 Địa điểm và thời gian thực hiện đề tài
Đề tài được thực hiện từ ngày 9 tháng 4 năm 2009 đến ngày 9 tháng 6 năm 2009 tại trại tôm Thành Mỹ thuộc ấp 8, xã An Đức, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre
Bản đồ huyện Ba Tri và địa điểm thực hiện đề tài
Địa điểm thực hiện
3.2 Phương pháp thực hiện
Phương pháp thu thập số liệu
Thu thập qua việc phỏng vấn trực tiếp chủ trại, phó trại, kỹ thuật viên và các anh
em công nhân trong trại
Thu thập qua quá trình thực hiện đề tài (đo môi trường, cân thức ăn, theo dõi tăng trưởng, )
Nội dung nghiên cứu
Trang 18Tìm hiểu về:
Các mô hình nuôi tôm sú của huyện Ba Tri
Quy trình nuôi tôm sú thâm canh bằng phương pháp sinh học
Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình nuôi
Phân tích kết quả và xử lý số liệu
Đánh giá quy trình nuôi tôm sú thâm canh
Số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê, mô tả sử dụng công cụ là phần mềm Microsoft Excel
Hệ số chuyển hóa thức ăn
FCR =
12
21
Wt Wt
Wt1: Trọng lượng trung bình bắt đầu thí nghiệm
Wt2 : Trọng lượng trung bình kết thúc thí nghiệm
Trang 19Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Giới thiệu về trại tôm Thành Mỹ
Sơ đồ trại tôm Thành Mỹ
Trại tôm Thành Mỹ thuộc ấp 8, xã An Đức, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre Trại đã hoạt động 6 năm (từ năm 2004) Ban đầu trại cũng gặp nhiều khó khăn về vốn và kỹ thuật nên năng suất không cao (năm 2004 là 3 tấn/ha) nhưng nhờ chịu khó nghiên cứu
và học hỏi (từ các hội thảo, tập huấn khuyến nông, ) nên đã có nhiều kinh nghiệm trong việc nuôi thành công tôm sú thâm canh sạch bệnh, đạt năng suất cao, lợi nhuận cao, năm 2007 là 6 – 7 tấn/ha, năm 2008 là 7 – 8 tấn/ha
Trại có tổng diện tích 14 ha, trong đó:
- Diện tích hệ thống ao là 8,9 ha
+ Diện tích ao nuôi là 7,07 ha
+ Diện tích ao lắng là 1, 83 ha
Trang 20- Diện tích cho xây dựng kênh cấp nước, nhà kho, chòi canh, hệ thống bờ, là 5,1 ha
Do diện tích ao lắng nhỏ rất nhiều so với ao nuôi nên tại trại áp dụng nuôi thay nước ít hoặc hoàn toàn không thay nước, chỉ cấp thêm nước vào ao khi nắng hạn kéo dài làm mực nước ao giảm xuống
4.1.1 Cơ sở vật chất của trại
Nhà kho: có nhà kho A, nhà kho B để dự trữ thức ăn, thuốc và hóa chất sử dụng cho nuôi tôm, và nhà sửa chữa máy móc
Chòi canh: có 5 chòi là chỗ ở cho các công nhân
Hệ thống bảo vệ: hàng rào xung quanh trại đảm bảo an toàn sản xuất
Trang 214.1.2 Nhân sự của trại
Nhân sự của trại đảm bảo điều kiện sản xuất, bao gồm:
- Trưởng trại
- Phó trại
- Trại phân thành 2 tổ thi đua:
+ Tổ A gồm tổ trưởng, tổ phó và 6 công nhân
+ Tổ B gồm tổ trưởng, tổ phó và 6 công nhân
- Một thợ máy sửa chữa máy móc trong trại
- Một phụ bếp
- Khi tôm lớn thì có thêm 3 – 4 bảo vệ để đảm bảo nuôi tôm sú được an toàn
Trang 224.2 Thức ăn sử dụng trong trại
Hình 4.1 Các loại thức ăn hiệu Hi – Aqua
Hấp dẫn tôm bắt mồi nhanh và ngon miệng
Độ ổn định trong nước tốt, hạn chế tối đa mức độ ô nhiễm
Chi phí thức ăn cho 1 kg tôm là thấp nhất
Trang 23Không chứa hóa chất, hormone và các chất kháng sinh cấm sử dụng
hiệu quả
i Nupro ®
là sản phẩm giàu nucleotide chiết xuất từ nhân tế bào nấm men Saccharomyces
cerevisiae, có hàm lượng protein cao, giàu amino acid, các loại vi khoáng, vitamin và
inositol
- Thành phần: crude protein, nucleic acids, amino acids, trace minerals, vitamin
- Chỉ tiêu chất lượng: Protein thô – tối thiểu 45 %
- Công dụng: Bổ sung nguồn dinh dưỡng vào thức ăn các loài thủy sản, có mùi vị đặc trưng của peptide làm tăng tính hấp dẫn và ngon miệng, kích thích ăn nhiều, giàu nucleotide giúp tăng cường hệ miễn dịch cho động vật
- Cách dùng: 5 – 10 kg/tấn thức ăn
ii Chế phẩm Bio - Mos ®
Bio - Mos® là sản phẩm do tập đoàn Alltech độc quyền quy trình sản xuất Thành phần
Trang 24thiệu vào năm 1993 dưới dạng thức ăn bổ sung cho gà con (Đoàn Thanh Tuyền và Nguyễn Trọng Nhân, 2008)
Nhóm chế phẩm sinh học có tác dụng gắn kết với các độc tố nấm mốc, vi khuẩn đường ruột mà đại diện là chế phẩm Bio-Mos® Chế phẩm này được chiết xuất từ vách
tế bào nấm men Saccharomyces cerevisiae có khả năng thu hút và loại thải ra ngoài
phần lớn các vi khuẩn đường ruột có hại như E.coli, Salmonella, các độc tố nấm như alfatoxin Vì vậy, sử dụng Bio-Mos sẽ ngăn chặn sự định vị của mầm bệnh, tăng cường hệ thống phòng thủ của cơ thể, giúp vật nuôi tăng trọng nhanh
Bio - Mos® được sử dụng cho động vật trên cạn rất tốt, tuy nhiên trong những năm gần đây, Bio - Mos® được sử dụng cho NTTS và cho kết quả tốt, đạt tỷ lệ ổn định Việc sử dụng Bio - Mos® có vai trò rất quan trọng trong việc cải thiện sức khỏe vật nuôi và nâng cao hiệu quả kinh tế:
+ Sử dụng thức ăn hiệu quả và tăng trọng nhanh
+ Tăng cường hệ thống miễn nhiễm
+ Nâng cao tỷ lệ sống
+ Giảm stress cho vật nuôi, …
Liều lượng trộn vào thức ăn từ 3 – 5 g/kg thức ăn, ngày sử dụng 2 – 3 lần
iii Mycosorb®
là thức ăn tự nhiên được trộn thêm vào thức ăn chính cho các loài động vật, sản phẩm đã được giới thiệu từ năm 1993, phát triển nhanh chóng và trở thành sản phẩm phát triển nhanh nhất và bán chạy nhất của tập đoàn Alltech trên toàn thế giới
Lĩnh vực sử dụng: sản xuất bơ sữa, nuôi heo, ngựa, gia cầm, thú cưng và NTTS Sản phẩm được lưu hành ở châu Âu, châu Mỹ La tinh, châu Á Không sử dụng ở nước Mỹ, Canada
Mycosorb® là chất có khả năng chống kết dính, dùng hấp thụ độc tố nấm (aflatoxin) trong thức ăn công nghiệp
Mycosorb® giúp hạn chế tối đa tác hại xấu của độc tố nấm mốc, gia tăng năng suất vật nuôi,
Trang 25Trộn Mycosorb® với liều lượng 1 – 2 g/kg thức ăn để hấp thụ độc tố mycotoxin, ngày sử dụng 1 – 2 lần
iv Sorbitol
Tính chất: men tiêu hóa giúp phòng ngừa và điều trị các chứng rối loạn tiêu hóa Trộn vào thức ăn từ 3 – 5 g/kg thức ăn, ngày sử dụng 2 – 3 lần
v Lactosac
Men vi sinh phòng ngừa bệnh phân trắng Lactosac được tổng hợp từ các vi sinh
có lợi và enzyme đậm đặc, giúp ổn định đường ruột , ngăn ngừa hiệu quả bệnh phân trắng, tạo môi trường vi sinh có lợi , giúp quá trình chuyển hóa thức ăn và tiêu hóa nhanh
Trộn vào thức ăn từ 3 – 5 g/kg thức ăn, ngày sử dụng 3 lần
vi Vitamin C Star
Thành phần: Vitamin C
Công dụng:
- Bổ sung vitamin C cho tôm
- Giúp tôm lột vỏ và taọ vỏ tốt, nhanh hồi phục sức khỏe
- Giảm stress, tăng cường khả năng miễn dịch của tôm
- Tham gia vào quá trình hình thành vỏ tôm, giúp tôm nặng, chắc thịt
- Giúp tôm mau lớn, giảm hệ số thức ăn
Liều dùng:
- Sử dụng liên tục trong quá trình nuôi
- Liều dùng: 3 – 5 gam kg thức ăn Ngày sử dụng 2 – 3 lần
vii Methionine
Methionine là thuốc giải độc paracetamol
Dược động học: Methionine được chuyển hoá ở gan
Trang 26Tác dụng: Methionine là một acid amin thiết yếu có trong thành phần của chế độ
ăn và trong công thức của các chế phẩm đa acid để nuôi dưỡng Methionin tăng cường tổng hợp gluthation và được sử dụng thay thế cho acetylcystine để điều trị ngộ độc paracetamol đề phòng tổn thương gan
Trộn vào thức ăn khoảng 3 g/kg thức ăn, ngày sử dụng 2 lần
viii Calciphos
Thành phần:
Calcium di – acid phosphate: - 105 g
Sodium di – acid phosphate: - 45 g
Magiesium di – acid phosphate: - 110 g
Zinc di – acid phosphate: - 11 g
Manganese di – acid phosphate: - 11 g
Làm cho vỏ tôm cứng nhanh, bóng đẹp
Kích thích và tăng cường sự thay vỏ giúp tôm nhanh lớn
Giảm nguy cơ đóng rong, bẩn thân
Cách dùng:
Kích thích tăng trưởng: 5 ml/kg thức ăn
Khi tôm bị đóng rong, mềm vỏ: 10 ml/kg thức ăn
Trang 27ix Khoáng
- Dùng để cung cấp chất khoáng bị mất trong quá trình nuôi
- Giảm vấn đề tôm mềm vỏ và kích thích lột xác hoàn thiện
- Giảm vấn đề nitrite độc và cải tiến chất lượng chất khoáng kém trong ao nuôi
đã lâu chưa phục hồi
Trộn vào thức ăn theo liều 3 g/kg thức ăn, ngày sử dụng 2 lần
Phương pháp phối trộn
Tùy theo tình trạng sức khỏe tôm nuôi mà phối trộn các loại vào thức ăn cho phù hợp, và liều lượng phối trộn thay đổi linh hoạt theo sự phát triển của tôm qua sự theo dõi ao tôm thường xuyên, quan sát tôm lúc thăm sàn
Trang 28Bảng 4.3 Phối trộn thêm vào thức ăn
6 h Vitamin C, Nupro®, Bio – Mos®
6 h Vitamin C, Nupro®, Bio – Mos®
10 h Khoáng, Sorbitol, Methionine
14 h Mycosorb®
18 h Vitamin C, Nupro®, Bio – Mos®
35 – 44
22 h Khoáng, Calciphos, Sorbitol, Methionine
6 h Vitamin C, Nupro®, Bio – Mos®, Lactosac
10 h Khoáng, Sorbitol, Methionine
14 h Mycosorb®, Nupro®, Lactosac
18 h Vitamin C, Nupro®, Bio – Mos®, Lactosac
45 – 60
22 h Khoáng, Calciphos, Sorbitol, Methionine