1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn nhận diện cái tôi trữ tình trong thơ nguyễn khoa điềm

62 2,3K 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 273,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là lớp người thuộc thế hệ sinh ra và lớn lên sau năm 1975, tôi muốn tìm hiểuthơ Nguyễn Khoa Điềm nói riêng và thơ ca những năm chống Mỹ, cứu nước nóichung như tìm đến tâm hồn thế hệ trẻ

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài :

Nguyễn Khoa Điềm là một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ nhàthơ xuất hiện và trưởng thành trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứunước.Tìm hiểu thơ Nguyễn Khoa Điềm không chỉ nhận diện một nhà thơ có chấtgiọng riêng mà còn có ý nghĩa góp phần tìm hiểu, đánh giá thành tựu của nền thơViệt Nam hiện đại trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

Từ nhiều năm nay một số bài thơ của Nguyễn Khoa Điềm đã được đưa vàochương trình sách giáo khoa nhà trường như: “Khúc hát ru nhữnh em bé lớn lên trênlưng mẹ” (Văn học 6,tập 2), “Đất nước” (trích “Mặt đường khát vọng”) (Văn hoc

12, phần văn học Việt Nam) Vì vậy, tìm hiểu thơ Nguyễn Khoa Điềm sẽ có ý nghĩathiết thực trong việc giảng dạy văn học ở trường Trung Học Phổ Thông sau này

Là lớp người thuộc thế hệ sinh ra và lớn lên sau năm 1975, tôi muốn tìm hiểuthơ Nguyễn Khoa Điềm nói riêng và thơ ca những năm chống Mỹ, cứu nước nóichung như tìm đến tâm hồn thế hệ trẻ Việt Nam trong một chặng đường lịch sử, từ

đó giúp những cảm nhận của mình về cuộc sống, về tình yêu, về tuổi trẻ, về khátvọng của một thế hệ sâu sắc hơn mà mình chưa có dịp trải qua

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu: thơ Nguyễn Khoa Điềm

Phạm vi nghiên cứu:

Nguyễn Khoa Điềm không chỉ viết thơ mà còn có cả bút ký “Cửa thép”,nhưng ở đây chúng tôi chủ yếu tìm hiểu qua 3 tập thơ:

“Đất ngoại ô” (Nhà xuất bản Giải phóng năm 1972)

“Mặt đường khát vọng” (Nhà xuất bản Giải phóng năm 1974)

“Ngôi nhà có ngọn lửa ấm” (Nhà xuất bản Tác phẩm mới năm 1986) Trong thế giới nghệ thuật phong phú của thơ Nguyễn Khoa Điềm, luận vănchỉ giới hạn tìm hiểu một vài khía cạnh chính:

- Đặc trưng của các tập thơ

- Bước đầu tìm hểunhững nét riêng của cái tôi trữ tình trong thơ NguyễnKhoa Điềm

Trang 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đè tài:

- Ý nghĩa khoa học : góp phần khẳng định vị trí thơ Nguyễn Khoa Điềm trongthơ ca chống Mỹ, cứu nước nói riêng và thơ ca Việt Nam hiện đại nói chung

- Ý nghĩa thực tiễn: - Bước đầu tìm hiểu về một tác gia

- Chuẩn bị kiến thức cho việc giảng dạy thơ Việt Namhiện đại nói chung và thơ ca chống Mỹ nói riêng ở tường Trung Học Phổ Thông saunày

4.Phương pháp nghiên cứu :

- Tiếp cận hệ thống thơ Nguyễn Khoa Điềm

- Phân tích lần lượt các bài thơ

- So sánh (lệch đại và đồng đại ) để tổng hợp vấn đề

5.Lịch sử vấn đề:

Vào những năm 70 của thế kỷ trước khi những bài thơ của Nguyễn Khoa Điềmlần đầu tiên được gửi ra miền Bắc trong tập “Đất ngoại ô” đã thực sự hấp dẫn, lôicuốn bạn đọc và các nhà nghiên cứu phê bình văn học

Với điều kiện tư liệu có hạn, tình hình nghiên cứu thơ Nguyễn Khoa Điềm màchúng tôi tập hợp được có thể chia làm 3 loại như sau:

Loại 1: Những bài bình giảng từng bài thơ riêng lẻ như : “Khúc hát ru những

em bé lớn lên trên lưng mẹ”(Vũ Quần Phương), “Đất nước”(Trần Đăng Xuyền),

“Trên đường”(Ngô Thế Oanh)

Loại 2: Những bài nghiên cứu từng tập thơ của Nguyễn Khoa Điềm :

- Trên tạp chí Văn nghệ quân đội tháng 4 năm 1975, trong bài viết “NguyễnKhoa Điềm với Mặt đường khát vọng” Nguyễn Văn Long từ việc phân tích tập thơ

đã đi đến nhận định : “ Thơ Nguyễn Khoa Điềm giàu sức tạo hình ; ông có nhiềuhình ảnh vừa mang chất sống thực vừa giàu ý nghĩa khái quát và những liên tưởngphong phú, mạnh bạo Nhưng chất nhạc nhiều khi không theo kịp hình ảnh Sự mởrộng khuôn khổ câu thơ có lúc làm yếu đi hay phá vỡ sự hài hoà của nhịp điệu, của

âm hưởng, làm giảm đi sức truyền cảm, rung động trong thơ ông.”(22.t387)

- Giáo sư Hà Minh Đức với bài viết “Đất ngoại ô của Nguyễn Khoa Điềm”,

đã đề cập đến những vấn đề cơ bản nhất về nội dung, nghệ thuật của tập thơ và điđến nhận xét : “Sức hấp dẫn của thơ Nguyễn Khoa Điềm có thể ở giọng nói mới

mẻ, những tìm tòi trăn trở khi viết nhưng trước hết và chủ yếu ở tâm hồn thơ trẻnồng cháy lý tưởng…Anh có lúc thiên về lý trí và khát khao suy nghĩ Anh chưa cónhững suy nghĩ khắc sâu về nhiều mặt của một đời thơ từng trải Những suy nghĩ tốtcủa “Đất ngoại ô” là những suy nghĩ gắn liền với hoài bão, khát vọng chân thành

Trang 3

của tuổi trẻ trong chiến đấu hoặc xuất phát từ đời sống thực mà Nguyễn Khoa Điềm

am hiểu, thông thuộc …(16.t218)

- Tôn Lan Phương trong bài viết “Nguyễn Khoa Điềm”, trên cơ sở phân tíchnhững bài thơ, chương thơ tiêu biểu của Nguyễn Khoa Điềm đã đi đến kết luận:

“Nguyễn Khoa Điềm đã góp vào nền thơ một phong cách đầy suy tưởng , cảm xúc,kết hợp hài hoà yếu tố hiện thực và lãng mạn, vốn sống trực tiếp và vốn sống vănhoá Điều đó không dễ cây bút nào cũng có được.”(34 t493)

- Nguyễn Xuân Nam với bài viết “Mặt đường khát vọng của Nguyễn KhoaĐiềm”, đã chỉ rõ những đặc sắc, hạn chế trong nghệ thuật của thơ Nguyễn KhoaĐiềm và những nét lặp lại, nâng cao ở trường ca “Mặt đường khát vọng” so với

“Đất ngoại ô” Ông đã nhận định :“Mặt đường khát vọng không phải là bài thơ cangợi Đúng hơn đó là một bài thơ về quá trình nhận thức để hành động Nó cógiọng trầm trầm của sự phân tích, nhận định, âm điệu chính vừa phù hợp với yêucầu của đề tài, vừa quen thuộc với phong cách Nguyễn Khoa Điềm ta đã thấy ở

“Đất ngoại ô”…Thơ Nguyễn Khoa Điềm không đặc sắc về tạo hình, màu sắc nhưngthơ anh có sức liên tưởng mạnh Anh đưa người đọc đi từ quá khứ đến tương lai, từkhổ đau đến hạnh phúc, từ sách vở đến đời sống Tác giả có ý định khá lớn, có cáchdiễn đạt mới, có sức sáng tạo dồi dào trực tiếp từ cuộc sống đấu tranh của quêhương, đất nước mình”.(26 t 110)

- Vũ Tuấn Anh trong bài viết “Nguyễn Khoa Điềm với Ngôi nhà có ngọn lửaấm”, đã chỉ rõ : “Chưa có thể nói rằng đây là một tập thơ đặc sắc đánh dấu sự vượtlên so với những thành công trước đây của Nguyễn Khoa Điềm”, đồng thời đề cậpđến những biến đổi bên trong của tư duy thơ Nguyễn Khoa Điềm ( từ “Đất ngoạIô”, “Mặt đường khát vọng”, trở về với “Ngôi nhà có ngọn lửa ấm”, có một cái gì đókhác đi….Thơ Nguyễn Khoa Điềm đi cùng với những cố gắng của thơ nói chungtrong việc đi tìm giọng thơ mới, khác đi để nói về mọi điều bình thường bằng mộtgiọng bình thưòng, đụng chạm đến mọi khía cạnh buồn vui của đời sống, tâmtrạng”

Ở bài viết này Vũ Tuấn Anh đã nêu được những nét đặc sắc về nội dung,nghệ thuật của tập thơ, đồng thời bước đầu so sánh tập thơ này với hai tập thơ trướcđó: “Câu thơ trí tuệ hơn, ý tứ cô lại, tước đi những chữ bắc cầu, nối ý…anh cố gắngdiễn đạt cái trừu tượng, cái hư ảo, thăm dò và mở ra những chiều sâu mới.”( ) Trong bài viết : “Nguyễn Khoa Điềm với những bài thơ viết từ chiến trườngBình Trị Thiên” Mai Quốc Liên đã đi vào phân tích một vài bài thơ tiêu biểu trongsáng tác của Nguyễn Khoa Điềm và đi đến nhận xét : “Sách vở đã cho anh một cáchnhìn, một cách suy nghĩ và tiếp nhận thực tại, và một phần nhờ thế mà thơ anh có

Trang 4

lúc được mở ra theo nhiều bất ngờ , thú vị của tư duy…thơ anh giàu cảm xúc, cảmxúc ấy lại được nâng lên, chan hoà trong một nhận thức cuộc sống nhạy bén Cuộcsống ở chiến trường không những cho anh những xúc động dịu ngọt, đằm thắm,cuộc sống còn cho anh một dáng đứng, một cách nhìn cách nghĩ, thường là đúng vàsâu.”( 21 t 148)

Nguyễn Trọng Hoàn : “Cảm nhận thơ Nguyễn Khoa Điềm”

Sau khi phân tích một số bài thơ tiêu biểu của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm , ngườiviết đi đến nhận định : “Thơ Nguyễn Khoa Điềm có vẻ đẹp của những giá trị bềnvững Đó là những bài thơ in đậm quá trình tích luỹ vốn sống, sự thăng hoa mãnhliệt trong cảm xúc nhân văn kết tinh trong ý tưởng mới lạ… có cảm giác nhiều bàithơ anh phát triển theo nhịp chậm, vừa viết vừa ngẫm ngợi, vừa lắng nghe từng conchữ lan toả ngân rung”.(19.t148)

Qua những bài nghiên cứu trên, chúng tôi nhận thấy rằng hầu hết các tác giảđều thống nhất trong nhận định về thơ Nguyễn Khoa Điềm ở những cấp độ nghiêncứu khác nhau: từng bài thơ, từng tập thơ và cũng có tác giả cảm nhận chung về thơNguyễn Khoa Điềm như Mai quốc Liên và Nguyễn Trọng Hoàn Tuy nhiên, chưa

có một tác giả nào nghiên cứu một cách toàn diện thơ của ông Luận văn này cốgắng tập hợp, kế thừa ý kiến của những người đi trước, bước đầu tìm hiểu thơNguyễn Khoa Điềm một cách toàn diện qua ba tập thơ :

- “Đất ngoại ô”(Nhà xuất bản Giải phóng - 1972)

- “Mặt đường khát vọng”( Nhà xuất bản Giải phóng - 1974)

- “Ngôi nhà có ngọn lửa ấm”( Nhà xuất bản Tác phẩm mới - 1986)

6.Cấu trúc luận văn :

Ngoài phần mở đầu, kết luận và các phụ lục, nội dung chính của luận vănđược cấu trúc như sau:

Chương 1: Nhìn lại đội ngũ nhà thơ những năm chống Mỹ, cứu nước.

1.1 Đội ngũ sáng tác

1.2 Đôi nét về nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm

Chương 2: Thơ Nguyễn Khoa Điềm từ “Đất ngoại ô”, “Mặt đường khát vọng”

đến “Ngôi nhà có ngọn lửa ấm”

2.1 “Đất ngoại ô”

2.1.1

2.1.2 2.2 “Mặt đường khát vọng”

2.2.1

2.2.1

Trang 5

2.3 “Ngôi nhà có ngọn lửa ấm”.

2.3.1

2.3.2

Chưong 3: Bước đầu nhận diện cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Khoa Điềm.

3.1 Nguyễn Khoa Điềm - Một cái tôi trữ tình vừa trẻ trung vừa giàu suy tưtình nghĩa

3.2 Nguyễn Khoa Điềm - Một cái tôi trữ tình giàu tri thức văn hóa

3.3 Nguyễn Khoa Điềm - Một cái tôi mang đậm chất Huế

Trang 6

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại quả thực đã khơi dậy cảmhứng lớn cho thơ, lôi cuốn môt lực lưong sáng tác ngày càng đông đúc, sung sức,trưỏng thành vượt bậc cả về số lượng lẫn chất lượng Các thế hệ nhà văn cùng cómặt bên nhau trên chiến tuyến đánh Mỹ Nhìn một cách khái quát, đội ngũ nhữngnhà thơ trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước có 3 thế hệ : Thế hệnhững nhà thơ xuất hiện và trưởng thành trước cách mạng tháng Tám được nângcao tầm tư tưởng, càng giàu kinh nghiệm hơn trong con mắt nhìn, càng trẻ trongtâm hồn, càng khỏe trong sức viết như : Tố Hữu vẫn viết đều những bài thơ xuất sắcxứng đáng là ngọn cờ đầu của thơ ca cách mạng Thơ ông bước sang giai đoạn pháttriển mới, hồn thơ ông càng chín để có thể viết nên những bài thơ có tầm vóc lớn,đạt đến đỉnh cao Tập thơ “Ra trận” của Tố Hữu là một thành công quan trọng củathơ ca chống Mỹ Các nhà thơ khác như Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận, TếHanh, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Xuân Sanh, Yến Lan, Anh Thơ…vẫn tiếp tục sángtác khá dồi dào, nhiều nhà thơ đạt được những đỉnh cao mới, tạo ra chặng đườngtrên con đường thơ của mình và đem đến cho vườn hoa thơ ca chống Mỹ những sắcmàu tươi thắm : một Chế Lan Viên trữ tình - chính luận và giàu trí tuệ, một tiếngthơ giàu sức phản ánh và bao trùm hiện thực như Xuân Diệu, chất triết lý suy tưởngtrong thơ Huy Cận, tiếng nói giàu cảm xúc nội tâm của Tế Hanh ….Thế hệ nhà thơtrưởng thành trong kháng chiến chống Pháp vẫn giữ phong thái chắc, khỏe, vẫn viếtđều tay, khẳng định sức đi lên của thơ mình : Hoàng Trung Thông, Chính Hữu,Nông Quốc Chấn, Xuân Hoàng, Minh Huệ, Trần Hữu Thung, Phạm Hổ, TrinhĐường, Nguyễn Viết Lãm, Bàng Sĩ Nguyên… Đông đảo, hùng hậu và đáng chú ýhơn cả là thế hệ những nhà thơ xuất hiện và trưởng thành từ những năm xây dựngchủ nghĩa xã hội và trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Tre già măng mọc

Trang 7

trong nền thơ việt nam chống Mỹ, lớp tre càng xanh càng chắc thì đợt măng kế tiếp

đã đâm chồi Họ dã đem đến cho thơ sức sáng tạo mới, trẻ trung, trong sáng, nhạycảm, trong số đó có không ít tài năng sớm được chý ý và khẳng định như : Lê AnhXuân, Bằng Việt, Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ, Phạm Tiến Duật, Nguyễn KhoaĐiềm, Hữu Thỉnh …

Thế hệ những nhà thơ trẻ trong nững năm kháng chiến chống Mỹ , mỗi tácgiả mang một phong cách khác nhau nhưng họ đều có những đặc điểm chung củathế hệ mình

Thế hệ nhà thơ trẻ đã đem đến sự đông vui ồ ạt cho cả nền thơ chống Mỹbằng tiếng nói sôi nổi, mới mẻ và duyên dáng của riêng lứa tuổi họ, lứa tuổi lớn lêntrong nôi của chủ nghĩa xã hội, tha thiết tin yêu cách mạng và đang có mặt trên khắpcác mặt trận sản xuất, chiến đấu Thơ đốI vớI họ, không phải chỉ là một cách tự biểuhiện, tự ca hát, chính từ cuộc sống, từ niềm thôi thúc muốn ca hát về thực tế kỳ vĩcủa cuộc kháng chiến chống Mỹ mà họ đến với thơ Cho nên, thơ họ trẻ, hồn nhiên

mà vẫn có những suy nghĩ sâu sắc đầy trách nhiệm về Tổ quốc, dân tộc Thế hệnhững nhà thơ trẻ trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước có nhiều ưuthế và thuận lợi hơn so với những thế hệ trước Được đào tạo trong nhà trường xãhội chủ ghĩa, vốn kiến thức văn hóa nói chung, những hiểu biết có hệ thống về vănhọc và thơ ca dân tộc đã nằm ngay trong hành trang của họ trên những bước đườngđầu tiên đến với thơ - thuận lợi này, nhiều nhà thơ thuộc thế hệ trước không dễ gì cóđược Nếu như các nhà thơ xuất hiện trướccách mạng phải trăn trở, tìm tòi cho mìnhmột hướng đi đúng sau cách mạng thì những nhà thơ trẻ lại được bước đi trên conđường thẳng, rộng, dài của nền thơ cách mạng đã được vạch sẵn từ mấy chục nămnay Trên con đường thơ của họ có sự tiếp nối của nguồn thơ cách mạng đồng thời

họ là những con chim én đầu tiên báo hiệu mùa xuân của nền thơ sinh thành và lớndậy trong máu lửa

Khác với những nhà thuộc thế hệ trước, đội ngũ các nhà thơ trong khángchiến chống Mỹ là những thanh niên còn rất trẻ, họ đã có mặt ở những mũi nhọncủa cuộc sống để phản ánh cuộc chiến đấu hào hùng, vĩ đại của dân tộc Họ khôngcòn là những người đứng ngoài để tưởng tượng về cuộc chiến tranh nữa, họ thực sựsống đời sống chiến tranh Họ trực triếp cầm súng, xông vào mưa bom bão đạn,từng phút đối mặt với cái chết để nói về chiến tranh, để tự nói về mình và đồng độimình, khắc họa khuôn mặt của thế hệ mình Họ đã nói thật sâu sắc, thấm thía nỗikhó khăn gian khổ của đời sống chiến tranh Chính vì thế, mà họ ý thức được rằngkhông thể lý tưởng hóa cuộc chiến tranh, họ không chấp nhận thơ như một thứatrang sức:

Trang 8

“Thơ không phảI thứ dây bìm trang trí

Kéo nhòe đi những rễ cây tứa nhựa

Bão động rừng sao thơ chỉ rung rinh”

(Đường tới thành phố - Hữu Thỉnh )

Tuy nhiên, đội ngũ nhà thơ trẻ còn nhiều non yếu về vốn sống, về sự từngtrải, về chiều sâu tâm hồn và tầm cao tưởng Mặc dù vậy, các nhà thơ trẻ trongnhững năm chống Mỹ đã nhanh chóng thu được tình cảm và lòng tin cậy của bạnđọc bởi lẽ trong quá trình lao động nghệ thuật, họ đã phấn đấu để bồi dưỡng tưtưởng, tài năng và vốn sống cho mình Trong những năm chiến tranh ác liệt, họ vẫn

là những mầm cây có sức sống mãnh liệt không gì tàn phá nổi

1.2 Vài nét về nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm :

Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm sinh ngày 15 tháng 4 năm 1943, tại thôn ƯuĐiềm - xã Phong Hòa - huyện Phong Điền - tỉnh Thừa Thiên Ông xuất thân trongmột gia đình trí thức và có truyền thống văn học Bố và mẹ đều hoạt động trong tổchức của Đảng Bố là Nguyễn Văn Khoa (tức đồng chí Hải Triều ) người đã cóđóng góp nổi bật trong cuộc đấu tranh tư tưởng để truyền bá những quan điểm Mác-xít trên báo chí công khai năm 1930 Mẹ là thành phần nòng cốt của phong trào Phụ

Đến Thừa Thiên,Nguyễn Khoa Điềm được phân công công tác vận độngthanh niên ở Thành ủy có nhiệm vụ chính là làm báo và bắt mối với cơ sở thànhphố Tháng 9 năm 1967, ông bị bắt trong một trận càn, phải vô nhà tù Thừa Phủ.Đến ngày 3 tháng 2 năm 1968 ông dược ra tù rồi tham gia vào bộ đội Ban đầu ông

Trang 9

được phân làm lính thông tin hữu tuyến Khi bộ đội chuẩn bị rút khỏi mặt trận Huếông được chuyển sang trung đoàn 9 tiểu đoàn 818 làm lính trinh sát

Sau giải phóng miền nam năm 1975,Nguyễn Khoa Điềm tham gia công tácchính trị ở thành phố quê hương Ông từng làm Chủ tịch Hội văn nghệ Bình TrịThiên, Phó bí thư thường trực tỉnh ủy Thừa Thiên - Huế Ôngđã tham gia Ban chấphành hội nhà văn khóa III Từ tháng 8 năm1993 ông ra hà nội làm Thứ trưởng Bộvăn hóa –thông tin Năm 1995, ông được bầu làm tổng thư ký Hội nhà văn khóa V.Năm 1996, ông được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 8 bầu vào Ban chấp hànhTrung ương Đảng và Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt nam bổ nhiệmlàm Bộ trưỏng Bộ văn hóa - thông tin

Nguyễn Khoa Điềm được sinh ra trong gia đình có nhiều người hoạt độngvăn chương và ngay từ nhỏ ông đã ham thích văn học nhưng sự nghiệp sáng tác củaông thực sự bắt đầu từ năm 1969 với chùm thơ “Đất ngoại ô”, “ Con chim thờigian”, “Người con gái chằm nón bài thơ” Năm 1972, tập thơ “Đất ngoại ô” của ôngđược xuất bản Đó là kết quả của những năm ông lặn lội ở chiến trường Thừa Thiên

- Huế Trong đợt dự trại sáng tác của văn nghệ khu Trị Thiên - Huế tổ chức năm

1971, ông viết trường ca “Mặt đường khát vọng” với tất cả sự say mê của một conngười đã từng đi đầu trong những ngày xuống đường Sau năm 197, trong hoàncảnh mới của đất nước Nguyễn Khoa Điềm tìm cho thơ mình một cách nói, mộtcách nghĩ khác hơn những ngày chiến tranh, ông đã đem đến một tiếng nói trĩu nặngsuy tư với tập thơ “Ngôi nhà có ngọn lửa ấm”, năm 1986 tập thơ này đạt gíảithưởng Hội nhà văn Việt Nam

Cho đến nay, Nguyễn Khoa Điềm có tới 5 tác phẩm đã được xuất bản : “Đấtngoại ô”(thơ - 1972); “Cửa thép”(ký - 1972); “Mặt đường khát vọng”(trường ca -1974); “Ngôi nhà có ngọn lửa ấm”(thơ - 1986);“Thơ Nguyễn Khoa Điềm”(thơ -1990) ; Một số bài thơ của ông đã được đưa vào giảng dạy trong nhà trường : “Khúchát ru những em bé trên lưng mẹ”(Văn học 6, tập 2 ) ; “Đất nước”(Trích trường ca

“Mặt đường khát vọng”, Văn học 12, phần văn học Việt Nam )

Nguyễn Khoa Điềm vẫn tiếp tục trên con đường thơ của mình, hiện nay ôngthơ ông vẫn được đăng tải trên báo chí : “Viết trong ngày 8 tháng 3”(11); “MừngtuổI 60 trên tàu hải quân ra biển đông”(12); “Tháng 4 Trường Sa”(13); “Đi giữa đấtLào”(14)

“Tôi nghĩ điều trọng là phải trở thành cây bút có trách nhiệm với đời sống

Mà muốn thế thì phải rèn luyện nhiều lắm Chúng ta đã có một nền văn học tốt đẹp

và cần có Những anh chị em trẻ nhiều tài năng và tâm huyết sẽ đưa nền văn học

Trang 10

nước nhà lên những tầm cao mới” Nguyễn Khoa Điềm xứng đáng là một trongnhững “anh chị em” ấy

Trang 11

Chương 2:

Thơ Nguyễn Khoa Điềm từ “Đất ngoại ô”,

“Mặt đường khát vọng” đến “Ngôi nhà có ngọn lửa ấm”:

trong “Đất ngoại ô” và khép lại bằng hình ảnh người mẹ Tà Ôi địu con, giã gạo với

tư thế hiên ngan giành trận cuối cùng lời ru tha thiết nồng hậu say đắm lòng người:

“Em Cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi

Em ngủ cho ngoan đừng rời lưng mẹ”

trong “Khúc hát ru những em bé lớn lên trên lưng mẹ”

Nguyễn Khoa Điềm ước mơ trở thành người thầy giáo nhưng giặc Mỹ đã không choông thực hiện ước mơ ấy Quê hương thân yêu rơi vào cảnh bom đạn, chiến tranh,ông giã từ “mối tình sách” với “buổi học đầu ấp ủ yêu thương”, khoác ba lô đi thẳngvào chiến trường miền Nam đánh Mỹ, đi về phía “Tiền phương súng dội Mà ngựcrâm rang bao tiếng trống trường” Chính trong hoàn cảnh chiến tranh, nếm đủ cảnhđói khát, tù đày với suy nghĩ sâu xa về trách nhiệm của tuổi trẻ trước sự sống còncủa Tổ quốc, đã nung nấu và khơi dậy trong ông nguồn cảm hứng sáng tác

Mỗi một nhà thơ đều chọn cho mình một mảnh đất thơ để thả hồn mình vào

đó Nếu như Dương Hương Ly tìm về Quảng Nam “Mảnh đất nuôi ta thành dũngsĩ”, Lê Anh Xuân tha thiết với Bến Tre rợp bóng “Hoa dừa”, Phạm Tiến Duật saysưa cùng Trường Sơn thì Nguyễn Khoa Điềm tìm về với “Đất ngoại ô”

Những năm tháng xa quê, kỉ niệm một thời với Nguyễn Khoa Điềm khôngchỉ là “màu mực tím”, những buổi đi học “qua hàng cây với cặp sách che đầu” màcòn là bao kỉ niệm về một khu phố ngoại ô nghèo:

“Khu phố ngoại ô nằm nghe mưa nguồn và sóng vỗ

đêm thầm tính những chuyến đò về trong giấc ngủ

trăn trở năm nào

vỗ về một ngày lam lũ”

(Đất ngoại ô)

Nguyễn Khoa Điềm rất am hiểu, thông thuộc cuộc sống và tình cảm củanhững người dân ngoại ô Sự đồng cảm giữa nhà thơ với những người lao động

Trang 12

nghèo khó đã đem đến cho ngòi bút của ông sự rung động sâu sắc Cuộc sống củangười dân nơi đây “như vỏ hến chiều chiều tấp lên các bến”, làm lụng vất vả “đầutắt mặt tối” như ứ đọng, nghẹn tắt trong thiếu thốn:

“Những đồng tiền ngoại ô

đẫm mùi mồ hôi, dầu mỡ

mùi nước mắm cá khô

…Những đồng tiền trăn trở trăm kiểu

Ngập ngừng mới đến được đây

Những đồng tiền ngoại ô

Rít chằng khó đếm

…Chao mỗi đồng tiền đâu một lời tâm sự

những đồng tiền khó khăn”

(Những đồng tiền ngoại ô)

Những đồng tiền, khó khăn cay cực trăm kiểu họ mới kiếm được cũng chỉ đủ sốngtrong những ngày đầu tháng Nhà thơ lặng lẽ đếm từng ngày nhịp sống ngoại ô:

“Ngoại ô mua nước mắm chai là ngày lãnh lương

Ngoại ô mua ruốc từng đồng là ngày cuối tháng”

(Những đông tiền ngoại ô)

Từ những đồng tiền ngoại ô “rít chằng khó đếm” ông nghĩ về thân phận củanhững người dân nơi đây:

“Ôi những cuộc đời sụt lở dần theo con nước mỗi năm lùa vô Đập đá”

(Đất ngoại ô)

Cuộc sống và con người quê hương ông vốn đã bị bủa vây trong thiếu thốn,nghèo khó, vốn đã cay cực nay càng cay cực, tiêu điều hơn khi giặc Mỹ đầy đường:

“Một thành phố cuối con suối này

Uống nước đục ngầu mỗi chiều đầy bom đạn”

(Con chim thời gian)

Giặc Mỹ tràn đầy quê hương cũng chính là lúc những người dân ngoại ôsống trong cảnh thành phố mọc đầy những nấm độc “x-nách-ba”, những “Mỹ vàđĩ” Mùa xuân hôm nào còn “hạnh phúc tròn trong hơi sữa Nồng nàn mùi đất sangxuân” nay chỉ còn:

“Một mùa xuân quay cuồng và tan rã

Một mùa xuân cố trốn một mùa đông”

(Con gà đất, cây kèn và khẩu súng)

Trang 13

Không sống cam chịu, người dân ngoại ô muốn tháo tung tất cả những ràngbuộc của cảnh đời khốn khó, muốn sống hạnh phúc, họ đấu tranh dành quyền sống

từ tay kẻ thù:

“Ngoại ô xuống đường

Những bàn tay giơ cao

Vẫn những bàn tay giơ cao đòi những đoá hoa của lợi quyền, hy vọng áo cơm

và đòi được sống

Sau bao đêm đếm giá trị cuộc đời trên những mảnh rách nát mồ hôi”

(Những đồng tiền ngoại ô)

Nếu ngày hôm qua người dân ngoại ô còn là những “cuộc đời sụt lỡ” thì hômnay họ trở thành những người con trung kiên của quê hương, đất nước Với tình yêuquê hương mãnh liệt, họ đã tạo nên một “khuôn mặt” mới cho quê hương mình

“Thành phố buồn đau” hôm nào, giờ đây trở thành một vùng đất chiến đấu vô cùnganh dũng:

“Ngoại ô mở rồi trăm cửa ta băng băng

Trái tim hồng ta lắp súng chống tăng

Ta đã lớn, ơi mẹ, em, đồng chí

Mái nhà xưa nhìn theo ta ứa lệ

Sức trăm năm nay chuyển xuống lòng đường

Cả ngoại ô thành chiến luỹ sông Hương”

(Đất ngoại ô)

Hoà vào không khí đánh giặc chung của quê hương là những cuộc đấu tranhcủa thanh niên học sinh sinh viên Huế trong những “ngày tuần hành”, những “đêmkhông ngủ”, sát cánh bên nhau trong đội ngũ xuống đường đầy khí thế hào hùng vàquyết liệt:

“Các anh chị đi rầm rập vạn bàn chân

Đạp hơi cay lưỡi lê lường gạt

…Mang đất nước và bình minh chói đỏ

Chúng ta đi kẻ lại phố phường mình”

Gương mặt “Đất ngoại ô” bây giờ hiện lên vời nhiều lớp tuổi khác nhau,nhiều hoàn cảnh khác nhau nhưng họ gặp nhau ở lòng yêu Tổ quốc và lòng căm thùgiặc Bởi lẽ bài học đầu tiên của họ là bài học giữ nước: “đổi nước ngọt” chữ đừng

“bán nước” và họ đã trưởng thành theo chiều dài lịch sử của quê hương đất nước:

“Ơi đất phải ra đi và đất phải trở về

Là gạch ngói đau thương là chiến hào căm giận

Là Trường Sơn dựng lên ngàn bệ phóng

Trang 14

Là kì đài xưa ta khắc một câu thề

Giải phóng”

(Đất ngoại ô)

Khi ý thức được trách nhiệm của mình đối với vận mệnh đất nước, một thế

hệ tuổi trẻ như nhà thơ đã ra trận vớí trái tim cháy bỏng khát vọng cao đẹp Ngày họ

ra trận là một ngày hội lớn:

“Chúng con lên đường

Con gái con trai đều đội mủ tai bèo,

Con gái con trai đều đi dép lốp

Quân phục xanh là Tổ quốc may

Tiếng cười là đồng đội dạy”

(Thưa mẹ con đi)

Nếu như người lính trong “Đồng chí” của Chính Hữu, “Nhớ” của HồngNguyên là những người lính xuất phát từ “nước mặn đồng chua” thì những ngườilính trong thơ Nguyễn Khoa Điềm mang vẻ đẹp của những anh lính “Tây tiến”(Quang Dũng) Mặc dù phải đối mặt với cái chết các anh vẫn ôm ấp mơ ước ngàyhoà bình để trở về bục giảng:

“Ôi những trang sách và đàn em mong đợi

Ta về đây nguyên dép lốp chiến trường”

(Sẵn sàng cho bài học đầu tiên)

Bên cạnh người lính, chúng ta còn bắt gặp hình ảnh người con gái chằm nónbài thơ dịu hiền bên bờ sông Bồ:

“Bàn tay xây lá, tay xuyên chỉ

Mười sáu vành mười sáu trăng lên”

(Người con gái chằm nón bài thơ)

Cô gái đẹp tựa trăng tròn và những vầng trăng đã mọc lên từ tay em trongsáng, yên lành Giặc Mỹ đến “đạp gãy vành”, máu bà con in trên lá nón, em đi làmcách mạng “bảo vệ quê nhà với chú anh” Cô gái “ăn chưa no, lo chưa tới” hôm nào

đã lớn lên, dày dạn qua bao thử thách chiến tranh Chiếc nón “đi về thêm thiết tha”bây giờ “đi đón cả ngày giông bão, dựng dậy phong trào soi ước mơ”

Giữa núi rừng Thừa Thiên, chúng ta còn bắt gặp em bé giao liên mang dáng

“Lượm” hôm nào:

Trang 15

(Chiếc nôi vàng)

Khi “Tổ quốc thân yêu thành cao điểm giệt thù” cũng chính là lúc những em

bé “chưa đến tuổi cầm súng”(Thơ ơi), tóc còn “kẹp vắt chỏm”(chiếc nôi vàng) cũngtheo anh chị tham gia cách mạng

Đọc thơ Nguyễn Khoa Điềm chúng ta không chỉ thấy cháy bỏng trong thơtình yêu những lý tưởng lớn, những tình cảm lớn, niềm hy vọng lớn mà chúng tacòn bắt gặp tình yêu đôi lứa rất đỗi ngọt ngào Nếu như thơ tình trong chiến tranhthường nói đến sự chia ly, xa cách Nguyễn Đình Thi viết: “Chia tay trong đêm HàNội” đầy tin tưởng, dự cảm tốt đẹp Nguyễn Mỹ nhận ra giọt nước mắt nóng bỏng,sáng ngời ở “Cuộc chia ly màu đỏ” Phan Thị Thanh Nhàn dè dặt trong mùi “Hươngthầm” của một tình yêu đang đến đang đi thì Nguyễn Khoa Điềm viết về cuộc chiatay giữa đôi bạn trẻ diễn ra trong nỗi lưu luyến với “đôi mắt cười ướt đỏ” của cô gáinhư “buổi hò hẹn lớn lao” Hai người chia tay nhau kẻ ở người đi nhưng hình ảnhcủa họ vẫn ở trong từng ý nghĩ của nhau:

“Anh sẽ mang tim em đi suốt những đêm trường

Trái tim em trong ngực anh hát những bài ca nho nhỏ”

(Buổi hò hẹn lớn lao)

Tình yêu của cô gái sẽ theo bước chân người lính “rập rờn bay suốt nhữngchiến hào” cho anh thêm sức mạnh diệt thù Sự khắc nghiệt của chiến tranh dẫu cómất mát, đau thương nhưng không thể làm cho con người chai sạn đi mà ngược lại,

vì biết rõ lí tưởng cao đẹp của mình nên người lính thấy yêu hơn “cái ngày hômnay”-dù “bom vẫn rền xé nát trời đêm”, “ngày hai bữa nghẹn khoai và rau luộc”.Nếu Dương Hương Ly cất cao tiếng thơ ca ngợi “Cuộc đời vẫn đẹp sao, tình yêuvẫn đẹp sao”, Phạm Tiến Duật xao xuyến mời gọi “Đường ra trân mùa này đẹplắm” thì Nguyễn Khoa Điêm dưới bom đạn của kẻ thù vẫn tìm được một sáng

“mùa xuân ở A đời”:

“Em lại về A đời

Mùa xuân theo em đó

Những cánh rừng hoa lau mênh mông”

(Mùa xuân ở A đời)

Tuổi trẻ ra trận không chỉ bằng lòng dũng cảm và khát vọng tự do mà hànhtrang của họ ngày lên đường còn có cả nụ cười lạc quan coi khinh lửa đạn, vất vả,mất mát, hy sinh:

“Vắt cơm mở mùa có mau sắc riêng

Đỏ móng trâu lẫn trắng ngà môn vót

Thêm vị mặn là những lời mong ước

Trang 16

Chúng ta ăn với những tiếng cười”

(Ánh sáng trên lưỡi rìu)

Tiếng cười của các anh là tiếng cười làm nên chiến thắng:

“Trong thời gian, không gian gian lao\

Ta trầm tĩnh nhân sức mình vô hạn”

(Ánh sáng trên lưỡi rìu)

Dân tộc chúng ta phải đối mặt với một kẻ thù hung bạo và lớn mạnh nhấtthời đại, hy sinh mất mát là điều không tránh khỏi Dẫu biết vậy nhưng các anh vẫn

tự tin để bước vào trân chiến, đón những cái chết nhẹ tựa lông hồng:

“Nếu tôi phải ngã xuống

Xin đặt tôi bên đường

Cho tôi vành sao nhỏ

Gác đường Hồ Chí Minh”

(Tôi lại đi đường này)

Niềm tin tưởng lạc quan ấy chỉ có ở những tâm hồn thanh niên có khát vọng

lý tưởng cao đẹp hoà quyện trong một tình cảm thắm thiết về quê hương, nhân dân,đất nước

Từ những đôi trai gái lặng lẽ đặt tình yêu Tổ quốc lên trên tình cảm riêng tư,

em bé giao liên, o bí thư 17 tuổi, những chiến sĩ lạc quan yêu đời, Nguyễn KhoaĐiềm đã cho chúng ta hiểu hơn về tuổi trẻ trong cuộc chiến đấu hôm qua

Một khu phố ngoại ô với bao kỉ niệm về một thời thơ ấu và những thángngày tranh đấu luôn là niềm tự hào của nhà thơ:

“Con lớn lên mùa thu thanh kỉ niệm

Của đời riêng trong sắc biếc trời cho

Khi thành phố còn một giờ giặc chiếm

Con xót xa nhớ nơi Bác từng qua”

(Nơi Bác từng qua)

Ý thơ được triển khai theo kỉ niệm riêng tư, theo dòng suy nghĩ về nhân dân,đất nước và đọng lại ở lòng yêu Bác, yêu thành phố ở quê mẹ:

“Ôi nơi mẹ sinh ra là nơi Bác từng qua

Vệt ánh sáng rải đường con chiến đấu

Con nguyện, dù trăm lần máu đổ

Chon đất này-nơi Bác từng qua”

(Nơi Bác từng qua)

Yêu thương, tự hào, Nguyễn Khoa Điềm gắn bó máu thịt với từng hạt cátquê hương, với cuộc chiến đấu đang diễn ra gay go, quyết liệt ở một vùng “cát

Trang 17

không là ngà ngọc Mà đúc nên thành đồng” Từ hạt cát “thấm mồ hôi máu đỏ,

“thơm hồn ông cha”, nhà thơ nghĩ về Tổ quốc, nhân dân và ao ước hoà quyện tâmhồn mình trong cát trắng quê hương:

“Nên chiều nay ra trận

Với “Đất ngoại ô”, Nguyễn Khoa Điềm đã góp vào nền thơ chống Mỹ nhữngtrang thơ mang không khí chung của thời đại lại có cái riêng của một vùng đất, mộtcánh nhìn nhận cảm xúc mới lạ Ông đã kết hợp hài hoà giữa lòng nhiệt tình củatuổi trẻ với hiện thực cuộc sống sôi động ở chiến trường để tạo nên sức hấp dẫn,cuốn hút trong thơ Chúng ta còn bắt gặp trong thơ ông bao suy tư hoài bão, khátvọng chân thành của tuổi trẻ ngày ra trận

Qua tập thơ này chúng ta có thể nhận thấy thơ Nguyễn Khoa Điềm rất giàusức liên tưởng Ông đã dẫn dắt người đọc vào mạch liên tưởng độc đáo bất ngờ Đặcbiệt là ông muốn đưa chất liệu cuộc sống hào hùng mà mình đã trải qua vào thơ,song thơ ông hấp dẫn không chỉ ở chất liệu ấy mà còn ở những suy nghĩ, tình cảmcủa ông trước hiện thực đó

Để nâng cao gía trị của tác phẩm Nguyễn Khoa Điềm cũng đã cố gắng tìmcho mình cách nói phù hợp với tâm trạng, hoàn cảnh cụ thể: có khi là tiếng nói yêuthương trìu mến qua thể thơ lục bát(Khoảng trời yêu dấu), khi là lời tố cáo đanhthép tội ác của kẻ thù(Nghĩ về một nhãn hiệu) Ở tập thơ này, ông đã kết hợp hàihoà các thể thơ(phụ lục) Để tránh sự khô khan cứng nhắc trong thơ, trong tập thơnày ông sử dụng các thể thơ rất hài hoà.(Phụ lục)

Trang 18

Tuy “Đất ngoại ô” chưa có được những suy nghĩ khắc sâu về nhiều mặt củamột đời thơ từng trải nhưng Nguyễn Khoa Điềm đã góp vào nên thơ ca chống Mỹmột tiếng nói trữ tình giàu liên tưởng gắn liền với hoà bão, khát vọng chân thànhcủa tuổi trẻ và sự am hiểu, thông thuộc về một vùng đất.

2.2 Mặt đường khát vọng:

Nguyễn Khoa Điềm không bằng lòng đóng khung trong những bức tranh gọnhẹp, những cảm xúc ngắn gọn mà ông luôn luôn có khát vọng vươn dài nới rộng đểkhám phá và biểu hiện tầm sử thi của cuộc sống cách mạng cho nên ông đã tìm đếnthể trường ca và đã thành công với “Mặt đường khát vọng” Trường ca “Mật đườngkhát vọng” (xuất bản 1974) được gợi cảm hứng từ bản giao hưởng số 5 củaBetthôven và nhiều đoạn trong “Lửa đèn” của nhà thơ Phạm Tiến Duật Trường canày có 9 chương, nói về con đường “thức nhận”, dấn thân vào cuộc đấu tranh củatuổi trẻ đô thị miền Nam, và đó cũng chính là con đường tìm về với nhân dân, vớidân tộc

2.2.1 Quá trình thức nhận của tuổi trẻ đô thị miền Nam:

Trong chương thơ mở đầu của tác phẩm-“Lời chào”, Nguyễn Khoa Điềmđến với tuổi trẻ thành phố quê hương bằng tình yêu của những người bạn “thưởthiếu thời”, tình yêu quê hương “nửa phần là nắng gió, nửa phần là gương mặt yêuthương” Tâm hồn nhà thơ đã hoà vào “cái ta” rất chung:

“Ta đã đi qua những năm tháng không ngờ

Vô tư quá để bây giờ xao xuyến

Bèo lục bình mênh mang màu mực tím

Nét chữ thiếu thời trôi nhanh như dòng sông”

Những kỉ niệm học trò trong màu mực tím và cánh phượng bối rối đã đượcNguyễn Khoa Điềm đưa vào thơ như lời mời gọi, lời tâm sự cùng bè bạn Với mộtgiọng điệu dịu dàng, tha thiết ông đã đánh thức tình cảm thiêng liêng và biết ơncuộc đời sâu nặng trong mỗi một con người:

“Biết ơn những dấu chân bấm mặt đường xa

Những dấu chân trần bùn nặng vết

Ta đi học quen dẫm vào không biết,

Dáng cuộc đời in mãi dáng ta đi”

Từ chỗ đánh thức lòng biết ơn mẹ cha, biết ơn đất nước với những truyềnthống quý báu trong sâu thẳm tâm hồn những thanh niên đô thị miền Nam, nhà thơ

đi đến giúp họ ý thức về quân thù và đất nước

Trang 19

Đi liền với sự mở rộng qui mô và tội ác chiến tranh, Mỹ tung ra không biếtbao nhiêu học thuyết, thủ đoạn chính trị bịt bợm, kể cả giọng lưởi hoà bình Khôngphải không có những thanh niên đô thị miền Nam nói riêng và người dân chúng tanói chung chưa thấy hết được bản chất của đế quốc Mỹ và có những ngộ nhận về

kể thù Với tiếng nói chính luận sắc bén kết hợp cùng tư liệu sách vở và vốn sốngthực tế của những năm tháng lăn lộn trong chiến tranh ác liệt, Nguyễn Khoa Điềm

đã lách con dao trí tuệ của mình vào tim đen của kẻ thù, mổ xẻ, phơi trần nó:

“Không ở đâu bằng đất nước Việt Nam này

Nơi nhân loại thêm một lần nhìn thấy

Những tội ác con người đi qua bỗng hồi sinh trở lại”

Trên trang thơ của Nguyễn Khoa Điềm bộ mặt thâm hiểm của kẻ thù hiện lên

rõ từng đường nét Ông đã ví tội ác của giặc Mỹ với Khantacta-kẻ đã từng làm mưalàm gió từ Á sang Âu với vó ngựa đẫm máu, những đội Thập tự chinh với “đầungười trên mũi mác”:

“Rồi những Khantacta bỗng bước ra từ bão cát

Rồi những cuộc Thập tự chinh với đầu người trên mũi mác

Rùng rùng đi tàn phá nước non này”

Tên bạo chúa thời trung cổ và giặc Mỹ bây giờ đều chung bản chất dã man

và tàn bạo, có khác chăng giặc Mỹ tinh vi và tài năng hơn trong phương cách giếtngười:

“Xưa giết người bằng roi, bằng rìu cũ kĩ

Nay giết người bằng hoá chất, điện tử, prôtông

…Xưa một người chỉ đâm chết một người

Nay một cái bẩm nút, một cái đạp cản bom Mỹ giết ta hàng chục hang trăm ngọtxớt”

Với lối so sánh xưa và nay, Nguyễn Khoa Điềm đã vạch trần được tội ác dãman của “tên bạo chúa” thế kỷ 20 Thời trung cổ, sự dã man của Khantácta đã khiếncho loài người khiếp sợ, nay tội ác của giặc Mỹ còn tàn ác dã man hơn hàng trăm,hang ngàn lần

Giặc Mỹ đến Việt Nam nhằm xoá bỏ tất cả công lí, chúng “uốn công lí quănqueo làm thước kẻ” Chúng sẵn sàng reo rắc cái chết trên đất nước ta miễn sao đảmbảo lợi ích và quyền lợi của lầu Năm Góc Nguyễn Khoa Điềm đã sử dụng tươngquan “vì…phải” như một mệnh đề, một logic “độc đoán, cuồn điên” của kẻ thù đểchỉ rõ:

“Vì một cuộc hành quân phải huỷ diệt hàng vạn mẫu tây rừng

Vì sự tồn vong của học thuyết màu da phải đầu cơ hàng vạn xác da vàng

Trang 20

Vì Tổng thống phải xích tay hàng vạn người biểu tình nổi loạn”.

Để đạt được mục đích của mình, giặc Mỹ không từ bất cứ một thủ đoạn dãman nào nhằm đè bẹp, thiêu cháy tinh thần dân tộc trong mỗi người dân Việt Namhòng biến chúng ta thành những con người không khối óc, không yêu thương:

“Chúng đánh ta để không tìm được chiều cao

của thân thể, của ước mơ hạnh phúc”

Chúng sắn sàng chém giết, sẵn sàng nhấn đất nước Việt Nam trong biểnmáu Chúng thờ ơ trước sự đau thương, mất mát của dân tộc ta:

“Quật giết người vẫn không hề tái mặt

Vì giết người máu chẳng dính tay chân”

Song song cùng lũ giặc cướp nước, chân tướng của bè lũ tay sai bán nướccũng bị Nguyễn Khoa Điềm vạch trần trên trang thơ của mình:

“Miệng thằng Cẩn nhai trầu hay ngậm tiết

Miệng Ních-sơn nhai học thuyết màu da

Miệng Thiệu-Hương nhai khố rách dân ta”

Với giọng châm biếm, mỉa mai, nhà thơ đã chỉ rõ được sự lố bịch, dả trá củanhững “cái miệng” nhai đủ thứ tanh hôi, dơ bẩn nhưng luôn rêu rao những điều tốtđẹp:

“Chúng rêu rao chính sách bốn không

Và ta hưởng không áo, không cơm, không nhà, không cửa.”

Có thể nói rằng với chương “Giặc Mỹ”, bằng vốn kiến thức tổng hợp từ thực

tế và sách vở, với giọng thơ trầm trầm của sự phân tích có lí có tình, với lòng cămthù cao độ Nguyễn Khoa Điềm đã dựng lên trước mắt bạn đọc chân dung giặc Mỹ

cụ thể và sinh động, góp vào viện bảo tàng tội ác đế quốc Mỹ ở Việt Nam một bảncáo trạng đanh thép

Cũng như thơ miền Nam, trong những ngày đen tối thơ Nguyễn Khoa Điềmkhông sướt mướt, bi luỵ mà bộc lộ niềm tin yêu lòng căm phẫn Trong chiến tranh,thơ ông sớm tránh được những “tráng sỹ sa trường”, những “ùng oàng hò hét” mà đivao cuộc sống thực, tâm tư tình cảm thực của thanh niên đo thị miền Nam để hướng

họ đến bao điều trăn trở nghĩ suy trước sự đổi thay của thành phố-nơi đong đầy bao

kỉ niệm tuổi thơ:

“Thành phố bên sông bè bạn rất đầy

Chợt trở lại hoang vu bày quán xá”

Hình ảnh quê hương thân yêu ngày nào, giờ đây chỉ còn là “những nămkhông bình yên” với “đầy bóng giặc, đầy những người ngửa tay” đã xoáy sâu vàotrong tình cảm, nếp nghĩ của những học sinh, sinh viên lúc bấy giờ:

Trang 21

“Lòng ta không yên

Lòng ta đây khắc khoải”

Chính vì thế mà tiếng trống trường không còn “khép ta vào yên tĩnh nữa” và

“màu bảng đen” lại gợi nhớ đến “màu mặt đường”-mặt trận Nhà thơ Nguyễn KhoaĐiềm thấu hiểu hơn ai hết tâm trạng của những chàng trai cô gái ngồi trên ghế nhàtrường mà lòng đau nỗi mất nước, bới bản thân ông cũng là một trong số họ:

“Có gì đâu chúng con nhìn lên bản đồ Việt Nam

Sao tổ quốc mà chỉ còn nửa nước

Dẫu địa lý chúng con thường ít thuộc

Nhưng nỗi đau này chúng con nhớ hơn”

Nếu như ở chương “Giặc Mỹ” với giọng thơ đanh thép hùng hồn để lên án kẻthù: “Tên Mỹ kia! Mày bị căm ghét đời đời” thì ở “Tuổi trẻ không yên” chúng ta lạibắt gặp một giọng thơ thầm thì như những lời tâm sự Vẫn là cánh phượng rơi “hoàihoài như đếm tuổi” ở chương “Lời chào” nhưng bây giờ nó đã trở thành biểu tượngcủa nỗi “đau như máu của tâm hồn tươi trẻ”

Mặc dù cả một thế hệ tuổi trẻ miền Nam trăn trở, nghĩ suy trước thực tại đauthương của quê hương, đất nước, muốn thoát khỏi cảnh “khung trời ngang trái”,nhưng họ vẫn chưa tìm được cho mình hướng đi đúng Họ đã không ngần ngại khithú nhận rằng :

“Sông Hương ơi, sông Hương

Ngươi còn nguồn với bể

Để đi và để đến

Còn ta 25 tuổi

Trôi cạn trên mặt đường”

Trong quá trình “thức nhận” đã có nhiều thanh niên trốn lính, chống lại trật

tự hiện hành của xã hội bằng cách chọn cho mình lối sống Hip-pi, trở thành những

“đàn cừu vọng ngoại”, và cũng không thiếu những thanh niên không tìm ra lẻ sống,không muốn cầm súng bắn vào đồng bào mình, đã phải tự “huỷ hoại từng đườnggân bắp thịt Từ màu mắt cho đến nụ cười hồng” của bản thân để rồi “vật vờ như cỏlác đầu sông” Có lúc họ ngẩn ngơ chua xót khi nhìn lại tuổi trẻ của mình, chẳngkhác gì cái ngẩn ngơ khi trở về già của người ca kĩ trong thơ Nguyễn Du:

“Ta lớn lên như mùa lũ

Ào ào thành phố tuổi thơ

Rồi ngày mai, mỗi kiệt phố chơ vơ

Những vết buồn chúng ta để lại”

Trang 22

Thấu hiểu được thực trạng mòn mỏi rã rời của tuổi trẻ đô thị miền Nam trongvòng cương toả của kẻ thù, với giọng thơ chân thành, cảm thông mà không kémphần dứt khoát, mạnh mẽ, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã phân tích cho họ hiểurằng khi “đốt cháy hôm nay để không cầm vũ khí” thì cũng chính là khi “thiêu cháy

cả tương lai”, để hướng họ vào cuộc đấu tranh chung của dân tộc Ông vực họ dậy

từ vấp ngã ban đầu, kêu gọi họ đứng vào hàng ngũ cách mạng:

“Hỡi tuổi trẻ như một rừng cây lớn

Nhận nắng trời và gió bão đầu tiên

Hãy đứng dậy và giơ cao ngọn đuốc

Của tình yêu đã khơi cháy ngàn đời”

Cả chương thơ “Tuổi trẻ không yên” có sức lay động đối với độc giả bởi nóđược viết ra bằng sự thấu hiểu, thông cảm, đau xót, trước sự bế tắc, tù túng và lầmlạc của những người cùng một thế hệ, cùng một lứa tuổi nhưng phải sống trongvòng kiêm toả và đầu độc của kẻ thù Chính sách Việt Nam hoá chiến tranh thâmhiểm của Mỹ nhằm “Mỹ hoá” tâm hồn họ, biến họ thành những con hoang của chủnghĩa đế quốc Mỹ, cắt lìa họ khỏi mọi mối quan hệ với dân tộc, với lịch sử, với chaông, với đồng bào và đồng loại Có thấu hiểu được điều này chúng ta mới hiểu hếtđược ý nghĩa và giá trị lớn lao của quá trình “thức nhận”của tuổi trẻ đô thị miềnNam lúc gấy giờ

Có thể nói rằng “Tuổi trẻ không yên” là cuộc tranh luận giữa hai quan niệm, hai tưtưởng, hai lối sống trong một thế hệ tuổi trẻ miền Nam giữa cuộc đấu tranh một mấtmột còn của vận mệnh dân tộc Một bên là thứ nguỵ biện vô trách nhiệm trước Tổquốc của một số thanh niên nhân danh lối sống hiện sinh, nhân danh chủ nghĩa cánhân ích kỉ, cực đoan Và bên kia là tiếng nói tuổi trẻ nhận ra chân lý, nhận raphương hướng sống sau bao nhiêu dằn vặt, tìm tòi, xuống đường hoà vào dòng thácđấu tranh của nhân dân Với giọng thơ khi thủ thỉ tâm sự, khi đầy tính chính luậnsắc bén, Nguyễn Khoa Điềm đã chỉ cho họ thấy rằng, để giành được tự do và hạnhphúc chỉ có một con đường duy nhất đúng:

“Chỗ đứng chúng ta không phải ở Hoa-Lư

Mà trên con đường ta tìm về dân tộc”

Từ cảm xúc những ngày sống hết mình với cuộc chiến đấu, từ vốn tri thức phongphú của mình, qua chương thơ “Đất nước”, Nguyễn Khoa Điềm đã cắt nghĩa sâu xacho việc tìm về cội nguồn dân tộc Đó là con đường đúng đắn nhất cho tuổi trẻ đôthị miền Nam lúc bấy giờ Đối lập với âm mưu kẻ thù đưa tuổi trẻ rời xa những giátrị tinh thần thiêng liêng, từ bỏ nhân dân,Nguyễn Khoa Điềm kéo họ về với buổi

Trang 23

ban đầu cha ông dựng nước, với truyền thống nhân hậu, bất khuất, anh dũng, kiêncường của dân tộc.

Trước và cùng thời với Nguyễn Khoa Điềm đã có không ít nhà thơ viết về chủ đềquê hương, đất nước Như Nguyễn Đình Thi tạo nên một hình dáng đất nước với vẻđẹp đau thương mà rất đỗi hùng tráng:

“Nước Việt Nam từ máu lửa

Lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa

Trong và thật sáng hai bờ suy tưởng

Sống hiên ngang mà nhân ái chan hoà”

(Đi trên mảnh đất này)

Cũng có lúc đất nước được hình dung như người lính ra trận dày dạn, bền bỉ “hànhquân không mỏi” trong thơ Chính Hữu…

Trong dòng cảm xúc về đất nước, Nguyễn Khoa Điềm tìm cách khám phá nhữngnét mới mẻ của vẻ đẹp đất nước, chiều sâu thẳm của tam hồn dân tộc theo cáchriêng của mình:

“Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi

Đất nước có từ cái ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể

Đất nước bắt đầu từ miếng trầu bây giờ bà ăn

Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc”

Cứ như vậy, ông đã đưa bạn đọc trở về với cội nguồn của dân tộc, trở về vớiđất nước bốn nghìn năm lịch sử, có truyền thống nhân nghĩa anh hùng, đất nước của

ca dao thần thoại và tình nghĩa thuỷ chung Đất nước sáng ngời những biểu tượnglớn lao mà rất đổi gần gũi, quen thuộc đối với mỗi chúng ta:

“Đất là nơi anh đến trường

Nước là nơi em tắm

Đất nước là nơi ta hò hẹn

Đất nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn tay trong nỗi nhớ thầm”

Đất nước không phải là cái gì xa lạ mà ở ngay trong máu thịt của mỗi mộtngười dân đất Việt:

“Trong anh và em hôm nay

Đều có một phần đất nước”

Trang 24

Từ đó, Nguyễn Khoa Điềm nói lên sự gắn bó máu thịt giữa số phận cá nhânvới vận mệnh chung của đất nước, nhân dân Đó là tư tưởng chung của thời đại khi

mà vấn đề dân tộc nổi lên như một vấn đề cơ bản nhất, có tính chất quyết định hầuhết mọi vấn đề khác Mỗi cá nhân phải có trách nhiệm đối với quê hương, đất nướcmình:

“Em ơi em Đất nước là máu xương của mình

Phải biết gắn bó và san sẻ

Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở

Làm nên đất nước muôn đời…”

Chương thơ “Đất nước” là sự cảm nhận của Nguyễn Khoa Điềm về vai trò

và những hi sinh to lớn của nhân dân trong công cuộc dựng nước và giữ nước Cũngnhư những nhà thơ trẻ cùng thời, ông đã thể hiện những suy ngẫm của mình về nhândân thông qua những trải nghiệm của chính bản thân mình Tư tưởng “Đất nước củanhân dân, Đất nước của ca dao thần thoại” là tư tưởng chủ đạo chi phối cả nội dung

và hình thức của chương 5 Chỉ trong mỗi một chương “Đất nước” ông đã sử dụngtới 61 lần danh từ Đất Nước

Trở về với nhân dân, với cội nguồn dân tộc là sự lựa chọn đúng đắn nhất Chỉ

có nhân dân mới làm nên đất nước với truyền thống 4000 năm lịch sử, với nhữngSơn Tinh “nhìn ta đăm đăm”, cô Tấm “lừng hương trong qủa thị”, có vua Hùng với

“những ngựa đá xuống đường, những rồng đá bay lên” Tuổi trẻ tìm về với dân tộcchính là tìm về với sức mạnh “bốn mươi thế kỉ cùng ra trận” Trở về cội nguồn đểnhận trách nhiệm của mình trước lịch sử, tuổi trẻ miền Nam không bơ vơ lạc lõngnữa-họ hoà vào dòng thác cuộn chảy của dân tộc Trong “ánh lửa cháy hồng hàomặt đất Mùa chín tình yêu, mùa chín hận thù” đã nghe vang vang tiếng hát của tuổitrẻ qua bao trăng trở, dằn vặt, day dứt, băn khoăn nhận đường:

“Ôi sông núi uy nghi ngàn dặm đất

Có nghe tiếng chúng con: xin có mặt

Nguyện làm người xung kích của quê hương

Đây tiếng chúng con, tiếng hát xuống đường”

2.2.2 Tiếng hát xuống đường của tuổi trẻ đô thị miền Nam:

Nếu như nhà thơ Thu Bồn với trường ca “Bài ca chim Chơrao” đã viết tặngchúng ta những hình ảnh của miền Nam chiến đấu, của con người miền Nam bấtkhuất với tình yêu thương dao dạt như nước sông Ba, khí phách anh hùng lẫm liệtnhư dãy Trường Sơn hùng vĩ thì Nguyễn Khoa Điềm với trường ca “Mặt đươngkhát vọng” đã đưa người đọc nhập cuộc với những ngày tháng sôi sục xuống đường

Trang 25

trên những thành phố ngập tràn tiếng thét và tiếng hát, âm vang tiếng bước chânmạnh mẽ và thấm máu tuổi trẻ.

Sau quá trình “thức nhận”, tuổi trẻ đô thị miền Nam đã hoà mình vào cuộcđấu tranh chung của dân tộc Họ đã biến mặt đường thành mặt trận-một mặt trận mởngay giữa sao huyệt kẻ thù

Từ nhịp thơ trầm ở “Tuổi trẻ không yên” và “Đất nước”, Nguyễn Khoa Điềmchuyển sang nhịp thơ nhanh, gấp gáp, vội vàng như bước chân và lòng nhiệt huyếtcủa tuổi trẻ ra trận “say sưa” trong màu áo trắng, với một tư thế “hiên ngang, kiêuhãnh, trẻ trung, trong sáng” để “giằng ngay sự sống” từ tay kẻ thù

Khi tìm được lẻ sống chân chính thì cũng là lúc tiếng hát xuống đường trởthành tiếng reo vui của tuổi trẻ, của những trái tim đầy khát vọng sống, khát vọngđược cống hiến cho lí tưởng cao đẹp:

“Hãy nâng máu ta lên làm ngọn cờ hồng

Trên cao điểm gian truân mùa giữ nước

Ôi tuổi trẻ có gì cao quí nhất

Bằng hôm nay ta hiến máu xương mình

Bằng hôm nay cho tổ quốc quyết sinh

Ta cảm tử và xông lên quyết chiến”

Chưa bao giờ như bây giờ, khát vọng độc lập tự do cho Tổ quốc được gắn bómáu thịt đến thế với sự sống còn của mỗi người Trong không khí hào hùng, nhà thơđưa người đọc sống lại những ngày thành phố ngập tràn tiếng thét và tiếng hát, nhịpvới tiếng bước tuổi trẻ, sống những đêm không ngủ “nói cho đồng bào tôi nghe” và

“nghe đồng bào tôi nói” Thể thơ tự do tạo nhịp điệu khoẻ khoắn và nói được sựkhát khao của những tâm hồn được giải phóng Từ đây, dã từ những năm tháng bănkhoăn, tuổi trẻ miền Nam thực sự bước vào con đường tranh đấu chung của dân tộc

để “giành chiến thắng và làm nên hạnh phúc”:

“Khi tháng năm là niên khoá xuống đường \

Khi bài học được viết từ mặt nhựa

Giấy không cạn đau thương mực phải mài giữa phố

Chúng con thề, chúng con sẽ ra đi”

Khép lại quá trình “thức nhận” cũng là bắt đầu mở ra một giai đoạn mới:

“xuống đường”-giai đoạn hành động của tuổi trẻ Kết thúc bản trường ca là âm điệudồn dập, khẩn trương của triệu bước chân tuổi trẻ đi theo tiếng gọi của Bác Hồ: “Hễcòn một tên xâm lược, thì ta còn phải chiến đấu quét sạch nó đi”

Trang 26

Một thế hệ ra trận với hănh trang nhđn nghĩa, yíu thương, với những ước

mơ, hoăi bêo lớn lao của tuổi trẻ Họ đê ra đi để lại sau lưng bao kỉ niệm hỏc trò, để

xả thđn vì đất nước

Trường ca “Mặt đường khât vọng” lă thănh công mới của Nguyễn KhoaĐiềm sau “Đất ngoại ô” Bản trường ca năy được tổ chức theo kết cấu của bản giaohưởng – ông đê đem đến cho bạn đọc đm điệu dịu dăng, thắm thiết ở chương “Đấtnước”, đm điệu căng thẳng, dồn nĩn ở chương “Tuổi trẻ không yín”, đm điệu tưngbừng nâo nức ở chương “Âo trắng vă mặt đường” vă “Xuống đường”

Với trâch nhiệm của mỗi người cầm bút, không dễ dêi, hời hợt như một văingười viết về cuộc chiến tranh ở miền Nam, Nguyễn Khoa Điềm đê nói được câigay gắt, câi dữ dội, quyết liệt của cuộc sống chiến đấu vă những chấn động lớn lao,những trăn trở không yín trong lòng người Không nĩ trânh, không dỗi mình bằngmột thứ tô vẽ lêng mạn, nín thơ, ông không sa văo những chi tiết vụng vặt, khôngmải miết đi tìm chất thơ ở những chỗ nhẹ nhăng, ông đê hướng thơ mình văo thẳnghiện thực lớn lao, đề cập đến những vấn đề thực sự có ý nghĩa để kíu gọi, động viínthanh niín đô thị miền Nam xuống đường

Chất say, sự liín tưởng phong phú, câch sử dụng ngôn ngữ bạo dạn, phóngtúng vốn lă điểm mạnh của “Đất ngoại ô”, lại được Nguyễn Khoa Điềm tiếp tụcphât huy trong “Mặt đường khât vọng” Nếu như sau mỗi một băi thơ trữ tình ngắntrong “Đất ngoại ô” nhă thơ chỉ đím đến cho người đọc một nĩt lắng lại trong cảmxúc qua một văi sự kiện, một văi con người, một văi cảm xúc suy nghĩ thì vớitrường ca “Mặt đường khât vọng”, ông đê đem đến cho bạn đọc cả một dòng tđmtrạng chuyển đổi, biến thiín quanh một nĩt chủ đạo, lă cả một mạch tư tưởng, cảmxúc được triển khai cả chiều rộng lẫn chiều sđu trong dạng vận động tiến triển.Trong “Đím không ngủ” ở “Đất ngoại ô”, Nguyễn Khoa Điềm có viết về phongtrăo đấu tranh của tuổi trẻ học đường chỉ với một cấu tứ từ một sự kiện cụ thể vẵng có hướng tới những vấn đề quâ khứ vă hiện tại, tuổi trẻ vă hiện hình đất nướcnhưng phải đến trường ca “Mặt đường khât vọng”, bộ mặt chung về phong trăo đấutranh của học sinh sinh viín mới được phản ânh trín một diện rộng Bởi lẽ, so với

“Đất ngoại ô”, ở “Mặt đường khât vọng” bình diện phản ânh trong thơ NguyễnKhoa Điềm được mở rộng hơn Ông không chỉ nói về một vùng đất ngoại ô nghỉo

mă còn nói đến những vấn đề mang tầm thế giới Ông không chỉ nói về ngăy hômnay mă còn tìm về cội nguồn bốn nghìn năm lịch sử hay hướng đến tương lai Ông

đi văo bề sđu nội tđm của mỗi con người, cuộc đời để khắc hoạ bức tranh toăn cảnh.Ông đê mang vốn kiến thức tổng hợp từ thực tế vă sâch vở thể hiện những liíntưởng kì thú ở chương “Đất nước”, những suy luận sắc sảo, chính xâc ở chương

Trang 27

“Giặc Mỹ”, chất cuộn chảy ở chương “Áo trắng và mặt đường” Có thể nói rằng vớitrường ca “Mặt đường khát vọng”, thơ Nguyễn Khoa Điềm có sức khái quát vàsung động mạnh mẽ hơn”

Bên cạnh những mặt mạnh, đôi khi Nguyễn Khoa Điềm rơi vào sự cầu kỳ chữnghĩa trong diễn đạt Chương “Giặc Mỹ” lập luận còn chênh vênh, có lẽ do tác giảchưa làm chủ được cảm xúc của mình Phần cuối của “Mặt đường khát vọng”,Nguyễn Khoa Điềm tỏ ra lỏng tay, kết thúc các chương bị dàn trải và phần nàotrùng lặp

Tuy nhiên với “Đất ngoại ô” và “Mặt đường khát vọng”, Nguyễn Khoa Điềm đãgóp vào nền thơ chống Mỹ 1 phong cách giàu suy tưởng, cảm xúc, kết hợp hài hoàyếu tố hiện thực và lãng mạn, vốn sống trực tiếp và vốn sống văn hoá Ông đã gópvào thơ những trang hào hùng và lịch sử của dân tộc

Cảm hứng chủ đạo trong thơ ông là ngợi ca, phẩn ánh hiện thực cuộc sống chiếnđấu hào hùng những ngày chống Mỹ, nhân vật trữ tình luôn hướng vào cuộc chiếnđấu của dân tộc Bởi lẽ, thơ ông cũng nằm trong thi pháp chung của thơ chống Mỹ:nói đến vấn đề lớn lao mà ít chú trọng đến tình riêng của con người, những đauthương, mất mát ẩn sau mỗi cuộc đời

Với “Mặt đường khát vọng”, ông đã nói lên được ước mơ, hy vọng của nhữngthanh niên đô thị miền nam nói riêng và nhân dân miền Nam nói chung Hơi thơ lạcquan tự hào, anh hùng khí phách đã thổi qua những trang thơ âm hưởng tha thiết tinyêu đã ngân vang trong những câu thơ chân thực

và khép lại cùng “Cơn lốc trong rạp xiếc” Tuy tập thơ không dày nhưng nó có sứcnặng của một chặng đi, một hướng tìm

Nếu như Ý Nhi với tập thơ “Người đàn bà ngồi đan” đã đem lại cho ngườiđọc những suy nghĩ, cảm xúc mới về số phận đất nước, con người sau chiến tranh

Trang 28

thì Nguyễn Khoa Điềm với tập thơ “Ngôi nhà có ngọn lửa ấm” đã đem đến cho bạnđọc những suy nghĩ băn khoăn của chính nhà thơ trước hiện thực cuộc sống bề bộn.

2.3.1 Từ cuộc sống chiến đấu trở về với cuộc sống xây dựng:

Hiện thực chiến đấu hào hùng oanh liệt của dân tộc ta là đề tài chính trongthơ ca những năm kháng chiến chống Mỹ thì cuộc sống xây dựng trong thời kì hoàbình là đề tài được các nhà thơ sau chiến tranh quan tâm Cũng viết về công cuộcxây dựng chủ nghĩa xã hội nhưng thơ sau 1975 khác hẳn thơ những năm 1960-xâydựng ở miền Bắc Thơ sau năm 1975 không có cái ồn ào, tấp nập của “Ngói mới”,của những “Tàu đến”, “Tàu đi” mà có những suy nghĩ thầm kín hơn Nguyễn KhoaĐiềm đưa thơ mình vào hướng ấy

Nếu như những nhà thơ cùng thời với Nguyễn Khoa Điềm say sưa ca ngợicông cuộc xây dựng đất nước thì thơ ông không lấy ca ngợi làm chính mà cố đi tìmcái bản chất cốt lõi bên trong của sự kiện, hiện tượng để cắt nghĩa

Đi giữa thành phố Huế thân thương-nơi đong đầy bao kỉ niệm của một thờicắp sách tới trường và cả những ngày chiến đâu gian khổ, Nguyễn Khoa Điềm lắngnghe “tiếng trở mình” của quê hương Đã đi qua những ngày cầm súng với bao ước

mơ cao đẹp thì bây giờ đứng trước “những ngôi nhà như tinh thể kết bất ngờ tronghạnh phúc”, ông tin tưởng ở sức trẻ của thành phố Trước niềm hạnh phúc và lớndậy của quê hương nhà thơ cảm thấy tâm hồn mình cũng như đang hoà cùng nhịpđập với sức sống, niềm vui ấy:

“Tâm hồn ta như cánh rừng xa khuất

Lại xanh màu và mãi ngân vang”

Đứng trước một “Đà Nẵng của những con tàu nặng hàng ra đi”, “những cánhđồng kỉ lục” nhà thơ tin tưởng rằng:

“Dẫu sau những bức tương kia còn nhộn nhạo mưu mô những tên kẻ cắp

Tôi tin những giấc mơ lành trong đêm có thể lấy lại được”

(Viết từ Đà Nẵng)

Chiến tranh đã khép lại, những kỉ niệm về Trường Sơn-một thời gian khổ,đầy mất mác hy sinh nhưng không thiếu những tiếng cười vẫn đầy ắp trong thơNguyễn Khoa Điềm sau ngày đất nước hoà bình

Những đêm khuya ngồi bên bếp lửa Trường Sơn, những khuôn mặt đồng chívẫn hiện về tươi nguyên trên trang thơ của ông:

“Nhớ mười năm đốt lửa Trường Sơn

Cơn sốt, cơn đói

Người nằm xuống, kẻ còn lưa”

(Ngôi nhà có ngọn lửa ấm)

Trang 29

Hơn ai hết, Nguyễn Khoa Điềm hiểu được rằng để có một đất nước tươi đẹpnhư hôm nay chúng ta không thể quên công lao của những người đi trước-họ đãkhông tiết máu xương mình vì Tổ quốc thân yêu Và trong cuộc sống hoà bình cũngvậy, để có được một đất nước có thể sánh vai với các cường quốc trên thế giới,chúng ta không thể quên công lao của những người lao động-họ từng ngày từngngày lặng lẽ dâng hiến khối óc, trái tim và bầu nhiệt huyết của mình cho sự nghiệpdựng xây đất nước Hiểu được điều ấy, Nguyễn Khoa Điềm đã dành nhiều trang thơcho người lao động-những con người thầm lặng bền bỉ nhưng không kém phần vĩđại Đó là hình ảnh chị lao công hằng ngày “lặng lẽ đưa từng nhát chổi” làm sạchphố phường, “xếp đặt lại mỗi ngày không một tiếng thở than”:

“Dưới cội vông đồng trăm tuổi

Chị quét cho ta cái mặt đất hàng ngày”

(Cây vông đông trên đường Lê Lợi)

Sử dụng tương quan “cội vông đồng trăm tuổi” và “mặt đất hàng ngày”,Nguyễn Khoa Điềm nhằm khẳng định sức lao động bền bỉ dẻo dai của con ngườitrước thử thách của thiên nhiên Từ thơ này của ông làm chúng ta nhớ đến “Tiếngchổi tre” trong “đêm hè xao xác” của Tố Hữu năm nào Tố Hữu và Nguyễn KhoaĐiềm đã gặp nhau ở thái độ trân trọng những người lao động-những con người vôdanh đã góp phần làm đẹp cho đời

Đặc biệt, ông rất kính trọng những người nghệ sĩ lao động quên mình chonghệ thuật Ông đánh giá cao sự cống hiến của người nghệ sĩ và ông tin rằng:

“Mọi điều ác, sự giả trá, sự vô tâm sẽ rơi xuống

Sự nghèo khó, sự khổ đau sẽ rơi xuống”

(Kính tặng Nguyên Hồng)

và cái còn lại mãi thời gian sẽ là ngọn lửa hạnh phúc của ngàn trang viết mà nhàvăn để lại cho đời Bởi lẽ: mỗi trang sách là một bậc thang nhỏ giúp cho chúng ta xarời con thú và gần với con người hơn

Là người nghệ sĩ mải miết dâng hiến trái tim, khối óc của mình cho nghệthuật, ông rất hiểu sự vất vả, gian truân của người nghệ sĩ:

“Anh là kẻ phải đánh trận sau cùng

Người đi chuyến tàu vét

Kẻ được xé vé cuối cùng trong rạp hát

…Và khuôn mặt anh, cả tình yêu không dễ dàng của anh

Có họ hàng với những rễ cây trăn trở trong lòng đất cứng”

(Tặng một người sáng tạo)

Trang 30

Người nghệ sĩ là thế đấy! Ngon ngọt đem dâng hiến cho đời còn nhận vềmình những đắng cay và trăn trở Lao động nghệ thuật là một quá trình vật vã đauđớn có khi phải hy sinh cả tính mạng của mình Nhưng không vì thế mà họ chùnbước, ngại ngùng, bỏ cuộc Càng khó khăn vất vả họ càng hăng say cống hiến chođời vị ngọt-mà vị ngọt được kết tình từ mồ hôi, nước mắt, thậm chí bằng cả máucủa người nghệ sĩ:

“Mặc cho sợi dây như con rắn dài vật vã

Lời dịu ngọt, lời chết chóc

Em như chiếc lá trong cơn lốc

Chiếc lá không rụng xuống bao giờ

(Cơn lốc trong rạp xiếc)

Bằng tất cả bầu nhiệt huyết của trái tim, bàn tay và khối óc, người nghệ sĩ sẽsáng tạo không ngừng những tác phẩm của họ là sự tồn tại vĩnh viễn như cuộc đờicủa họ

Từ chỗ hiểu, Nguyễn Khoa Điềm đi đến cảm thông, chia sẻ cung người nghệsĩ:

“Những cái rễ cây vươn vào tầng đất tối tăm không ai biết được

Anh đẩy trí tưởng tượng của mình nẩy mầm trên mỗi rễ còi cọc”

(Tặng một người sáng tạo)

Qua đây, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm cũng muốn khẳng định quan điểmnghệ thuật của mình:

“Anh thuộc loại người quan tâm sự sinh trưởng ở bề sâu

Những mắt thường không thấy được

Sau khi chia sẻ với chúng ta vẻ đẹp những đền đài trang nghiêm óng ả

Anh lặng lẽ đi tìm những nghịch lí dưới đất”

(Tặng một người sáng tạo)

Quả thực là như vậy, những năm đánh Mỹ, thơ ông đã mang đến cho bạn đọc

“những đền đài trang nghiêm óng ả”, những “kì diệu như một muà nước lớn”, cònbây giờ khi trở lại cuộc sống bình thường, thơ ông hướng vào bên trong con người

“mắt thường không thấy được” để khám phá, phát hiện những điều bí ẩn trong tâmhồn con người

2.3.2 Từ cảm xúc hướng ngoại trở về với chính mình:

Ở hai tập thơ trước, “cái tôi” cá nhân của Nguyễn Khoa Điềm hoà vào “cáita” chung của toàn dân tộc thì tới tập thơ này ông quay trở về với chính mình-mộtcái tôi trầm tĩnh hay suy tư trước cuộc đời-có phần nào giống cái tên của ông: luônluôn điềm đạm, không vội vàng, không hấp tấp

Trang 31

Đã qua đi những năm tháng tuổi trẻ, trải qua nhiều đoạn đời, ở Nguyễn KhoaĐiềm đã có sự già dặn, từng trải Thơ ông bây giờ it nói đến những điều cao xa mà

đi xâu vào thế giới nội tâm của mọi người và của chính mình với bao lo âu, trăn trở,nghĩ suy rất đời thường

Nêu như Ý Nhi với sự nhạy cảm đầy nữ tính đã phát hiện ra những cung bậctình cảm khác nhau: “đau thương hay hạnh phúc”, “đầy niềm tin hay ngờ vực”,

“hân hoan hay lo âu”, “chán chường hay hy vọng” ẩn dấu trong từng mũi đan củangười đàn bà thì Nguyễn Khoa Điềm lại ngắm “những người đi bộ chậm rãi”,

“những người rảo bước” trên đường phố mà phỏng đoán, nghĩ ngợi về bao nỗi niềmtâm sự của họ, về tính cách, số phận con người ẩn đằng sau dáng đi: “họ đầy dự trữhoặc họ cháy tuối”, họ “khát khao điều chưa có” hay “thách thức phút đang qua”.Nguyễn Khoa Điềm lắng nghe tiếng nói con người ẩn đằng sau mỗi một dáng đi

Nhìn vao cuộc đời của mỗi người đồng thời nhà thơ cũng thích nhìn lạimình:

Nỗi bật lên trong “Ngôi nhà có ngọn lửa ấm” là cái tôi nhà thơ luôn bănkhoăn, trăn trở trước cuộc sống khốn khó hiện tại Anh lính trẻ say sưa chiến đấungày nào, chỉ biết đến lí tưởng, đến cống hiến cho Tổ quốc thì hôm nay phải đốimặt với những điều tưởng chừng như nhỏ nhặt đối với ngày hôm qua Đó là khi đứacon trai ra đời, bên hạnh phúc của một người làm cha, Nguyên Khoa Điềm nghĩ đếnbao khó khăn trước mặt:

“Con chào đời

Không có 12 bà mụ áo quần xanh đỏ ngồi bên

Mà 24 khuôn dấu vuông tròn chứng nhận con trên đủ loại giấy tờ, tem chiếu”

(Ngôi nhà có ngon lửa ấm)

Ngày đăng: 01/08/2014, 23:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. LạI Nguyên Ân (1984), “ Văn học và phê bình” , Nhà xuất bản Tác phẩm mớI , Hà NộI Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và phê bình
Tác giả: LạI Nguyên Ân
Nhà XB: Nhà xuất bản Tác phẩm mớI
Năm: 1984
7. Nguyễn Khoa Điềm (1974) , “Mặt đường khát vọng” , Nhà xuất bản GiảI phóng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mặt đường khát vọng
Nhà XB: Nhà xuất bản GiảI phóng
8. Nguyễn Khoa Điềm (1984) , “Đất và khát vọng” , Nhà xuất bản Văn học , Hà NộI Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất và khát vọng
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn học
11. Nguyễn Khoa Điềm (2003) , “ Viết trong ngày 8 tháng 3” , Văn nghệ Quân độ, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viết trong ngày 8 tháng 3
13. Nguyễn Khoa Điềm (2003) , “ Tháng tư Trường Sa” , Văn nghệ Quân đội , tháng 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tháng tư Trường Sa
17. Hà Minh Đức (1998) , “ Nhà văn nói về tác phẩm” , Nhà xuất bản Văn học , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn nói về tác phẩm
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn học
20. Lê Đình Kỵ (1984) , “ Tìm hiểu văn học” , Nhà xuất bản Văn nghệ , Thành Phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu văn học
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn nghệ
27. Nhiều tác giả (1972), “ Mười năm văn học chống mỹ” , Nhà xuất bản Giải phóng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mười năm văn học chống mỹ
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nhà xuất bản Giải phóng
Năm: 1972
28. Nhiều tác giả (2000), “ Giảng văn học Việt Nam” , Nhà xuất bản Giáo dục , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giảng văn học Việt Nam
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2000
29. Vũ Quần Phương (1990) , “ Thơ với lời bình” , Nhà xuất bản Giáo dục , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ với lời bình
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
2. Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa…” mẹ thường hay kể Sách, tạp chí
Tiêu đề: ngày xửa ngày xưa…
3. Mẹ vẫn dặn” đổi nước ngọt” chứ đừng “bán nước” Sách, tạp chí
Tiêu đề: bán nước
8. Em vẫn cười vui:-“Mẹ lo”(Người con gái chằm nón bài thơ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mẹ lo
109. Mẹ chỉ giữ chữ “thì” Sách, tạp chí
Tiêu đề: thì
2. Nơi Bác từng qua Khác
4. Con chim thời gian Khác
5. Buổi hò hẹn lớn lao Khác
7. Con gà đất, cây kèn và khẩu súng Khác
8. Chúng ta vẫn sắn sàng cho bài giảng đầu tiên Khác
10. Chiếc công sự giữa lòng phố Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w