1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn nghệ thuật thể hiện đề tài nông thôn trong sáng tác của nguyễn hữu nhàn

141 1,9K 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận văn nghệ thuật thể hiện đề tài nông thôn trong sáng tác của Nguyễn Hữu Nhàn
Tác giả Nguyễn Hữu Nhàn
Trường học Trường Đại học Văn hóa Hà Nội
Chuyên ngành Văn học
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 141
Dung lượng 910,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong số những nhà văn được trao thưởng trong cuộc phát động sáng tác về đề tài xây dựng nông thôn mới lần này, bên cạnh các nhà văn như Ngô Ngọc Bội, Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Nguyễn Ngọc

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Nông thôn - nông nghiệp - nông dân hiện đang được nhà nước dành

nhiều sự quan tâm đặc biệt Nhiều chính sách của Đảng và chính phủ nhằm thúc đẩy sự phát triển nông thôn đã ra đời Đời sống vật chất cũng như tinh thần của người nông dân đang từng bước được nâng lên Nhiều lễ hội văn hóa truyền thống ở nông thôn đang được khôi phục và bảo tồn Bản thân Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trong lễ khai xuân dâng hương đầu năm mới 2012

cũng đã xắn quần, xuống đồng cày ruộng trên cánh đồng Đọi Sơn (Hà Nam)

Văn học là sự phản ánh, văn học quan tâm đến hiện thực xã hội, tất yếu đề cập đến nông thôn và nông dân Bởi thế, từ xưa đến nay, nông nghiệp - nông thôn - nông dân luôn là đề tài lớn của văn học Nó còn là cái nôi văn hoá dân tộc, nơi nuôi dưỡng, giữ gìn tất cả những cái đẹp nhất, hồn cốt nhất của dân tộc Việt Nam Trân trọng văn hóa nông thôn chính là tiêu chí đã được các nhà văn coi trọng khi viết về mảng đề tài này Vì lẽ đó nhiều năm qua, hai mảng

đề tài làm nên thành tựu lớn nhất của văn học Việt Nam là mảng đề tài viết về chiến tranh và về nông thôn - nông nghiệp - nông dân Mới đây, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam đã tổ chức trao thưởng cho các tác phẩm văn học nghệ thuật sáng tác về đề tài nông thôn Về mục đích của việc trao thưởng và phát động sáng tác về đề tài xây dựng nông thôn mới, ông Cao Đức Phát – Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát

triển Nông thôn cho biết: “Xây dựng nông thôn mới là chủ trương lớn của

Chính phủ Mục tiêu chính là nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân Vì thế, bên cạnh việc xây dựng những dòng sông, cánh đồng, chuồng trại thì còn cần phải xây dựng đời sống văn hóa cho bà con nông dân Chúng tôi muốn thông qua việc trao thưởng này để phát động một chặng đường sáng

Trang 2

tác mới Những sáng tác văn học nghệ thuật là món quà vô giá để động viên

bà con nông dân, toàn xã hội tham gia vào xây dựng đời sống nông thôn mới

” [25]

1.2 Trong số những nhà văn được trao thưởng trong cuộc phát động

sáng tác về đề tài xây dựng nông thôn mới lần này, bên cạnh các nhà văn như Ngô Ngọc Bội, Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Nguyễn Ngọc Tư, còn có một nhà văn quen thuộc của vùng quê trung du miền núi Bắc bộ đó là nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn Ông được trao giải cho tập truyện ngắn chọn lọc viết về nông thôn

trong thời kỳ đô thị hóa Cùng với sự hiểu biết, tình yêu với vùng đất và con

người, cộng với tài năng sáng tạo, nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn trong suốt quá

trình sáng tác của mình chỉ chung thủy với một đề tài duy nhất : Đề tài nông

thôn Bạn đọc cả nước biết đến nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn với một lối viết

không thể lẫn với bất cứ ai về làng quê, người quê Nguyễn Hữu Nhàn không

đi vào những mặt trái của làng quê trong quá trình phát triển, hoặc phê phán chống tiêu cực,… mà bằng một cách thật tự nhiên, nhất quán, ông chuyên chú

đi vào các tầng văn hoá của làng quê thời hiện đại Qua những sáng tác của ông, ta thấy Nguyễn Hữu Nhàn tập trung khai triển mấy chủ đề chính sau:

“Thứ nhất, ông phô diễn một cách thích thú các phong tục của các tộc người,

hoặc của không gian địa - văn hóa bằng vốn liếng kiến thức dân tộc học, văn hóa học khá phong phú Thứ hai, tôn vinh những giá trị tâm hồn và văn hóa đích thực của làng quê và người quê Thứ ba, thể hiện sự tha hóa của văn hóa

làng quê trước sự xâm lăng của đô thị, kinh tế thị trường” [4, tr.9]

Nông thôn Việt Nam đang có những chuyển biến rõ rệt, đời sống văn chương mặc dù bộn bề với những mảng đề tài phong phú khác nhau của đời sống hiện thực song cũng đang từng ngày từng giờ bám sát vào những thay đổi của bộ mặt nông thôn thời đại mới Trong không nhiều nhà văn mặn mà với mảng đề tài này ta phải kể đến đóng góp có ý nghĩa lớn lao của nhà văn

Trang 3

tài năng và tâm huyết Nguyễn Hữu Nhàn Vì lẽ đó, việc tìm hiểu đề tài nông thôn của cây bút này là một công việc có ý nghĩa thực tiễn cao, vừa phù hợp với chủ trương chung của Đảng của Chính phủ, vừa góp phần cổ vũ nhà văn tiếp tục cống hiến nhiều hơn nữa cho việc sáng tác về đề tài nông thôn và cũng là để bổ sung kịp thời cho công tác nghiên cứu, phê bình văn học hiện nay một phong cách sáng tác truyện mang đậm dấu ấn nông thôn trung du

miền núi Bắc bộ

1.3 Tuy nhiên, việc nghiên cứu, đánh giá một cách thấu đáo về những

đóng góp cũng như sáng tạo độc đáo của nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn về đề tài nông thôn cho tới nay chưa có nhiều Theo khảo sát bước đầu của chúng tôi, chưa có luận văn thạc sĩ nào nghiên cứu về sự nghiệp sáng tác cũng như những tác phẩm của Nguyễn Hữu Nhàn Hiện nay chỉ có một số bài báo, bài nghiên cứu, phê bình về tác giả, tác phẩm của Nguyễn Hữu Nhàn của các nhà nghiên cứu có uy tín như PGS.TS Phan Trọng Thưởng, nhà lí luận phê bình Văn Giá, nhà báo Vũ Hà …Từ những lí do cụ thể ở trên đã thôi thúc chúng tôi

lựa chọn đề tài: “Đề tài nông thôn trong sáng tác của nhà văn Nguyễn Hữu

Nhàn”, nhằm tập trung vào làm sáng tỏ sự cảm nhận , phản ánh của nhà văn

về cuộc sống của người nông dân, vấn đề sản xuất nông nghiệp và văn hóa nông thôn trong thời đại mới Đây là những vấn đề đang được cả xã hội quan tâm và qua những sáng tác của Nguyễn Hữu Nhàn đều được thể hiện một

cách rõ nét

2 Lịch sử vấn đề

Nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn được nhiều nhà nghiên cứu phê bình đánh

giá là “nhà văn của làng quê”, bởi ngay từ khi mới cầm bút, chập chững bước vào nghề viết văn và cho đến tận bây giờ (có lẽ sau này vẫn thế), khi đã trở

thành lão làng trong Hội nhà văn Việt Nam, có trong tay hơn chục đầu sách

có giá trị, ông luôn chỉ chú trọng đặc biệt vào một đề tài với một niềm đam

Trang 4

mê không thể khác là chỉ viết về đề tài nông thôn, về cuộc sống hàng ngày của người nông dân ngay trên chính mảnh đất của họ Tác giả Lê Phan Nghị

trong bài báo “Nhà văn của đồng quê” đăng trên tuần báo Văn nghệ đã khẳng định: “ Trong suốt cả chặng đường văn chương của mình – Nguyễn Hữu

Nhàn đã lặn lội, ki cóp để phần lớn các tác phẩm của ông đều sống động những hình ảnh về người nông dân, hình ảnh về hoạt động nông nghiệp, nông

thôn ” [19, tr.7]

Là nhà văn luôn chỉ chú trọng đặc biệt vào đề tài nông thôn, về cuộc

sống hàng ngày của người nông dân, tiểu thuyết tiêu biểu đầu tay “Dốc nắng”

ra đời đã minh chứng cho những ấp ủ ấy của Nguyễn Hữu Nhàn Tác giả Lê

Quang Trang đã nhận định: “ Trong Dốc nắng, người đọc có thể nhận ra sự

hiểu biết về nông thôn của tác giả khá giàu có và tỉ mỉ Quan niệm về một nông thôn mới trong hướng đi sắp tới cũng như các chuyện hằng ngày giữa những người nông dân đã hiện lên qua nhiều trang viết khá lý thú của Nguyễn

Hữu Nhàn ” [27, tr.5]

Theo tác giả Trần Thế Tuấn “ Sau tiểu thuyết Dốc nắng , Làng Cói Hạ -

cuốn tiểu thuyết vừa ra đời đánh dấu bước phát triển mới của một nhà văn vốn sở trường về đề tài nông thôn” [23, tr.7] Bám sát những đổi thay của xã

hội, cuộc sống nông thôn Việt Nam sau đổi mới có nhiều chuyển biến, tích cực có, tiêu cực có Nguyễn Hữu Nhàn đã nhìn thấy được tất cả những mặt đó

và ông đã thể hiện một cách khá rõ nét trong tiểu thuyết Làng Cói Hạ Chuyện xảy ra ở một làng quê vùng trung du Bắc bộ Đó là hậu quả của sự nôn nóng ngộ nhận về sở hữu tập thể hình thức, dẫn đến tình trạng người lao động vất

vả một nắng hai sương, nhưng có làm mà không có ăn Tác phẩm ra đời cho thấy sự trưởng thành của nhà văn khi viết về đề tài nông thôn sau đổi mới

“chúng ta có quyền hy vọng đón đợi những tác phẩm khác tương xứng ở độ chín của tác giả” [23, tr.7]

Trang 5

Sinh ra và được sống giữa một vùng trầm tích văn hóa cổ xưa và đậm đặc vào loại bậc nhất trong cả nước, điều đó đã giúp cho nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn có điều kiện khảo cứu những nét văn hóa của làng quê mình và khéo léo đưa những đặc trưng văn hóa truyền thống ấy vào trong những tác

phẩm văn học Trong bài “Chuyện nhà văn làm khảo cứu và nhà khảo cứu

làm văn học”, PGS – TS Phan Trọng Thưởng đã chỉ ra được sự kết hợp hài

hòa hai yếu tố giữa nhà khảo cứu văn hóa và nhà sáng tác văn học trong một

nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn “ Với những thành tựu đã có, Nguyễn Hữu Nhàn

đang nỗ lực để đạt được hai trong một ( nhà khảo cứu trong nhà văn hay nhà văn hóa trong nhà văn )” [26, tr.9]

Ra đời ngay sau tiểu thuyết “Làng Cói Hạ”, tiểu thuyết “Chớm nắng” đúng thật như nhận định trên đây về Nguyễn Hữu Nhàn “nhà văn làm khảo

cứu và nhà khảo cứu làm văn học” Đánh giá về tiểu thuyết này tác giả Đặng

Văn trong bài viết “Vài nét về văn hóa làng qua tiểu thuyết Chớm nắng” viết

“ Vấn đề trọng tâm của cuốn tiểu thuyết “Chớm nắng” đặt ra là VĂN HÓA

LÀNG”, “Cái được của tác phẩm là tác giả thông qua việc tập dượt chuẩn bị cho lễ hội “trò Táu” một thứ lễ hội cổ truyền đã gần như bị mai một – và chỉ khuôn lại trong phạm vi một làng đã làm cho người đọc hiểu thế nào là văn hóa đích thực, cái gì là tinh hoa cần phát huy, cái gì là nhảm nhí, lỗi thời nên bài trừ, củng cố niềm tin cho nhân dân, khơi dậy từ tâm hồn họ những giá trị tinh thần, làm giàu lòng nhân ái, xóa bỏ hận thù, sống với nhau có tình, có nghĩa và có trách nhiệm” [29, tr.6] Thông qua bức tranh khái quát về chính

nơi tác giả đã sinh sống – Làng Đinh Xá, người đọc nhận ra được “làng Đinh

Xá là bức tranh khái quát của làng quê Việt Nam với đầy đủ những biểu hiện sinh động của nền văn hóa bản địa” Với phương pháp điển hình hóa thông

qua hàng loạt số phận các nhân vật, tiểu thuyết “Chớm nắng” cho thấy sự hiểu biết của tác giả về “những tầng văn hóa, những dấu ấn lịch sử và cả

Trang 6

nhân tình thế thái trong mối quan hệ đa chiều mang tính đặc thù của làng quê Việt Nam xưa và nay ” [29, tr.6]

Đúng như PGS – TS Phan Trọng Thưởng đã viết “ Nhà văn không chọn

được nơi sinh nhưng lại có thể chọn cho mình nơi sống và gắn bó Mỗi nhà văn thường có một vùng đất, một miền quê, một địa bàn của mình” [26, tr.9]

Tại “miền quê” của mình mỗi nhà văn tìm ra được rất nhiều điều để viết

Nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn cũng vậy Trong một bài viết trên báo Văn Nghệ, nhà lí luận phê bình Văn Giá đã chỉ ra đặc điểm nổi bật qua những sáng tác

của Nguyễn Hữu Nhàn “ Nguyễn Hữu Nhàn không đi vào những vấn đề tố

khổ, hoặc phê phán chống tiêu cực, hoặc làm ăn chuyển đổi kinh tế…mà bằng một cách thật tự nhiên, nhất quán, ông chuyên chú đi vào các vỉa tầng văn hóa của làng quê thời hiện đại ” [4, tr.9] Sinh ra, trưởng thành và phần lớn

những năm tháng cuộc đời sống gắn bó với làng quê nên Nguyễn Hữu Nhàn

hiểu về người nông dân, về cuộc sống nông thôn đến “chân tơ kẽ tóc”: “ Nhà

văn của đồng ruộng này rất giỏi khi chỉ ra tâm tính, thói tật của người nhà quê Đó là tính gia trưởng hách dịch, thói lắm mồm hay chửi, thói quen sống tùy tiện, bệ rạc, tính hiếu thắng, căn bệnh sĩ diện rởm, tính keo bẩn hà tiện…Thôi thì bao nhiêu tật xấu của con người, ở nhà quê đều có cả Nhà văn cũng trình bày những âu lo về tình trạng suy thoái nghiêm trọng của tâm tính

con người, rộng ra là của văn hóa làng quê.” [4, tr.9]

Cái gốc cuộc sống con người Việt Nam ta chính là nông thôn, là những người nông dân Bao nhiêu nét đẹp văn hóa truyền thống cũng bắt đầu từ cái gốc rễ này Ăn đời ở kiếp nơi vùng nông thôn trung du miền núi Bắc Bộ, Nguyễn Hữu Nhàn qua những trang viết của mình đã viết rất thật về con

người nông thôn Qua việc đọc hai truyện ngắn : “Làng quê yên ả và Người

quê” của Nguyễn Hữu Nhàn”, tác giả Nguyễn Văn Chỉ đã nhận định: “ Tác giả đã ca ngợi những người nông dân ở một vùng quê thuần hậu có nhiều đức

Trang 7

tính tốt: mộc mạc, chất phác mà đậm đà tình nghĩa thủy chung.” [1, tr.9] Tuy

nhiên, mối quan hệ trong cuộc sống của con người không chỉ tồn tại đơn lẻ,

mà cuộc sống bộn bề hàng ngày lại luôn luôn cuộn chảy Ý thức sâu sắc được điều đó, nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn qua hai truyện ngắn này đã cho thấy được cái nhìn nhiều chiều trong khi thể hiện bản tính của người nông dân

Trong truyện ngắn “Người quê”, dưới con mắt bà Tú thì ông Vũ là một nông dân cục mịch, quê kệch, bẩn thỉu và không lịch sự chút nào Ngược lại, ông Thanh (chồng bà Tú) rất quý ông Vũ: “Vũ tuy ít học, nhưng ngay thật, thẳng

thắn, trọng tình hơn trọng của” Mối quan hệ nhiều chiều cũng như những

tình cảm tốt đẹp đã trở thành truyền thống ngàn đời của dân tộc Việt qua

truyện ngắn “Làng quê yên ả”: “Cốt lõi là tình đoàn kết: tình làng nghĩa xóm,

tình cảm họ hàng, tình cảm gia đình yêu thương đầm ấm, hòa thuận Mỗi khi

có công to việc lớn, lúc vui lúc buồn họ đều quây quần giúp đỡ, chia sẻ lẫn nhau như lá lành đùm lá rách Đoàn kết là sức mạnh đã trở thành truyền thống cực kì quý báu của nhân dân ta, nên đã giúp họ vượt qua mọi khó khăn, thử thách để xây dựng gia đình hạnh phúc, làng quê đẹp giàu” [1, tr.9]

Cũng như nhiều tác giả khác, tác giả Vũ Hà trong bài viết “Nguyễn Hữu

Nhàn – Nhà văn của nhà quê ” cũng đã có những nhận định rất xác đáng về

Nguyễn Hữu Nhàn cũng như các tác phẩm của ông “ một cây bút chuyên viết

chuyện nông thôn và người nông dân ”, khi đọc những tác phẩm của Nguyễn

Hữu Nhàn, người đọc nhận ra “ trước hết là không khí “rất quê” đang diễn

ra hiện nay ở nông thôn vùng Trung du, xứ Bắc Cái không khí ấy được tạo dựng bởi những con người chân quê, thô tháp, tủn mủn đang phải đương đầu với cái đói cái nghèo cùng những thói quen, tập tục lạc hậu từ xưa để lại, những cá tính “truyền thống” còn “di căn” đến tận hôm nay ” [5, tr.19]

Là nhà văn chuyên chú trọng vào đề tài nông thôn vùng trung du miền núi Bắc Bộ, nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn đã thành công trong chính đề tài yêu

Trang 8

thích đó của mình Có được những thành công đó bản thân nhà văn đã khẳng

định “Tôi cố thủ trong pháo đài làng xã!” Trong bài phỏng vấn của hai nhà

báo Đinh Hằng – Nam Hải, nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn đã cho thấy quan niệm hết sức nhất quán của bản thân về văn hóa làng xã, về cuộc sống nông thôn giống như những gì mà ông đã thể hiện trong các sáng tác của mình Ông quan niệm cần giữ gìn truyền thống văn hóa làng như giữ gìn sự sống

còn vận mạng của dân tộc “Văn hóa làng xã là một pháo đài suốt nhiều nghìn

năm của đất Việt Sở dĩ quá trình đồng hóa của phương Bắc thất bại vì vướng phải pháo đài này, cha ông ta giữ được độc lập hay không cũng bởi sự bền vững hay suy vong của nền văn hóa ” [7, tr.8-9] Nhà văn khẳng định những

phong tục, lễ nghi, tín ngưỡng chính là cơ sở quan trọng để duy trì truyền

thống văn hóa làng xã, văn hóa dân tộc “Ở những làng cổ giàu truyền thống

văn hiến, văn hóa, ta thấy rất rõ nhiều giá trị truyền thống được trưng cất lên bởi các phong tục lễ nghi, thuần phong mỹ tục…Nếu không có tín ngưỡng cộng đồng, tín ngưỡng gia tiên, không thờ người có công với làng xã…và nhiều tục lệ khác thì ta đâu có được truyền thống “uống ước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây”” [7, tr.8-9] Mặc dù đất nước ta đang trên con đường

công nghiệp hóa – hiện đại hóa , gia nhập WTO nhưng không phải thứ gì

cũng có thể tùy tiện “ áp vào nền văn minh lúa nước ”, “ văn hóa làng chỉ có

một, nếu bị phá hỏng thì mất vĩnh viễn” Vì vậy, theo nhà văn “ phải lấy văn hóa làng làm thế mạnh, làm bệ phóng cho Việt Nam trước thời cuộc mới! Đừng đi giày Tây mà lội ruộng!” Những quan niệm trên đây của Nguyễn

Hữu Nhàn phải chăng cũng là lời khẳng định sẽ không thay đổi vùng đề tài

sáng tác cho những chặng đường làm nghệ thuật sau này của nhà văn

3 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu của luận văn là: “ Đề tài nông thôn trong sáng tác của

Nguyễn Hữu Nhàn ” và như trên đã trình bày, toàn bộ sự nghiệp sáng tác của

Trang 9

nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn chỉ chung thủy với một đề tài duy nhất là đề tài nông thôn, do đó, đối tượng nghiên cứu của chúng tôi nằm trong phạm vi tất

cả các sáng tác của nhà văn có liên quan đến đề tài này gồm các tác phẩm ở các thể loại dưới đây:

- Gió thổi qua rừng (2007)

- Vui như hội (2009)

- Nguyễn Hữu Nhàn - Tác phẩm chọn lọc - Tuyển (2009)

* Công trình nghiên cứu về văn hóa:

- Nghiên cứu văn hóa làng Vĩnh Phúc

- Nghiên cứu văn hóa làng Phú Thọ - Giải B Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam (phối hợp cùng Nguyễn Khắc Xương)

- Nghiên cứu mối liên hệ văn hóa Việt Mường - Giải C Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam (phối hợp với Nguyễn Khắc Xương)

- Nghiên cứu văn hóa người Dao ở Phú Thọ (phối hợp với Phạm Thị Nga)

Trang 10

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình khảo sát, triển khai thực hiện luận văn chúng tôi sử dụng phối hợp đồng bộ những phương pháp sau:

4.1 Phương pháp thống kê - phân loại: Bằng phương pháp thống kê,

phân loại, chúng tôi đã tiến hành thống kê, phân loại về một số phương diện như hình tượng nhân vật, hình ảnh, chi tiết, ngôn ngữ, giọng điệu… Tất cả các yếu tố đó biểu hiện cụ thể trong từng tác phẩm ở mỗi giai đoạn, thời kì sáng tác Từ đó tìm ra được những đặc sắc riêng của Nguyễn Hữu Nhàn khi viết về đề tài nông thôn Việc thống kê, phân loại còn cung cấp những số liệu quan trọng, hỗ trợ cho việc rút ra những kết luận, đồng thời là cơ sở để so sánh, đối chiếu

4.2 Phương pháp so sánh - đối chiếu: Trong quá trình tiến hành nghiên

cứu những tác phẩm viết về đề tài nông thôn của Nguyễn Hữu Nhàn chúng tôi

có đối sánh với các tác phẩm viết về đề tài nông thôn của các nhà văn khác cùng thời Từ đó giúp chúng tôi có được cái nhìn tổng thể, rõ nét nhất và đi tới những nhận định chung nhất về thành công và hạn chế của Nguyễn Hữu Nhàn khi viết về đề tài này

4.3 Phương pháp phân tích: Chúng tôi tiến hành phân tích lần lượt từ

bức tranh hiện thực đến thế giới nhân vật ở cả bình diện nội dung và hình thức nghệ thuật từ đó tạo ra cái nhìn toàn diện về các phương diện nội dung và nghệ thuật về đề tài nông thôn trong những sáng tác của Nguyễn Hữu Nhàn

4.4 Phương pháp hệ thống: Với phương pháp này, chúng tôi coi toàn

bộ tác phẩm là một chỉnh thể, có nhiều phương diện, yếu tố và cấp độ yếu tố, như quan niệm nghệ thuật, hình tượng nghệ thuật, kết cấu, trần thuật… Mỗi một yếu tố lại bao gồm các cấp độ nhỏ hơn Chẳng hạn, trần thuật trong văn bản bao gồm giọng điệu, ngôn từ… Đồng thời, nhìn thấy mối liên hệ giữa các yếu tố, đặc điểm trong chỉnh thể nghệ thuật

Trang 11

Các phương pháp trên được vận dụng phối hợp, linh hoạt để có được một cái nhìn tương đối bao quát về cách thể hiện đề tài nông thôn với những biểu hiện rất riêng của Nguyễn Hữu Nhàn, cũng như khả năng đáp ứng nhu cầu phản ánh những vấn đề hiện thực mang tính thời sự trong dòng chảy của

hệ thống đề tài đương đại

5 Đóng góp của luận văn

Từ thực tế nghiên cứu, luận văn bước đầu chỉ ra được đặc điểm cơ bản

về đề tài nông thôn thông qua những sáng tác của Nguyễn Hữu Nhàn, bên cạnh đó tìm ra được những độc đáo, đặc sắc trong nghệ thuật thể hiện đề tài nông thôn của nhà văn

Việc khảo sát và nghiên cứu đề tài nông thôn trong truyện Nguyễn Hữu Nhàn chưa nhiều, chưa có hệ thống cũng như chưa có một công trình nghiên cứu hoàn chỉnh nào ra đời Do đó, chúng tôi cố gắng bổ sung thêm một số nhận định có ý nghĩa khoa học bên cạnh những ý kiến đã có về vấn đề này Thực hiện luận văn, chúng tôi không mong muốn gì hơn là đóng góp một chút công sức của mình vào công tác nghiên cứu, phê bình Văn học Việt Nam hiện đại và về sự nghiệp sáng tác của nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần Nội dung chính của luận văn được triển khai thành ba chương:

Chương I: Đề tài và đề tài nông thôn trong văn học

Chương II: Hiện thực nông thôn trong sáng tác của Nguyễn Hữu Nhàn Chương III: Nghệ thuật thể hiện đề tài nông thôn trong sáng tác của

Nguyễn Hữu Nhàn

Trang 12

NỘI DUNG

CHƯƠNG I - ĐỀ TÀI VÀ ĐỀ TÀI NÔNG THÔN TRONG VĂN HỌC

1.1 Khái niệm đề tài

Đề tài là vấn đề lí luận có quan hệ mật thiết tới việc nghiên cứu và sáng tác văn học, phản ánh tài năng, sở trường, phong cách và thế giới quan của nhà văn trong việc phản ánh hiện thực Ðề tài là phạm vi hiện thực mà nhà văn chọn lựa, miêu tả và thể hiện, tạo thành chất liệu của thế giới hình tượng trong tác phẩm đồng thời là cơ sở để từ đó nhà văn đặt ra những vấn đề mà mình quan tâm Đề tài là thuật ngữ gắn liền với nội dung tác phẩm, là vấn đề

có ý nghĩa nền móng làm nên tác phẩm văn học Có thể nói, đề tài là khái niệm trung gian giữa thế giới hiện thực được thẩm mĩ hóa trong tác phẩm và

bản thân đời sống

Một đề tài thích hợp là khâu yếu thứ nhất của toàn bộ công việc xây dựng tác phẩm thành một chỉnh thể thẩm mỹ M.Gorki đã có định nghĩa rất

xác đáng về đề tài: Đề tài là tư tưởng nảy sinh trong kinh nghiệm của tác giả,

do cuộc sống gợi ra

Khái niệm đề tài cũng đã được đề cập đến trong nhiều sách lí luận văn học

Theo cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học” đề tài là khái niệm “chỉ loại

các hiện tượng đời sống được miêu tả, phản ánh trực tiếp trong sáng tác văn học Đề tài là phương diện khách quan của nội dung tác phẩm” [6, tr.110]

Cũng theo cuốn từ điển này thì “cần phân biệt đề tài với tư cách là phương

diện khách quan của nội dung tác phẩm với đối tượng nhận thức, chất liệu đời sống hay nguyên mẫu thực tế của sáng tác văn học Lẫn lộn hai mặt này

sẽ dẫn tới tình trạng biến việc phân tích tác phẩm thành phân tích đối tượng được miêu tả Đối tượng nhận thức, miêu tả của sáng tác văn học là cái còn

Trang 13

nằm ngoài tác phẩm, đối diện với tác phẩm Đề tài của tác phẩm là một phương diện trong nội dung của nó, là đối tượng đã được nhận thức, lựa chọn gắn liền với dụng ý, thế giới quan, lập trường tư tưởng, quan điểm thẩm

Cùng quan niệm như trên, sách “Lí luận văn học” do tác giả Trần Đình

Sử chủ biên cho rằng “Thực chất đề tài là một khái niệm về loại của hiện

tượng đời sống được miêu tả Có bao nhiêu loại hiện tượng đời sống, có bấy nhiêu đề tài” [21, tr.194]

Có thể nói, phạm vi hiện thực mà nhà văn tâm huyết nhất trong tác phẩm của mình, đó là những yếu tố mở đường cho thành công sáng tạo, không lựa chọn được phạm vi hiện thực, nhà văn không thể thực hiện thành công quá trình sáng tạo Do đó, đề tài là phạm vi hiện thực được nhà văn phản ánh trong tác phẩm là phương diện khách quan của nội dung tác phẩm thể hiện thế giới quan của nhà văn, là đối tượng đã được nhận thức, kết quả lựa chọn và tư duy của nhà văn Đó là sự khái quát phạm vi xã hội, lịch sử của đời sống được phản ánh trong tác phẩm, phản ánh tài năng, vốn sống, tâm huyết của người cầm bút trong cuộc đời làm nghệ thuật

1.2 Đặc điểm chung của đề tài

Trong tác phẩm văn học, thường không phải chỉ có một đề tài mà có rất nhiều đề tài liên quan đến nhau, bổ sung cho nhau để tạo thành một hệ thống

đề tài Chẳng hạn, Truyện Kiều của Nguyễn Du vừa có đề tài về tình yêu, về

hạnh phúc lứa đôi, về quan lại “mặt sắt đen sì”, về nông dân khởi nghĩa, về

Trang 14

cuộc đời của các cô gái lầu xanh , các đề tài đó gắn bó chặt chẽ với số phận

bi thảm của nàng Kiều Trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố, bên cạnh đề tài về cuộc sống bi thảm của người nông dân còn có các đề tài về cuộc sống của bọn quan lại tham lam, ích kỉ, về cuộc đời của các em bé nghèo khổ Như vậy, đề

tài có thể tồn tại ở nhiều cấp độ, thực chất đề tài là một khái niệm về loại của

hiện tượng đời sống được miêu tả Có bao nhiêu loại hiện tượng đời sống, có bấy nhiêu đề tài Cho nên, có đề tài về người nông dân bị lưu manh hóa (Chí Phèo – Nam Cao), có đề tài về người công nhân bị bần cùng hóa (Lầm than – Lan Khai), có đề tài về cuộc sống bế tắc của người trí thức nghèo trước cách

mạng (Sống mòn – Nam Cao)… phản ánh các bình diện khác nhau trong cuộc

sống Khi nói đến đề tài của một tác phẩm hoặc của văn học nói chung, thực chất không phải chỉ nói một đề tài mà là cả một hệ thống đề tài liên quan

nhau, bổ sung cho nhau tạo thành đề tài của tác phẩm

Phạm vi phản ánh của đề tài có thể được xác định rộng hẹp khác nhau ở

biên độ của nó Đó có thể là một “giới hạn bề ngoài” hoặc “phương diện bên

trong của đề tài” Các hiện tượng đời sống có thể liên kết với nhau thành loại

theo mối liên hệ bề ngoài hoặc theo mối liên hệ bên trong giữa chúng

Theo giới hạn bề ngoài của phạm vi hiện thực được phản ánh trong tác

phẩm có thể xác định các đề tài văn học như: đề tài thiên nhiên (Tràng giang

– Huy Cận), đề tài loài vật (Dế mèn phiêu lưu ký – Tô Hoài), đề tài sản xuất (Cái sân gạch – Đào Vũ), đề tài chiến đấu (Xung kích – Nguyễn Đình Thi)…Ở đây, các phạm trù xã hội, lịch sử giữ vai trò quan trọng, vì thế người

ta có thể xác định các đề tài như: đề tài nông thôn, thành thị, công nhân, nông

dân, bộ đội, trí thức…

Cũng có thể xác định đề tài văn học theo giới hạn bên trong của phạm vi hiện thực được phản ánh trong tác phẩm Đó là cuộc sống nào, con người nào được miêu tả trong tác phẩm Nhiều khi đề tài gắn liền với một hiện tượng xã

Trang 15

hội – lịch sử xuất hiện và trở thành phổ biến trong đời sống tinh thần của một thời hay của một giới nào đó Ví như : đề tài số phận của người chinh phụ

(Chinh phụ ngâm – Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm), người cung nữ (Cung oán ngâm – Nguyễn Gia Thiều), đề tài con người hào hoa (Chữ người tử tù – Nguyễn Tuân)… Ở giới hạn bên trong của đề tài, bản chất xã hội của cuộc

sống, của tính cách và số phận con người giữ vai trò quan trọng Không có các phạm vi hiện thực dài rộng khác nhau đó, không thể có những kết quả sáng tác phong phú và đa dạng trong các tác phẩm của nhà văn Song phạm vi hiện thực còn quan hệ mật thiết với thời gian và không gian trong tác phẩm

Đi sâu vào phạm vi hiện thực trong tác phẩm của Nguyễn Hữu Nhàn, ta thấy nhà văn thường có sự phối hợp linh hoạt cả giới hạn bên trong và bên ngoài

của đề tài để sáng tạo nên thế giới nghệ thuật

Ðề tài của tác phẩm thường gắn chặt với hiện thực cuộc sống của thời đại mà nhà văn đang sống, vì vậy nó mang tính lịch sử xã hội sâu sắc Tìm hiểu quá trình phát triển của lịch sử văn học, có thể nhận thấy trong mỗi thời

kì lịch sử khác nhau, thường nổi lên những loại đề tài trung tâm khác nhau Trong giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII nửa đầu thế kỉ XIX, đề tài về số phận của người phụ nữ chiếm một vị trí đáng kể trong trào lưu văn học nhân đạo chủ nghĩa Việt Nam Trong giai đoạn từ 1945-1975, đề tài về người chiến sĩ

cách mạng, về những người công nhân tiên tiến lại nổi lên hàng đầu

Có những đề tài dường như thường được lặp đi lặp lại trong văn học ở mọi nơi và mọi thời đại Chẳng hạn đề tài về tình yêu và hạnh phúc, chiến tranh và hòa bình, sự sống và cái chết Có người cho rằng đấy là những đề tài vĩnh cửu của văn học Thật ra, đó chỉ là một cách nói Bởi vì, ngay chính một nhà văn khi viết về một phạm vi cuộc sống thì đề tài của tác phẩm cũng đã là

một cái gì mới mẻ, không lặp lại

Trang 16

Giáo sư Nguyễn Ðăng Mạnh có nhận xét về cách tiếp cận đề tài của nhà

văn trong cuốn “Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn” như sau:

“ Trong thực tế của đời sống văn học, thường thấy hiện tượng này: các nhà

văn dù lớn đến đâu cũng chỉ có một vùng đề tài ưa thích nhất và ông ta chỉ có thể viết hay về những đề tài ấy mà thôi Khi vì một lí do nào đó, ông ta hướng ngòi bút ra ngoài khu vực đề tài ấy, thì ông ta không còn sắc sảo nữa, tác phẩm trở nên nhạt nhẽo, hình tượng thiếu sức sống, thiếu linh hồn, tài năng

dường như rời bỏ ông ta…” [10, tr.12-13]

1.3 Đề tài nông nghiệp và nông thôn trong văn học và trong sáng

tác của Nguyễn Hữu Nhàn

1.3.1 Khái niệm nông nghiệp và nông thôn

Trong cuốn “Từ điển tường giải và liên tưởng tiếng Việt”, tác giả

Nguyễn Văn Đạm đưa ra khái niệm về nông nghiệp như sau: “ Ngành kinh tế

chuyên khai thác môi trường tự nhiên để sinh sản những thực vật và động vật

có ích cho con người” [3, tr.614] Theo “Từ điển tiếng Việt 2010”, nông

nghiệp là “ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội cung cấp sản phẩm

trồng trọt và sản phẩm chăn nuôi” [18, tr.952] Như vậy, nông nghiệp là

ngành kinh tế cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực, thực phẩm Nông nghiệp chính là nền móng đầu tiên cho cuộc sống trên trái đất này, khi công nghiệp chưa phát triển, nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế của nhiều nước Nhà văn hóa

Trần Quốc Vượng đã nói: “Nông nghiệp, là khởi đầu của văn minh nhân

loại” Ở Việt Nam, mẫu số chung lớn nhất của văn minh – văn hóa truyền

thống là nền tảng nông nghiệp đa canh xoay quanh trục trung tâm nghề nông trồng lúa Cho đến nay, nước ta vẫn là một nước nông nghiệp và nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế quan trọng Theo báo cáo của Tổng cục Thống

Trang 17

kê, năm 2009, giá trị sản lượng của nông nghiệp đạt 71,473 nghìn tỷ đồng (giá so sánh với năm 1994), tăng 1,32% so với năm 2008 và chiếm 13,85% tổng sản phẩm trong nước Đóng góp của nông nghiệp vào tạo việc làm là rất lớn Trong năm 2005, có khoảng 60% lao động làm việc trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, và thuỷ sản.Sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lúa gạo, đã giúp Việt Nam là nước đứng thứ ba trên thế giới về xuất khẩu gạo Sản xuất nông nghiệp được tập trung ở những vùng nông thôn, nơi sinh sống lâu đời của những người nông dân

Nông thôn, theo “Từ điển tường giải và liên tưởng tiếng Việt”, được

hiểu là “Vùng đất rộng không ngăn rào, ở ngoài những thành phố, dành cho

việc trồng trọt, có dân ở tập trung trong các thôn xóm” [3, tr.614] Theo “Từ điển tiếng Việt 2010” là “khu vực dân cư tập trung chủ yếu làm nghề nông”

Nông thôn đang là nơi cư trú chiếm số đông dân nhất trên khắp nước ta, tính đến năm 2009, có đến 70,4% dân số nước ta đang sinh sống ở vùng nông thôn So với thành thị, nông thôn nằm trên địa bàn rộng lớn về các mặt tự nhiên – xã hội – kinh tế Vì trải dài trên địa bàn rộng lớn nên sản xuất nông nghiệp ở nông thôn chịu nhiều ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên Cơ sở hình thành và trình độ tiếp cận thị trường, trình độ sản xuất hàng hóa còn thấp so

với thành thị (Do diện tích rộng, mức đầu tư cho nông thôn không lớn), trong

một chừng mực nào đó thì tính dân chủ, tự do và công bằng xã hội thấp hơn thành thị, thu nhập và đời sống của người dân còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo đói thì cao

Nông thôn – nông nghiệp là hai khái niệm luôn song hành cùng nhau

Nói đến nông thôn là nghĩ đến “rơm rạ, lúa ngô khoai sắn”- những sản phẩm của nông nghiệp Nông thôn là cái nôi chứa đựng và nuôi dưỡng những

truyền thống văn hóa ngàn đời của dân tộc ta Nhưng thực tế lao động sản xuất nông nghiệp trồng lúa nước lại là cơ sở để hình thành, sản sinh những

Trang 18

truyền thống văn hóa lâu đời ấy Sự gắn bó hữu cơ, chặt chẽ có tính chất đồng sinh đồng dưỡng ấy làm nên đặc trưng văn hóa nông thôn, nuôi dưỡng tâm hồn người Việt từ đời này sang đời khác Kho tàng văn học dân gian đã chứng minh điều đó Ví như, khi nói tới nông thôn là ta thường nhớ đến những nét đẹp trong văn hóa sống, văn hóa ứng xử Người nông dân Việt sống ở nông thôn cố định một chỗ, ở dưới một mái nhà với mảnh vườn của mình được bao bọc bởi luỹ tre làng bảo vệ, trong quan hệ ứng xử giữa con người với nhau từ gia đình đến làng xóm đều theo nguyên tắc trọng tình (duy tình) Hàng xóm sống cố định lâu dài với nhau là một môi trường thuận lợi để người nông dân

tạo ra một cuộc sống hoà thuận trên cơ sở lấy tình nghĩa làm đầu: “Hàng xóm

tối lửa tắt đèn có nhau”; “Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”; “Một bồ cái lý không bằng một tí cái tình”; “Bán anh em xa mua láng giềng gần”; “Một giọt máu đào hơn ao nước lã”; “Ta về ta tắm ao ta-Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”; …Khi nhắc tới tình trạng sản xuất nông nghiệp người ta thường

nghĩ đến những kinh nghiệm được tích lũy trong lao động sản xuất Người nông dân làm nghề nông Bởi trình độ và công cụ sản xuất còn thấp và lạc hậu nên trong sản xuất, người nông dân phụ thuộc nhiều vào hiện tượng của tự nhiên như trời, đất, nắng, mưa… Do đó, họ rất tôn trọng, hòa thuận với tự nhiên và phụ thuộc vào nó Chính hoàn cảnh sống như thế giúp người Việt đã tích luỹ được những kinh nghiệm hết sức phong phú trong sản xuất Đó là hệ thống tri thức thu được bằng con đường kinh nghiệm chủ quan, cảm tính Để gieo cấy thành công, đúng thời vụ và bội thu người nông dân phải quan sát tỉ

mỉ các hiện tượng tự nhiên trong một quá trình nhất định, ghi nhớ các kỹ thuật canh tác để rút thành cẩm nang kinh nghiệm sản xuất cho bao thế hệ Muốn gieo trồng, cày bừa không phải cứ tùy tiện thích trồng lúc nào là trồng

Mà phải dựa vào các điều kiện thuân lợi của tự nhiên: “Lúa chiêm lấp ló đầu

bờ, Hễ nghe tiếng sấm, phất cờ mà lên”; “Phân tro không bằng no nước”;

Trang 19

“Tỏ trăng mười bốn được tằm, Tỏ trăng hôm rằm thì được lúa chiêm”;

“Mồng chín tháng chín có mưa, Thì con sắm sửa cày bừa làm ăn Mồng chín tháng chín không mưa, Thì con bán cả cày bừa đi buôn” Dựa vào tự nhiên,

tuân thủ theo nguyên tắc “mùa nào thức nấy” đã ăn sâu trong suy nghĩ, kinh

nghiệm lao động “Tháng giêng là tháng ăn chơi Tháng hai trồng đậu, trồng

khoai, trồng cà Tháng ba thì đậu đã già, Ta đi ta hái về nhà phơi khô Tháng

tư đi tậu trâu bò, Để ta sắm sửa làm mùa tháng năm ”; “Nhờ trời mưa gió thuận hoà Nào cầy nào cấy, trẻ già đua nhau Chim, gà, cá, lợn, cành cau Mùa nào thức nấy giữ màu nhà quê” Các giống vật nuôi gắn liền với đời

sống nông nghiệp cũng được người nông dân Việt lựa chọn, chăm sóc kĩ càng

để chúng đem lại lợi ích cao nhất, thiết thực nhất, đặc biệt là hình ảnh con trâu, biểu tượng gắn liền với nhà nông được nhắc đến một cách rất quí trọng

“Trâu ơi ta bảo trâu này, Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta Cấy cày giữ nghiệp nông gia Ta đây trâu đấy, ai mà quản công! Bao giờ cây lúa còn bông, Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn”; “Con trâu là đầu cơ nghiệp”;

“Trâu gầy cũng tày bò giống”; “Trâu năm sáu tuổi còn nhanh, Bò năm sáu tuổi đã tranh về già, Đồng chiêm xin chớ nuôi bò, Mùa đông tháng giá, bò dò làm sao!” Với những câu ca dao, tục ngữ có vần có điệu, duyên dáng, sinh

động, dễ nhớ cha ông ta đã gửi gắm tình cảm gắn bó, hòa mình với thiên nhiên, đồng thời ấp ủ khát vọng chinh phục, cải tạo thiên nhiên, đó là những cách nghĩ, nếp sinh hoạt, lao động sản xuất của người dân nông nghiệp Người nông dân ở nông thôn luôn có ý thức về việc đúc rút, gìn giữ, lưu truyền những kinh nghiệm quí báu cho các thế hệ nối tiếp

Sau này khi văn học viết ra đời, vùng quê nông thôn và đời sống nông

nghiệp tiểu nông manh mún đã là nguồn đề tài vô tận cho văn học Đề tài nông thôn - nông nghiệp - nông dân đã trở đi trở lại trong nhiều tác phẩm và

có mặt ở tất cả các thể loại văn học

Trang 20

1.3.2 Đề tài nông nghiệp và nông thôn trong văn học

Đất nước và con người Việt Nam ngàn đời nay luôn tự hào có nền văn minh sông Hồng, văn minh lúa nước Mọi thế hệ người Việt Nam lớn lên và trưởng thành từ cái nôi văn minh nông nghiệp ấy Trải qua các thời kì lịch sử, nông thôn luôn là môi trường sống bền bỉ của người nông dân Con người Việt Nam đã tạo nên một nền sản xuất nông nghiệp và một truyền thống lịch

sử văn hóa riêng Bởi thế, từ văn học dân gian đến hiện đại, nông dân - nông nghiệp - nông thôn luôn là một đề tài truyền thống trong văn học Việt Đây là điểm nổi bật có tính tất yếu đối với một nước nông nghiệp như nước ta Phần lớn dân số Việt Nam đều có nguồn gốc xuất thân từ nông thôn Do đó, văn học

dù viết về chốn đồng quê hay thành thị đều ít nhiều mang dấu ấn cảm thức về

nông thôn

Văn học dân gian ngay từ đầu đã phản ánh được tiếng nói ngợi ca cuộc sống nông nghiệp của nhân dân ta, đề tài nông thôn biểu hiện qua cuộc sống lao động của người nông dân đã trở thành đề tài chủ đạo trong các bài ca dao,

“ Thu ăn măng trúc, đông ăn giá Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao

Trang 21

Rượu đến cội cây ta sẽ uống Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”

[26, tr.296-297]

Nguyễn Trãi:

“ Một cày một cuốc thú nhà quê Áng cúc lan xen vãi đậu kê Khách đến chim mừng hoa xẩy rụng Chè tiên, nước ghín, nguyệt đeo về ”

[26, tr.242]

Đến thơ của Nguyễn Khuyến diện mạo nông thôn qua cảnh sống lam lũ của người nông dân cũng như cảnh sắc thiên nhiên làng quê được miêu tả có phần khác trước đó, nó cụ thể và hiện thực hơn Trong thơ Nguyễn Khuyến chúng ta thấy làng cảnh, cuộc sống con người gắn bó với mảnh đất quê hương ông Nhận xét về bức tranh làng quê trong thơ Nguyễn Khuyến, giáo sư

Nguyễn Đình Chú viết “Bức tranh làng quê này đại thể có hai mảng: cảnh

vật của đất trời và cuộc sống con người Cảnh đất trời thì thanh sơ xinh đẹp đáng yêu biết bao, nhưng phơn phớt một sắc buồn tỏa ra từ nỗi buồn thời thế của Nguyễn Khuyến ở buổi ấy Còn cuộc sống con người thì tiêu điều, xơ xác quá đỗi” [2, tr.14] Nguyễn Khuyến được gọi là nhà thơ của nông thôn Gọi

như vậy là vì ông đã viết về nông thôn với tình cảm, với sự trăn trở lo âu của con người ở nông thôn thực sự Trang trải lòng mình với những vui buồn của quê hương lam lũ, đây là cảnh mất mùa trong thơ ông :

“ Năm nay cày cấy vẫn chân thua, Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa ”

[26, tr.360] Hay cảnh sống thanh bần nơi làng quê :

“ Sớm trưa dưa muối cho qua bữa

Trang 22

Chợ búa trầu cau chẳng dám mua”

[26, tr.360]

Văn học hiện đại mang một diện mạo khác hẳn - chịu ảnh hưởng mạnh

mẽ của lịch sử Ở giai đoạn nửa đầu thế kỉ XX, văn học phản ánh sự xâm

nhập sâu sắc của chế độ thực dân tới đời sống nông thôn Việt Nam Những

cây bút xuất sắc của trào lưu hiện thực như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan,

Nam Cao, Kim Lân đã hướng ngòi bút của mình vào những vấn đề nhức nhối

của nông thôn, đến đời sống tăm tối nghèo khổ của người nông dân Một

nông thôn đói nghèo xơ xác, người nông dân bị tha hóa… Từ CMT8 năm

1945 đến 1975, văn học ngoài việc phản ánh sự phong phú, đa dạng của đời

sống hiện thực vẫn tiếp tục phản ánh đề tài nông thôn thời kỳ xây dựng xã hội

chủ nghĩa ở miền Bắc, kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam Sau Đại hội VI

của Đảng (1986), hàng loạt tác phẩm viết về đề tài nông thôn ra đời với cái

nhìn mới mẻ, dân chủ, khách quan, toàn diện hơn Đặc biệt, trong khoảng

mười năm trở lại đây, mảng đề tài nông thôn rất được các nhà văn quan tâm

với nhiều vấn đề mang tính thời sự đặt ra trước tình hình phát triển chung của

xã hội trong bối cảnh thời đại mới

1.3.3 Đề tài nông nghiệp, nông thôn trong sáng tác của Nguyễn Hữu

Nhàn

Nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn sinh ngày 11 tháng 12 năm 1938 Ông quê ở

xã Tứ Xã, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ Cuộc đời ông trải qua nhiều biến

cố đổi thay Nguyễn Hữu Nhàn học hết cấp hai năm 1958 Ông nói ngày ấy có

bằng cấp hai (học hết lớp 7 hệ 10 năm) đã là hiếm và tấm bằng có giá trị xin

việc đi thoát li rồi Thành phố Việt Trì hồi cuối thập niên 50 thế kỷ trước là

một trong hai khu công nghiệp lớn của miền Bắc Thanh niên Hà Nội cùng

trai gái vùng châu thổ sông Hồng nô nức ngược miền sơn cước đến Việt Trì

xây dựng công trường, nhà máy, tạo dựng cuộc đời mới Nguyễn Hữu Nhàn

Trang 23

nhập hội cùng đội ngũ xung kích tuổi thanh xuân đang phơi phới ấy Ông rời rừng cọ, đồi chè quê nhà xuống miền đô hội học lớp kế toán tài vụ Và vì học giỏi nên được giữ lại Bộ Giao thông xung vào đội quân thi công cơ giới lưu động Nhưng Nguyễn Hữu Nhàn nằng nặc đòi về công ty đường sông ngày ấy đóng ở Việt Trì, Phú Thọ quê hương ông Từ đó đến nay ông chung thủy với mảnh đất Việt Trì và giờ ông đang sống tại thôn Quế Trạo, xã Dữu Lâu, thành phố Việt Trì

Nguyễn Hữu Nhàn ngay từ thủa nhỏ khi còn ngồi trên ghế nhà trường đã

say mê đọc các tác phẩm như “Thời thơ ấu” của nhà văn Gorki, “Những ngày

thơ ấu” của Nguyên Hồng và nuôi mộng ước trở thành nhà văn Rồi cái mộng

ước ấy ngày càng thôi thúc, lớn dần trong ông khi ông tiếp xúc với những tác phẩm của các nhà văn hiện thực viết về nông thôn như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao nhưng nó thật sự có điều kiện được phát lộ kể từ ngày Nguyễn Hữu Nhàn theo học khóa III trường bồi dưỡng những người viết văn trẻ – Hội Nhà văn Việt Nam, năm 1968 Sau ngày ra trường, Nguyễn Hữu Nhàn về nhận công tác ở Phòng Xuất bản Sở Văn hóa tỉnh Vĩnh Phú Tiếp đến ông chuyển về Hội Văn nghệ dân gian, rồi Ban vận động thành lập Hội Văn nghệ tỉnh Vĩnh Phú Cùng với năm tháng công tác, Nguyễn Hữu Nhàn

xuống “ba cùng” với nhân dân, với thực tế cuộc sống ở bản làng xa xôi heo

hút vùng Đất tổ Những chuyến đi ấy đã giúp cho ông có một vốn sống phong phú mà không phải ai cũng có được Trong những ngày Nguyễn Hữu Nhàn đi điền dã, khảo cứu, sưu tầm văn hóa văn nghệ dân gian, ông luôn có ý thức tự học bằng cách ghi chép, vun góp những hiểu biết, những phát hiện về cuộc sống nơi thôn dã mình đi qua, ông say mê sưu tầm những giai thoại, những mẩu truyện để viết về làng quê mình Những truyện đầu tay của ông đã được đăng tải trên các tạp chí văn nghệ ở địa phương và trung ương sau này tập

hợp lại in thành tập truyện ngắn có tên là “Chuyện làng Gành” tiếp đó là tiểu

Trang 24

thuyết “Dốc nắng” do nhà xuất bản Thanh Niên in năm 1981 Đầu thập niên

tám mươi của thế kỉ trước, ông được kết nạp vào Hội viên Hội nhà văn Việt Nam Nguyễn Hữu Nhàn không những là nhà văn mà còn là nhà nghiên cứu sưu tầm văn hoá làng xã, đặc biệt là các công trình nghiên cứu văn nghệ dân gian của các dân tộc Mường, Dao rất có giá trị trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam Tất cả những yếu tố đó sau này là cơ sở vững chắc giúp cho Nguyễn Hữu Nhàn trở thành nhà văn xuất sắc của mảng đề tài viết về nông thôn Người đọc, người xem những tiểu thuyết, truyện ngắn, bài báo hay những bộ phim dài tập kịch bản của Nguyễn Hữu Nhàn đều cảm được cái tinh túy, thâm hậu, sâu sắc, đôi khi dung dị thô mộc như đời sống nhưng nó gây được hiệu ứng cảm xúc đánh thức những vùng tối, đánh thức lòng trắc ẩn tới

cõi ngóc ngách riêng tư của con người Chúng ta hãy đọc “Làng nghèo”,

“Làng quê yên ả”, “Người quê”, “Đám cưới ở làng” và rất nhiều những

truyện khác nữa của ông sẽ chia sẻ được điều này Không thể kể ra hết những gì Nguyễn Hữu Nhàn đã viết, đã gửi gắm tâm trí, tấm lòng mình cho cuộc đời thông qua các tác phẩm, những câu chuyện về nông thôn, làng quê, người quê của ông Nguyễn Hữu Nhàn có lối viết riêng, một phong cách Nguyễn Hữu Nhàn không lẫn với ai khi viết về làng quê, người quê

Trang 25

CHƯƠNG II - HIỆN THỰC NÔNG THÔN TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN HỮU NHÀN

Có thể tạm chia sáng tác của Nguyễn Hữu Nhàn làm hai thời kì: Từ năm

1986 trở về trước và sau năm 1986 đến nay, hay nói cách khác, thời kì trước Nghị quyết X - đó là thời kì cơ chế tập trung quan liêu bao cấp cuộc sống lao động sản xuất nông nghiệp của người nông dân tập trung theo mô hình những hợp tác xã và thời kì sau 1986 - đó là thời kì đổi mới với năm thành phần kinh

tế trong đó kinh tế tư nhân được khuyến khích phát triển và cơ chế thị trường ảnh hưởng sâu rộng, tác động sâu sắc đến đời sống của nông thôn Việt Nam Toàn bộ phần nội dung thuộc chương hai, luận văn sẽ đi sâu vào làm sáng tỏ bức tranh hiện thực về nông thôn vùng trung du miền núi Bắc Bộ qua hai thời

kì nêu ở trên và qua những tác phẩm cụ thể của nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn

2.1 Nét đặc trưng của nông thôn trung du miền núi Bắc bộ trong sáng tác của Nguyễn Hữu Nhàn

Không gian đặc trưng của làng quê Việt Nam luôn gắn với những hình ảnh quen thuộc như dòng sông, cánh đồng, mái đình, cây đa, ao làng… tất cả đều gợi lên cảm giác thanh bình, yên tĩnh, thậm chí hoang sơ, hiu hắt Không gian ấy vừa tĩnh lặng vừa mang vẻ đẹp bình dị, tinh tế của hồn quê Không gian làng quê trong tác phẩm của nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn ở thời kỳ trước

và sau đổi mới vừa có những nét chung vốn có của làng quê Việt Nam vừa mang đậm nét đặc trưng riêng của cảnh sắc làng quê vùng trung du đồi núi Bắc Bộ Làng quê của tác giả không đông đúc, nhà cửa san sát, bằng phẳng, nhiều ao hồ như những làng quê vùng đồng bằng chiêm trũng, mà nó thưa

thớt, hoang sơ, lại là vùng “bán sơn địa” nên cảnh sắc làng quê luôn gắn liền với hình ảnh đồi núi gập ghềnh “những chòm, những xóm, những căn nhà

ngự trên những quả đồi, dựa trên những sườn đồi, len lách trong kẽ đồi, thấy

Trang 26

heo hút, đơn điệu, và tẻ ngắt” [11, tr.98-99] Đặc trưng cảnh sắc làng quê

được Nguyễn Hữu Nhàn miêu tả với những hình ảnh rất đỗi thân thuộc gần

gũi trong đời sống con người như con đường làng “Đường vắng Chỉ thấy con

đường rộng thông thênh Con đường rải cấp phối lồi giữa Loại đường đất này bằng bặn và êm hơn cả đường nhựa.” [11, tr.407], cái cổng tre của mỗi

gia đình “Cổng mở ở chân dốc đi lên xóm, cái dốc sâu hun hút,chạy tọt vào

giữa những lùm cây, nhìn nhẵn như mà ếch” [11, tr.31],“Cổng chống hạ xuống, nhưng cột cổng không gài then vào cái cọc cạnh hàng dứa tây” [11,

tr.32], hay đơn giản chỉ là một vài nét chấm phá để làm hiện lên cảnh sắc

hoang sơ, vắng vẻ, rất đặc trưng của vùng quê trung du “Bầu trời như cái

gương lồng sáng chói úp chụp lấy làng đồi, từng chòm xóm, từng đồi hoang, rừng cây, vạt ruộng…bị phơi bày dưới cái nằng hè chan chan Con đường làng dãi nắng đỏ bừng như bôi mực Đường không bóng người, làng vắng ngắt Đây đó râm ran tiếng ve sầu, thảng hoặc đôi ba tiếng gà eo óc” [11,

tr.5]

Để làm nổi bật khung cảnh làng quê nông thôn, nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn khi miêu tả thiên nhiên đã không xa rời cái tự nhiên của nó, ông chú trọng đến yếu tố nguyên sơ của cảnh sắc Cuộc sống tự nhiên vận động theo chu kỳ ngày đến đêm, và đây là không gian buổi sáng với không khí trong

lành trên quê hương vùng trung du “Khi ấy một bầy khướu bay về, đánh thức

khu rừng sặt gần chân núi bằng nhiều giọng hót vội vã như tranh cướp nhau Tiếng một con cu gáy ở đồi sặt mé ngoài Đồi sặt lồng phồng một màu xanh xốp Thấp thoáng có những cái măng sặt nhọn vót cần câu Chốc nữa, mặt trời nhô lên, ánh nắng lia ngang vào lớp lá sặt ngoài cùng; lớp lá nọ nhòe màu vào lớp lá kia để rừng sặt có vẻ đẹp sâu thăm thẳm như tranh sơn mài Những con chim chào mào, họa mi đang bay về rừng sặt Bầu trời buổi sáng rộng dài vì tiếng chim Thế rồi mặt trời lên Rừng sặt óng ánh bởi hàng ngàn

Trang 27

tia nắng nhỏ bắt sáng vào những cái lá đang rung rinh Nắng nhảy nhót và tiếng chim reo Đó là khoảnh khắc tươi mát, rực rỡ của mỗi ngày hè” [11,

tr.227] Đặc trưng của vùng trung du đồi núi hiện lên khá rõ nét, tựa như những thước phim quay chậm, âm thanh và hình ảnh chan hòa vào nhau, buổi sáng ban mai tươi mát, rực rỡ, rộn ràng với rất nhiều âm thanh của nhiều loài chim đua nhau hót, nào là khướu, họa mi,…và hình ảnh những rừng cây sặt

cũng chính là một phần hồn của làng quê trung du Phú Thọ “Tiếng chim hót

vang lên trong đồi sặt gần chân núi Bầy khướu, họa mi vừa hót vừa bay nhảy trên những lùm sặt Một con quạ ở đâu đó kêu những tiếng trầm và nặng đè lên những tiếng trong trẻo ríu rít của bầy chim kia” [11, tr.363]

Thiên nhiên nơi vùng quê trung du bao giờ cũng vậy, luôn luôn khắc nghiệt hơn vùng đồng bằng Rét cũng đậm hơn vì có nhiều núi đá vôi, mà nắng thì cũng gắt hơn vì nhiều đồi núi, đất đai cằn đá sỏi Vùng quê trong tác

phẩm của Nguyễn Hữu Nhàn đúng là vùng đất như dân gian thường nói “chó

ăn đá, gà ăn sỏi” Cái nắng chói chang, cháy da, cháy thịt được tác giả nói

đến qua nhiều tác phẩm, và phải chăng đó cũng là ấn tượng để tác giả dùng

đặt tên cho các tác phẩm như “dốc nắng, chớm nắng” Đây là cái nắng gắt của một buổi trưa hè chụp lên cái làng đồi nghèo đói “ Từng chòm xóm, từng

đồi hoang, rừng cây, vạt ruộng…bị phơi bày dưới nắng hè chan chan Con

đường làng dãi nắng đỏ bừng như bôi mực” [11, tr.5], “Nắng chang chang

ngoài sân Lượt sỏi trên mặt sân như bị nắng rang cháy, tím bầm vào” [11,

tr.42], cảnh sắc thiên nhiên buổi trưa của làng quê vùng trung du thật không

lẫn vào đâu được “Càng về trưa trời càng nắng gắt Nắng táp xuống sân

gạch Cái sân như đang cháy ngùn ngụt – một đám cháy không có ngọn nhưng hơi lửa bốc lên thành những vòng sáng nhòe nhoẹt xoắn xuýt lấy tầm mắt, nhìn chói chang hơn nhiều so với những đám lửa thực Nắng làm cho những cành cây ngọn lá mềm rũ, tái nhợt Màu cây huyết rụ, cạnh bể nước

Trang 28

xám đi Những cây đinh lăng ở mép sân đều vàng hết lá.” [11, tr.58] Đọc

những tác phẩm của Nguyễn Hữu Nhàn ở thời kỳ trước đổi mới có lẽ cái ấn tượng với người đọc nhiều nhất chính là cảnh nắng chói chang của buổi trưa

hè “Nắng vàng hai mắt cô Cô chợt thấy làng mình đang héo lả trong cái

nắng hè chang chang: Những tàu cọ xém nắng đen đi một góc; mấy tàu lá chuối hiếm hoi đã úa vàng; những cành tre rũ ra đường đều quăn lá; những bụi sim mua mọc hai ven đường cằn thấp xuống; đồi bạch đàn, mấy tháng trước, lá còn xanh bây giờ ngả ra màu tím; thân bạch đàn bong vỏ, trắng bợt, trong xa như những vệt vôi rớt xuống.” [11, tr.98] Tuy nhiên, qua việc ghi lại

cảnh vật dưới cái nắng hè oi bức, ta nhận thấy được những hình ảnh tiêu biểu

của quê hương như những tàu cọ, bụi tre, bụi sim, đồi bạch đàn, nghe được nhưng âm thanh thân thuộc của thiên nhiên như tiếng ve sầu, tiếng gà quê nơi làng quê trung du của tác giả Tiểu thuyết “Dốc nắng” được Nguyễn Hữu

Nhàn viết năm 1984, trước thời kỳ đổi mới, cuộc sống của người nông dân lúc này thật khốn khó, sau chiến tranh đất nước kiệt quệ và lạc hậu Người nông dân dẫu một nắng hai sương trên đồng ruộng mà cuộc sống vẫn nghèo

đói Tiêu đề “Dốc nắng” của tiểu thuyết cùng tên đã như một ẩn dụ, thiên

nhiên đành rằng khắc nghiệt, cái nắng như thiêu như đốt, nhưng cái cấp thiết

là cần có một sự thay đổi, cần có một cuộc sống mới

Khi miêu tả cảnh thiên nhiên, tác giả đặc biệt chú ý khung cảnh làng quê buổi chiều và khi hoàng hôn buông xuống Không gian làng quê trung du buổi

chiều đậm vẻ oi ả, bức bối “Mặt trời đã xế chiều Nắng gắt như táp lửa xuống

làng anh Nắng xua hết người ở ngoài đường, ngoài đồng vào nhà Không gian lúc nào cũng sôi lên tiếng ve, nhức cả óc Da trời phồng lên xanh ngắt, không hề gợn một vệt mây Đợt nắng kéo dài đã làm giảm đi nhiều màu xanh của làng anh Cả những bãi cỏ gà, mần chầu cũng cằn lại không đủ che kín mặt đồi sỏi đá ở bên kia cánh đồng Màu nâu sẫm của đất đá ong, sỏi vụn

Trang 29

màu đỏ tím của đá granit đang càng ngày càng lan rộng…” [11, tr.66] Cảnh

sắc buổi chiều được nhà văn tái hiện lại bằng cái nhìn hiện thực, rất đặc trưng

và phù hợp với không gian cảnh quê núi đồi trung du “Mặt trời còn cao

Nhưng mặt trời xa hơn Nắng nhạt Nóng cũng dịu dần Vào những ngày hè gắt, cứ tầm này, mặt trời như bọc trong cái màng mỏng, nhúng vào nước sôi, chín tái, bớt chói chang để nhìn rõ đường tròn quanh nó cắt nét vào da trời xanh lơ Chốc nữa chân trời phía ấy sẽ ngả từ màu da cam sang đỏ ối như một bãi máu tươi và những dải mây duy nhất trong ngày hiện lên như những cái nan xòe rẻ quạt.” [12, tr.149-150] Không gian buổi chiều được cảm nhận

và miêu tả ở bề rộng, thiên nhiên mang một vẻ đẹp hoang sơ, hiu hắt, vẫn là

những hình ảnh rất đỗi thân thuộc: “Mặt trời đã khuất sau ngọn núi cao

Bóng núi trùm lên vùng đồi mênh mông trống trải này bằng một màu xám tro, chỉ còn vài ba vệt nắng yếu ớt như phần cuối của ánh đèn pha chiếu đến từ kẽ núi bên kia làm ngọn đồi bạc phếch mấy quãng Nắng dựng ngược vàng hánh

cả da trời Vùng đồi rộng dài ra hơn Màu trắng hoa chè và cốt khí, lau sậy, nổi từng cụm trắng ở sườn đồi, đẩy những mỏm đồi nhô cao Những cây cọ về chiều dáng càng gầy và cao lêu đêu Bóng núi đang loang ra trong chiều hoang vắng…” [11, tr.150]

Nguyễn Hữu Nhàn đã rất khéo léo trong việc dựng cảnh, bước đi của không gian và thời gian luôn song hành và trong đó tâm điểm vẫn là cảnh vật chịu sự chi phối của thời gian và không gian Không gian đậm chất quê với cảnh núi đồi đồng ruộng đan xen, mặt ruộng như là tấm gương của trời, phản chiếu vẻ đẹp của hoàng hôn đang bao trùm lên quê hương, thiên nhiên đẹp một vẻ đẹp lung linh, kỳ ảo vốn có của tạo hóa, chỉ cần một chút dụng công của nhà văn, bức tranh thiên nhiên đậm chất quê hiện lên như một kiệt tác

“Mặt ruộng đang hắt ánh hoàng hôn Mỗi thửa ruộng là một khung trời thăm thẳm mang những dải mây hồng Càng ra giữa cánh đồng, càng thấy hoàng

Trang 30

hôn tím sẫm ở chân trời Lên cao, màu tím nhạt dần, chỉ còn phảng phất mơ

hồ trong mây vàng, mây đỏ Ánh sáng ngày phủ mỏng trên da trời đang bị mài mòn để chốc nữa từng đợt sao nổi lên chi chít Trên khoảng trời rộng đang chuyển màu ấy, mới chỉ có chấm sao hôm và mảnh trăng như miếng dứa xanh thái mỏng Những ngọn đồi và hết thảy những lùm cây trước mặt đều sẫm lại nhòe vào hoàng hôn Màu tím ở chân trời vì thế càng lung linh và huyền ảo.” [11, tr.172-173] Khi dựng cảnh thiên nhiên nhà văn đã không

quên dành cho không gian đêm tối ở quê mình một vẻ đẹp huyền bí “Lúc

hoàng hôn còn biêng biếc tím trên cánh đồng người ta đã thấy trên nền trời màu gio nhạt: mảnh trăng non và chấm sao hôm lẽo đẽo theo sau trăng Mảnh trăng và ngôi sao kia chỉ hết đi vẻ đơn điệu, nhạt nhẽo khi nền trời sau

nó đen thăm thẳm như nền tranh sơn mài và chúng sẽ gây nên những ấn tượng đặc sắc trong hằng hà sa số những vì sao.” [11, tr.179] Làng quê Việt

Nam muôn đời nay vẫn thế, về đêm làng mạc yên tĩnh đến gần như ngủ say trong khuôn sáo của những tục lệ không bao giờ thay đổi, cái thế giới thôn

quê chất phác “nhũn nhặn và quen thuộc” quá “Mới gà gáy ba bận, làng xóm

vẫn tối mịt Nền trời sao chi chít đã xa mờ Chùm sao tua rua, khuất sau ngọn núi Ngôi sao mai vừa mọc, tỏ rõ, nhưng còn thấp và khuất sau đồi bồ đề Ánh sao mai chưa đủ để làm loãng bóng đêm dày phủ kín những chòm nhà đồi.”

[11, tr.251]

Yêu quê là yêu những gì vốn thân thuộc và gần gũi với cuộc sống hàng

ngày, là người sinh ra ở vùng quê bước ra cửa là thấy cọ, thấy chè, nhà văn

Nguyễn Hữu Nhàn đã rất trân trọng sản vật tự nhiên của quê hương mình Vì thế, ông đã dành những trang viết hết sức sâu lắng, đặc tả một cách rất chi tiết

cảnh những đồi cọ nơi làng quê “Vạt cọ ở đây xanh um Có những cây to,

thẳng tuột vì những bẹ cẫng từ gốc lên vẫn bền chắc Hai bên rìa cẫng cọ chi chít những gai nhọn và cong như móng vuốt mèo Quanh thân những cây cọ

Trang 31

đầy rẫy những cây tiết dê, đồng tiền leo lên và những cây ké gai, sọng đũa, cà độc dược mọc từ trong kẽ bẹ, chìa những cành ra ngoài như sắp tuột rơi xuống đất Những cây phong lan mọc cao hơn, thứ phong lan lá dài như lá tóc tiên buông ra những chùm hoa trắng nhỏ giống hệt hoa đỗ ván Ở những cây cọ này thường là chùm lá của nó ở trên ngọn, nhìn thưa thớt, nhỏ, không cân đối với thân cây và vì thế, nó không có cái dáng hấp dẫn đối với các nhà

nghệ sĩ tạo hình.” [11, tr.374] Những đồi cọ xanh tươi bao đời nay đã như

biểu tượng cho vẻ đẹp của cảnh sắc thiên nhiên nông thôn trung du miền núi, hơn thế nữa, cây cọ còn như một biểu tượng cho sự trường tồn của sự sống

“Trên những vùng đồi dốc dếch, sỏi đá như gai góc này, những cây cọ luôn luôn gợi trong anh về một cuộc sống quyết liệt, dẻo dai và bền vững.” [11,

tr.374] Thiên nhiên vùng đồi núi này không thể thiếu đi hình ảnh những đồi

cọ Cùng với nhiều loài cây khác, cọ đã tôn thêm cho cảnh sắc quê hương vẻ

đẹp của sự bền vững, mạnh mẽ “Những cây cọ trên đỉnh đồi sau đội hai in

cắt nét vào nền trời đến mức thấy rõ hai hàng gai như răng cưa trên từng cẫng cọ Những thân cọ song song như những song cũi nhốt mặt trời ở trong.” [11, tr.171] mà cũng không kém phần mềm mại uyển chuyển, tạo cho

thiên nhiên làng quê sự hòa hợp, một vẻ đẹp rất lãng mạn “Trăng non như bị

một búp cọ xiên vào, đang tụt dần xuống buồng quả và cụm cẳng gai của cây

cọ ở sườn đồi trước mắt Mảnh trăng non còn nhạt thếch chưa gây một ấn tượng sâu sắc trên nền trời sâu thẳm và dày sao Làn gió hiếm hoi chợt đến Tiếng gió nặng nề khi chà sát qua những tàu cọ Búp cọ lắc lư khoan sâu vào mảnh trăng, Đường chân trời bị uốn cong như con đường dốc về làng.” [11,

Trang 32

trăm mét nối liền hai quả đồi Những sườn đồi như miệng phễu rót nắng xuống công trường Nắng bị mũ nón chắn ngang chỉ dội xuống mặt đất từng vệt như rắc nghệ vàng.” [11, tr.7], cuộc sống lao động tấp nập nhằm thay đổi

bộ mặt làng quê, xây dựng quê hương giàu có dựa trên cơ sở kinh tế nông

nghiệp được nhà văn miêu tả rất cụ thể “Dưới kia đất bị đào xới, bắt nắng đỏ

rực Tiếng người cười nói, tiếng đào, đóng, tiếng đất lở, đá lăn quện vào nhau nghe như vùng đồi đang bị đun sôi, sắp vỡ ra từ đây Dãy núi ở phía trong, càng quá phía trên, nhìn càng xanh bóng như được phủ dần một lớp men sứ.”[11, tr.13]

Phản ánh cuộc sống ở nông thôn, nhà văn đã dựng lên những cảnh tiêu biểu của từng mảng đời sống với những âm thanh và hình ảnh cụ thể của cuộc sống thực khiến người đọc có thể hình dung một cách rõ nét từng góc cạnh

của đời sống nơi thôn quê: “Nhà Nhiên ở ngọn đồi chơi vơi bên xóm, âm

thanh từ xóm đồi dội sang, nổi rõ những tiếng í ới gọi nhau, tiếng la hét, tiếng lợn rống, tiếng hét thoáng qua, tiếng đập gõ vô tội vạ của trẻ con, tiếng cối xay, cối giã, tiếng dao băm bèo trên thớt, tiếng bổ củi và tiếng đàn ông văng tục.” [11, tr.109] Nhà văn đã rất tôn trọng hiện thực khi miêu tả bao bộn bề

của cuộc sống, hình ảnh được phản ánh là nét riêng của vùng nông thôn nhiều đồi núi, nhưng âm thanh thì quả thật, ta có thể bắt gặp ở bất cứ một vùng quê nào trên dải đất hình chữ S này Vốn sống và trải nghiệm của nhà văn hiện ra

trên trang viết khiến ta thấy thân thuộc và gần gũi quá: “Trong những chòm

xóm ấy cất lên những tiếng ơi ới gọi nhau, tiếng la hét, gắt gỏng, văng tục, tiếng cắt đặt công việc, tiếng ruỳnh ruỵch chân người chạy nhốn nháo như nện vồ, tiếng gõ, đóng, chặt, phá…ầm ầm như vỡ làng Tiếng phát thanh qua loa máy choang choác cất lên thì những con chó nuôi giấu giếm đều sủa gâu gâu như cắn bóng đêm Những đàn lợn thức dậy, mất vía, kêu ụt ịt trong đêm tối Những đàn gà đều rúc rích đòi ra chuồng.” [11, tr.251-252] Hình ảnh và

Trang 33

âm thanh đều rất quê, ngay cả công việc chân lấm tay bùn, cày bừa cấy hái của người nông dân cũng được tác giả nhắc đến khi ông dựng bức tranh đời

sống “Vân cúi xuống cấy lại những khóm mạ vừa nhổ Cô đi ngang nước kêu

lắp bắp dưới chân cô Nắng hòa vào ruộng nước đục ngàu gạch cua không hắt sáng lên nổi.” [11, tr.304] Cuộc sống nơi làng quê vẫn luôn êm đềm, như

đúng bản chất vốn có của nó “Ngày đến, nhưng làng vẫn ngủ Cái oi bức

hành hạ suốt đêm, làm cho lúc gần về sáng, người ta mệt mỏi mà thiếp đi Và

vì đêm hè quá ngắn, nên sự yên lặng, tĩnh mịch của đêm, đang còn lấn sang ngày.” [11, tr.226], nhà văn không hề giấu giếm cái lạc hậu, nghèo nàn và tẻ

nhạt “Từng khoảng làng đen kịt nhoe lên những ngọn đèn dầu đỏ đọc, nhỏ

như những con đom đóm Những ngọn đèn khuất hở như bị những đợt âm thanh hỗn loạn kia thổi sắp tắt lại phụt lên Những ngọn đèn di động mà như đang chết.” [11, tr.251]

Làng quê trong những trang viết của Nguyễn Hữu Nhàn hiện lên cụ thể

và sinh động, tác giả đã đưa ta đến với miền quê nông thôn đậm đặc chất trung du Bức tranh làng quê được nhà văn viết ra bằng nhạc, bằng họa, bằng

sự cảm nhận của tất cả các giác quan Người đọc như được lạc vào thế giới

của sim, mua, sậy, của rừng sặt, đồi chè, rừng cọ…như thấy âm thanh của muôn loài chim như khướu, họa mi, chào mào, cu gáy đang đua nhau cất

tiếng hót Qua những trang viết của Nguyễn Hữu Nhàn vùng quê trung du quả thật là miền quê có thiên nhiên sinh động, phong phú và giàu có Tuy nhiên,

đó còn là cảnh sắc của một làng quê nghèo, đất đai khô cằn, đồi núi, đá sỏi, chưa nhìn thấy sự phát triển Con người và cảnh vật như khô đi trước sự khắc nghiệt của thiên nhiên Miêu tả cảnh sắc, cuộc sống làng quê thời kỳ trước đổi mới nhà văn muốn gửi gắm vào đó mong ước về một sự đổi thay, về một cuộc sống dễ chịu hơn

Trang 34

Vẫn với lối viết tự nhiên, giản dị, khi miêu tả cảnh thiên nhiên làng quê thời kỳ đổi mới, nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn tôn trọng tính đặc trưng của tự nhiên Tuy nhiên, cuộc sống thời kỳ này đã có những đổi thay nên đã ảnh hưởng nhiều đến cái nhìn của tác giả Thiên nhiên đậm màu tươi sáng, trong lành mát mẻ, thiên nhiên được miêu tả gắn liền với đời sống nông nghiệp đang phát triển Mùa xuân đã về, không gian đất trời tươi sáng sống động với cánh én mùa xuân đang chao liệng xua đi cái nắng hè oi bức, ngột ngạt từng muốn đốt cháy con người và cảnh vật, xua đi những giá lạnh của ngày đông,

hứa hẹn nhiều niềm vui mới “Đã qua rồi một mùa đông giá lạnh với triền

miên những trái nắng trở trời để đất đai vườn, ruộng dù ẩm ướt nhưng ấm áp bừng sáng trong sắc nắng vàng tươi của một ngày đầu năm không một gợn mây ngoài những cánh én đang chao đi chao lại điểm xuyết cho nền trời xanh bao la thêm sống động và rực rỡ bội phần.” [12, tr.261] Thiên nhiên hiện lên

trong niềm vui phơi phới của lòng người qua những câu văn dài, giọng văn như có chất thơ, thật mềm mại, ấm áp Mùa xuân đến đất trời bừng lên sức sống mới, không gian làng quê mở rộng ra với hình ảnh những cánh đồng tươi tốt, hương vị của cuộc sống đang ngập tràn từ đồng ruộng lan tỏa ra khắp đất

trời “Lúa xuân gặp ngày ấm đang bốc lên với triệu triệu cánh lá dài, dày

mượt mà một màu xanh sẫm làm đồng làng thêm rộng ra hơn Mùi thơm ngai ngái của nhựa lúa non cùng với mùi bùn đất tanh nồng đang quện theo làn gió mát bốc lên” [12, tr.262] Cũng như thời kỳ trước, khi thể hiện cảnh sắc

thiên nhiên làng quê vào buổi sớm, nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn vẫn bắt được cái thần thái của không gian buổi sớm đó là không khí trong lành, làng quê

yên ả và thanh bình trên quê hương vùng trung du “Mặt trời chưa lên cao

Buổi sáng mùa thu trong lành và dịu mát Những tán lá xanh đang ríu ran tiếng chim Làng yên ả thanh bình ngỡ như không tiếng động nào bằng tiếng đất vỡ, đất rung dưới chân họ.” [12, tr.74] Nhưng khung cảnh thiên nhiên

Trang 35

tươi đẹp bắt đầu của một ngày mới ấy, giờ đây luôn được gắn liền với đời sống nông nghiệp đang ngày được hiện đại hóa, vẻ đẹp của thiên nhiên đang

hòa với vẻ đẹp nhộn nhịp của cuộc sống lao động của con người “Mặt trời

nhô lên ở phía đông Ánh nắng rực rỡ phủ trên những đồng lúa đang lên xanh mơn mởn của làng Cói Hạ Nắng rải vàng trên sân gạch rộng mênh mông của hai dãy nhà kho dài dằng dặc ở xóm Trà Ánh nắng như cháy rực ở cái đầu máy kéo lớn và những chiếc xe công nông đỗ ở góc sân Những chiếc xe trâu,

xe cải tiến và xe ô-tô đỗ thành hàng ngang, quay đít vào các cửa kho chờ bốc hàng lên hoặc dỡ hàng xuống.” [12, tr.30]

Sang đến thời kỳ mới này, ngòi bút miêu tả thiên nhiên của tác giả quả thật có nhiều sự cảm nhận mới mẻ Vẫn là miêu tả cái nắng của tự nhiên, nhưng không còn là cái nắng chang chang, cháy da cháy thịt con người cũng

như cây cỏ nữa, thay vào đó là thứ “nắng nghệ non”, nắng vừa đủ để cho cây cối sinh trưởng “Nắng ùa lên vàng chói khắp làng đồi Tiếng ve sầu râm ran

trên các tán cây đại thụ Mặt đường làng dột từng bãi nắng vàng như phủ nghệ non.” [14, tr.29], không gian làng quê giờ đây không phải oằn mình

trước cái “nắng như táp lửa” Nắng bây giờ lại như một thứ dinh dưỡng cung cấp nhựa sống cho làng quê, thiên nhiên đẹp một thứ đẹp “phồn thực” “Nắng

ve ve rót xuống làng cổ một thứ màu vàng sáng óng ánh như mật ong ở những tàu chuối, lá đu đủ đã ngả vàng, rót xuống các mái ngói thứ nước son đặc và tãi xuống tán cây ngọn lá thứ phẩm xanh pha loãng và lóe sáng chói chang ở các bức tường mới quét lại vôi ve.” [14, tr.50] Cuộc sống mới đã có nhiều

thay đổi tác động mạnh tới tâm lý của nhà văn, vì thế thiên nhiên làng quê được cảm nhận mang nhiều vẻ đẹp tươi sáng, làng quê hiện lên với nét đẹp thơ mộng, chân thực và cũng hết sức tự nhiên, hương vị quê hương toát lên từ

cảnh đẹp thiên nhiên rất đồng quê “Gió từ phía Lõng hất lên tràn qua ruộng

lúa trỗ thấp thoi, đôi ba ruộng cấy sớm đã uốn câu đang có bầy bướm rập

Trang 36

rờn đôi cánh bắt nắng lấp lóa trắng phau Từ cánh đồng hắt lên hương vị của đồng quê ngai ngái đậm mặn vị mồ hôi cùng nước mắt của những thiên tình

sử thơ mộng và bi ai.” [14, tr.91] Trong mỗi bước đi của thời gian là thế giới

của cuộc sống con người và cảnh vật hết sức đa dạng và phong phú, muôn màu, muôn sắc Miêu tả thiên nhiên, cuộc sống mới, nhà văn đã không quên miêu tả những đêm trăng sáng thơ mộng nơi thôn xóm, ánh trăng phủ nhòa

trên khắp núi đồi quê hương “Trên sườn đồi hoang nhấp nhô mênh mông

trong ánh trăng thượng tuần sáng nhờ nhờ chỉ thấy đôi ba cây cọ buông những chùm lá tua tủa như gai nhọn trên nền trời mờ sáng treo lơ lửng mảnh trăng cong như múi bưởi cuối mùa.” [14, tr.219] Đêm tối nơi thôn quê thật

tĩnh lặng, thiên nhiên tự bản thân nó hòa quyện vào nhau làm nên vẻ đẹp

hoang sơ , kỳ bí “Một làn gió thổi về Mặt đồi cỏ may, sim, mua run lên vè vè

Mảnh trăng như bị những mũi dao nhọn của tàu cọ xiên tách ra từng mảnh Khi trăng xuống thấp, tàu cọ ấy thành một bóng sáng in đậm sắc nét những tia nhọn như mũi kiếm dán chặt vào nền trời sáng rạng điểm vài vệt mây đen như những đầu thú ngóc lên từ đỉnh núi xa mờ phía sau làng đồi lô nhô bóng đen nhập nhòa trong bóng núi.” [14, tr.220] Bên cạnh những trang viết đậm

đặc cảnh thiên nhiên hoang dại của núi đồi “Những đồi chè như bát úp liền

nhau chạy đến chân núi xa Đồi cách nhau những tràn rộc ven đồi vươn lên tua tủa bới lau sậy Hoa lau phất phơ óng ánh như phết một lớp bột nhũ.”

[15, tr.211] Thời kỳ này nhà văn còn tập trung vào thể hiện cảnh sắc thôn quê với sự ảnh hưởng của cuộc sống đô thị hóa, cái mới và cái cũ song hành tồn tại, giữa kiến trúc hiện đại của những ngôi nhà được xây theo lối mới, vẫn là

những bụi chuối, bờ tre quen thuộc “Đom đóm và lân tinh láy nháy làm vụn

nát lỗ chỗ vùng bóng tối thẫm đen của thôn làng Những mái bằng và chóp nhọn các tòa nhà hai ba tầng vượt lên khỏi bụi chuối bờ tre in trên nền trời sao nhòe nhoẹt như tranh thủy mạc Xóm làng im ắng, họa có đôi ba con chó

Trang 37

động cỡn vờn nhau ăng ẳng làm tắt đi từng lúc tiếng kêu chẵng chuộc trong những ao khoai nước và bèo tây.” [13, tr.5]

Xuất phát từ quan niệm văn chương cần thật như nó vốn có trong cuộc sống, nên khi miêu tả cảnh sắc thiên nhiên nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn đã không thi vị hóa vẻ tự nhiên của quê hương Người đọc nhận ra ngay làng quê vùng trung du nhiều đồi núi chứ không phải là vùng chiêm trũng nhiều ao chuôm hay vùng đồng bằng thẳng cánh cò bay Làng quê của tác giả hiện lên giàu có về thiên nhiên với sự trù phú của rừng cọ, đồi chè, nhiều sản vật tự nhiên Theo từng thời kỳ phát triển của đất nước, khung cảnh làng quê của nhà văn đã có nhiều đổi thay song nó vẫn giữ được nét đặc trưng vốn có

2.2 Những vấn đề của nông thôn trung du miền núi Bắc bộ trong sáng tác của Nguyễn Hữu Nhàn

2.2.1.Cuộc sống nông thôn thời kì trước khi đổi mới

Sau những năm dài của hai cuộc kháng chiến gian khổ ác liệt, độc lập tự

do đã về trên khắp đất nước ta Niềm vui lớn ấy cũng là cơ sở cho mỗi miền quê, mỗi con người Việt Nam cần phấn đấu nhiều hơn nữa để khôi phục, phát triển đất nước sau chiến tranh Đảng và chính phủ đã có nhiều chính sách hướng nhân dân đi theo con đường phát triển kinh tế xã hội chủ nghĩa Những năm tháng ấy đã được miêu tả khá rõ nét trong những trang viết của Nguyễn Hữu Nhàn Những tác phẩm của ông viết trước năm 1986 đã dựng nên bức tranh cụ thể, chi tiết về cuộc sống của những người nông dân và nông thôn

trong phong trào hợp tác xã nông nghiệp với cảnh “Sớm khuya tiếng trống đi

về trong thôn”, “Tiếng loa gọi và tiếng của người hô “quyết tâm!quyết tâm!quyết tâm” nghe như tiếng đập vào đít bồ rỗng.” [11, tr.252] Người

nông dân nhiệt tình, hăng hái tham gia công việc lao động sản xuất trên quê hương, họ không kể gái trai, già trẻ, lớn bé, tham gia với một tinh thần tự nguyện, như một trách nhiệm lớn lao, tất cả đều vui vẻ, phấn khởi như trong

Trang 38

ngày hội “Ngoài tiếng kẻng, tiếng mõ vẫn đang nện tới tấp, người ta còn gõ

vào gốc tre, có người phởn chí, đập vào chậu thủng, vào đít nong, gõ vào bất

cứ cái gì có thể gõ cho thêm phần huyên náo Chưa sáng ở quanh ngã ba cổng chào đã có hàng trăm người nhớn, trẻ con kéo đến, ngồi bệt bạt bên những vệ cỏ, đứng dựa vào những cây bạch đàn, ngồi xúm quanh những chiếc điếu cày, hoặc đang chòng ghẹo nhau, trẻ con ngã vào người lớn Họ đấm nhau, đuổi nhau, cười, nói, văng tục, hò hét trong lúc người ta đang kéo đến, đang chờ đợi, đang nhốn nháo ” [11, tr.252] Tất cả cho tập thể và vì tập

thể nên vai trò cá nhân trong thời kỳ này bị lu mờ, kinh tế cá thể bị phủ định bởi đó là mầm mống của chủ nghĩa tư bản, nền kinh tế của ta lúc đó chỉ có một thành phần kinh tế duy nhất là hợp tác xã Đối tượng sản xuất và tư liệu sản xuất tập trung còn người nông dân lao động hàng ngày được bình công

chấm điểm ăn chia “Quần chúng được huy động đi trăm phần trăm Nếu nhà

nào có đông người tham gia chiến dịch, sau này được phân phối mắm tôm, madi và cả hàng công nghiệp.” [11, tr.256] Trong những tác phẩm viết về

nông thôn thời kỳ này, nhà văn tập trung vào xây dựng cuộc sống nông thôn với hình ảnh người nông dân trong truyền thống tương thân tương ái, với phẩm chất cần cù chịu khó, một nắng hai sương Người nông dân được ghi nhận trong những nét đằm thắm trữ tình, tinh tế Họ được miêu tả như những con người trong sáng, tất cả vì lợi ích chung của cách mạng, của đất nước, họ không hề có chút so đo, tính toán cho riêng mình Đó là những kiểu mẫu hợp tác xã làm ăn phơi phới đi lên gần như không có trở ngại gì, cuộc sống đó một thời đã trở thành câu ca dao truyền miệng của nhiều người nông dân:

“Cầm vàng còn sợ vàng rơi Vào hợp tác xã đời đời ấm no”

Bức tranh cuộc sống nông thôn được tác giả đề cập đến thông qua sự thay đổi trong cách thức làm ăn của hợp tác xã Mô hình sản xuất này chính là

Trang 39

nơi tập trung rõ nét nhất diện mạo cuộc sống nông thôn Tất cả văn hóa làng quê, các mối quan hệ, những mâu thuẫn, xung đột đều xảy ra trong mối quan

hệ hợp tác xã này Cụ thể , trong tiểu thuyết “Dốc nắng” diện mạo cuộc sống

nông thôn được thể hiện qua sự phát triển trong phương thức làm ăn ở hợp tác

xã nông nghiệp Sơn Đài Nơi đây, do nhận thức được những bảo thủ, trì trệ của lối làm ăn cũ, những nhân vật tiên tiến nhất của phong trào đã vạch ra một

chương trình mới nhằm đưa sản xuất tiến lên “Sơn Đài và các xã có rừng bồ

đề, chân núi có nhiều cỏ phải nuôi bò, nuôi trâu Chính sách giá cả đối với trâu bò chưa hợp lý thì đề nghị cấp trên bổ khuyết để khuyến khích cho chăn nuôi Rồi nay mai có hồ nước, nghề nuôi cá ở Sơn Đài cũng phải được đưa vào Nghề rừng cần phải được đưa vào thành một nghề kinh doanh.” [11,

tr.9] Họ dự kiến làm một cái hồ lớn đảm bảo nước tưới thường xuyên cho đồng ruộng, rồi từ đó làm thủy điện, chế biến hoa màu, kinh doanh cá,…tiến đến xây dựng cơ cấu nông – lâm – công nghiệp hoàn chỉnh, đáp ứng cao nhất nhu cầu của xã viên Tất cả làm hiện lên gương mặt cuộc sống nông thôn Việt Nam thu nhỏ, chỉ có khác là nơi sản xuất của họ không phải là những cánh đồng thẳng cánh cò bay, mà là trên những nương, những đồi, những chân

ruộng: “Dưới chân những nương sắn, nương cọ, người ta đang moi vét bùn,

khơi lại con mương tiêu chua có tốp đang vơ cỏ, phát bờ Nếu những chân ruộng quanh xóm đã cày bừa, cuốc nhụt cỏ, hết việc làm, họ cho chữa lại những đoạn đường bị sụt lở, giọi lại nhà chứa phân lân, hoặc chữa một vài cái tay bừa, làm những con cá cày mới , giậm một vài cái nan gầu rách Họ dàn người: đi lại, đứng ngồi, làm việc ở dọc theo con đường chính đến xóm mình Chỗ nào người ta cũng bàn tán về công việc sản xuất.” [11, tr.137]

Phong trào hợp tác xã ở đây phát triển rất mạnh, người nông dân đoàn kết, hồ hởi làm ăn, những công việc được tác giả đề cập đến đều là những công việc thường ngày của họ nơi làng quê Phát triển kinh tế chung của hợp tác xã

Trang 40

cũng là đem lại lợi ích cho từng người cụ thể nên tinh thần cá nhân hòa vào trong mục đích chung Hợp tác xã Sơn Đài trong những ngày làm công trình

hồ nước đập Đá Chiêng, Đá Trống thật nhộn nhịp “ hàng trăm con người

đang hì hụi đào, cuốc, khiêng gánh đi lại gần kín hai quả đồi” [11, tr.7] Cổ

vũ cho công cuộc lao động của hợp tác xã người ta cần đến nhiều yếu tố, từ huy động nhân lực đến việc cổ động bằng khẩu hiệu, áp phích Hình ảnh trang hoàng khắp nơi trong thôn xóm bằng khẩu hiệu để cổ vũ cho lao động sản xuất là hình ảnh ta có thể bắt gặp ở nhiều nơi trên khắp đất nước ta Hiện thực

đó cũng được nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn miêu tả trong tác phẩm của mình khi ông thể hiện không khí tưng bừng, nhộn nhịp của cuộc vận động đẩy

mạnh sản xuất nông nghiệp nơi hợp tác xã Sơn Đài: “Dọc theo những con

đường lớn đường nhỏ ở Xuân Lập, người ta vừa trưng bày hàng loạt khẩu hiệu mới Khẩu hiệu kẻ trên những bảng áp-phích xây ở những ngã ba, ngã

tư, ở mặt ngoài các bức tường của trường học, trụ sở ủy ban, cửa hàng, trạm

xá, ở trên những tường dốc, tường hậu của các nhà làm quay lưng và quay đốc ra đường Người ta đóng khung, căng vải bì của các túi hàng làm Pa-nô, quét nền đỏ, kẻ chữ vàng và quét vôi vào những tấm giấy dầu để làm băng kẻ khẩu hiệu Ở ngã ba gần hàng nước nhà Hồng béo, người ta dựng một cổng chào có cắm hàng cờ lá chuối, mỗi lá một màu Dưới chân cán cờ là băng khẩu hiệu dài, nền đỏ chữ vàng: “Nhiệt liệt hoan nghênh cuộc vận động đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp”.” [11, tr.30], cổ vũ tinh thần hăng say quyết tâm

lao động sản xuất của người nông dân bằng băng rôn khẩu hiệu cũng là hình thức quan trọng đóng góp không nhỏ trong sự nghiệp phát triển của hợp tác

xã “Hai cột cũng treo khẩu hiệu kẻ chữ theo hàng dọc từ trên xuống Chữ lại

viết trong những vòng tròn, thoạt nhìn tưởng một chữ nho, hệt một câu đối

“Ra sức lao động để hoàn thành đập Đá Chiêng - Đá Trống trước mùa lũ” và

“Quyết giành vụ mùa năm bảy mươi bảy đại thắng lợi”.” [11, tr.30]

Ngày đăng: 01/08/2014, 23:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn Chỉ (2011), “Đọc hai truyện ngắn: Làng quê yên ả và Người quê của Nguyễn Hữu Nhàn”, Báo Văn Nghệ, (42), tr.9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc hai truyện ngắn: Làng quê yên ả và Người quê của Nguyễn Hữu Nhàn”, "Báo Văn Nghệ
Tác giả: Nguyễn Văn Chỉ
Năm: 2011
2. Nguyễn Đình Chú (1998), “Nguyễn Khuyến với thời gian”, Tạp chí văn học, (4), tr14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Khuyến với thời gian”, "Tạp chí văn học
Tác giả: Nguyễn Đình Chú
Năm: 1998
3. Nguyễn Văn Đạm (1999), Từ điển tường giải và liên tưởng tiếng Việt, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tường giải và liên tưởng tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Đạm
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 1999
4. Văn Giá (2009), “Về nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn”, Báo Văn Nghệ, (49), tr.9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn”, "Báo Văn Nghệ
Tác giả: Văn Giá
Năm: 2009
5. Vũ Hà (2002), “Nguyễn Hữu Nhàn – Nhà văn của nhà quê”, Báo Văn Nghệ, (45), tr.19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Hữu Nhàn – Nhà văn của nhà quê”, "Báo Văn Nghệ
Tác giả: Vũ Hà
Năm: 2002
6. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2007), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
7. Đinh Hằng, Nam Hải (2007), “Tôi cố thủ trong pháo đài làng xã!”, Báo Nông thôn ngày nay, (6/2007), tr 8-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôi cố thủ trong pháo đài làng xã!”, "Báo Nông thôn ngày nay
Tác giả: Đinh Hằng, Nam Hải
Năm: 2007
8. Lê Lựu (2004), Thời xa vắng, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời xa vắng
Tác giả: Lê Lựu
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2004
9. Phương Lựu (2004), Lí luận văn học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Phương Lựu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
10. Nguyễn Ðăng Mạnh (2002), Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn”, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn”
Tác giả: Nguyễn Ðăng Mạnh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
11. Nguyễn Hữu Nhàn (1984), Dốc nắng, NXB Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dốc nắng
Tác giả: Nguyễn Hữu Nhàn
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 1984
12. Nguyễn Hữu Nhàn (1989), Làng Cói Hạ, NXB Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng Cói Hạ
Tác giả: Nguyễn Hữu Nhàn
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 1989
13. Nguyễn Hữu Nhàn (1999), Phố làng, NXB Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phố làng
Tác giả: Nguyễn Hữu Nhàn
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 1999
14. Nguyễn Hữu Nhàn (2000), Chớm nắng, NXB Quân đội nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chớm nắng
Tác giả: Nguyễn Hữu Nhàn
Nhà XB: NXB Quân đội nhân dân
Năm: 2000
15. Nguyễn Hữu Nhàn (2005), Người quê, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người quê
Tác giả: Nguyễn Hữu Nhàn
Nhà XB: NXB Quân đội nhân dân
Năm: 2005
16. Nguyễn Hữu Nhàn (2008), Rừng cười, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rừng cười
Tác giả: Nguyễn Hữu Nhàn
Nhà XB: NXB Quân đội nhân dân
Năm: 2008
17. Nguyễn Hữu Nhàn (2009), Tác phẩm chọn lọc, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm chọn lọc
Tác giả: Nguyễn Hữu Nhàn
Nhà XB: NXB Quân đội nhân dân
Năm: 2009
18. Nhiều tác giả (2010), Từ điển tiếng Việt 2010, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt 2010
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2010
19. Lê Phan Nghị (2008), “Nhà văn của đồng quê”, Báo Văn Nghệ, (11), tr.7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn của đồng quê”," Báo Văn Nghệ
Tác giả: Lê Phan Nghị
Năm: 2008
20. Mai Xuân Nghiên (2011), Nông thôn bây giờ…………………, http://laokhoa.blogtiengviet.net/2011/02/22, ngày 22/02/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông thôn bây giờ
Tác giả: Mai Xuân Nghiên
Năm: 2011

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w