Từ những năm 50 của thế kỉ XX, thể thơ này đã vượt ra ngoài biên giới Nhật Bản và hiện nay đã trở thành một thể thơ quốc tế.Nhiều quốc gia trên thế giới đã đưa Hai-cư vào chương trình gi
Trang 1MỤC LỤC
NỘI DUNG
4 Khơi gợi để học sinh cảm nhận, trải nghiệm 15
MỞ ĐẦU
Trang 21 Lí do chọn đề tài.
Thơ Hai-cư là một trong những thể loại văn học độc đáo của Nhật Bản,
là “tâm hồn Nhật Bản” Từ những năm 50 của thế kỉ XX, thể thơ này đã vượt
ra ngoài biên giới Nhật Bản và hiện nay đã trở thành một thể thơ quốc tế.Nhiều quốc gia trên thế giới đã đưa Hai-cư vào chương trình giảng dạy trongnhà trường (kể cả Mĩ và các nước Hồi giáo)
Ở nước ta, dù nằm trong cùng vùng văn hóa với Nhật (văn hóa phươngĐông), nhưng do những nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau,việc giao lưu văn hóa với Nhật (nhất là về văn học) vẫn còn rất hạn chế Phảiđến những năm gần đây, trong xu thế hội nhập, mối quan hệ giao lưu này mớithật sự được chú ý Theo đó, thơ Hai-cư của Nhật mới bắt đầu được chúng tabiết đến và trong lần thay sách giáo khoa gần đây nhất, thơ Hai-cư mới đượcchính thức đưa vào chương trình ở cấp Trung học phổ thông
Mặc dù chỉ chiếm một tỉ lệ rất khiêm nhường (2 tiết cho chương trìnhNgữ Văn 10 Nâng cao, và 1 tiết đọc thêm cho chương trình Ngữ văn 10 Cơbản) nhưng thơ Hai-cư thuộc phần những nội dung mới và khó, không chỉ đốivới học sinh mà ngay cả đối với giáo viên Chính vì thế, để tiếp cận, giảngdạy tốt phần nội dung này đòi hỏi một sự nỗ lực, đầu tư khá lớn của giáoviên Trong khi đó, hiện nay những tư liệu có liên quan đến thơ Hai-cư(những tư liệu bằng tiếng Việt) vẫn còn rất hạn chế, khó tiếp cận (vì số lượngxuất bản không nhiều)
Chọn đề tài “Kinh nghiệm giảng dạy phần thơ Hai-cư trong chương trình Ngữ văn 10” người viết muốn chia sẻ một số kiến thức về thơ Hai-cư
đã tích lũy được cũng như những kinh nghiệm bước đầu trong quá trình giảngdạy phần thơ Hai-cư Hi vọng chuyên đề có thể góp thêm một tư liệu hữu íchcho các đồng nghiệp trong công tác chuyên môn của mình
2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Qua đề tài này, tôi muốn cung cấp cho học sinh kiến thức cơ bản vềthơ Hai-cư của Nhật Bản, đồng thời giúp học sinh biết cách phân tích, khámphá thơ Hai-cư Không những thế, từ đề tài này tôi muốn giúp học sinh chủđộng, sáng tạo, tích cực trong việc chiếm lĩnh tác phẩm, hiểu giá trị tác phẩm,
có một cái nhìn khách quan trong việc thẩm định, bình giá các giá trị nghệthuật này
3 Giới hạn của đề tài:
Nghiên cứu phần thơ Hai-cư trong chương trình Ngữ văn 10 để thấyđược cái hay, cái tinh tế, lãng mạn tác phẩm phục vụ giảng dạy phần thơ Hai-
cư Ngữ văn 10
4 Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu lý luận chung, sau đó chỉ ra các kiến thức cụ thể trong tác phẩm.Phương pháp phân tích, so sánh
Phương pháp tổng hợp, khái quát
NỘI DUNG
Trang 3I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THƠ HAI- CƯ
1 Nguồn gốc và quá trình phát triển:
Thơ hai-cư được hình thành trên cơ sở thể thơ Tanka (còn gọi là Đoản
ca, hay Wa-ka) một thể thơ dân tộc của Nhật, xuất hiện từ rất sớm, vàokhoảng thế kỉ III
Mỗi bài Tanka gồm 31 âm tiết, chia làm 2 vế, vế đầu gồm 17 âm tiết,sắp xếp thành 3 dòng (5 – 7 – 5) và vế sau gồm 14 âm tiết, sắp xếp thành 2dòng (7 – 7)
Khoảng thế kỉ XVI, một số người đã tách vế đầu 17 âm tiết của thểTanka ra thành một bài thơ độc lập Đó chính là thể thơ Hai-cư
Đến thế kỉ XVII, Matsuo Bashô đã cách tân thể thơ này, đưa nó đạtđến đỉnh cao nghệ thuật Và sau đó, hàng loạt các nhà thơ tài năng như Y.Buson (1716 – 1783), K Issa (1763 – 1827), M Shiki (1867 – 1902),… đãtiếp tục cách tân, đưa thể thơ này phát triển mạnh mẽ
Cho đến nay, thơ Hai-cư vẫn được người Nhật yêu thích và sáng tác.Không chỉ phát triển trong nước, Hai-cư còn được đón nhận ở nhiều nướctrên thế giới Nhiều nhà thơ nước ngoài đã tiếp thu và sáng tác Hai-cư bằngngôn ngữ của dân tộc mình và thơ Hai-cư đã trở thành một thể thơ quốc tế
2 Một số đặc trưng cơ bản
2.1 Về hình thức
Hai-cư là thể thơ vào loại ngắn nhất thế giới, thường chỉ có 17 âm tiết,được tách làm 3 dòng theo thứ tự thường là 5 âm – 7 âm – 5 âm Trongnguyên bản tiếng Nhật, 17 âm tiết đó thường được viết thành một hàng, khiphiên âm La-tinh thì được ngắt làm 3 Tiếng Nhật lại là ngôn ngữ đa âm tiết,nên 17 âm tiết ấy thực ra chỉ có mấy từ (thường là không quá 12 – 13 từ)
2.2 Về đề tài
Hai-cư là một trong những hiện thân tâm hồn Nhật Bản, một tâm hồnluôn yêu say, ngưỡng vọng, hòa nhập cùng thiên nhiên vũ trụ, thậm chí đượcnâng lên thành Đạo Hoa đạo ở Nhật là một minh chứng cho điều này Chính
vì thế, thiên nhiên là đề tài chiếm tỉ lệ khá cao trong thơ hai-cư Nhiều nhànghiên cứu cho rằng: “Hai-cư luôn gắn bó với thiên nhiên”, “Haiku là tiếng
hát của bốn mùa” (Nhật Chiêu, Nhật Bản trong chiếc gương soi, NXB Giáo
dục, 2003) Đặc biệt, trong thế giới thiên nhiên vô cùng phong phú ấy, Hai-cưlại thiên về ưa chuộng những sự vật, những sinh vật nhỏ bé, đơn sơ, bình dị,thậm chí tầm thường Đó có thể là một cành hoa dại, một giọt sương mai, mộtvài bụi cám,…; đó có thể là một con quạ đen, một chú khỉ con, một con ốcnhỏ,… Tuy nhiên, trong những thứ nhỏ bé, tầm thường ấy vẫn ngầm chứabao triết lí nhân sinh to lớn, nhiệm mầu
2.3 Về ngôn ngữ
Trang 4Hai-cư Nhật Bản hầu như rất ít khi sử dụng những tính từ, trạng từ
miêu tả để cụ thể hóa sự vật Chẳg hạn tả trăng thì thường chỉ là “trăng” thế
thôi
Ôi con thủy điểu
mổ tan vầng trăng trên mặt nước đầm
(Zuiryu)
Từ bóng tối đầy của đời chợt mọc vầng trăng hôm nay
(Nangai)
Hay khi tả hoa (nói đến hoa là nói đến màu sắc) thì Hai-cư cũng chỉ có
“hoa” (hana) hoặc gọi tên các loài hoa như “anh đào” (sakura), “triêu nhan” (asagao), “hoa Bụt” (mukuge), … chứ ít khi tả màu sắc hoặc dáng vẻ
của hoa
Từ cây hoa nào
mà ta không biết một làn hương trao
(Bashô)
Hoa đào hoa đào trong tâm tưởng gieo rắt biết bao nhiêu điều
Việc sử dụng kigo (quý ngữ – tức là từ chỉ một mùa nào đó trong năm)
cũng là một đặc trưng về mặt ngôn ngữ của Hai-cư Trong bất cứ bài Hai-cưnào cũng có kigo Đó hầu như đã trở thành một quy tắc bắt buộc Bởi thế,trong các bộ sưu tập, tuyển tập Hai-cư, người ta thường sắp xếp các bài thơtheo mùa mà nó đề cập Kigo có thể là những từ ngữ chỉ mùa cụ thể như:Haru (mùa xuân), natsu (mùa hạ), aki (mùa thu), fuyu (mùa đông); cũng cóthể là những từ ngữ chỉ mùa một cách gián tiếp Chẳng hạn sakura (hoa đào),awazu (con ếch),… chỉ mùa xuân; hototogisu (chim đỗ quyên), semi (conve),… chỉ mùa hè; hagi (hoa thu),… chỉ mùa thu; yuki (tuyết),… chỉ mùađông …v.v Chính đặc điểm này cho thấy “Hai-cư bao giờ cũng nói về cảnhvật trước mắt, nó là thơ của hiện tại […] thể hiện sâu sắc sự gắn bó của người
Nhật với thiên nhiên” (Đoàn Lê Giang - SGV Ngữ Văn 10, Cơ bản, NXB
Giáo dục, 2006)
2.4 Về cái nhìn nghệ thuật
Trang 5Thơ Hai-cư thấm đẫm tinh thần Thiền tông nên cái nhìn nghệ thuật của
Hai-cư cũng là cái nhìn Thiền, “cái nhìn nhất thể hóa” Đó là cái nhìn thấy
con người với vạn vật là cùng một bản thể (tức chân như), trong mỗi sự vật
dù nhỏ nhoi đến đâu đều có mang tính vũ trụ, đều mang Phật tính và hiện rabình đẳng vô sai biệt
Nền đá hoang tàn lung linh bóng nắng Phật hiện dung nhan.
(Bashô)
Bài thơ này được Bashô sáng tác khi hành hương đến một ngôi chùa ởAwa Đây là một ngôi chùa hoang phế, nền đá trống trải, trơ trọi, không còndấu vết một pho tượng Phật nào Thế nhưng có hề chi, Bashô vẫn có thểchiêm bái dung nhan Phật ẩn hiện trong bóng nắng lung linh của mùa xuân
ấm áp ấy Với Bashô, nắng xuân tự hóa thân thành Bụt
Nếu Bashô thấy Bụt trong bóng nắng thì Issa thấy Bụt trong ngàn giọtsương rơi, ngàn tiếng ve trổi:
Ngàn giọt sương rơi ngàn tiếng ve trổi Bụt nhà thế thôi.
thấy dung nhan Phật Đà trong con ốc nhỏ:
Cố hương ta!
ôi con ốc nhỏ dung nhan Phật Đà.
Còn Kubutsu thì thấy dung nhan Phật Đà trong những cánh hoa đàođang rơi, trong hình ảnh em bé đang há miệng nhìn:
Anh đào rơi hoa
em bé nhìn miệng há dung nhan Phật Đà.
Rõ ràng, dưới cái nhìn của thơ Hai-cư, mọi thứ đều có Phật tính, cả conngười (em bé), cả những sinh vật nhỏ bé, vô ngôn (con ốc), cả những vật vôtri, vô giác (giọt sương, bóng nắng, bông hoa)… Nói như nhà nghiên cứuNhật Chiêu: “Chính ở nơi những chúng sinh nhỏ bé, im lặng, vô ngôn nét từ
bi mới rạng ngời mầu nhiệm” (Ba nghìn thế giới thơm, NXB Văn nghệ,
2007)
Xuất phát từ “cái nhìn nhất thể hóa” ấy, Hai-cư thường biểu hiện mốiquan hệ tương tác, chuyển hóa, hòa điệu sâu xa giữa các sự vật hiện tượngtrong thế giới hữu hình lẫn vô hình
Tịch liêu thấm xuyên vào đá tiếng ve kêu.
(Bashô)
Tiếng ve đang thấm xuyên vào đá hay nỗi tịch liêu thấm xuyên vào đá?
Có lẽ là cả hai Cả thế giới vô hình (nỗi tịch liêu, âm thanh tiếng ve) và hữu
Trang 6hình (đá) đều có thể xuyên thấm vào nhau, tương tác lẫn nhau Ta có cảmgiác âm thanh của tiếng ve cùng với nỗi tịch liêu như làm cho cả đá núi cũngtan ra để rồi tất cả cùng hòa vào nhau tạo thành “cái Một” Một trong nhữngtriết lí của Thiền là tất cả trở về “cái Một” Và một nghịch lí tuyệt diệu củanghệ thuật Thiền là: “Một trong Tất cả và Tất cả trong Một”.
Đây lại là một phát hiện khác đầy bất ngờ, thú vị của nhà thơ – họa sĩBuson:
Gió chiều thu mặt nước nhẹ nhàng liếm chân con cò.
Với cái nhìn theo logíc suy lí thông thường, mặt nước vốn là cái bấtđộng, vô tri; con cò là động vật, có sự vận động Như vậy, nếu có một sự tácđộng nào đó xảy ra thì chủ thể hành động phải là con cò Ở đây lại là sựngược lại Không phải con cò giẫm chân hay đá chân vào mặt nước mà là mặtnuớc liếm chân con cò Thật bất ngờ mà cũng thật thú vị biết bao!
Ở trên là sự tương tác, hòa điệu giữa các sự vật, hiện tượng trong tựnhiên Trong con mắt của nhà Thiền, con người cũng chỉ là một bộ phận của
tự nhiên, một “tiểu vũ trụ” trong cái “đại vũ trụ” ấy Và con người cũng cómột quyền năng đặc biệt, có thể tác động vào tự nhiên, có thể làm vận hành
cả cái bánh xe tự nhiên khổng lồ ấy Hãy xem cái sức mạnh ấy phát ra từtiếng vỗ bàn tay của nhà thơ - Thiền sư Bashô:
Tôi vỗ bàn tay dưới trăng mùa hạ tiếng dội về, ban mai!
Có gì liên hệ chăng giữa tiếng vỗ của bàn tay và ánh ban mai mọc?Nhìn dưới con mắt thông thường, hai hiện tượng ấy chẳng có gì liên quan vớinhau Thế nhưng, dưới cái nhìn Thiền, Bashô có cảm giác như tiếng vỗ taycủa mình đã gọi dậy, đã làm thức dậy ánh ban mai Đó là ánh ban mai, ánhsáng của vũ trụ, của tự nhiên hay đó cũng chính là ánh sáng trong tâm hồnnhà thơ? Nhà nghiên cứu Nhật Chiêu có lời bình rất hay về bài thơ: “Với âmvang đó, ánh ban mai đã mọc Như thể vũ trụ đang trả lời Hay đúng ra, ánhsáng ấy ở ngay trong Bashô, không phân biệt với ánh sáng bên ngoài và nó
đang trả lời tiếng vỗ tay của chính ông.” (Ba nghìn thế giới thơm, NXB Văn
nghệ, 2007)
2.5 Về cảm thức thẩm mĩ
Ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng, triết lí Thiền tông, cảm thức thẩm mĩ
trong hai-cư cũng mang đậm màu sắc Thiền Có thể tạm gọi đó là cảm thức thẩm mĩ Thiền, là loại cảm thức thẩm mĩ thiên về coi trọng, đề cao cái đẹp thanh nhã, tịch lặng, giản khiết, bình đạm Do đó, bốn nguyên tắc mĩ học
thường được nhắc đến trong thơ hai-cư nói riêng, văn học nghệ thuật Nhật
bản nói chung là: Sabi (tịch lặng), Wabi (đơn sơ), Yugen (u huyền) và Karumi (nhẹ nhàng).
Trang 7Chính cảm thức thẩm mĩ ấy đã chi phối cách lựa chọn màu sắc, âmthanh, đường nét, chuyển động,… trong miêu tả, phản ánh con người cũngnhư ngoại vật.
Nhật Bản là đất nước của Mặt trời Mặt trời được người Nhật tôn kính,sùng bái, được lấy làm biểu tượng của quốc kì Thế nhưng trong thơ Hai-cưrất ít khi xuất hiện hình ảnh Mặt trời mà lại tràn ngập hình ảnh ánh trăng Rõràng cảm thức thẩm mĩ Thiền đã chi phối rất lớn trong việc chọn lựa màu sắc,
âm thanh, hình ảnh trong thơ Hai-cư
Đó là tiếng chuông nhưng cũng không là tiếng chuông vang vọng haytiếng chuông trầm lắng…chỉ có chuông, có tiếng chuông:
Hoa đào như áng mây xa chuông từ Ueno đến?
hay từ Asakusa?
(Bashô)
Trên chuông chùa một con bướm đậu nghiêng mình ngủ mơ.
(Garaku)
Một lần nữa có thể khẳng định chính cảm thức thẩm mĩ thiền đã tạocho Hai-cư Nhật Bản một thế giới nghệ thuật với những đặc trưng thẩm mĩriêng biệt, độc đáo, không thể lẫn lộn
2.6 Không gian và thời gian nghệ thuật
2.6.1 Về không gian
Không gian trong Hai-cư thường là một không gian nhỏ bé Đó có thểchỉ là tàu lá chuối, nơi con ếch đang đánh đu:
Con ếch xanh trên tàu lá chuối đánh đu một mình
(Kikaku)
Trang 8là một cái bóng cây, nơi nhà thơ đang trú mưa cùng bướm:
Dưới bóng cây trú mưa cùng bướm duyên trần ai hay
(Issa)
Trong Hai-cư cũng có những không gian bao la, rộng lớn Nhưng đóvẫn là cái bao la, rộng lớn trong tầm mắt quan sát của con người chứ khôngphải cái bao la đến vô cùng tận mà với con mắt thường khó có thể quan sátđược Đấy là bầu trời bao la với những tầng mây trắng, nơi chim vân tướcđang hát ca:
Vượt qua những tầng mây trắng vân tước hát ca
(Kyoroku)
đấy là biển khơi bao la đang hiện ra trước mắt Issa:
Biển khơi khi tôi nhìn thấy biển
Mẹ tôi ơi!
Đặc biệt, không gian trong thơ Hai-cư Nhật Bản luôn luôn là khônggian hiện thực Đó là một không gian cụ thể, sinh động, đang hiện ra trướcmắt nhà thơ; một không gian hoàn toàn tự nhiên như từ hiện thực đi thẳngvào thơ mà không qua sự điều chỉnh (phóng to hay thu nhỏ) theo cảm nhậnchủ quan của nhà thơ
2.6.2 Về thời gian
Thời gian trong thơ Hai-cư là thời gian hiện thực Đấy là thời gian củamột mùa nào đó trong năm (hoặc xuân, hoặc hạ, hoặc thu, hoặc đông) màmỗi bài thơ Hai-cư đều phải đề cập
Hai-cư vẫn được gọi là “thơ của khoảnh khắc” Tuy nhiên, cái “khoảnhkhắc” trong Hai-cư cũng không phải là cái khoảnh khắc, cái ngắn ngủi theocảm nhận chủ quan của nhà thơ mà nó là cái khoảnh khắc của hiện thực như
nó vốn vậy Đó là khoảnh khắc nhà thơ nhìn vào một sư vật, một hiện tượng
cụ thể trong thế giới hiện thực Nói chính xác hơn, đó là cái khoảnh khắc tâm
và vật gặp nhau và kết quả là bài Hai-cư được tạo thành ngay tức khắc Đấy
là cái khoảnh khắc con ếch nhảy vào ao, cánh bướm đang ngủ mơ trênchuông chùa, con ốc nhỏ đang trèo đỉnh Fuji, cái khoảnh khắc mặt nước đangliếm chân con cò, giọt sương đang tan trên lá … Tất cả là hiện thực, là cái
“đang là”, là “tự nhiên nhi nhiên”
Tóm lại, không gian, thời gian trong thơ Hai-cư luôn luôn là khônggian, thời gian của hiện thực khách quan, hầu như không chịu sự chi phối củachủ quan nhà thơ, mặc dù, xét đến cùng, bất cứ hình tượng nghệ thuật nàomột khi đã đi vào văn chương đều phải qua con con mắt, qua cảm nhận củacon người
2.7 Về bút pháp
Trang 9Hai-cư luôn sử dụng bút pháp tả thực Ngay khi trong hai-cư có xuấthiện hình ảnh “vầng trăng trong nước”, một hình ảnh thường được sử dụngvới ý nghĩa tượng trưng chỉ những cái hư ảo, không có thực, thì đấy cũng làhình ảnh thực chứ không phải hình ảnh ẩn dụ, tượng trưng Thử so sánh haicâu thơ của Đạo Hạnh và Minh Trí của thơ Thiền Việt Nam:
Hữu không như thủy nguyệt Vật trước hữu không không
(Hữu không – Đạo Hạnh)
(Có và không giống như ánh trăng trong nước Đừng nên bám vào “có”, cũng đừng cho cái “không” là không)
(Có và không)
Tùng phong thủy nguyệt minh
Vô ảnh diệc vô hình
(Tâm hưởng – Minh Trí)
(Gió trên cành thông, trăng sáng dưới nước Không có bóng cũng không có hình)
Trang 10hai-cư đơn sơ mà huyền diệu ấy Chả trách Thi tiên Lí Bạch của Trung Quốc,trong lúc ngà say, đã nhảy cả xuống sông mà ôm lấy vầng trăng.
Hai-cư thường tạo ra sự bất ngờ, đột phá ở dòng thơ thứ ba Đó có thể
là một hình ảnh, một sự việc hoàn toàn khác hẳn sự liên tưởng, tưởng tượng,
dự đoán của người đọc có được trên cơ sở hai dòng thơ đầu; hoặc là một sựđột nhiên chuyển mạch, làm thay đổi cảm xúc nơi người đọc Chẳng hạn,trong một bài thơ của Issa, hai dòng đầu:
Tuyết tan mùa thôn làng tràn ngập
gợi người ta liên tưởng đến một tai ách: lụt lội do nước lũ từ băng tuyếttan gây ra, thì dòng thơ thứ ba lại là:
một bầy trẻ thơ.
Thật bất ngờ và cũng thật thú vị, dòng thơ đã đưa đến một hình ảnhhoàn toàn mới mẻ, phá tan cảnh tượng được gợi lên từ hai dòng đầu
Hay một bài thơ khác của Ryokan cũng có kết cấu như thế Hai dòngđầu:
Tên trộm đi rồi
bỏ quên nơi cửa sổ
gợi người ta liên tưởng đến một đồ vật, một dấu tích – chứng cớ phạmtội – nào đó Thì thật bất ngờ và thú vị làm sao khi nơi cửa sổ kia lại là:
một vầng trăng soi.
Vầng trăng tròn đầy, viên mãn, sáng trong của vũ trụ đang soi chiếungoài cửa sổ hay đấy cũng chính là tâm hồn trong sáng, rạng ngời, vô tư, hồnnhiên đến thánh thiện – một tâm hồn trẻ thơ – của thi sĩ Đại Ngu đang soichiếu vào tâm hồn của mỗi chúng ta?
Có thể nói, chính bút pháp ấy đã tạo nên hiệu quả nghệ thuật đặc sắc
Nó đem đến cho người đọc những cảm xúc mới mẻ, bất ngờ, đầy thú vị nhưđang đi trên một con đường mới mà bất cứ khi nào cũng có thể đột ngột rẽhướng, đột ngột đổi chiều Và nơi những chiều hướng mới ấy lại đầy nhữnghoa thơm cỏ lạ
2.8 Về kết cấu
Thứ nhất, hai-cư không có sự cân đối, hài hòa, đều đặn Một bài hai-cưgồm 17 âm tiết (số lẻ), được chia làm 3 dòng (cũng là số lẻ) dài ngắn khôngđều nhau (5/7/5 âm tiết) Kết cấu như thế gợi lên một cái gì còn dở dang,chưa hoàn thành, một sự trống vắng cần được tiếp tục lấp đầy
Thứ hai, tất cả đều không có tựa đề Nghĩa là nó chưa được định danh.Mỗi bài thơ như một chiếc lá vẫn còn tươi nguyên, hoà trong tự nhiên Vànhư thế, mỗi người đến với Hai-cư đều có thể cảm nhận, chiêm ngưỡngchúng theo cách riêng của mình mà không bị sự chi phối bởi chủ ý của tácgiả
Cuối cùng, xét trên đơn vị câu (dòng) thơ, mỗi dòng thơ trong một bàiHai-cư không phải là một cấu trúc ngữ pháp độc lập, nếu đứng một mình, nókhông thể có được ý nghĩa cụ thể, trọn vẹn Chính vì thế, khi phân tích, cảm
Trang 11nhận thơ Hai-cư không thể lần lượt phân tích, cảm nhận từng dòng thơ màphải luôn đặt các hình ảnh (được gợi lên ở mỗi dòng thơ) trong mối tươngquan lẫn nhau và trong sự thống nhất của toàn bài
2.9 Về vần điệu và nhịp điệu
Khác xa với thơ Việt Nam và thơ của nhiều nước trên thế giới, Hai-cưNhật Bản không sử dụng vần điệu, nhịp điệu như một yếu tố nghệ thuật Kếtcấu 5/7/5 âm tiết không hẳn là nhịp điệu của mỗi bài thơ Do đó, mỗi bài thơđọc lên nghe như một câu văn xuôi
Lưu ý: Trong bản dịch của Nhật Chiêu và một số dịch giả khác, mỗibài Hai-cư đều như có vần điệu, đó là do các dịch giả đã cố tình Việt hóa mộtthể thơ quá xa lạ với truyền thống thơ ca của dân tộc, tạo sự gần gũi, quenthuộc trong tâm lí tiếp nhận của độc giả Việt Nam
II MỘT VÀI LƯU Ý KHI GIẢNG DẠY THƠ HAI-CƯ
1 Vấn đề tích hợp văn hóa.
Bất cứ một tác phẩm nghệ thuật nào cũng mang dấu ấn của một nềnvăn hóa nhất định Do đó, không thể hiểu, cảm được một cách sâu sắc cáihay, cái đẹp, cái sâu xa, ý vị của một tác phẩm nghệ thuật nếu không am hiểu
gì về nền văn hóa đã sinh thành ra nó Chính vì thế, để tiếp cận hai-cư (màngười Nhật còn gọi là “Hài cú đạo”), một thể thơ được đánh giá “là tinh hoa
của văn hóa Nhật Bản” (Lưu Đức Trung, Haiku – hoa thời gian, NXB Giáo
dục, 2007) bên cạnh hoa đạo, trà đạo, vườn đá, sân khấu nô,… không thểkhông có sự hiểu biết nhất định về văn hóa Nhật Bản
Nói đến văn hóa phương Đông cũng không thể không kể đến ảnhhưởng, chi phối mạnh mẽ của tư tưởng, tinh thần Thiền tông Về nguồn gốc,Thiền tông Nhật Bản cũng như Việt Nam đều chủ yếu được du nhập từ TrungQuốc, nhưng nếu ở Trung Quốc, Thiền tông vẫn chủ yếu tồn tại ở dạng họcthuyết tôn giáo thì Thiền tông ở Nhật Bản đã thấm sâu vào văn hóa cũng nhưđời sống con người Riêng trong lĩnh vực văn học, có thể nói tinh thần, mĩhọc Thiền đã ảnh hưởng trên mọi mặt từ đề tài đến nội dung và cả hình thứcnghệ thuật của thể thơ Hai-cư (một thể loại được xem là mang đậm nhất dấu
ấn Thiền tông) thậm chí nhiều nhà nghiên cứu Hai-cư còn cho rằng mỗi bàiHai-cư như một phút “hoát nhiên đại ngộ” của Thiền giả
Về đời sống tinh thần, người Nhật rất yêu thích thiên nhiên Tâm hồn
họ luôn hướng về vẻ đẹp thiên nhiên Nhà nghiên cứu người Mĩ, P.I Smeethtrong cuốn thiên nhiên Nhật, đã có nhận xét: “Cảm xúc về cái đẹp, khuynhhướng chiêm ngưỡng vẻ đẹp là đặc trưng tiêu biểu cho mọi người Nhật – từngười nông phu cho đến nhà quí tộc Bất cứ người nông dân Nhật Bản bìnhthường nào cũng là một nhà mĩ học, một nghệ sĩ biết cảm thụ cái đẹp từ trongthiên nhiên”
Về điều kiện tự nhiên, Nhật Bản là một đất nước luôn luôn phải đốimặt với những khắc nghiệt của tự nhiên: động đất, núi lửa, sóng thần, bãotuyết,… thường xuyên xảy ra Chính điều kiện tự nhiên ấy tạo cho người