1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận vẻ đẹp thiện nhiên trong thơ nguyễn trãi

16 3,3K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tìm hiểu kho tàng thơ ca của Nguyễn Trãi để lại cho hậu thế, chúng ta có thể thấy nét đặc sắc trong những bài thơ của ông, đặc biệt là những bài thơ về thiên nhiên.. Thiên nhiên gắn với

Trang 1

I Mở bài.

Nguyễn Trãi là bậc đại anh hùng dân tộc và là một nhân vật toàn tài hiếm có của lịch sử Việt Nam trong thời đại phong kiến Tìm hiểu kho tàng thơ ca của Nguyễn Trãi để lại cho hậu thế, chúng ta có thể thấy nét đặc sắc trong những bài thơ của ông, đặc biệt là những bài thơ về thiên nhiên Với truyền thống thi ca trung đại “cổ thi thiên ái thiên nhiên mỹ” (Hồ Chí Minh), những bài thơ của Nguyễn Trãi dành một số lượng khá lớn viết về thiên nhiên Thiên nhiên gắn với cuộc đời thăng trầm đầy bi kịch của Nguyễn Trãi, thể hiện tâm tư của chính nhà thơ trong những hoàn cảnh khác nhau, là bản trường ca ngàn đời của người anh hùng, của một nhà tư tưởng, nhà văn hóa lớn

“Tuyết sương thấy đã đặng nhiều ngày

Có thuốc trường sinh càng khoẻ thay

Hổ phách phục linh nhìn mấy biết

Dành, còn để trợ dân này.”

Những câu thơ Nguyễn Trãi viết trong bài thơ “Tùng” như sự khẳng định nhân cách của chính ông, một con người cả đời canh cánh nỗi lòng “ưu quốc ái dân” Nguyễn Trãi tìm

về thiên nhiên, để lại hàng trăm bài thơ chữ Hán và chữ Nôm, hầu như bài thơ nào cũng toát lên vẻ đẹp lồng lộng thanh cao và cứng cỏi như dáng tùng vững chãi giữa tuyết sương, soi chiếu tâm tư của chính nhà thơ Trong buổi đầu của nền thi ca trung đại Việt Nam, Nguyễn Trãi đã tạo dựng nên một kiểu nhà nho – nghệ sĩ đích thực, khi tâm hồn ông hoà quyện với từng vẻ đẹp đất nước, rung động trước non nước mây trời, cỏ cây hoa

lá để người đời sau hình dung đầy đủ diện mạo của con người có tấm lòng sáng tựa “sao Khuê buổi sớm” ấy Lúc làm quan giữa triều, khi về ở ẩn sống đời thanh bần giữa núi rừng, dù ở đâu thiên nhiên vẫn chiếm một địa vị quan trọng, một người bạn tâm giao để Nguyễn Trãi kí thác nỗi lòng luôn quặn thắt những ưu tư thời thế:

Non cao non thấp mây thuộc

Cây cứng cây mềm gió hay

Trang 2

Ngoài chưng mọi chốn đều thông hết

Bui một lòng người cực hiểm thay

(Mạn Thuật IV)

“Trâu chết để da, người chết để tiếng”, cái tiếng tăm lẫy lừng mà Ức Trai để lại cho hậu thế thật là đời đời khó phai Tìm hiểu vẻ đẹp thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi giúp

ta yêu hơn quê hương đất Việt, hiểu hơn tấm lòng trung quân ái quốc cũng như sự nhạy cảm, tinh tế của thi sĩ, qua đó tự hào về nền văn hóa dân tộc

Trang 3

II Thân bài.

Thơ Nguyễn Trãi đã dành cho thiên nhiên một địa vị cao sang Màu xanh của cỏ, tiếng rì rầm của suối, bóng thông ven núi, tiếng cuốc gọi hè, vầng trăng soi vào chén rượu, cây chuối, cành mai, hoa sen trong đầm, hoa lựu thắp đỏ ngoài hiên… đã đi vào thơ

Ức Trai như một phần của tâm hồn thi sĩ “Trại đầu xuân độ” là một bài thơ xuân đẹp như đóa hoa rực rỡ ngát hương trong “Ức Trai thi tập”

Độ đầu xuân thảo lục như yên,

Xuân vũ thiêm lai thuỷ phách thiên

Dã kính hoang lương hành khách thiểu,

Cô châu trấn nhật các sa miên

Bài thơ tả cảnh một ngày mưa xuân trên bến đò đầu trại Cảnh vật như mờ đi, chìm đi trong một không gian bao la tĩnh lặng Ức Trai đã viết bài thơ này trong những tháng năm sống ở Côn Sơn Bao trùm lên không gian, lên bến đò là một màu xanh thẫm như khói của cỏ xuân Vì đã cuối xuân nên sắc cỏ xanh rì, đứng xa thấy thảm cỏ xanh như khói Nhà thơ đã sử dụng biện pháp tu từ so sánh tạo nên một hình ảnh cụ thể ca ngợi vẻ đẹp và sức sống của mùa xuân thôn dã nơi bến đò đầu trại: “Cỏ xanh như khói bến xuân tươi” Câu thứ hai tả dòng sông với những con sóng “nước vỗ trời” (thuỷ phách thiên) Vì đã cuối xuân, trời mưa nhiều nặng hạt chuẩn bị cho những trận mưa rào đầu hè Nước dòng sông dâng lên Trời mưa, gió thổi, đứng xa ngắm cảnh thấy trên mặt sông nước bắn lên,

vỗ lên ngang trời Đó là một nét vẽ thậm xưng đặc tả con sóng trên dòng sông xuân một ngày mưa Con sóng ấy, hình ảnh “nước vỗ trời” ấy biểu tượng cho sức sống mãnh liệt của mùa xuân: “Lại có mưa xuân nước vỗ trời” Mưa xuân là nét đặc trưng của mùa xuân Việt Nam bao trùm vạn vật, điều đó ai cũng có thể thấy được, nhưng cảm nhận “nước vỗ trời” trên dòng sông xuân, sự vận động của mùa xuân, bước đi của mùa xuân thì chỉ riêng

Ức Trai mới biết đến và có một lối nói rất thơ Hình ảnh trung tâm của “Bến đò xuân đầu trại” nằm ở câu thơ cuối: “Cô châu trấn nhật các sa miên” (Thuyền mồ côi suốt ngày gác đầu lên bãi mà ngủ) Trời mưa, không có khách qua đò Con đò nay trở thành mồ côi, đơn độc Con đò được nhân hóa đang nằm ngủ an nhan, ngon lành, gối đầu lên bãi cát mà

Trang 4

ngủ Mỗi câu thơ đầy thi vị, thơ mộng Con thuyền, con đò là hình ảnh được nói nhiều trong thơ Nguyễn Trãi Và hầu như lúc nào cũng làm cho người đọc liên tưởng đến tâm tình nhà thơ trong những tháng ngày dài đi ở ẩn: nhàn tản, thư thái, ung dung:

- “Nước biếc non xanh, thuyền gối bãi,

Đêm thanh nguyệt bạc, khách lên lầu”

- “Hương cách gác vân thu lạnh lạnh

Thuyền kề bãi tuyết nguỵệt chênh chênh…”

- “ Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc,

Thuyền chở yên hà nặng vạy then”

(Quốc âm thi tập)

Với thể thơ thất ngôn tứ tuyệt “Trại đầu xuân độ”, Nguyễn Trãi đã khắc họa cảnh vật để tạo nên bức tranh xuân hữu tình: màu xanh của cỏ, mặt sông vỗ sóng, con đường nội, con đò mồ côi nằm ngủ Các biện pháp tu từ như so sánh, thậm xưng, nhân hóa được vận dụng tinh tế, nhằm tạo hình và gợi cảm Khung cảnh tĩnh lặng, bình yên, thoáng một nỗi buồn cô đơn Tâm sự của nhà thơ được giãi bày kín đáo qua những vần thơ trong sáng nhẹ nhàng, thơ mộng Một bức tranh xuân xinh xắn, điển hình cho mùa xuân làng quê trong thế kỷ XV Bài thơ xuân đẹp đến kì lạ, là một mùa xuân rất riêng của Ức Trai, nhưng cũng là mùa xuân chung của đất nước, làm ta yêu thêm mùa xuân quê nhà

Vẻ đẹp thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi hiện lên với nhiều cung bậc Nếu như

“Trại đầu xuân độ” thể hiện sự tinh tế, nhàn nhã của thiên nhiên trong thơ Ức Trai thì

“Bạch Ðằng hải khẩu” thể hiện chí khí của người anh hùng trong Ức Trai, bao trùm toàn bài thơ là cảm hứng lịch sử, là niềm tự hào dân tộc Nguyễn Trãi đến thăm cửa biển Bạch Đằng với cánh buồm thơ lộng gió tâm hồn thi sĩ Gió bấc thổi mạnh trên mặt biển Hình ảnh “cánh buồm thơ nhẹ” là một nét vẽ thần tình và tài hoa:

“Sóc phong xung hải khí lăng lăng,

Khinh khởi ngâm phàm quá Bạch Ðằng.”

Trang 5

Ngắm biển trời bát ngát mênh mông, nhà thơ xúc động miêu tả cảnh núi non, bờ bãi nơi cửa biển Bạch Đằng bằng hai nét vẽ ẩn dụ hoành tráng, cái cao cái thấp, cái gần cái

xa, đăng đối gợi cảm:

“Ngạc đoạn kình khoa sơn khúc khúc,

Qua trầm kích chiết ngạn tằng tằng.”

Núi nhấp nhô từng khúc như cá sấu bị chặt, cá kình bị mổ Kình ngạc tượng trưng cho lũ giặc dữ, Nguyễn Trải chỉ ra lũ giặc phương Bắc bị quân ta tiêu diệt trên Bạch Đằng Giang Bờ bãi lớp lớp như giáo gươm bị chìm gãy chồng chất lên, là hình ảnh ẩn dụ gợi

tả sự thất trận của lũ giặc Nam Hán, giặc Tống, giặc Nguyên Mông thuở nào Hai câu thơ

có hình tượng kỳ vĩ, hàm súc giàu chất liên tưởng, mang cảm hứng lịch sử oai hùng Sông Bạch Đằng, cửa biển Bạch Đằng là tử địa quân xâm lược phương Bắc:

“Bạch Đằng một cõi chiến tràng

Xương phơi trắng đất, máu màng đỏ sông”

(Đại Nam Quốc sử diễn ca)

Nguyễn Trãi nhận ra những mối tương quan trời đất và con người khi suy ngẫm trước cảnh trời đất vô cùng, ngậm ngùi cho mối hận anh hùng, suy ngẫm về gốc rễ vững bền của đất nước, trong bài thơ “Quan hải” ông đã khẳng định :

“Phúc chu thủy tín dân do thuỷ

Thị hiểm nan bằng mệnh tại thiên

Hoạ phúc hữu môi phi nhất nhật

Anh hùng di hận kỉ thiên niên.”

Có lẽ chưa ai nhìn thiên nhiên đất trời mà luận anh hùng sâu sắc như Nguyễn Trãi, anh hùng là phẩm chất cá nhân, nhưng muốn thành nghiệp lớn phải gắn với nhân dân như thuyền với nước, đều này cho thấy tư tưởng tiến bộ của Nguyễn Trãi trước khuôn khổ gò

bó của lễ giáo phong kiến đương thời

Trang 6

Những câu thơ tiếp của “Bạch Ðằng hải khẩu” trở nên sâu lắng trong suy tưởng Nguyễn Trãi khẳng định quan hà hiểm yếu Sông Bạch Đằng hiểm yếu do thiên nhiên sắp đặt ra Cũng là nơi để bậc anh hùng dụng binh chống giặc, lập nên bao chiến công lừng lẫy: “Tiếng thơm đồn mãi – Bia miệng chẳng mòn” (Trương Hán Siêu) Phép đối tạo nên vần thơ đẹp, ca ngợi núi sông hiểm trở, dân tộc Đại Việt có nhiều anh hùng hào kiệt:

“Quan hà bách nhị do thiên thiết,

Hào kiệt công danh thử địa tằng”

Tên tuổi những anh hùng như Ngô Quyền, Lê Hoàn, Trần Quốc Tuấn… bất tử với sông Bạch Đằng lịch sử Giọng thơ càng về cuối càng thiết tha sâu lắng Đối cảnh mà sinh tình, nhìn cảnh mà nhớ bóng người xưa, lòng dạ cảm hoài bâng khuâng khôn xiết Hoài niệm tạo nên chất thơ Tự hào, nhớ thương, nghĩ về cái còn và cái mất, cái hiện tại và cái

đã qua:

“Vãng sự hồi đầu ta dĩ hĩ,

Lâm lưu phủ ảnh ý nan thăng.”

Cũng nói về hồn thiêng sông núi, cũng nói về đất nước và con người Việt Nam, ca ngợi sức mạnh Việt Nam mà thi nhân chỉ qua một cửa biển, một dòng sông Bạch Đằng đã lột

tả được cái thần của đều cần nói Mỗi chữ, mỗi câu thơ, mỗi hình ảnh về cửa biển Bạch Đằng mà nhà thơ nói đến như nâng cao tầm vóc lớn lao của dân tộc để chúng ta yêu thêm sông núi Tổ quốc, yêu thêm truyền thống anh hùng của dân tộc và tin tưởng vào tiền đồ xán lạn của đất nước muôn đời Có thể kết luận “Cửa biển Bạch Đằng” là bài thơ kiệt tác tiêu biểu cho hồn thơ trang trọng, hào hùng và tráng lệ của Nguyễn Trãi

Một địa danh nữa mà ta không thể không nhắc đến khi tìm hiểu về vẻ đẹp thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi, đó chính là Côn Sơn Thời thơ ấu, Nguyễn Trãi từng sống với mẹ và ông ngoại tại đấy Nhà thơ đã xem Côn Sơn là “quê cũ” của mình Trong “Ức Trai thi tập” và “Quốc âm thi tập”, ông có nhiều bài thơ về Côn Sơn với tình cảm thắm thiết Bao nhiêu lần nhờ hồn mộng mà tìm làng cũ: “Kỷ thác mộng hồn tầm cố lý”, làng quê mới qua, như thấy chiêm bao đến: “Hương lý tài qua như mộng đáo”

Trang 7

“Quê cũ nhà ta thiếu của nào?

Rau trong nội, cá trong ao

(…)

Cảnh thanh dường ấy về chăng nghỉ

Lẩn thẩn làm chi áng mận đào?”

(“Mạn thuật” – 13)

Trong những bài thơ viết về Côn Sơn của Nguyễn Trãi, “Côn Sơn ca” được xem là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất, thể hiện sự giao cảm giữa thi sĩ với thiên nhiên, cũng là bài ca tâm trạng thời thế, triết lý về cuộc đời của Ức Trai

“Côn sơn hữu tuyền, kỳ thanh linh linh nhiên, ngô dĩ vi cầm huyền

Côn sơn hữu thạch, vũ tẩy đài phô bích, ngô dĩ vi đạm tịch.”

(Côn Sơn suối chảy rì rầm, ta nghe tiếng đàn huyền cầm

Côn Sơn có đá sạch trong, ta ngồi nghe cõi lòng thanh đạm, yên tịnh)

Cảnh đẹp thứ nhất là suối Côn Sơn, tiếng nước chảy róc rách như tiếng đàn cầm Cảnh đẹp thứ hai là đá, mưa sạch rêu biếc như chiếu êm Cảnh đẹp thứ ba là rừng thông, tán lá như những chiếc lọng rủ bóng đáng yêu gắn bó với tâm hồn nhà thơ Suối, đá, trúc, thông

là nơi nương tựa, nâng đỡ tâm hồn, là đối tượng để thi nhân cùng với thiên nhiên giao hòa giao cảm, để “ta cho là đàn cầm”, để “ta cho là đệm chiếu”, để “ta nghỉ ngơi” trong rừng thông, để “ta ngân nga” bên rừng trúc Hình ảnh thơ là âm thanh, là màu sắc gắn liền với cảm giác, với tâm hồn thi sĩ bằng những liên tưởng vô cùng thiết tha, đằm thắm:

“Nham trung hữu tùng, vạn lí thúy đồng đồng, ngô ư thị hồ yên tức kì trung

Lâm trung hữu trúc, thiên mẫu ấn hàn lục, ngô ư ngâm tiếu kì trắc.”

Gắn bó, chan hoà với suối, đá, thông, trúc Côn Sơn, chính là biểu lộ tấm lòng của Nguyễn Trãi đối với quê cũ yêu thương Mấy chục năm trời loạn lạc, ly hương, không đêm nào ông không nằm mộng nhớ quê nhớ luống cúc vười cũ:

Trang 8

“Tưởng nhớ vườn nhà ba rặng cúc,

Hồn về đêm vẫn gửi chiêm bao”

(“Ngày thu ngẫu nhiên làm”- Thơ dịch)

“Côn Sơn ca” được ra đời sau khi Nguyễn Trãi đã làm xong nhiệm vụ kẻ sĩ thời đất nước loạn ly là giúp minh quân giành giang sơn, đem lại thái bình cho trăm họ Sĩ khí đã thành, công danh đã toại, ông muốn quay về để sống cuộc sống an nhàn, giản dị nơi chốn có ngàn thông, nhiều trúc, có suối chảy, đá khe, sông núi hữu tình Ông đã viết trong Côn Sơn Ca:

“Vấn quân hồ bất qui khứ lai, bán sinh trần thổ trường giao cốc,

Vạn chung cửu đỉnh hà tất nhiên, ẩm thủy phạn sơ tùy phận túc”

Dịch thơ :

“Hỏi anh sao chẳng về thôi?

Bám đeo đất bụi nửa đời buộc giăng?

Muôn chung, chín đỉnh nào cần!

Phận tùy nước uống, rau ăn đủ liều…”

Và như một thiền sư đạt đạo, ông đã thấu rõ những hệ lụy nhân sinh trong cõi đời, cõi vô thường:

“…Quân bất kiến Đổng trác hoàng kim doanh nhất ổ

Nguyên tải hồ tiêu bát bách hộc

Hựu thúc kiến Bá Di dữ Thúc Tề, Thú Dương ngạ tự bất thực túc?

Hiền ngu lưỡng giả bất tương mâu, diệc các tự cầu kì sở dục

Nhân sinh bách tuế nội, tất cánh đồng thảo mộc

Hoan bi ưu lạc điệt vãng lai, nhất vinh nhất tạ hoàn tương tục

Khâu sơn hoa ốc diệc ngẫu nhiên, tử hậu thùy vinh cánh thùy nhục.…”

Trang 9

Dịch thơ :

“… Thấy chăng: Đổng Trác vàng nhiều

Tám trăm Nguyên tải hồ tiêu hộc tràn

Bá Di, họ Thúc thấy chăng?

Thủ Dương chết đói chẳng ăn gạo rồi!

Hiền, ngu: hai kẻ đôi nơi,

Đều tìm ham muốn riêng người mình thôi

Trong vòng trăm tuổi con người

Rốt cùng cũng giống như đời cỏ cây

Vui, buồn, lo, sướng đổi thay?

Vẻ vang, tàn tạ quay về nối nhau

Thế rồi gò núi, nhà cao,

Ai vinh, ai nhục mai sau qua đời? ”

(Côn Sơn Ca)

Giàu sang, danh vọng, hiền, ngu… đều còn lại nắm cỏ trên đồi Thấy được điều đó, ít nhiều Nguyễn Trãi từng thấm đượm tư tưởng của đạo Phật và của Lão giáo Hai tư tưởng

ấy quyện lẫn vào thơ của ông để cho chúng ta thấy được nét thanh cao của những người chọn niềm vui trong cảnh sông núi, vui thú điền viên, xa lánh cái ồn ào của chốn lợi danh:

“Trường thiên mạc mạc thủy du du,

Hoàng lạc sơn hà thuộc mộ thu

Tiễn sát hoa biên song bạch điểu,

Nhân gian lụy bất đáo thương châu”

(Văn lập)

Trang 10

Dịch thơ :

“Bao la trời nước mênh mông,

Lá thu vàng rụng, núi sông cuối mùa

Thèm đôi chim trắng bên hoa,

Cõi người phiền lụy chẳng qua bãi này”

(Đứng ngắm cảnh chiều)

Thiên nhiên như được thổi hồn theo dòng cảm xúc của thi sĩ, với Ức Trai thiên nhiên không chỉ mang vẻ đẹp đơn thuần mà đó còn là người bạn tâm giao, là tiếng nói tâm tình, là nơi gửi gắm ưu tư thế sự… Làm quan, con đường lắm chông gai trắc trở và nhất là nó chẳng đem lại niềm vui đích thực, cho nên Nguyễn Trãi vẫn trông ngóng về một cố hương xa xôi:

“… Kính trung bạch phát giai nhân lão,

Thân ngoại phù danh mạn nhĩ lao

Miến tưởng cố viên tam kính cúc,

Mộng hồn dạ dạ thượng quy đao”

(Thu nhật ngẫu thành)

Tâm hồn Ức Trai là sự hòa quyện tuyệt diệu giữa cái thanh cao, tao nhã với sự bình

dị, chân chất Côn Sơn là chốn xưa gắn bó với Ức Trai tiên sinh từ thuở ấu thời Côn Sơn cũng là hình ảnh của núi xưa, quê cũ trong tâm khảm của những người luôn mơ ước được nhàn dật, tiêu sái Cảnh quê thanh bình hiện lên trong những vần thơ của thi nhân, thiên nhiên bao phủ là thiên nhiên của ngàn đời đất Việt, là nơi có thể gạn lắng những phiền toái của cuộc đời, Nguyễn Trãi đã từng mơ mộng:

Trang 11

“Thanh Hư động lý trúc thiên can,

Phi bộc phi phi lạc kính hàn

Tạc dạ nguyệt minh thiên tụ thủy,

Mộng kỵ hoàng hạc thượng tiên đàn”

(Mộng sơn trung)

Dịch thơ :

“Thanh Hư động trúc hàng ngàn,

Ào ào thác đổ lạnh màn gương soi

Sáng trăng trời nước đêm rồi,

Hạc vàng mơ cưỡi lên nơi cõi Bồng”

(Giấc mộng trong núi)

Ức Trai tiên sinh luôn ý thức về những nỗi bất ổn, những trói buộc, hiểm họa thừ chốn quan trường, ông biết rõ con đường về ở ẩn, tránh hệ lụy nhân sinh là con đường nên làm Một lần nữa, Ức Trai lại dùng thiên nhiên để bộc bạch tâm sự:

“… Tùng cúc do tồn quy vị vãn,

Lợi danh bất tiễn ẩn phương chân

Ta dư cửu bị nho quan ngộ

Bổn thị canh nhàn điếu tịch nhân”

(Đề Từ Trọng Phủ canh ẩn đường)

Ngày đăng: 01/08/2014, 23:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w