Lý giải về phương thức hành trì tu chứng trong Khoá Hư Lục của Trần Thái Tông………6 1.. ViếtKhoá Hư Lục, trước hết,Trần Thái Tông muốn thức tỉnh chính mình trên con đương tutập, nhằm thanh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HỌC VÀ NGÔN NGỮ
Lớp: Cử Nhân Tài Năng
MỤC LỤC
Trang 2Mở đầu……… 3
Nội dung chính……… 4
I Khái quát chung… 4
1.Trần Thái Tông……… 4
2 Khoá Hư Lục… 4
II Lý giải về phương thức hành trì tu chứng trong Khoá Hư Lục của Trần Thái Tông………6
1 Khái niệm về hành trì tu chứng……… 6
2 Lý giải phương thức hành trì tu chứng Trong Khoá Hư Lục của Trần Thái Tông……….7
2.1 Phương thức niệm Phật……….7
2.2 Lục thời sám hối khoa nghi……… 9
2.3 Phương thức toạ thiền……….15
Kết luận……… 21
Tài liệu tham khảo……… 22
Trang 3MỞ ĐẦU
Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ rất sớm,(vào khoảng thế kỉ I trước côngnguyên),và dần đi sâu vào đời sống, tư tưởng của người dân nước ta Đặc biệt dưới triềuđại Lý-Trần, Phật giáo phát triển cực thịnh, trở thành quốc giáo, và chi phối đời sống vănhoá, chính trị, giáo dục,… của người dân, đất nước Không những thế, Phật giáo còn đisâu vào tư tưởng của vua quan đương thời mà Trần Thái Tông được coi là một đệ tử xuấtsắc của Phật giáo và là “ bó đuốc thiền tông” của Thiền tông Việt Nam Ông viết rấtnhiều tác phẩm về Phật giáo, trong đó Khoá Hư Lục là một kiệt tác của nền văn học Phậtgiáo Việt Nam vào thế kỉ XIII , chứa đựng tư tưởng triết lý Phật giáo rất sâu sắc ViếtKhoá Hư Lục, trước hết,Trần Thái Tông muốn thức tỉnh chính mình trên con đương tutập, nhằm thanh lọc sáu quan năng, mong đạt đến chỗ “lục căn viên thông”, đồng thờivạch ra phương thức hành trì tu chứng để dìu dắt chúng sinh ra khỏi bể trầm luân, giácngộ và đạt đến cõi Niết bàn của Đức Phật từ bi
Nhiệm vụ chính của đề tài là lí giải được phương thức hành trì tu chứng mà TrầnThái Tông đã chỉ ra trong Khóa Hư Lục Nội dung của phương thức đó ra sao và thựchiện như thế nào?
Về phạm vi nghiên cứu, đề tài tập trung xoay quanh các phương thức hành trì tuchứng trong Khóa Hư Lục-Trần Thái Tông Đây là một phạm vi hẹp nhưng không phải
dễ dàng để nghiên cứu vì Khóa hư lục vốn là cổ thư tịch được rất nhiều học giả nghiêncứu, dịch thuật và được nhận định là “một tài liệu khó phiên dịch và chú giải” cho nên đểthực hiện đề tài này người viết phải sử dụng các phương pháp nghiên cứu phân tích, tổnghợp nhằm phân tích và nghiên cứu nội dung của Khoá Hư Lục và lí giải phương phápthành trì tu chứng mà Trần Thái Tông đề ra Đây là phương pháp chính yếu của đề tài
Trang 4Dựa vào tên đề tài có thể chia cấu trúc của đề tài như sau:
I.KHÁI QUÁT CHUNG
1 Giới thiệu về Trần Thái Tông
2 Giới thiệu về Khóa Hư Lục
II LÍ GIẢI PHƯƠNG THỨC HÀNH TRÌ TU CHỨNG
1 Khái niệm về phương thức hành trì tu chứng
2 Lí giải phương thức hành trì tu chứng trong Khóa Hư Lục.
-Phương thức niệm phật
-Lục thời sám hối khoa nghi
-Phương thức toạ thiền
Nghiên cứu phương thức hành trì tu chứng trong Khoá Hư Lục-Trần Thái Tông sẽ
giúp ta có cái nhìn cụ thể, rõ ràng và đầy đủ hơn về con đường tu tập để đạt đến chánhquả, tránh khỏi luân hồi sáu nẻo, và thoát khỏi bể trầm luân
NỘI DUNG CHÍNH
I.KHÁI QUÁT CHUNG
1.Giới thiệu về Trần Thái Tông
Trần Thái Tông (1218-1277), Hoàng đế khai nghiệp nhà Trần Tên thật là Trần
Cảnh; miếu hiệu Thái Tông (1225 - 1258) Là con của ông Trần Thừa và bà Lê Thị
Phong Sinh ngày 17/07/1218 Quê làng Tức Mặc, phủ Thiên Trường, Nam Định
Ông lên ngôi vua từ năm 1225, do vợ là Lý Chiêu Hoàng trao nghiệp nhà Lý cho ông kế thừa dưới sự giúp đỡ, sắp đặt của người chú là Thái sư Trần Thủ Ðộ
Triều đại ông việc chính trị, văn hóa, tôn giáo đều cực thịnh Ông là người chuyên tâm nghiên cứu Phật học và sùng mộ đạo Phật, nhưng không hề xem thường cái học của các trường phái khác Học thuật nước nhà do đó phát triển Năm 1257, cùng cả nước ông đã đánh thắng quân Nguyên-Mông xâm lược để lại tiếng vang trong lịch sử dân tộc Ðất nước hòa bình, nhân dân an cư lạc nghiệp phần nào giúp ông thư thái trong tâm hồn Ông
có đủ thời giờ để lo tu niệm, trước tác nhiều kinh sách về Phật giáo; và là người có ảnh hưởng rõ rệt trong đời sống Phật giáo thời Lý-Trần Ông mất ngày 04/05/1277
2 Giới thiệu về Khóa Hư Lục
Trang 5Giải nghĩa Khóa Hư Lục: “Khóa trong Khóa Hư là chỉ sự thành trì tu tập; Hư được
dùng với nghĩa là thái độ không cố chấp vào hình thức giáo điều Nhu yếu của Khóa là siêng năng tu tập thiền định, không để cho thời gian trôi qua uổng phí Nhu yếu của Hư
là thái độ cởi mở, tự do, buông xả, phá chấp không bám víu và bị kẹt vào khái niệm và hình thức Hai nhu yếu này tổng hợp lại thành tinh thần thực tiễn và phai phóng của Phật giáo Đại Việt đời Trần là thực hiện một cách tinh tấn đạo lý giác ngộ trong tinh
Sách Khoá Hư Lục là tác phẩm của Trần Thái Tông, theo Việt Sử Tiêu Án của Ngô
Thì Sĩ thì Trần Thái Tông viết sách này sau khi vào núi tu hành, trong khoảng từ năm
1258-1277 Diện mạo của sách hiện nay là do sự tập hợp của người đời sau vào thế kỉ
XVII-XVIII Theo PGS.TS Nguyễn Công Lý thì “nội dung ban đầu có thể là một tập
luận thuyết bàn về lẽ sắc không, hư vô với 32 đoạn luận thuyết…, Thiền Tông Chỉ Nam Ca(đã thất lạc chỉ còn bài tựa) …, Lục thời sám hối khoa nghi,…Bình đẳng lễ sám hối văn (chỉ còn bài tựa), Kim cương kinh tự chú giải (chỉ còn bài tựa)… Bên cạnh, Trần Thái Tông còn có những bài lý thuyết trình bày những vấn đề cơ bản của Phật, Tâm, Thiền, Nhân sinh, Nguyên nhân của mọi khổ đau, Giải thoát… Rất tiếc do thời gian nên
số còn lại không là bao và người sau ở thế kỉ XVII, XVIII đã tập hợp những gì còn lại in
bản in (1715) gồm 2 quyển Thượng và Hạ, có nội dung chính như sau:
-Quyển Thượng gồm:
+ Tứ Sơn (Sinh, Lão, Bệnh, Tử)
+ Phổ thuyết sắc thân (Nói rộng về sắc thân)
+ Khuyến phát tâm văn(Hướng người học đạo phát tâm quyết chí tu tập đạo
giải thoát)
+ Năm bài giới luận ( Văn giới sát sinh, Giới thâu đạo văn, giới sắc văn,
giới vọng ngữ văn, giới tửu văn)
+ Giới Định Tuệ luận(bàn về phương thức tu Thiền với trình tự thực hiện tuệ
giác)
+ Thụ giới luận( nêu lên sự cần thiết của việc gìn giữ giới luật để thân tâm
thanh tịnh )
+ Tọa thiền luận( nêu nguyên tắc ngồi Thiền, định tâm và vai trò quan trọng
của tọa Thiền để đạt đến giác ngộ)
+ Tựa giáo giám luận(mối quan hệ giữa định và tuệ) + Tựa Thiền tông chỉ nam( cương lĩnh, kim chỉ nam cho Thiền học đời Trần) +Bài tựa sách Chú giải Kinh Kim Cương Tam Muội.
+Bài tựa sách Lục thời sám hối khoa nghi và bài tựa Bình đẳng lễ sám văn
1 Trang 12, Chuyên đề Phật giáo trong văn học cổ điển Việt Nam, PGS.TS Nguyễn Công Lý
2 Trang 12, Chuyên đề Phật giáo trong văn học cổ điển Việt Nam, PGS.TS Nguyễn Công Lý
Trang 6+Phổ thuyết hướng thượng nhất lộ ( những gợi ý về một đề tài
thiền định trong sách Bàn Sơn Thuỳ Ngữ)
+ Ngữ lục vấn đáp môn hạ( ghi chép những lời Thái Tông đối
với môn đệ)
+ Niềm tụng kệ ( ghi lại 43 công án Thiền do Thái Tông nêu
cử, gợi ý và lời kệ tụng )
- Quyển Hạ :
hối,áp dụng sáu lần trong một ngày đêm, nhằm thanh lọc tâm lí, giữgìn sáu căn
Về hình thức nghệ thuật, tác phẩm kết hợp ba lối văn tản văn, biền văn
và vận văn trong đó tản văn và biền văn là chính Khoá Hư Lục không những
là một sách quan trọng và xưa nhất nuớc ta mà còn là một tác phẩm triết học
Phật giáo sâu sắc “ đây là tác phẩm đuợc viết như máu chảy đầu ngọn bút,
nuớc mắt thấm từng trang giấy Sau bao khát khao tìm tòi chân lý với nỗi
đau thế thái nhân tình, để rồi đạt đến chỗ sở đắc chân tâm”
II LÝ GIẢI PHƯƠNG THỨC HÀNH TRÌ TU CHỨNG
TRONG KHOÁ HƯ LỤC CỦA TRẦN THÁI TÔNG
1 Khái niệm hành trì tu chứng
Hành tức là thực hành, hành động Trì tức là nắm giữ, nắm bắt
Hành trì tức là giữ gìn, duy trì một hành động, một phương phápnào đó một cách liên tục, không gián đoạn Vậy việc gìn giữ tutập ấy để làm gì? Đó là chính là tu chứng
Tu chứng tức là tu hành và chứng lý, chứng quả vị Theo Biệntrung Biện luận thì có 10 chỗ để tu chứng, đó là:
- Chủng tánh tu chứng: Có đủ nhơn duyên mà sinh vào nơi quý tộc
- Tín giải tu chứng: Chứng được lòng tin tưởng và hiểu rõ pháp giáo,
nên không có phỉ báng pháp môn Đại Thừa
- Pháp tâm tu chứng: Quyết tu cho đến thành Phật chứ không tu hành
theo pháp môn thấp thỏi, yếu đuối
- Chánh hạnh tu chứng: tu theo hạnh chơn tánh của bồ tát, thi hành
- Tịnh độ tu chứng: Tâm ý khéo điều phục,trở nên thanh tịnh, đi về
cõi thanh tịnh của chư Phật
Trang 7- Đắc bất thối đìa thọ kí tu chứng: Chứng địa vị bồ tát bất thối, được
Phật thọ kí cho mình sẽ thành Phật nhưng tâm không trụ trước cảnhNiết Bàn
- Phật địa tu chứng: Chứng địa vị cảnh Phật trong lòng, chẳng còn
chướng ngại trọng hoặc thô
- Thị hiện bồ đề tu chứng: Tức là tu chứng quả bồ đề vô thượng
Vậy hành trì tu chứng tức là luôn luôn duy trì việc tu tập một cách thường
xuyên và liên tục để chứng lý, chứng quả vị , Niết Bàn Như thế việc hành trì
tu chứng mà Trần Thái Tông chỉ ra trong Khoá Hư Lục là gì? Người tu tập
theo có chứng được quả vị hay không?
Để trả lời câu hỏi trên trước hết, ta phải biết Trần Thái Tông đã chỉ ra những phương pháp nào trong Khoá Hư Lục ? Đó chính là 3 phương pháp chính:
- Niệm Phật
- Hành lễ sám hối lục thời khoa nghi
- Toạ thiền
Mà mỗi phương pháp đều có cách thức, mục đích, hiệu quả rõ ràng
2 Lí giải phương thức hành trì tu chứng trong Khoá Hư Lục của Trần Thái Tông
2.1 Phương thức niệm Phật
Niệm Phật “là tưởng niệm, tưởng nhớ, là nhớ nghĩ đến danh hiệu của Phật,
công hạnh của Đức Phật để nương theo mà tu tập”1
Người niệm Phật thì tâm phải thanh tịnh, dẹp bỏ lòng trần, lòng chỉ hướng về
cõi Phật Theo Trần Thái Tông thì “ niệm Phật là do cái lòng dậy Lòng dậy
ở điều thiện thì là niềm thiện Niềm thiện dậy thì nghiệp thiện báo lại Lòng
dậy ở điều ác thì là niềm ác Niềm ác dậy thì nghiệp ác ứng lại”2 Tức là khiniệm Phật, là tác động vào cái tâm, làm dậy cái tâm Nếu lòng dậy ở điều
thiện, tức là miệng niệm Phật, tâm nghĩ về Phật, về công đức của Phật, về cõi
Niết Bàn, về miền Giác ngộ… thì đó chính là niềm thiện Niềm thiện đã sinhthì nghiệp thiện ắt ứng báo, nếu siêng năng tụng niệm thì sẽ được vãn sanhvào Tây phương cực lạc Còn nếu miệng niệm Phật mà lòng không chuyênchú, suy nghĩ điều gian, lòng đầy ẩn trắc, hận thù,… thì đó chính là niềm ác
Niềm ác đã sinh thì nghiệp ác ắt ứng báo Không những quả thiện không
thành mà còn phải đeo mang nghiệp chướng Vì thế niệm Phật đòi hỏi ngườiniệm Phật cần phải tĩnh tâm, thanh tâm trong sạch Trong kinh Phật có dạy:Nếu lúc mệnh chung mà lòng nghĩ về điều thiện, thành tâm niệm sáu chữ
1 Trang 8, Phật học căn bản, PGS.TS Nguyễn Công Lý.
2 Trang 104, Trần Thái Tông – Khoá Hư Lục phụ Thơ của Tuệ Trung Thương Sĩ, Đào Duy Anh (giới thiệu, phiên dịch và chú giải).(sđd)
Trang 8hồng danh: “ Nam Mô A Di Đà Phật” thì sẽ vãn sanh vào cõi A Di Đà Còn
nếu lúc đó mà lòng lại nghĩ về điều ác thì sáu cõi trầm luân khó tránh, thân
kiếp lưu đày mãi trong bể khổ
Ba công việc cơ bản và quan trọng nhầt của người tu hành đạo Phật là: niệm
Phật, ăn chay, làm việc thiện Trong đó, niệm Phật là quan trọng nhất Nếuchỉ ăn chay, làm việc thiện nhiều đến vô lượng thì cũng không thể sanh vềcõi Tây phương nếu không niệm hồng danh Đức Phật Có người không hề ănchay, cũng chẳng hề tác phước, thậm chí còn tạo nhiều ác nghiệp nhưng đến
lúc lâm chung, thành tâm giác ngộ, niệm sáu chữ hồng danh của Đức Phật Di
Đà thì cũng được sanh vào đất Phật Thế mới thấy được công năng hiệu
nghiệm của việc nhất tâm niệm Phật “Đối với người tịnh độ tông, niệm Phật
là câu thần chú đầy thần bí, phép thần thông, có khả năng làm nên điều kì
diệu giúp người hành giả không những thoát khỏi tội chứng mà còn được
còn giúp loại bỏ niệm xấu, thay vào đó là nhớ, nghĩ niệm tốt Niệm Phật ngõhầu dập tắt ba nghiệp Thân, Khẩu, Ý Trong bài Niệm Phật luận, nhà vua
viết:“Ư niệm Phật chánh thân đoan toạ, bất hành tà hạnh, thị tức thân
nghiệp dã Khẩu tụng chân ngôn, bất đạo tà ngữ, thị tức khẩu nghiệp dã Ý
thân thẳng ngồi ngay, không làm việc tà, như vậy là tắt được nghiệp thân.
Miệng tụng lời chân chính, không nói điều xằng bậy, thế là tắt được nghiệp
miệng Ý chăm chú ở sự tinh tiến, không nảy sinh ý nghĩ tà, thế là tắt được
nghiệp ý).
Song người có ba hạng : Thượng trí, Trung trí, Hạ trí Phương thức hành trì
của mỗi đối tượng dựa trên sự phân chia căn trí cao thấp khác nhau nên cách
hành trì, tu tập, niệm Phật của mỗi bậc cũng khác nhau
Bậc Thượng trí là những người hiểu ngộ, tự thân biết tâm mình chính là tâm
Phật, sống trong bụi trần và tâm không nhiễm trần, không cần tu niệm thêm
gì cả : “Thượng trí giả, tâm tức thị Phật, bất giả tu thiêm Niệm tức thị trần,
bất dung nhất điểm Trần niệm bản tịnh, cố viết như như bất động, tức thị
Phật thân Phật thân tức ngã thân thị, vô hữu nhị tướng; tướng tướng vô nhị,
tâm tức Phật, không phải nhờ thêm sự tu hành Ý nghĩ là bụi trần không
1 UBKHXH,viện văn học: Thơ văn Lý-Trần, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội,1998
2 Trang 104, sđd
3 Trang 104, sđd
Trang 9vướng một mảy Ý nghĩ bụi trần vốn tịnh, cho nên nĩi như như khơng động là
thân Phật Thân Phật tức là thân ta, khơng cĩ hai tướng Tướng và tướng
khơng phải là hai, lặng lẽ tồn tại hằng thường Tồn tại mà khơng biết, đĩ là
Phật sống).
Bậc Trung trí là những người phải huy động ý chí, dùng niệm thiện để đẩylùi các niệm ác Phát huy sức mạnh các thiện niệm và triệt tiêu những nghiệpbất thiện khơng cho chúng cĩ cơ hội xuất hiện Cuối cùng, họ cũng đạt được
trình độ như người cĩ trí tuệ cao hơn: “Trung trí giả, tất tạ niệm Phật, chú ý
tinh cần, niệm niệm bất vong, tự tâm thuần thiện Thiện niệm ký hiện, ác
niệm tiện tiêu Aùc niệm ký tiêu, duy tồn thiện niệm Dĩ niệm ý niệm, niệm
niệm diệt chi Niệm diệt chi thì, tất quy chính đạo Thường lạc ngã tịnh, Phật
khơng quên thì tâm mình ắt tự thuần thiện Ý nghĩ thiện đã hiện thì ý nghĩ ác
sẽ bị tiêu tan Ý nghĩ ác đã bị tiêu tan thì chỉ cịn ý nghĩ thiện Dùng ý nghĩ
mà ý thức thì mọi ý nghĩ đều bị diệt hết Khi ý nghĩ đã bị tiêu diệt ắt trở về
chính đạo; lúc qua đời sẽ được niềm vui cõi Niết-bàn, Thường lạc ngã tịnh
là đạo của Phật).
Đối với người cĩ căn cơ Hạ trí Đây là thành phần đơng nhất trong xã hội,
những người này, tâm họ chỉ hướng về nước Phật, mong sao thốt khỏi
những bụi bặm ở đời này Khi lâm chung lịng thanh tịnh, thác sanh về Phật
quốc: “Hạ trí giả, khẩu cần niệm Phật ngữ, tâm dục kiến Phật tướng, thân
nguyện sinh Phật quốc; trú dạ cần tu, vơ hữu thối chuyển Mệnh chung chi
hậu, tuỳ kỳ thiện niệm đắc sinh Phật quốc; hậu đắc chư Phật sở tuyên chính
niệm Phật, lịng mong thấy hình tướng Phật, thân nguyện sinh ở nước Phật,
ngày đêm tu hành chăm chỉ, khơng thối chí thay đổi, như vậy đến khi mệnh
hết qua đời sẽ theo ý nghĩ thiện mà được sanh ở nước Phật; sau đĩ lĩnh hội
Chính pháp mà chư Phật nêu ra và chứng được Bồ đề cũng được Phật quả).
Trong ba cách thức niệm Phật, Trần Thái Tơng đánh giá cao phương thứchành trì niệm Phật sau cùng, vì nĩ được xây dựng trên một nền tảng vững
chắc, thích hợp với quần chúng Ơng khuyến cáo mọi người hãy bắt đầu thực
thi tẩy rửa thân tâm từ cách thức hành trì này, hai cách kia nĩi thì dễ nhưng
thực sự địi hỏi căn duyên cao, khơng phải ai cũng thực hiện được Niệm
Phật trở thành phương thức tu tập loại bỏ tập khí cấu nhiễm, hướng đến
1 Trang 105,sđd.
2 Trang 105, sđd.
Trang 10thuần thục để tâm trở nên tịch tịnh: “Kim chi học giả, ký thụ nhân thân, tam
nghiệp tình hữu, nhi bất dĩ niệm Phật cầu sinh Phật quốc giả, bất diệc nan
hồ? Như dục niệm Phật, tức dĩ hạ trí vi tiên Hà giả? Vị hữu chú ý cố dã Thị
như tác tam tằng chi đài nhi bất dĩ hạ tằng vi tiên, vị chi hữu dã” (Nay kẻ tu
hành đã nhận lấy thân, ắt ba nghiệp đều có Thế mà không niệm Phật để cầu
sinh vào nước Phật chẳng cũng khó sao Như muốn niệm Phật, hãy lấy cách
của hạ trí làm đầu Sao vậy? Bởi vì có sự chú ý mà thôi Ví như làm một toà
lâu đài ba tầng mà không làm tầng dưới trước, đó là điều chưa từng có vậy).
Niệm Phật không chỉ mong vãn sanh vào Tây phương mà còn là cách cứu rỗilinh hồn Khi con người bị vô minh che đậy nên điên đảo, mê lầm, lại do sáu
căn, ba nghiệp (6 căn : nhãn, nhĩ, tỵ, thiệt, thân, ý 3 nghiệp : Thân, khẩu, ý)cộng với Tham, Sân, Si hợp lại có thể gây nên nhiều tội chướng, trong đó có
năm tội Vô Gián(5 tội nghịch nếu phạm sẽ đoạ vào ngục Vô Gián, là chỗ thọ
khổ không lúc nào ngưng ngớt đó là : giết cha, giết mẹ, giết thánh nhân, áctâm làm thân Phật ra máu, phá hoà hiệp tăng), và nhiều tội khác Một khi thất
tỉnh thì vô cùng đau khổ cà căm ghét bản thân không thể nào tha thứ cho
chính mình, thâm tâm cắn rứt, dằn vặt khôn nguôi Lúc đó chỉ có niệm phậtmới mong gột rửa được tội lỗi và mong giảm nhẹ nghiệp chướng, nhờ đó mà
họ tu tâm vào niệm Phật, nương theo bóng Phật để tâm mình được rửa sạch,
bớt đau khổ, dằn vặt chính mình
Phương thức và công năng của niệm Phật là vậy, chỉ cần tâm thanh tịnh,nhất
tâm niệm Phật thì ắt sẽ chứng quả vị Niệm Phật là một phương thức hành trì
tu chứng nên cần phải tu tập thường xuyên, không được gián đoạn Như Trần
Thái Tông có nói thì khi niệm Phật là nhớ nghĩ đến đúc hạnh của Đức
Phật,thực hành theo hạnh nguyện của Đức Phật nên lòng đã tin tưởng vàoPhật pháp, không còn huỷ báng Phật pháp nên sẽ đạt được Chủng tánh tuchứng và Tín giải tu chứng Khi niệm Phật, người niệm muốn nhờ công đức,
đại nguyện của Phật mà đạt đến Niết Bàn, vì vậy họ muốn tu tập đến cùng đểthành Phật, chính vì thế mà chứng được Pháp tâm tu chứng Như thế, người
niệm Phật đã chứng lý, chứng quả vị nhờ siêng năng tu niệm Không những
thế, Trần Thái Tông còn chỉ ra phương thức hành trì tu chứng thứ hai là lễ
sám Vậy lục thời sám hối khoa nghi là gì ?
2.2 Lục thời sám hối khoa nghi :
Đức Phật dạy rằng : Tội lỗi do tâm của người tạo ra, không ai có quyềnthưởng phạt Kẻ gieo giống xấu thì ăn trái dở, người trồng giống quý thì
hưởng quả ngon Tội lổi đã từ tâm tạo ra thì cũng từ tâm mà sám hối Lời nói
Trang 11thật rõ ràng, chí lí, hợp với thực nghiệm Lục thời lễ sám là một trong những
phương thức hành trì mà Trần Thái Tông đề ra trong Khoá Hư Lục được diễn
dịch theo phong cách Thiền Con người có sáu căn là : Nhãn, Nhĩ, Tỵ, Thiệt,Thân, Ý Sáu căn này tiếp xúc trực tiếp với trần thế, hàng ngày, hàng giờ,
chính vì thế mà con người đeo mang nhiều nghiệp chướng do sáu căn này tạonên Nếu không kịp thời thức tỉnh mà sám hối thì tội lỗi càng nặng nề Đểthuận lợi cho việc tu tập, sám hối, Trần Thái Tông chia mỗi ngày đêm chia
ra sáu thời để sám hối thì sáu căn cũng được thanh tịnh
“ Phỏng theo ý ấy, lấy sáu căn chia làm sáu buổi, mỗi buổi làm lễ sám hối
một căn Thân tự chế ra nghi văn gọi là khoa nghi lễ Phật sáu buổi trong
một ngày Văn thì văn phiền, nói thì nói xa, nhưng văn phiền thì sám hối
lười, văn xa thì sinhh ngờ vực Cho nên không làm lời phù hoa cho đầy pho,
đầy quyển, cốt cho người ta tụng đọc đều vui, nghe thấy dễ hiểu Ngõ hầu
tínn đồ có thể ở ngày đêm phát sinh lòng thành, lấy khoa nghi mà làm lễ sám
hối Như thế thì chẳng phụ cái chí nguyện lợi mình lợi người của Trẫm.
Những ngươì mắt sáng sau này chớ lấy nghi văn mà cười Tuy nhiên như
vậy, không nhân đường tía hoa khai sớm, tranh được vàng anh dưới liễu
tơ.” 1
Như vậy, sự lễ lạy bái sám theo Lục thời sám hối khoa nghi có giá trị tẩy rửacác tội lỗi, đưa con người trở về bản tâm thanh tịnh Do căn tánh con ngườikhác nhau, tuỳ theo bệnh mắc phải mà cho thuốc Theo nhà vua, phươngthức sám hối cũng có chức năng tẩy rửa các khách trần cấu bẩn, huỷ diệt ácnghiệp tích luỹ nhiều đời, nhiều kiếp Nó có một vai trò quan trọng trong đời
sống tu tập mỗi cá nhân đối với việc thăng hoa: “Lợi xuyên chi lai vãng giả,
châu xa dã, địch thân tâm chi trần cấu giả, lễ sám dã Dục địch thân tâm nhi
bất dĩ lễ sám tắc hà dị ư dục lợi lai vãng nhi bất dĩ châu xa giả hồ? Thị tri lễ
sám kỳ dụng đại hỹ Cố Đại tập kinh vân: “Như bách niên cấu y, khả ư nhất
nhật cán linh tiên tịnh” Như thị bách thiên kiếp trung sở tập chư bất thiện
nghiệp, dĩ Phật lực cố, thiện thuận tư duy, khả ư nhất nhật thời tận năng tiêu
sạch bụi nhơ trên mình, trong dạ là lễ sám hối thì khác nào muốn tiện lợi
cho việc đi lại mà không dùng xe và thuyền Thế mới biết công dụng của lễ
sám hối thật lớn lao! Cho nên, kinh Đại tập có câu:“Như chiếc áo bẩn hàng
trăm năm có thể giặt sạch trong một ngày” Như thế, ác nghiệp tích tụ hàng
1 Trang 109, tựa lục thời sám hối khoa nghi,sđd
2 Trang 108, tựa lục thời sám hối khoa nghi,sđd
Trang 12trăm nghìn kiếp, nhờ sức Phật và sự tư duy thuận tiện mà có thể tiêu trừ
trong một ngày một phút).
Bái sám là hình thức tu tập có từ lâu trong các ngôi chùa Việt Nam Điều
đáng nói, là nhà vua vận dụng phương thức tu tập này vào đời sống thiềnđịnh Việc biên soạn ra Lục thời sám hối khoa nghi nhằm ứng dụng phápmôn này theo chủ trương Thiền phái
“Sám” là chữ phiên âm từ tiếng Phạn Ksama, nghĩa đen “chịu đựng”, nghĩa
là muốn yêu cầu người mình xúc phạm đến, chịu đựng những lỗi lầm domình gây ra và xin tha thứ cho những xúc phạm đó “Hối” là bản thân tựnhận thức những sai lầm, những xúc phạm đó và tự kiên quyết thay đổi hành
vi để chúng không bao giờ xảy ra nữa Sám hối như thế là một hành động tự
giác, trong thiền gọi là tự phản tỉnh, tự xem xét bản thân có gây lỗi lầm, hay
làm thương tổn đến người khác và môi trường sống xung quanh để từ bỏ
Không có phương thức gì hữu hiệu hơn là mọi người hãy thực hành khoa
nghi sám hối Với tất cả ý nghĩa cao cả đã trình bày trên, nghi thức sám hốisáu căn được Trần Thái Tông biên soạn và phổ biến thực hành theo sự phân
bổ sáu thời tương ứng cho sáu giác quan Thời buổi sáng dành cho việc sám
hối do nhãn căn (mắt) đem lại, thời trưa dành cho nhĩ căn (tai), thời chiềudành cho tỷ căn (mũi), thời đêm dành cho thiệt căn (lưỡi), thời nửa đêm dànhcho thân căn (thân), và thời khuya dành cho ý căn (ý) Nghi thức sám hốiđược vua biên soạn theo trình tự có kết cấu chặt chẽ, súc tích, ngắn gọn: Có
11 bước cho buổi lễ đầu:1 Đọc kệ cảnh sách khuyên răn mọi người 2 Lễ
đọc văn dâng hương 3 Đọc kệ dâng hương 4 Đọc kệ dâng hoa 5 Đọc lời
tâu bạch 6 Đọc văn sám hối tội căn do mắt 7 Dốc lòng khuyến thỉnh 8
Dốc lòng tuỳ hỷ 9 Dốc lòng hồi hướng 10 Dốc lòng phát nguyện 11 Đọc
kệ vô thường buổi sáng
Đến thời lễ sám buổi trưa, Trần Thái Tông có thay đổi chút ít: 1 Lễ đọc dâng
hương buổi trưa 2 Kệ dâng hương 3 Kệ dâng hoa 4 Lời tâu bạch 5 Lời
sám hối tội căn do tai 6 Dốc lòng khuyến thỉnh 7 Dốc lòng tuỳ hỉ 8 Dốc
lòng hồi hướng 9 Dốc lòng phát nguyện 10 Đọc kệ vô thường buổi trưa.Đến Thời lễ sám hối buổi chiều cũng tương tự: 1 Lễ đọc văn dâng hương
buổi chiều 2 Kệ dâng hương 3 Kệ dâng hoa 4 Lời tâu bạch 5 Lời sám
hối tội căn do mũi 6 Dốc lòng phát nguyện 7 Đọc kệ vô thường buổi chiều.Riêng buổi lễ ban đêm, nửa đêm, về khuya thì ngay buổi lễ sám đêm, trướcbước đọc văn dâng hương, có thay đổi hai bước:1 Kệ khuyên chúng vào lúc
hoàng hôn 2 Kệ tám khổ 3 Văn dâng hương đêm 4 Lời tâu bạch 5 Lời