1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở trường trung học phổ thông tỉnh quảng ninh theo tiếp cận lý thuyết lãnh đạo và quản lý sự thay đổi

151 849 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 151
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng nghiên cứu: Quá trình và các biện pháp quản lý hoạt động dạy học của HT theo quan điểm lãnh đạo và quản lý sự thay đổi của 04 trường THPT trên địa bàn Thành phố Hạ Long, tỉnh

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM -

BÙI QUANG VINH

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC

Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH QUẢNG NINH

THEO TIẾP CẬN LÝ THUYẾT LÃNH ĐẠO VÀ QUẢN LÝ SỰ THAY ĐỔI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Mã số: 6014 05

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN BÁ DƯƠNG

THÁI NGUYÊN - 2010

Trang 2

MỤC LỤC Tr

Trang phụ bìa 1

Mục lục 2

Danh mục các chữ cái viết tắt 4

Danh mục các bảng 5

Danh mục các hình vẽ 6

MỞ ĐẦU 7

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CỦA HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG THPT 13

1.1 Khái quát về lịch sử vấn đề nghiên cứu 13

1.2 Một số khái niệm cơ bản 15

1.3 Lý thuyết về lãnh đạo và quản lý sự thay đổi 25

1.4 Tính tất yếu phải thay đổi trong quản lý nhà trường phổ thông nói chung và quản lý hoạt động dạy học nói riêng ở nước ta 31

1.5 Các thành tố tạo ra sự thay đổi và quy trình quản lý sự thay đổi trong nhà trường 35

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở MỘT SỐ TRƯỜNG THPT THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH TỪ NĂM 2005 ĐẾN 2009 46

2.1 Khái quát về các trường THPT ở thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

46 2.2 Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động dạy học theo 5 thành tố tạo ra sự thay đổi

55 2.3 Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý và hiệu quả của các biện pháp

79

Trang 3

CHƯƠNG III CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO

HIỆU QUẢ QUẢN LÝ SỰ THAY ĐỔI TRONG HOẠT ĐỘNG DẠY

HỌC Ở MỘT SỐ TRƯỜNG THPT THÀNH PHỐ HẠ LONG 88

3.1 Những cơ sở đề xuất các biện pháp quản lý HĐDH 88

3.2 Các biện pháp cơ bản quản lý hoạt động dạy học của hiệu trưởng các trường THPT ở thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 92

3.3 Kiểm chứng về tính phù hợp và khả thi của các biện pháp 130

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 132

1 Kết luận 132

2 Khuyến nghị 135

TÀI LIỆU THAM KHẢO 138

PHỤ LỤC 140

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG Trang

Bảng 2.1 Số lượng, chất lượng cán bộ, GV của 4 trường khảo sát 46

Bảng 2.2 Độ tuổi cán bộ, GV 4 trường THPT năm học 2008-2009 47

Bảng 2.3 Kết quả bài thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT của 4 trường 47

Bảng 2.4 Kết quả bài thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT của toàn tỉnh 48

Bảng 2.5 Kết quả xếp loại học lực của HS 4 trường khảo sát 49

Bảng 2.6 Kết quả xếp loại hạnh kiểm của HS 4 trường khảo sát 49

Bảng 2.7 Kết quả thi tốt nghiệp THPT của 4 trường 50

Bảng 2.8 Kết quả thi tốt nghiệp THPT toàn tỉnh 50

Bảng 2.9 Kết quả thi HS giỏi cấp tỉnh của 4 trường khảo sát 51

Bảng 2.10 Mức độ nhận thức về sự cần thiết của tầm nhìn trong HĐDH 60

Bảng 2.11 Khảo sát mức độ phù hợp của việc xác định tầm nhìn 61

Bảng 2.12 Mức độ đáp ứng về mặt kỹ năng quản lý 66

Bảng 2.13 Mức độ đáp ứng của đội ngũ cán bộ quản lý 70

Bảng 2.14 Mức độ đáp ứng của đội ngũ GV 71

Bảng 2.15 Mức độ đáp ứng của HS 72

Bảng 2.16 Mức độ đáp ứng của CSVC, PTDH 73

Bảng 2.17 Mức độ tự giác, tích cực của đội ngũ CBQL, GV và HS 74

Bảng 2.18 Mức độ đáp ứng của kế hoạch quản lý HĐDH 76

Bảng 2.19 Số lượng, chất lượng đỗi ngũ cán bộ quản lý của 4 trường THPT thành phố Hạ Long, năm học 2008-2009 79

Bảng 2.20 Nhận thức của GV về mức độ phù hợp của các biện pháp quản lý chương trình dạy học 80

Bảng 2.21 Nhận thức của GV về vức độ phù hợp của các biện pháp quản lý HĐDH 81

Trang 6

Bảng 2.22 Nhận thức của GV về mức độ phù hợp của các biện pháp

quản lý hoạt động học 82

Bảng 2.23 Nhận thức của GV về mức độ phù hợp của các biện pháp quản lý đổi mới PPDH 83

Bảng 2.24 Nhận thức của GV về mức độ phù hợp của các biện pháp quản lý CSVC 84

Bảng 2.25 Đánh giá của HT, PHT về hiệu quả của các biện pháp quản lý HĐDH 85

Bảng 3.1 Khảo sát tính phù hợp và tính khả thi của các nhóm biện pháp 131

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ Sơ đồ 1.1 Mô hình quản lý 18

Sơ đồ 1.2 Các chức năng quản lý 19

Sơ đồ 1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế QLGD 34

Sơ đồ 1.4 Các thành tố ảnh hưởng đến sự thay đổi 42

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Vua Quang Trung đã từng nói: “Dựng nước lấy học làm đầu, lấy nhân tài làm gốc” Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” Vì vậy, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài là nhiệm vụ rất quan trọng có tính chiến lược trong việc thực hiện mục tiêu phát triển bền vững của đất nước, làm cho “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”

Giáo dục là nhân tố quan trọng hàng đầu cho sự phát triển bền vững của đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm và coi trọng công tác giáo dục, đào tạo Ngay từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Giáo dục – Đào tạo cùng với Khoa học – Công nghệ được xác định là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X tiếp tục khẳng định Giáo dục – Đào tạo là quốc sách hàng đầu, phát triển Giáo dục – Đào tạo là một động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội (tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững)

Trong những năm qua, với sự quan tâm của Đảng, của Nhà nước, của toàn dân, sự nghiệp giáo dục của nước ta đã có bước phát triển và đạt được những thành tựu quan trọng trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần đắc lực thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế -

xã hội của đất nước: Một hệ thống giáo dục tương đối hoàn chỉnh, thống nhất và đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập của người dân, trước hết là ở giáo dục phổ thông Quy mô giáo dục tăng nhanh, bước đầu đáp ứng nhu cầu học tập của xã hội Chất lượng giáo dục ở các cấp học đã có chuyển biến bước đầu, công tác xã hội hoá giáo dục được quan tâm, công bằng xã hội trong giáo dục đã được cải thiện, đặc biệt đối với trẻ em gái, trẻ em dân tộc và con em các gia đình nghèo

Trang 8

Tuy nhiên, dù đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng nhìn chung giáo dục nước ta còn bộc lộ một số yếu kém: Chất lượng giáo dục đại trà nói chung còn chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội Cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng miền tuy đã khắc phục được một phần, song vẫn mất cân đối Đội ngũ nhà giáo vừa thiếu, vừa thừa, chưa đồng bộ CSVC kỹ thuật nhà trường vẫn còn thiếu thốn, lạc hậu Chương trình, phương pháp giáo dục chậm đổi mới, chậm hiện đại hoá Trong những nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, yếu kém trên không thể không nhắc đến những hạn chế, yếu kém trong QLGD

Những hạn chế, yếu kém trong QLGD thể hiện ở một số mặt sau đây:

- Trình độ quản lý chưa theo kịp với thực tiễn và nhu cầu phát triển của nền kinh tế đang chuyền từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chậm đổi mới cả

tư duy và phương thức quản lý, chưa quan tâm thích đáng đến những vấn đề lí luận phát triển giáo dục trong giai đoạn mới, năng lực cán bộ quản lý còn thấp, chậm đề ra các định hướng và chính sách vĩ mô đúng đắn để xử lý quan hệ giữa quy mô, chất lượng và hiệu quả giáo dục Tổ chức giáo dục còn “khép kín” không tạo sự liên thông giữa các cấp, các ngành học Có thể xem đây là những thách thức không nhỏ, bởi nó thuộc chủ quan của ngành Giáo dục

- Trước bối cảnh toàn cầu hoá, việc duy trì quá lâu tư duy QLGD theo kiểu mệnh lệnh, tập trung đã trở nên lỗi thời, vì cách quản lý này không còn phù hợp trong môi trường giáo dục có sự cạnh tranh lành mạnh giữa các cơ sở giáo dục

- Tư duy QLGD theo kiểu mệnh lệnh, tập trung, đã dẫn đến phương thức quản lý theo kiểu một chiều, từ trên xuống Cơ chế này đã dẫn đến hậu quả làm mất đi tính tích cực, chủ động, sáng tạo của cả cán bộ quản lý và đối tượng bị quản lý

Để khắc phục những hạn chế trong công tác QLGD, nâng cao chất lượng

Trang 9

hoá đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều Nghị quyết, đặc biệt là trong “Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001 – 2010” ngoài việc đưa ra những quan điểm chủ đạo, các giải pháp phát triển giáo dục đã nhấn mạnh vị trí, vai trò của công tác QLGD, coi “đổi mới QLGD là khâu đột phá”

Bước vào năm học 2009 – 2010, tiếp tục theo phương hướng trên Bộ GD&ĐT đã xác định chủ đề của năm học là “đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục”

Trong bối cảnh kinh tế - xã hội trong nước và thế giới có nhiều biến động, giáo dục Việt Nam đối diện với nhiều cơ hội và thách thức Quá trình toàn cầu hóa, sự phát triển của nền kinh tế tri thức và cách mạng khoa học công nghệ trong giai đoạn hiện nay đã có những tác động lớn, làm thay đổi vai trò của cán

bộ QLGD Chính sự biến động không ngừng đó đã đòi hỏi sự thay đổi toàn diện của các nhà trường, đặc biệt là sự thay đổi trong quản lý nhằm giúp cho nhà trường thực hiện được sứ mạng của mình

Rõ ràng đổi mới là nhu cầu tất yếu của mọi cá nhân, tổ chức và đất nước Đối với một tổ chức, lãnh đạo có hiệu quả sự thay đổi để đưa đến thành công luôn là một thách thức lớn cho các nhà lãnh đạo Điều này càng đặc biệt đúng đối với các tổ chức công ở các nước có nền kinh tế chuyển đổi như ở nước ta Những thay đổi về chiến lược hoạt động, cơ cấu và chính sách của các cơ sở giáo dục ở một số địa phương đã có những chuyển biến tích cực Tuy nhiên, sự đổi mới này chưa phải là yếu tố quyết định cho sự thành công của quá trình quản lý sự thay đổi Điều đó đặt ra cho các nhà lãnh đạo QLGD cần tạo ra sự thay đổi căn bản trong tư duy, nhận thức, phong cách và hành vi của mỗi con người trong nhà trường Để đạt được điều này, các nhà QLGD cần trả lời được

câu hỏi: Làm thế nào để quản lý quá trình thay đổi một cách có hiệu quả?

Ở Mỹ, Singapore và một số nước khác trong những năm gần đây đã đầu tư nghiên cứu lý thuyết và triển khai ứng dụng thực tiễn QLGD trong bối cảnh

Trang 10

thay đổi và đã đạt được những thành công đáng ghi nhận Tuy nhiên ở nước ta lĩnh vực này còn ít được quan tâm kể cả trong nghiên cứu lý luận lẫn vận dụng vào thực tiễn quản lý Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả đổi mới sự nghiệp giáo dục, đổi mới nhà trường

Trong những năm vừa qua công tác giáo dục – đào tạo của các nhà trường THPT ở tỉnh Quảng Ninh đã đạt được những kết quả nhất định, phát triển cả về quy mô lẫn chất lượng Bên cạnh đó, công tác QLGD vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập cả về tư duy quản lý lẫn cơ chế, phương thức quản lý Thực trạng quản

lý hoạt động dạy học trong các trường THPT của tỉnh Quảng Ninh nói chung, thành phố Hạ Long nói riêng chưa đáp ứng được yêu đổi mới chương trình, nội dung sách giáo khoa THPT Chính từ thực tiễn đó chúng tôi đã chọn đề tài

“Biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở trường Trung học phổ thông tỉnh Quảng Ninh theo tiếp cận lý thuyết lãnh đạo và quản lý sự thay đổi” làm đề

tài luận văn Thạc sỹ của mình

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở khát quát lý luận và phân tích thực trạng quản lý hoạt động dạy học ở 04 trường THPT trên địa bàn Thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, đề tài đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy học theo tiếp cận lý thuyết lãnh

đạo và quản lý sự thay đổi, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả quản lí sự thay đổi trong hoạt động dạy học ở trường THPT

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Khái quát những tài liệu lý luận trong và ngoài nước có liên quan đến vấn đề lãnh đạo và quản lý sự thay đổi nói chung và trong QLGD nói riêng

- Điều tra, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động dạy học ở 04 trường THPT trên địa bàn trên địa bàn Thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh dựa trên cơ sở lý thuyết lãnh đạo và quản lý sự thay đổi

Trang 11

- Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy học theo tiếp cận lý thuyết lãnh đạo và quản lý sự thay đổi, nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học ở các trường THPT tỉnh Quảng Ninh

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Quá trình và các biện pháp quản lý hoạt động

dạy học của HT theo quan điểm lãnh đạo và quản lý sự thay đổi của 04 trường THPT trên địa bàn Thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn hiện nay

4.2 Khách thể nghiên cứu: Hoạt động dạy học ở 04 trường THPT trên địa

bàn Thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh từ 2005 trở lại đây

5 Giả thuyết khoa học

Hiệu quả quản lý hoạt động dạy học ở một số trường THPT trên địa bàn Thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh còn thấp do nguyên nhân khách quan và chủ quan chi phối Nếu nâng cao được trình độ hiểu biết về lý thuyết lãnh đạo

và quản lý sự thay đổi và vận dụng nó trong việc đề xuất quy trình và các biện pháp quản lý phù hợp nhằm tạo ra sự thay đổi đồng bộ ở cả 5 thành tố: Tầm nhìn, kỹ năng, nguồn lực, động viên, kế hoạch thì sẽ nâng cao được hiệu quả quản lý và chất lượng dạy học ở các trường THPT tỉnh Quảng Ninh

6 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

6.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu các biện pháp quản

lý sự thay đổi trong hoạt động dạy học của các HT ở 04 trường THPT thành phố

Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

6.2 Giới hạn khách thể nghiên cứu: Trong khuôn khổ của luận văn, đề tài

được tập trung nghiên cứu công tác quản lý hoạt động dạy học ở 04 trường THPT: Vũ Văn Hiếu, Hòn Gai, Ngô Quyền, Bãi Cháy thuộc thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh từ năm 2005 đến năm 2009

7 Các phương pháp nghiên cứu

Trang 12

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân tích, tổng hợp các tài liệu lý

luận và thực tiễn có liên quan đến đối tượng nghiên cứu

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Khảo sát, điều tra (thông qua phiếu

điều tra, qua các số liệu thống kê)

7.3 Phương pháp xử lý số liệu: các số liệu thu được được xử lý bằng thống

+ Kiểm định các giả thuyết

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết quả nghiên cứu được trình bày trong 3 chương:

- Chương I: Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu

- Chương II: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học ở một số trường THPT trên địa bàn Thành phố Hạ Long giai đoạn 2005-2009

- Chương III: Các biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả quản lý sự thay đổi trong hoạt động dạy học ở một số trường THPT trên địa bàn Thành phố

Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

Cuối cùng là danh mục các tài liệu tham khảo và phần phụ lục

Trang 13

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CỦA HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1 KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

Bước vào thập kỷ 90 của thế kỷ XX, khái niệm “toàn cầu hoá” đã được đề cập và sử dụng rộng rãi trong đời sống chính trị, kinh tế - xã hội của hầu hết các quốc gia trên thế giới Xu thế toàn cầu hoá mà trọng tâm là toàn cầu hoá về kinh

tế được coi là một quá trình lịch sử mang tính quy luật của nền kinh tế thế giới Toàn cầu hoá đã và đang đem lại nhiều cơ hội cho các nước nhất là các nước đang phát triển, bên cạnh đó nó cũng dẫn đến nhiều thách thức cả về mặt kinh tế lẫn chính trị, xã hội và văn hoá

Trong lĩnh vực lãnh đạo, quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là trong sản xuất, kinh doanh, toàn cầu hoá vừa mở rộng môi trường lãnh đạo, quản lý vừa gia tăng tính phức tạp Sự thay đổi nhanh đang thách thức vai trò lãnh đạo, quản lý qua câu hỏi: làm thế nào và bằng cách gì có thể lãnh đạo, quản lý sự thay đổi thành công?

Để trả lời câu hỏi trên, ở phương Tây đã có nhiều nhà nghiên cứu đi sâu tìm hiểu cả về mặt lý luận và thực tiễn trong lĩnh vực lãnh đạo, quản lý sự thay đổi có thể dẫn ra một số lý thuyết như:

- Lý thuyết phân tích áp lực của Levin (1991) Trong lý thuyết này ngoài việc phân tích ảnh hưởng của xu thế toàn cầu hoá đến lĩnh vực lãnh đạo, quản

lý, tác giả đã đi đến khẳng định thay đổi là một tất yếu của mọi cá nhân, tổ chức

và đất nước Đặc biệt ông đã đề cập thẳng vào các nhân tố và điều kiện cho lãnh đạo, quản lý thành công sự thay đổi

- Vào cuối những năm 70 của thế kỷ XX, các nhà tâm lý học nổi tiếng phương Tây như: Porter, Mowdays, Steers đã xây dựng lý thuyết về sự cam kết của con người trong tổ chức Trọng tâm của lý thuyết này ban đầu là nhằm lý

Trang 14

giải những nhân tố ảnh hưởng tới sự cam kết và sự trung thành của nhân viên với tổ chức Sau này nó được phát triển sang một số lĩnh vực khác như sự cam kết của con người với nghề nghiệp hay khách hàng hoặc người cung ứng của

họ Sự cam kết ở đây được định nghĩa là trạng thái tâm lý thể hiện sự gắn kết của một cá nhân với tổ chức, nghề nghiệp…

Đến cuối thập kỷ 90 của thế kỷ XX, khi tìm hiểu những khó khăn trong lãnh đạo, quản lý sự thay đổi, các nhà nghiên cứu Meyer và Allen (1997) đã nhận thấy sự cam kết chính là nguồn gốc cơ bản của tâm lý ngại thay đổi và đã chỉ ra ba hình thái cơ bản của sự cam kết: Cam kết dựa trên cảm xúc, cam kết dựa trên quy phạm và cam kết dựa trên tính toán Trên cơ sở đó các tác giả trên cho rằng: lãnh đạo, quản lý sự thay đổi chính là quá trình chuyển các thành viên

từ trạng thái cam kết với mô hình hoạt động cũ sang cam kết với mô hình hoạt động mới [23]

Lý thuyết lãnh đạo sự thay đổi xuất hiện vào đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX

do J.Kotter và một số người khác xây dựng trên cơ sở quan điểm:

+ Thực tiễn lãnh đạo, quản lý sự thay đổi đòi hỏi phải vận dụng tổng hợp các trường phái lý thuyết có liên quan khác nhau nhằm giúp cho người lãnh đạo, quản lý có tư duy, cách tiếp cận linh hoạt và rõ ràng hơn

+ Môi trường lãnh đạo, quản lý sự thay đổi, đòi hỏi người lãnh đạo, quản

lý phải có tầm nhìn, khả năng thích ứng và năng lực lãnh đạo, quản lý sự thay đổi

+ Lý thuyết lãnh đạo, quản lý sự thay đổi là sự kết hợp chặt chẽ của ba trường phái lý thuyết: trường phái phân tích, trường phái học tập, trường phái quyền lực

Ở phương Tây và một số nước ở Đông Nam Châu Á, lý thuyết lãnh đạo, quản lý sự thay đổi đã và đang có giá trị lý luận và thực tiễn cao Trong vòng 10

Trang 15

quản lý chính ở nhiều nước trong đó có Việt Nam cho các nhà lãnh đạo, quản lý trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, quản lý xã hội

Sự biến động không ngừng của đời sống xã hội đã tác động và đòi hỏi sự thay đổi toàn diện trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo Thực tiễn quản lý, giáo dục

ở Việt Nam từ khi đất nước tiến hành sự nghiệp đổi mới đến nay cho thấy nhu cầu thay đổi (đổi mới) của các nhà trường nói chung và sự thay đổi trong lãnh đạo, quản lý nói riêng ngày càng cấp thiết

Trên thế giới, lý thuyết về quản lý sự thay đổi trong giáo dục đã được nhiều nhà khoa học, nhà quản lý quan tâm nghiên cứu: Pauk Hersay (1995), Bernt Davies, Linda Ellion (2005), Michel Dvelay (1999), Pam Robbins, Havay B.Alvy (2004) [2] Những năm gần đây một số nhà nghiên cứu và làm công tác QLGD ở Việt Nam đã được biết đến nghiên cứu của tác giả David Ng Foo Seong (Học viện QLGD Singapore) về nội dung, quy trình quản lý cũng như các thành tố để tạo ra sự thay đổi trong lãnh đạo và quản lý nhà trường phổ

(2003) về QLGD tiểu học theo định hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa [21],

Nguyễn Văn Lê, Hà Thế Truyền, Bùi Văn Quân (2004) với "Một số vấn đề về hướng nghiệp cho HS phổ thông"[16], Trần Ngọc Giao và cộng sự đã xây dựng

"Tài liệu tập huấn chương trình bồi dưỡng HT trường phổ thông theo hình thực liên kết Việt nam - Singapore"[8] Đặc biệt là công trình "Tiếp cận hiện đại trong QLGD" (2006)[13] và "Những vấn đề cơ bản của khoa học QLGD"(2008)[14] của Trần Kiểm cũng đã đề cập rất sâu sắc đến vấn đề này

Tuy nhiên, có thể nói, ở nước ta hiện nay, việc nghiên cứu và vận dụng lý thuyết lãnh đạo và quản lý sự thay đổi trong các cơ sở giáo dục nói chung và trường THPT nói riêng chưa được quan tâm đúng mức

1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN

1.2.1 Khái niệm lãnh đạo, quản lý, QLGD, quản lý nhà trường

Trang 16

1.2.1.1 Khái niệm lãnh đạo

Khái niệm lãnh đạo và quản lý cho đến nay, theo các nhà nghiên cứu là hai khái niệm có mối qua hệ mật thiết với nhau song không đồng nhất mà có sự khác biệt Việc làm rõ khái niệm lãnh đạo cũng cũng sẽ giúp chúng ta thấy được

sự khác biệt giữa lãnh đạo và quản lý

Trong các tài liệu chuyên ngành tồn tại nhiều định nghĩa về lãnh đạo:

- Lãnh đạo là sự ảnh hưởng mang tính tương tác, được thực hiện trong một tình huống và được chỉ đạo thông qua quá trình hợp tác (Tannen Bacom, Masarik.1961)

- Lãnh đạo là quá trình ảnh hưởng tới những hoạt động của nhóm có tổ chức để đạt được mục tiêu (Rauch và Behling 1984)

- Lãnh đạo là một quá trình tác động xã hội theo đó một cá nhân dẫn dắt các thành viên của nhóm huớng đến một mục tiêu nào đó (Brywan.1986)

- Lãnh đạo là khả năng khởi nguồn tin tưởng và hỗ trợ con người nhằm đạt tới các mục tiêu của tổ chức (Durbin 2006)

- Lãnh đạo là một mối quan hệ tác động giữa người lãnh đạo với người được lãnh đạo - những người thực sự muốn thay đổi vì các mục tiêu chung (Rost.1992)

- Hiện nay nhiều người quan niệm quản lý là hoạt động rộng lớn hơn bao trùm lên toàn bộ các hoạt động, các lĩnh vực, vì thế trong quản lý có một khía

cạnh đó là lãnh đạo: “Lãnh đạo là quá trình tác động đến con người sao cho họ

tự nguyện và nhiệt tình phấn đấu để đạt được mục tiêu của tổ chức – bộ máy”

[22]

- Lãnh đạo là quá trình thích ứng với sự thay đổi (J.Kotter 1990) [7]

Các định nghĩa trên cho thấy có sự thống nhất khi quan niệm lãnh đạo là quá trình tương tác nhằm gây ảnh hưởng của người lãnh đạo đến người được

Trang 17

lãnh đạo, là mối quan hệ năng động dựa trên sự ảnh hưởng giữa người lãnh đạo

và cấp dưới nhằm tạo ra động cơ thúc đẩy

“Nhà quản lý cần biết cách lãnh đạo cũng như quản lý Nói chung, trong công việc của nhà quản lý thì lãnh đạo liên quan đến những thay đổi, cảm hứng, động cơ và ảnh hưởng Quản lý liên quan nhiều hơn đến việc thực hiện các mục đích và duy trì sự cân bằng của tổ chức” [10]

Lãnh đạo có các vai trò: Vai trò dẫn đường; vai trò chỉ huy, vai trò đôn đốc, khích lệ, kiểm tra; vai trò hợp đồng, liên kết và vai trò phục vụ

1.2.1.2 Khái niệm quản lý (QL)

Quản lý là một quá trình không thể thiếu được trong đời sống và sự phát triển của xã hội Thích ứng với lực lượng sản xuất nhất định thì có quan hệ sản xuất phù hợp để thúc đẩy xã hội phát triển, đồng thời hình thức QL cũng phải thay đổi theo để phù hợp với hình thái kinh tế - xã hội

- Theo quan điểm Kinh tế học, nhà kinh tế học người Mỹ - Frederiwilliam

Taylor (1856 – 1915) cho rằng: “QL là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái nào cần làm và cái đó làm thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất”

- Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: “QL là chức năng hoạt động của hệ thống có tổ chức thuộc các giới hạn khác nhau (xã hội, sinh học, kỹ thuật) bảo đảm giữ gìn một cơ cấu ổn định nhất định, duy trì sự hoạt động tối ưu và bảo đảm thực hiện những chương trình và mục tiêu của hệ thống đó” [24].

- Theo quan điểm của một số nhà khoa học Việt Nam về QL như sau:

+ PGS.TS Trần Kiếm: QL là những tác động của chủ thể QL trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất [15]

Trang 18

+ GS.TS Đặng Vũ Hoạt và GS.TS Hà Thế Ngữ quan niệm: “QL lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được nhiều mục tiêu nhất định.” [12]

+ PGS.TS Bùi Minh Hiền có quan niệm về quản lý ngắn gọn, đầy đủ và

hợp lý hơn cả: “ QL là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản

lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra”[11].

Quá trình tác động của chủ thể quản lý (CTQL) đến khách thể quản lý (KTQL) được thể hiện ở sơ đồ 1.1

Theo mô hình quản lý trên, ta thấy quản lý bao gồm 3 yếu tố: Chủ thể quản

lý, khách thể quản lý, mục tiêu quản lý Ba yếu tố này luôn luôn gắn bó hữu cơ với nhau, chủ thể quản lý có thể là một hoặc nhiều người, khách thể quản lý có thể là cá nhân hoặc tập thể, được thể hiện với những dấu hiệu sau:

+ Hoạt động QL được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội; + Hoạt động quản lý là những tác động có định hướng;

+ Hoạt động quản lý là những tác động phối hợp nỗ lực của cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức

* Chức năng của quản lý:

Trang 19

Chức năng của quản lý là một tổ hợp các hoạt động tất yếu của chủ thể quản lý, nhằm thực hiện các mục tiêu quản lý

Mọi hoạt động QL đều được thực hiện thông qua các chức năng quản lý Nếu không xác định được các chức năng QL thì chủ thể quản lý sẽ không thể nào đưa tổ chức đạt đến mục tiêu Hoạt động QL nói chung có 4 chức năng: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra được thể hiện theo sơ đồ 1.2

- Chức năng kế hoạch hóa: Kế hoạch hóa là việc xác định các mục tiêu của

tổ chức, đồng thời xác định các con đường, các cách thức và biện pháp cùng các nguồn lực đáp ứng để đạt được các mục tiêu Thực hiện chức năng kế hoạch hóa nhằm xây dựng các kế hoạch hoạt động của tổ chức và của cá nhân người quản lý

- Chức năng tổ chức: Nhằm hình thành cơ cấu tổ chức QL cùng các mối

quan hệ giữa chúng Đó là quá trình phân công, phân bố sắp xếp và phối hợp các nguồn lực để đạt được các mục tiêu Nhờ tổ chức có hiệu quả mà người QL

có thể điều phối các nguồn lực, vật lực để thực hiện thành công các kế hoạch đã

đề ra Vì vậy, cơ cấu tổ chức là một yếu tố không thể thiếu và là nguyên nhân của mọi sự thành công hay thất bại của tất cả các cơ quan, đơn vị

- Chức năng chỉ đạo: Khi kế hoạch đã được xây dựng, cơ cấu tổ chức quản

lý đã được hình thành thì chủ thể quản lý phải chỉ đạo và hướng dẫn cấp dưới

Trang 20

thực hiện kế hoạch để từng bước đi đến mục tiêu Chỉ đạo chính là quá trình thực hiện các tác động điều khiển, dẫn dắt, gây ảnh hưởng đến các thành viên, các bộ phận trong tổ chức để hướng mọi công việc đạt đến mục tiêu chung Người quản lý có trình độ năng lực phải truyền đạt và giải thích rõ các mục tiêu,

kế hoạch, nhiệm vụ, trách nhiệm và quyền hạn cho từng bộ phận và từng cá nhân đồng thời phải tổ chức, tập hợp, liên kết, động viên họ thực hiện và hoàn thành tốt nhiệm vụ được tổ chức phân công

- Chức năng kiểm tra: Đây là một chức năng quan trọng của công tác QL

nhằm đánh giá đúng kết quả hoạt động, phát hiện các lệch lạc, sai sót nảy sinh trong quá trình thực hiện, từ đó tìm hiểu các nguyên nhân và đề ra các biện pháp uốn nắn, khắc phục, sửa chữa, đảm bảo cho kế hoạch đề ra được thực hiện thành công Thông qua kiểm tra giúp người QL xác nhận kết quả, động viên, khích lệ cấp dưới phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ, vì vậy người QL phải tiến hành thường xuyên, kết hợp nhiều hình thức kiểm tra và biết kiểm tra khâu chủ chốt cũng như khâu thứ yếu Cần phải có kế hoạch kiểm tra rõ ràng, sắp xếp tổ chức hợp lý, xác định rõ trách nhiệm của từng cá nhân, từng bộ phận trong hoạt động kiểm tra thì kiểm tra mới đạt kết quả mong muốn

Như vậy quản lý là quá trình ràng buộc và xử lý đối với sự vật trong phạm

vi quyền lực, là quá trình tiến hành chỉnh lý và xử lý về nhân lực, vật lực và các tài nguyên khác nhằm thực hiện mục tiêu đã xác định Nhà quản lý được tổ chức tuyển dụng và trao quyền chính thức để chỉ đạo hoạt động của người khác,

do đó lãnh đạo là công việc quan trọng của nhà quản lý, tuy nhiên nhà quản lý cần phải lập kế hoạch, tổ chức và kiểm soát Nói chung trong công việc của nhà quản lý thì lãnh đạo liên quan đến khía cạnh con người, còn lập kế hoạch, tổ chức và kiểm soát liên quan đến khía cạnh hành chính

Các nhà lãnh đạo tổ chức và huy động mọi người Vai trò của họ là đảm

Trang 21

trung vào việc thay đổi hành vi, trong khi các nhà quản lý tập trung vào việc duy trì các tình huống Như vậy, lãnh đạo có ý nghĩa quan trọng ở các thời điểm diễn ra sự thay đổi Các nhà lãnh đạo giỏi luôn luôn tạo ra sự thay đổi,

Điểm chính trong sự khác biệt giữa lãnh đạo và quản lý là ở chỗ nhân viên sẵn sàng nghe theo lãnh đạo vì họ muốn như vậy, không phải vì họ bị bắt buộc phải nghe theo Người lãnh đạo có thể không có quyền hạn chính thức để khen thưởng nhân viên về kết quả hoạt động của họ Tuy nhiên, nhân viên lại tạo ra quyền hạn cho người lãnh đạo khi tuân thủ những yêu cầu của người lãnh đạo Trái lại, nhà quản lý có thể phải dựa vào quyền hạn chính thức của mình để bắt buộc nhân viên hoàn thành mục đích

1.2.1.3 Khái niệm QLGD (QLGD )

Có thể khẳng định: GD và QLGD cùng tồn tại song hành Nếu nói GD là hiện tượng xã hội tồn tại lâu dài cùng với xã hội loài người thì cũng có thể nói như vậy về QLGD Quản lý có nhiều quan niệm thì QLGD cũng có nhiều quan niệm khác nhau

+ Theo PGS TS Đặng Quốc Bảo: “QLGD theo nghĩa tổng quan là điều hành, phối hợp các lực lượng đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội Ngày nay với sứ mệnh phát triển GD thường xuyên, công tác GD không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà còn cho mọi người Cho nên QLGD được hiểu là sự điều hành hệ thống GD quốc dân” [1].

+ Theo PGS.TS Trần Kiểm: “QLGD là những tác động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống hợp quy luật của chủ thể quản lý từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường nhằm đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ.” [15]

+ Theo GS.TSKH Phạm Minh Hạc: “QLGD là quản lý trường học, thực hiện đường lối GD trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường

Trang 22

vận hành theo nguyên lý GD, để tiến tới mục tiêu GD, mục tiêu đào tạo đối với ngành GD với thế hệ trẻ và với từng HS.” [9].

Như vậy, chúng ta có thể hiểu QLGD là: ”Quá trình tác động có định hướng của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đưa hoạt động GD ở từng cơ sở và của toàn bộ hệ thống GD đạt tới mục tiêu GD đã định” [6]

1.2.1.4 Quản lý nhà trường (QLNT )

Nhà trường là thiết chế chuyên biệt của xã hội, nơi tổ chức, thực hiện và quản lý quá trình giáo dục Quá trình này được thực hiện bởi hai chủ thể: người được giáo dục (người học) và người giáo dục (người dạy) Trong quá trình giáo dục, hoạt động của người học (hoạt động học theo nghĩa rộng) và hoạt động của người dạy (hoạt động dạy theo nghĩa rộng) luôn luôn gắn bó, tương tác, hỗ trợ nhau, tựa vào nhau để thực hiện mục tiêu giáo dục theo yêu cầu của xã hội Một định nghĩa khác: nhà trường là một cộng đồng học tập hay một tổ chức học tập, không chỉ đối với HS mà còn đối với GV và các nhà quản lý (Pam Robbins, Harvey B Alvy)

Nhà trường có bản chất sư phạm, bản chất xã hội và bản chất giai cấp

QLNT là quá trình nắm vững các văn bản pháp quy, nắm vững thực trạng nhà trường về cán bộ, GV và các điều kiện vật chất, nắm được các thông tin về môi trường, từ đó lựa chọn, sắp xếp, hướng dẫn thực hiện các quyết định QL theo một phương án tối ưu, nhằm giúp cho các đối tượng QL vận động hướng tới việc thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ của nhà trường

Nội dung quản lý của nhà trường THPT:

- Quản lý hoạt động của tổ chức chuyên môn trong trường nhằm thực hiện nội dung tiến độ chương trình dạy học ở bậc THPT từ lớp 10 đến lớp 12

- Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức và hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp Quản lý HS và các hoạt động của HS do nhà trường tổ chức (ngoại khoá,

Trang 23

- Quản lý việc thực hiện đổi mới PPDH, giáo dục phù hợp với các đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi vị thành niên từ 15 đến 18 tuổi

- Quản lý phát triển các điều kiện, PTDH, giáo dục

- Quản lý phát triển nâng cao trình độ và năng lực đội ngũ GV THPT theo định hướng các tiêu chuẩn của các ngạch GV THPT

- Quản lý phát triển thể lực và các năng lực cho HS

- QLGD nhà trường, giáo dục gia đình và xã hội kết hợp giáo dục nhà trường – gia đình – xã hội

1.2.2 Hoạt động dạy học, quản lý Hoạt động dạy học

1.2.2.1 Hoạt động dạy học

Theo thuyết hoạt động, dạy học gồm hai hoạt động: Hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò Hai hoạt động này luôn luôn gắn bó mật thiết với nhau tồn tại trong một quá trình thống nhất

Hoạt động dạy: Là sự tổ chức, điều khiển tối ưu quá trình HS lĩnh hội tri thức, hình thành và phát triển nhân cách HS Vai trò chủ đạo của HĐDH được biểu hiện với ý nghĩa là tổ chức và điều khiển hoạt động học tập của HS giúp

HS hình thành các kỹ năng, thái độ để tiếp nhận các kiến thức một cách nhanh

và hiệu quả HĐDH có chức năng kép là truyền đạt, tiếp nhận thông tin ngược

và điều khiển hoạt động học

Hoạt động học: Là quá trình HS tự điều khiển tối ưu sự chiếm lĩnh tri thức khoa học, hình thành cấu trúc tâm lý mới, phát triển nhân cách Vai trò tự điều khiển của hoạt động học thể hiện ở sự tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo dưới sự tổ chức, điều khiển, hướng dẫn của thầy nhằm chiếm lĩnh tri thức Khi chiếm lĩnh tri thức HS đồng thời đạt được ba mục đích thành phần đó là: tiếp nhận tri thức khoa học, phát triển năng lực trí tuệ và hình thành phẩm chất, nhân cách HS

Trang 24

Hoạt động học có hai chức năng: Lĩnh hội và điều khiển quá trình chiễm lĩnh tri thức, các khái niệm một cách tự giác, tích cực Nội dung của HĐDH bao gồm toàn bộ hệ thống khái niệm của môn học, phương pháp đặc trưng của bộ môn, với phương pháp chiếm lĩnh khoa học để biến tri thức của nhân loại thành những kiến thức của bản thân, hình thành và phát triển năng lực của con người theo đúng mục tiêu giáo dục

Như vậy HĐDH là một trong những hoạt động giao tiếp sư phạm mang ý nghĩa xã hội Chủ thể của hoạt động này tiến hành các hoạt động khác nhau, nhưng không phải là đối lập nhau mà song song tồn tại và phát triển trong cùng một quá trình thống nhất Kết quả học tập của HS được đánh giá không chỉ là kết quả của hoạt động học mà còn là kết quả của hoạt động dạy Kết quả dạy của thầy không thể được đánh giá tách rời kết quả học tập của HS HĐDH diễn

ra trong quá trình dạy học, vốn là một bộ phận hữu cơ của quá trình giáo dục tổng thể nhưng có những đặc điểm riêng, do đó muốn nâng cao chất lượng hoạt động của quá trình này cần phải nghiên cứu kỹ về lý luận dạy học

Tóm lại, trong HĐDH, học sinh là nhân tố quyết định trực tiếp kết quả học tập của mình, GV là người tổ chức và kiểm soát quá trình học của HS

1.2.2.2 Quản lý hoạt động dạy học

*Chức năng quản lý HĐDH trong nhà trường:

Chức năng quản lý HĐDH trong nhà trường là những nhóm nhiệm vụ quản lý khác nhau của tập hợp các nhiệm vụ cụ thể về quản lý HĐDH trong nhà trường, bao gồm 4 nội dung:

- Xây dựng kế hoạch quản lý dạy học;

- Chỉ đạo thực hiện;

- Tổ chức thực hiện HĐDH;

- Kiểm tra, đánh giá chất lượng dạy học

Trang 25

Xây dựng và quản lý kế hoạch dạy học Kế hoạch dạy học là một bộ phận của kế hoạch năm học, trong đó bao hàm các mục tiêu, chỉ tiêu phấn đấu, nhiệm

vụ trọng tâm, nhiệm vụ cụ thể, biện pháp tổ chức thực hiện, chương trình thực hiện, thời gian, tiến độ và phân công thực hiện, được cụ thể hoá trong từng tháng, từng tuần Kế hoạch dạy học của nhà trường được triển khai trong các kế hoạch của tổ, nhóm chuyên môn và cá nhân HT, PHT, tổ, nhóm chuyên môn có trách nhiệm giám sát, đôn đốc cấp mình phụ trách thực hiện theo đúng kế hoạch

*Tổ chức kiểm tra, đánh giá chất lượng HĐDH:

Thông qua các hoạt động dự giờ thăm lớp, kiểm tra khảo sát chất lượng đầu năm, kiểm tra thường xuyên hay định kỳ theo phân phối chương trình Mục đích kiểm tra nhằm đánh giá đúng ý thức và năng lực hoạt động của GV, chất lượng HĐDH, đồng thời phát hiện những điểm yếu của công tác chỉ đạo, quản

lý HĐDH trong nhà trường

1.3 LÝ THUYẾT VỀ LÃNH ĐẠO VÀ QUẢN LÝ SỰ THAY ĐỔI

1.3.1 Khái niệm sự thay đổi

Theo quan điểm triết học duy vật biện chứng thì vận động được hiểu là một thuộc tính cố hữu của vật chất, là phương thức tồn tại của vật chất

Vật chất chỉ có thể tồn tại bằng cách vận động và thông qua sự vận động

mà biểu hiện, bộc lộ sự tồn tại của mình Do đó, muốn nhận thức được sự vật phải nhận thức nó trong quá trình vận động

Bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng là một hệ thống bao gồm nhiều bộ phận, nhiều mặt, nhiều yếu tố khác nhau được sắp xếp theo một kết cấu nhất định và chúng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, có ảnh hưởng và tác động qua lại lẫn nhau Chính sự ảnh hưởng, tác động giữa các yếu tố, các bộ phận đó đã tạo nên sự vận động, biến đổi không ngừng của sự vật, hiện tượng Nguyên nhân và nguồn gốc vận động nằm trong bản thân thế giới vật chất, vật chất tự

Trang 26

thân vận động, chứ không phải nhờ có "cái hích đầu tiên của Thượng đế" như những quan niệm duy tâm, thần bí

* Thay đổi là quá trình vận động do ảnh hưởng, tác động qua lại của sự vật, hiện tượng; là thuộc tính chung của bất kỳ sự vật, hiện tượng nào

Thay đổi có thể bao gồm các mặt như:

- Thay đổi về xã hội (thể chế chính trị, đường lối, chủ trương, chính sách, )

- Thay đổi về kinh tế (nông nghiệp chuyển dịch sang công nghiệp và dịch

vụ, đổi mới phương tiện, công cụ, thay đổi công nghệ, )

- Thay đổi khoa học - công nghệ (vi tính, công nghệ thông tin, )

- Thay đổi về giáo dục (mục tiêu, nội dung, chương trình, sách giáo khoa, phương pháp, phương tiện, kiểm tra đánh giá, )

Thay đổi là tất yếu Nhà trường cũng không nằm ngoài quy luật ấy Muốn hay hay không trường học vẫn cứ thay đổi

Thay đổi có thể được khởi xướng ngay bên trong nhà trường hoặc bị áp đặt

từ bên ngoài Thay đổi có thể dưới hình thức có những cải tiến như thế nào đó

để đạt được mục tiêu, hoặc ta phải đương đầu với những mục tiêu và thách thức mới

Thay đổi là một trong những chức năng quan trọng của vai trò quản lý Nếu biết lãnh đạo và quản lý sự thay đổi thì nhà trường sẽ hoạt động tích cực hơn, có hiệu quả hơn Hãy đón nhận sự thay đổi một cách chủ động và tích cực Cần thay đổi - nên thay đổi - có thể thay đổi

1.3.2 Ba trường phái lý thuyết về lãnh đạo và quản lý sự thay đổi

Quá trình phát triển chính là một quá trình thay đổi Chúng ta đang sống trong kỷ nguyên mà những thay đổi trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội diễn ra như vũ bão Trong điều kiện nền kinh tế toàn cầu hóa và phát triển

Trang 27

Toàn cầu hóa, nền kinh tế tri thức và cách mạng khoa học công nghệ đã có những tác động lớn làm thay đổi vai trò của cán bộ QLGD Vai trò của người

HT có xu hướng chuyển từ nhà quản lý thụ động, sang một nhà lãnh đạo và quản lý năng động, thích ứng với mọi sự thay đổi và đòi hỏi ngày càng cao của

xã hội

Trong xã hội hiện đại, tốc độ thích nghi với thay đổi trở thành phẩm chất không thể thiếu và là vũ khí cạnh tranh của mỗi quốc gia và các thành viên của quốc gia đó

Thực tiễn lãnh đạo sự thay đổi đòi hỏi phải vận dụng tổng hợp các khía cạnh của các trường phái lý thuyết khác nhau Việc phân tích rạch ròi các khía cạnh của các trường phái lý thuyết giúp các nhà lãnh đạo có tư duy và cách tiếp cận linh hoạt và rành mạch hơn

Lý thuyết về lãnh đạo, quản lý sự thay đổi là tổ hợp của ba trường phái lý thuyết :

1.3.2.1 Trường phái phân tích

Quản lý sự thay đổi là quá trình phân tích, xác định tầm nhìn, lập và thực hiện kế hoạch [18]

Trang 28

Trường phái này nhấn mạnh đến khả năng phân tích logic, hoạch định kế hoạch và thực hiện quá trình thay đổi

Ý tưởng chính của trường phái phân tích có thể được tóm tắt như sau:

- Lãnh đạo sự thay đổi của tổ chức bắt đầu từ quá trình phân tích tổ chức, bao gồm phân tích môi trường xác định thời cơ, thách thức và phân tích nội bộ, xác định điểm mạnh, điểm yếu

- Điểm mấu chốt là xây dựng tầm nhìn, xác định trạng thái tương lai (hình ảnh tương lai) của tổ chức hay vị thế mới của tổ chức Vị thế này chính là vai trò của tổ chức đối với các bên liên quan (chính phủ, khách hàng, đối tác, v.v.)

và sự nhìn nhận của xã hội về giá trị mới mà tổ chức mang lại Vị thế này được

cụ thể hóa thành các mục tiêu, kế hoạch và các giải pháp thực hiện

- Quá trình thay đổi là quá trình lập và thực hiện kế hoạch chiến lược

- Khả năng phân tích và xây dựng tầm nhìn đóng vai trò hết sức quan trọng

vì kết quả phân tích cho phép tính toán các điều kiện trong - ngoài để các nhà quản lý ra quyết định

1.3.2.2 Trường phái học tập

Quản lý sự thay đổi là quá trình học tập của từng cá nhân cũng như toàn tổ chức về trạng thái tương lai Quá trình học tập này không chỉ liên quan đến năng lực tư duy (nhận thức và cách suy nghĩ), mà còn liên quan đến năng lực hành vi (có kỹ năng và hành vi phù hợp) và năng lực cảm xúc (niềm tin, tiêu chuẩn giá trị và động lực mới) [18]

Như vậy, lãnh đạo sự thay đổi liên quan đến ba khía cạnh sau đây:

Thư nhất là thay đổi tư duy: đây là quá trình các thành viên trong tổ chức

sử dụng thông tin và năng lực tư duy để nhận thức được nhu cầu cũng như phương hướng thay đổi Đây cũng là quá trình mà các thành viên cần phải thay đổi cách nghĩ và cách tiếp cận vấn đề cho phù hợp với tình hình mới

Trang 29

Thứ hai là thay đổi hành vi: Nhận thức mới cần được thể hiện bằng hành vi

và kỹ năng mới Các thành viên cần học cách làm mới, tuân thủ quy trình và chính sách mới

Thứ ba là thay đổi các tiêu chuẩn giá trị liên quan: Đây là sự thay đổi liên quan đến niềm tin, các tiêu chuẩn giá trị, động cơ và mối quan tâm của từng cá nhân

Có thể tóm tắt ba khía cạnh học tập để thay đổi là: Hiểu được yêu cầu mới (tư duy) – làm được theo yêu cầu mới (hành vi) – và tin vào yêu cầu mới (chân giá trị) Một quá trình thay đổi chỉ thực sự hoàn chỉnh khi có được cả ba khía cạnh trên Nếu các thành viên chỉ thay đổi hành vi mà không thay đổi nhận thức thì đó có thể sẽ chỉ là những thay đổi mang tính đối phó Nếu họ chỉ thay đổi nhận thức mà không thay đổi hành vi thì những thay đổi đó không mang lại hiệu quả thực tiễn cho tổ chức Nếu chỉ thay đổi nhận thức và hành vi mà không thay đổi chân giá trị liên quan thì những thay đổi này cũng sẽ không bền vững

Trường phái học tập là một sự bổ sung quan trọng cho các luận điểm của trường phái phân tích Nếu như trường phái phân tích dành nhiều thời gian cho việc phát hiện và định hướng sự thay đổi thì trường phái học tập thực sự hữu ích trong việc truyền đạt và tổ chức thực hiện quá trình thay đổi Trong khi trường phái phân tích thường đề cao vai trò của cá nhân xuất chúng - người khởi xướng sự thay đổi – thì trường phái học tập coi trọng vai trò chia sẻ tri thức và phát triển năng lực trong toàn tổ chức

1.3.2.3 Trường phái quyền lực

Lãnh đạo sự thay đổi là quá trình đàm phán, đấu tranh giữa các lực lượng trong tổ chức [18]

Mỗi sự thay đổi trong tổ chức đều gắn với sự thay đổi lợi ích của các nhóm người khác nhau Như vậy, các lực lượng ủng hộ, phản đối và trung dung đối với sự thay đổi sẽ được hình thành, tùy theo lợi ích tiềm tàng mà sự thay đổi

Trang 30

mang lại cho họ.Tương quan về quyền lực giữa các lực lượng này sẽ quyết định tới kết quả cuối cùng của sự thay đổi Nói cách khác, nhóm ít quyền lực sẽ phải chịu sự chi phối của nhóm có quyền lực mạnh hơn trong quá trình thay đổi Trường phái phân tích có hai giả thuyết quan trọng, đó là: Khi nhà quản lý nhận thức được sự thay đổi và xây dựng được tầm nhìn về trạng thái tương lai, quá trình thay đổi sẽ diễn ra suôn sẻ vì việc truyền đạt tầm nhìn và kế hoạch thay đổi không khó Quá trình nhận thức của mọi người về sự thay đổi diễn ra chủ yếu ở khía cạnh tư duy Thực tiễn thay đổi ở các tổ chức cho thấy cả hai giả định này đều không vững chắc Việc chia sẻ tri thức và tầm nhìn cho toàn tổ chức thực sự là một thách thức lớn, đặc biệt trong bối cảnh quản lý sự thay đổi Ngoài ra, sự thay đổi chỉ thực sự diễn ra khi mọi người trong tổ chức thay đổi nhận thức, hành vi, cảm xúc để thích ứng với trạng thái mới của môi trường và

tổ chức Trường phái học tập lại chú ý vào hai khía cạnh đó

Hai trường phái phân tích và học tập mới đề cập đến khả năng thay đổi của

cá nhân và tổ chức Một khía cạnh quan trọng không kém khác trong quản lý sự thay đổi là động lực thay đổi của các lực lượng khác nhau trong tổ chức Trường phái quyền lực đã chú trọng đến vấn đề này

Ba trường phái trên đặt trọng tâm vào các khía cạnh khác nhau của sự thay đổi Các khía cạnh này hiện hữu ở mọi sự thay đổi của tổ chức, nhưng với hàm lượng khác nhau Suy cho cùng, lãnh đạo sự thay đổi là một quá trình phức tạp, đòi hỏi nhà quản lý phải có năng lực tổng hợp: tư duy phân tích, năng lực tổ chức và khuyến khích nhân viên và năng lực chính trị Ngoài ra, nhà lãnh đạo cũng cần cân bằng nhiều hoạt động khác nhau nhằm phân tích và xây dựng tầm nhìn, truyền đạt và trợ giúp nhân viên, cũng như củng cố quyền lực tạo đà cho

sự thay đổi được liên tục và hiệu quả

Tóm lại: Muốn lãnh đạo, quản lý sự thay đổi có hiệu quả cần vận dụng phù

Trang 31

Lãnh đạo sự thay đổi được hiểu là tổng thể các hoạt động quản trị nhằm chủ động phát hiện, thúc đẩy và điều khiển quá trình thay đổi của tổ chức cho phù hợp với những biến động của môi trường

1.4 TÍNH TẤT YẾU PHẢI THAY ĐỔI TRONG QUẢN LÝ NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG NÓI CHUNG VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC NÓI RIÊNG Ở NƯỚC TA

1.4.1 Xuất phát từ sự thay đổi mô hình nhà trường phổ thông hiện nay

Cuối thế kỷ XX, xã hội loài người bước vào xã hội tri thức và thông tin Cuộc cách mạng về kỹ thuật số đã tác động đến tất cả các tầng lớp xã hội.Từ những biến đổi trên đã tác động và buộc các nhà trường trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo nếu chỉ coi mục đích dạy học là cung cấp kiến thức (thông tin) sẽ trở nên lạc hậu với thời đại Xã hội tri thức và thông tin đòi hỏi một nền giáo dục suốt đời cho mọi người Người thầy ở các nhà trường phải hướng tới việc dạy các HS biết cách học là chủ yếu Theo nghiên cứu nhà trường thế kỷ XXI, có các đặc trưng khác hẳn so với nhà trường ở thế kỷ XX, sự khác biệt này thể hiện

ở bảng sau đây:

Chú trọng phát triển những kiến thức cơ

HS học tập theo kiểu đồng loạt Giải quyết vấn đề bằng phương thức hợp tác

Tính tuần tự từ thấp đến cao Những kỹ năng được học trong bối cảnh

của những vấn đề mang tính thực tiễn Việc giám sát được thực hiện bằng phương

thức hành chính

Hoạt động học của HS là chính yếu, GV

là người hướng dẫn, tổ chức Chỉ một số HS ưu tú học cách tư duy và tự học Tất cả HS đều học cách tư duy và tự học

Trang 32

Nhà trường thế kỷ XXI chú trọng vào việc phát triển thái độ và những kỹ năng tư duy, hợp tác giải quyết vấn đề, nhằm tạo cho người học năng lực thích ứng với sự thay đổi, năng động, sáng tạo Tất cả HS đều học cách tư duy và tự học

Văn hóa giáo dục quyền uy được thay thế bằng văn hóa giáo dục, dạy học hợp tác, dân chủ Thầy đóng vai trò là người hướng dẫn, người chỉ đạo, người

cố vấn trong quá trình dạy học; duới sự hướng dẫn, giúp đỡ của thầy, người học trau dồi cho mình năng lực chủ động, tự điều khiển quá trình tiếp thu kiến thức Môi trường thực sự dân chủ đã khuyến khích được người dạy và người học sáng tạo

1.4.2 Xuất phát từ nhu cầu đổi mới trong quản lý xã hội và quản lý giáo dục ở Việt Nam

Sự nghiệp đổi mới do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo bắt đầu từ năm

1986 nhằm chuyển đổi từ cơ chế quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã tác động không chỉ trong lĩnh vực kinh tế mà đến tất

cả các lĩnh vực của đời sống xã hội trong đó có cả lĩnh vực quản lý xã hội và QLGD Quá trình chuyển đổi này diễn ra theo các mặt sau đây:

- Trước năm 1986 trong quản lý xã hội và QLGD chúng ta chủ yếu quản lý bằng mệnh lệnh hành chính (là cơ sở dẫn đến quan liêu) thì nay chúng ta quản

lý bằng pháp luật

- Trước năm 1986 cơ chế quản lý ở nước ta là cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp thì nay chuyển sang cơ chế phân cấp, dân chủ, tự chủ, tự chịu trách nhiệm

- Trước năm 1986 phương thức quản lý là một chiều từ trên xuống dưới thì nay chuyển sang phương thức tương tác Trong QLGD, quản lý nhà trường đã chuyển sang quan điểm lấy nhà trường làm trung tâm

Trang 33

Quản lý xã hội bằng pháp luật có nghĩa là trong công tác quản lý đã lấy pháp luật điều chỉnh mọi mối quan hệ xã hội, duy trì trật tự xã hội, mọi người sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật Cơ chế phân cấp, dân chủ, tự chủ,

tự chịu trách nhiệm là chủ trương sáng tạo của Đảng và nhà nước ta trong công tác quản lý điều hành xã hội Cơ chế phân cấp, dân chủ, tự chủ, tự chịu trách nhiệm sẽ tạo điều kiện cho cơ sở phát huy mọi khả năng tiềm tàng của mình, chủ động, tích cực sáng tạo trong hoạt động để phát triển tỏ chức, phát triển xã hội Phân cấp đồng thời phân công trách nhiệm rõ ràng, đồng thời tăng cường kiểm tra, kiểm soát, phát hiện, ngăn chăn kịp thời những biểu hiện tiêu cực Phương thức tương tác, lấy nhà trường làm trung tâm thực chất là áp dụng cơ chế phân cấp, dân chủ, tự chủ, tự chịu trách nhiệm

1.4 3 Nhu cầu thay đổi về phương thức lãnh đạo và quản lý nhà trường

Với quan điểm giáo dục cho mọi người, các quốc gia trên thế giới luôn thực hiện cải cách giáo dục khi mà nền kinh tế – xã hội có sự chuyển đổi Sự cải cách giáo dục trên cơ sở khoa học và phù hợp với thực tiễn ở một số quốc gia phát triển cho thấy giáo dục của họ thực chất đã đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội

Hầu hết mọi quốc gia đều phải thực hiện đổi mới về tư duy, cơ chế và phương thức giáo dục và đổi mới quản lý nhà trường, cụ thể:

- Đổi mới về tư duy QLGD: Chuyển từ tư tưởng quản lý mệnh lệnh hành chính sang quản lý chủ yếu bằng pháp luật;

- Đổi mới phương thức QLGD: Chuyển từ một chiều, từ trên xuống sang tương tác, lấy đơn vị cơ sở làm trung tâm;

- Đổi mới cơ chế QLGD: Chuyển từ tập trung, quan liêu, bao cấp sang phân cấp, dân chủ, tự chủ và tự chịu trách nhiệm

Trang 34

Cơ chế QLGD chịu tác động của 4 nhân tố cơ bản đó là: Thể chế Nhà nước; Cơ chế kinh tế; Trình độ phát triển kinh tế - xã hội; Truyền thống Văn hóa – Giáo dục [14] Sự tác động giữa các nhân tố trên có thể được mô tả qua sơ

đồ 1.3

Trong quản lý xã hội và QLGD ở nước ta đã và đang tồn tại hai cơ chế:

- Cơ chế tập trung, kế hoạch hóa cao;

- Cơ chế phi tập trung và định hướng thị trường ở mức độ khác nhau

Cơ chế thứ nhất có:

+ Ưu điểm: Kiểm soát chặt chẽ, huy động quyền lực quốc gia cho GD ; + Nhược điểm: Không thích ứng nhanh, không năng động, hạn chế tính sáng tạo của địa phương

Cơ chế thứ hai có:

+ Ưu điểm: Năng động, khơi dậy sự sáng tạo của địa phương, trao quyền

tự chủ cho cấp dưới, phân quyền mạnh, giáo dục được coi là dịch vụ ;

+ Nhược điểm: Dễ vô chính phủ, cục bộ, làm mất ý nghĩa giáo dục Như vậy, bản chất của sự thay đổi trong phương thức lãnh đạo và quản lý nhà trường là ở chỗ quản lý lấy nhà trường làm cơ sở hay quản lý dựa vào nhà

Cơ chế QLGD

Thể chế nhà nước

Cơ chế kinh tế

Trình độ phát triển kinh tế – xã hội

Truyền thống văn hóa- giáo dục

Sơ đồ 1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế QLGD

Trang 35

Đây là một quan điểm mới về quản lý nhà trường đã được nhiều quốc gia thực hiện có hiệu quả trong một vài thập kỷ gần đây

Thay đổi là yếu tố quan trọng cho sự thành công trong môi trường biến động nhanh chóng và cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ Hệ thống giáo dục trong

đó có trường phổ thông với các nguồn lực phải nhanh chóng thích ứng với sự thay đổi là một yêu cầu tất yếu

1.5 CÁC THÀNH TỐ TẠO RA SỰ THAY ĐỔI VÀ QUY TRÌNH QUẢN LÝ SỰ THAY ĐỔI TRONG NHÀ TRƯỜNG

1.5 1 Các thành tố tạo ra sự thay đổi

Quản lý HĐDH trong nhà trường THPT là quản lý quá trình thay đổi với

sự tác động và chi phối của nhiều thành tố nên rất phức tạp Trên cơ sở nghiên cứu và phát triển lý thuyết lãnh đạo sự thay đổi và quy trình lãnh đạo sự thay đổi của J.Kotter, các nhà nghiên cứu thuộc bộ giáo dục Hoa Kỳ đã đi đến nhận xét rằng: Muốn có sự thay đổi trong bất cứ một lĩnh vực xã hội nào thì đều cần đến sự thay đổi đồng bộ của 5 thành tố, gồm: Tầm nhìn, kỹ năng, sự động viên, nguồn lực và kế hoạch Nếu có sự thiếu hụt một trong 5 thành tố sẽ dẫn đến những hậu quả nhất định [10]

Mối quan hệ của 5 thành tố này được thể hiện bằng minh họa dưới đây:

Tầm nhìn là ý tưởng tương lai của nhà trường có thể đạt được, thể hiện mong muốn của và cộng đồng Tầm nhìn chỉ rõ quang cảnh hiện thực,tin cậy và

Trang 36

hấp dẫn của tương lai nhà trường Tầm nhìn là mục tiêu vẫy gọi, nó chỉ ra cầu nối từ hiện tại tới tương lai [8].

Tầm nhìn được cụ thể hóa bằng một loạt các mục đích, mục tiêu Mục tiêu cần phải: cụ thể; có thể đo lường được; có thể đạt được Cụm từ chuyên môn

mô tả chính xác những điều sẽ đạt được là “viễn cảnh tương lai” Khi tầm nhìn được chia sẻ, nó có thể trở thành nguồn sức mạnh của sự thay đổi

Những tổ chức hiệu quả là những tổ chức có mục đích và có định hướng mục tiêu rõ ràng, trong đó các nhà quản lý, các phòng ban và từng cá nhân làm việc với mục đích rõ ràng và có định hướng rõ rệt Xây dựng mục đích là một việc làm liên tục đưa ra, trọng tâm và khung hiểu biết toàn bộ tổ chức và để kết nối các phòng ban và các cá nhân với nhau Do vậy, những nhà trường không có mục đích rõ ràng và không có chính sách cho cả trường sẽ không thể đáp ứng các tiêu chí về hiệu quả Nếu xác định sai tầm nhìn, điều này cản trở sự thay đổi bởi vì nó làm chúng ta chệch hướng với thực tiễn

Việc xác định tầm nhìn thường được tiến hành theo phương pháp như sau:

- Phương pháp ngoại suy;

- Phương pháp thích ứng;

- Phương pháp chuyên gia, hoặc phối hợp các phương pháp với nhau Như vậy yêu cầu người khởi xướng sự thay đổi phải xây dựng được một tầm nhìn rõ ràng, mạch lạc về đích mà họ muốn tới và họ giả định rằng tất cả những gì họ phải làm là giải thích về lô gic học cho thế giới một cách rõ ràng và sau đó tất cả mọi người sẽ được khuyến khích theo sự chỉ dẫn này Bức tranh trí tuệ về mục đích của họ càng sinh động bao nhiêu thì càng có sức thuyết phục rằng đó là mục đích đúng đắn Tuy nhiên, Fullan (1993) khuyến nghị rằng nên xây dựng tầm nhìn với nỗ lực của cả tập thể, lưu ý đến tầm nhìn cá nhân của cả

GV để có được cam kết đầy đủ của cả tổ chức trong việc thực hiện tầm nhìn

Trang 37

Đối với HT, cán bộ quản lý, nếu không có kỹ năng quản lý sự thay đổi sẽ nảy sinh trạng thái tâm lý khiến họ lo sợ, đặc biệt nếu họ đã thực sự cảm thấy bị

áp lực Những người ở vị trí quản lý thấy rằng sự thay đổi sẽ mang lại cho họ nhiều xung đột, phiền toái, vất vả trong công việc, họ dễ chọn phương án tốt nhất là không làm quá những gì được yêu cầu

Đối với cán bộ, GV khi bắt đầu tham gia thực hiện sự thay đổi, họ có những cảm nhận khác nhau về những mong đợi của sự thay đổi, một số lại thấy

đó là sự đe doạ hoặc nguồn bất an toàn và lo ngại con người phải tiếp xúc cũng như những điểm yếu của nó Việc thay đổi có thể đòi hỏi phải học các kỹ năng mới, thái độ mới và bỏ đi những kỹ năng, thái độ cũ, và ở đây tất yếu nảy sinh

lo lắng, thiếu niềm tin

Sự thay đổi rất phức tạp, hoặc ít ra không dễ làm, theo nghĩa một hành động đúng đắn có thể lại là không bình thường: nó liên quan đến hành vi của nhiều người trong một thời gian nhất định Có một số trở ngại đối với sự thay đổi, ví dụ như tình trạng của tổ chức, sự phân ranh giới, thẩm quyền; thiếu sự hỗ trợ và cam kết, hoặc thiếu nguồn lực; hợp đồng tâm lý và pháp lý giữa GV và nhà trường; tất cả các loại động cơ cá nhân

Bởi lẽ, do tính phức tạp là thuộc tính cố hữu của bất kỳ sự thay đổi nào nên nếu không có kỹ năng quản lý và thực hiện sự thay đổi thì tất yếu không khí lo lắng sẽ bao trùm lên nhà trường, ý tưởng thay đổi chỉ còn là bản vẽ thiết kế không được hiện thực hóa và không có giá trị thực tiễn

Bản thân cán bộ quản lý, HT phải học tập rèn luyện nâng cao kỹ năng quản lý sự thay đổi, xây dựng quy trình quản lý đảm bảo khách quan, hệ thống, khoa học, đồng thời có trách nhiệm truyền đạt tầm nhìn, tố chức cho cán bộ

GV, nhân viên học tập phát triển và rèn luyện kỹ năng quản lý sự thay đổi, giảm thiểu sự băn khoăn, lo sợ, tạo dựng niềm tin quyết tâm thực hiện sự thay đổi có hiệu quả

Trang 38

Bất kỳ sự thay đổi nào cũng tạo ra sự lo lắng và các nhà quản lý phải giải thích đầy đủ những việc đang xảy ra nhằm tạo ra “sự tự chủ” của những người tiến hành sự thay đổi và động viên, khuyến khích mọi người để cho sự thay đổi xảy ra và xảy ra có hiệu quả

Khuynh hướng tự nhiên của con người là chống lại và thậm chí phẫn nộ trước những ý kiến không phải của mình Khuynh hướng này còn mạnh hơn nếu

sự thay đổi là áp đặt đối với họ

Thấu cảm với những người bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi là điều quan trọng, người ta ngại thay đổi, phản đối sự thay đổi vì những nguyên nhân rất khác nhau, người quản lý có thấu hiểu và nhạy cảm với họ thì mới có biện pháp động viên phù hợp, tạo nên động lực thúc đẩy mỗi người hoạt động tích cực, sáng tạo và hiệu quả Thiếu sự động viên có thể dẫn đến con người ta sẽ làm việc kiểu chống đối

Một kế hoạch theo quy trình giống như một lộ trình cho nỗ lực thay đổi, bao gồm thông tin chi tiết như ai làm việc gì và làm vào lúc nào; gồm các mục tiêu rõ ràng và đặt ra những mốc thành tựu quan trọng trong lộ trình thực hiện

Kế hoạch này cũng cụ thể hoá một cách rõ ràng những cách thức thực hiện và các hình thức kiểm tra và theo dõi tiến độ Những đặc điểm của một kế hoạch hiệu quả có thể được tóm tắt như sau:

- Có mục đích: các hoạt động được gắn kết rõ ràng với các mục đích thay

đổi và các ưu tiên thay đổi;

- Cụ thể về nhiệm vụ: các loại hoạt động liên quan được xác định một cách

rõ ràng thay vì chỉ được khái quát hoá, và trách nhiệm thực hiện công việc cũng được phân công một cách rõ ràng;

- Rõ ràng về thời gian: thời điểm đạt mục tiêu được cụ thể hoá và kết quả

được theo dõi về mặt thời gian;

Trang 39

- Được lồng ghép: các hoạt động riêng biệt được kết nối với nhau cho thấy

sự phụ thuộc lẫn nhau giữa chúng và trật tự thực hiện các hoạt động

- Có thể điều chỉnh được: có kế hoạch dự phòng và các cách điều chỉnh

những vấn đề xảy ra ngoài dự kiến như thời hạn không được đảm bảo và sự chống đối không lường trước được

- Hiệu quả về chi phí: hiệu quả đầu tư về cả thời gian và con người [2]

Nếu thực hiện sự thay đổi mà không có kế hoạch thì mọi hoạt động của nhà trường cứ diễn ra một cách ngẫu nhiên, ngẫu hứng dẫn tới sự rối loạn, đặc biệt tính phức tap của sự thay đổi rất lớn, càng cần phải lập kế hoạch và tổ chức thực hiện sự thay đổi

Việc lập kế hoạch cần cân nhắc đến những thay đổi về cơ cấu, vai trò, nhiệm vụ, con người và các hệ thống chính thức và không chính thức Nhiều nỗ lực thay đổi không đi đến thành công khi những yếu tố nói trên được giải quyết một cách riêng rẽ, không gắn với việc lập kế hoạch Vì vậy, cần đảm bảo có sự phối hợp, thống nhất và lồng ghép các yếu tố với nhau

Các nguồn lực hữu hình của một tổ chức nói chung, nhà trường nói riêng

có thể được phân loại thành:

- Nhân lực (những người được tổ chức tuyển dụng);

- Vật lực (nhà xưởng và trang thiết bị);

- Tài lực (nguồn quỹ mà tổ chức có thể dùng)

Nếu những nguồn lực này không được duy trì thì giản đơn là chúng ta sẽ không còn có cả tổ chức để mà kết hợp hoặc thay đổi

Bên cạnh nguồn lực hữu hình còn có các nguồn lực được coi là vô hình,

trong đó có hình ảnh và danh tiếng, chuẩn đạo đức, chuẩn kỷ luật, các mối quan hệ và ủng hộ từ bên ngoài

Nguồn lực vô hình là một trong những điều kiện quan trọng trong việc hình thành và xây dựng , phát triển hệ thống giá trị, chuẩn mực đạo đức trong

Trang 40

nhà trường; tạo dựng được niềm tin của xã hội, HS, phụ huynh, nhà trường khẳng định được vị thế của mình Đặc biệt hình ảnh và danh tiếng càng quan trọng có tính quyết định sự phát triển khi giữa các trường có sự cạnh tranh (tất nhiên cạnh tranh lành mạnh), ví dụ như việc chọn trường của cha mẹ HS và bản thân các em

Duy trì các nguồn lực đó thôi là chưa đủ Tiến trình thay đổi đòi hỏi các

nhà quản lý phải tập trung nhiều vào việc phát triển các nguồn lực để đáp ứng được các thử thách và nhu cầu mới

Nếu hệ thống giáo dục muốn tiến bộ và thích ứng với xã hội thì phải lấy

“nhu cầu làm động lực” chứ không phải lấy “nguồn lực làm động lực”, điều đó

có nghĩa là các nguồn lực phải chuyển đổi để thích ứng với nhu cầu chứ không phải ngược lại Những nhu cầu này sẽ bắt nguồn từ sự kết hợp giữa các giá trị của nhà trường, các xu hướng trong phạm vi môi trường và pháp lệnh về giáo dục

Các hoạt động quản lý đặc biệt liên quan đến việc duy trì và phát triển các nguồn lực là:

- Yếu tố nhân lực − việc lựa chọn, thiết kế công việc, quản lý kết quả công

việc, lập kế hoạch ngành nghề, đào tạo, các đề án, huấn luyện

- Yếu tố vật lực: mua bán, kiểm soát hàng trong kho, quản lý tài sản;

- Yếu tố tài lực: lập ngân sách, kiểm soát giá thành, gây quỹ [2]

Trong khi tài chính thường được coi là trở ngại trong việc xây dựng chương trình giáo dục, thì vấn đề thực sự lại thường là yếu tố con người

Đội ngũ của chúng ta có đủ kỹ năng và kiến thức cần thiết để giới thiệu những môn học và phương pháp mới hay không? Họ có muốn tạo ra sự thay đổi hay không? Mối quan hệ giữa một bên là kỹ năng và kiến thức, và một bên là niềm khao khát đổi mới Để hỗ trợ một môn học mới chúng ta cần hiểu rõ nó;

Ngày đăng: 01/08/2014, 22:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Quốc Bảo (2002), Tổ chức và quản lý: Từ một cách tiếp cận, Tài liệu giảng dạy lớp cao học QLGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức và quản lý: Từ một cách tiếp cận
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Năm: 2002
2. Bertie Everard, Geoffrey Morris, Ian Wilson (2009), Quản trị hiệu quả trường học (Biên dịch: Vũ Văn Hùng, Bùi Thị Thanh Hiền, Đoàn Vân Anh), NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị hiệu quả trường học
Tác giả: Bertie Everard, Geoffrey Morris, Ian Wilson
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2009
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Tài liệu hướng dẫn nhiệm vụ năm học 2009 - 2010, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hướng dẫn nhiệm vụ năm học 2009 - 2010
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2009
4. Brent Davies, Linda Ellion (2005), Quản lý các trường học trong thế kỷ XXI, NXB Đại học Sƣ phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý các trường học trong thế kỷ XXI
Tác giả: Brent Davies, Linda Ellion
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ phạm
Năm: 2005
6. Nguyễn Bá Dương (Chủ biên) và tập thể tác giả (1999), Tâm lý học quản lý, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học quản lý
Tác giả: Nguyễn Bá Dương (Chủ biên) và tập thể tác giả
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1999
7. Nguyễn Bá Dương (2009), Tài liệu tập huấn: Những vấn đề cơ bản của khoa học lãnh đạo, Học viện chính trị - hành chính khu vực 1, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn: Những vấn đề cơ bản của khoa học lãnh đạo
Tác giả: Nguyễn Bá Dương
Năm: 2009
9. Phạm Minh Hạc (1986), Một số vấn đề giáo dục và khoa học giáo dục, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề giáo dục và khoa học giáo dục
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1986
10. Nguyễn Xuân Hải (2009), Sự thay đổi trong lãnh đạo và quản lý nhà trường phổ thông hiện nay ở Việt Nam, Tạp chí Giáo dục, số 210/Kỳ 2-3/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Giáo dục
Tác giả: Nguyễn Xuân Hải
Năm: 2009
11. Bùi Minh Hiền (Chủ biên) và tập thể tác giả (2006), Quản lý giáo dục, NXB Đại học Sƣ phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý giáo dục
Tác giả: Bùi Minh Hiền (Chủ biên) và tập thể tác giả
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ phạm
Năm: 2006
12. Đặng Vũ Hoạt - Hà Thế Ngữ (1987), Giáo dục học - Tập I, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học - Tập I
Tác giả: Đặng Vũ Hoạt - Hà Thế Ngữ
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1987
5. Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010 Khác
8. Trần Ngọc Giao (Chủ biên) và cộng sự (2008), Tài liệu tập huấn chương trình bồi dưỡng hiệu trưởng trường phổ thông theo hình thức liên kết Việt nam - Singapore&#34 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1. Mô hình quản lý - biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở trường trung học phổ thông tỉnh quảng ninh theo tiếp cận lý thuyết lãnh đạo và quản lý sự thay đổi
Sơ đồ 1.1. Mô hình quản lý (Trang 18)
Sơ đồ 1.2. Các chức năng quản lý - biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở trường trung học phổ thông tỉnh quảng ninh theo tiếp cận lý thuyết lãnh đạo và quản lý sự thay đổi
Sơ đồ 1.2. Các chức năng quản lý (Trang 19)
Sơ đồ 1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế QLGD - biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở trường trung học phổ thông tỉnh quảng ninh theo tiếp cận lý thuyết lãnh đạo và quản lý sự thay đổi
Sơ đồ 1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế QLGD (Trang 34)
Sơ đồ 1.4. Các thành tố ảnh hưởng đến sự thay đổi - biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở trường trung học phổ thông tỉnh quảng ninh theo tiếp cận lý thuyết lãnh đạo và quản lý sự thay đổi
Sơ đồ 1.4. Các thành tố ảnh hưởng đến sự thay đổi (Trang 42)
Bảng 2.3. Kết quả bài thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT của 4 trường - biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở trường trung học phổ thông tỉnh quảng ninh theo tiếp cận lý thuyết lãnh đạo và quản lý sự thay đổi
Bảng 2.3. Kết quả bài thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT của 4 trường (Trang 47)
Bảng 2.4. Kết quả bài thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT của toàn tỉnh - biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở trường trung học phổ thông tỉnh quảng ninh theo tiếp cận lý thuyết lãnh đạo và quản lý sự thay đổi
Bảng 2.4. Kết quả bài thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT của toàn tỉnh (Trang 48)
Bảng 2.12. Mức độ đáp ứng về mặt kỹ năng quản lý - biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở trường trung học phổ thông tỉnh quảng ninh theo tiếp cận lý thuyết lãnh đạo và quản lý sự thay đổi
Bảng 2.12. Mức độ đáp ứng về mặt kỹ năng quản lý (Trang 66)
Bảng 2.13. Mức độ đáp ứng của đội ngũ cán bộ quản lý - biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở trường trung học phổ thông tỉnh quảng ninh theo tiếp cận lý thuyết lãnh đạo và quản lý sự thay đổi
Bảng 2.13. Mức độ đáp ứng của đội ngũ cán bộ quản lý (Trang 70)
Bảng 2.14. Mức độ đáp ứng của đội ngũ GV - biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở trường trung học phổ thông tỉnh quảng ninh theo tiếp cận lý thuyết lãnh đạo và quản lý sự thay đổi
Bảng 2.14. Mức độ đáp ứng của đội ngũ GV (Trang 71)
Bảng 2.15. Mức độ đáp ứng của HS - biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở trường trung học phổ thông tỉnh quảng ninh theo tiếp cận lý thuyết lãnh đạo và quản lý sự thay đổi
Bảng 2.15. Mức độ đáp ứng của HS (Trang 72)
Bảng 2.17. Mức độ tự giác, tích cực của đội ngũ - biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở trường trung học phổ thông tỉnh quảng ninh theo tiếp cận lý thuyết lãnh đạo và quản lý sự thay đổi
Bảng 2.17. Mức độ tự giác, tích cực của đội ngũ (Trang 74)
Bảng 2.18. Mức độ đáp ứng của kế hoạch - biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở trường trung học phổ thông tỉnh quảng ninh theo tiếp cận lý thuyết lãnh đạo và quản lý sự thay đổi
Bảng 2.18. Mức độ đáp ứng của kế hoạch (Trang 76)
Bảng 2.19. Số lƣợng, chất lƣợng  đỗi ngũ cán bộ quản lý - biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở trường trung học phổ thông tỉnh quảng ninh theo tiếp cận lý thuyết lãnh đạo và quản lý sự thay đổi
Bảng 2.19. Số lƣợng, chất lƣợng đỗi ngũ cán bộ quản lý (Trang 79)
Bảng 2.20. Nhận thức của GV về mức độ phù hợp của các biện pháp - biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở trường trung học phổ thông tỉnh quảng ninh theo tiếp cận lý thuyết lãnh đạo và quản lý sự thay đổi
Bảng 2.20. Nhận thức của GV về mức độ phù hợp của các biện pháp (Trang 80)
Bảng 2.21. Nhận thức của GV về vức độ phù hợp của các biện pháp quản - biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở trường trung học phổ thông tỉnh quảng ninh theo tiếp cận lý thuyết lãnh đạo và quản lý sự thay đổi
Bảng 2.21. Nhận thức của GV về vức độ phù hợp của các biện pháp quản (Trang 81)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w