Hoạt động thanh tra giáo dục, đặc biệt là hoạt động thanh tra thi đang được lãnh đạo các nhà trường, đơn vị trong Đại học Thái Nguyên quan tâm đặc biệt, nếu thực hiện tốt việc thanh tra
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Tính
Thái Nguyên - 2011
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép
sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nào khác
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2011
Tác giả
Lục Kim Thiều
Trang 3Thái Nguyên, tháng 9 năm 2011
Tác giả
Lục Kim Thiều
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Các chữ viết tắt trong luận văn vi
Danh mục bảng biểu vii
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 2
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Cấu trúc nội dung luận văn 4
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬNVỀ THANH TRA GIÁO DỤC, THANH TRA THI 5
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề thanh tra giáo dục, thanh tra thi trong quản lý giáo dục 5
1.2 Một số khái niệm công cụ 8
1.3 Những vấn đề cơ bản về thanh tra giáo dục 16
1.3.1 Vai trò của thanh tra giáo dục 16
1.3.2 Nội dung thanh tra giáo duc 16
1.3.2 Quy trình thực hiện 1 cuộc thanh tra 17
1.4 Thanh tra thi trong hoạt động giáo dục đại học 18
1.4.1 Vai trò, ý nghĩa, chức năng của hoạt động thanh tra thi đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo 18
1.4.2 Nội dung của thanh tra thi trong giáo dục 19
Trang 51.4.3 Nguyên tắc chỉ đạo hoạt động và phương pháp thanh tra thi trong
giáo dục 24
1.4.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động thanh tra thi ở Đại học Thái Nguyên 25 1.4.5 Vai trò của lãnh đạo các trường, đơn vị, các phòng chức năng (bộ phận thanh tra khảo thí) trong hoạt động thanh tra thi 25
Kết luận chương 1 26
Chương 2: THỰC TRẠNG THANH TRA THI Ở ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN 28
2.1 Những nét khái quát về Đại học Thái nguyên 28
2.1.1 Sự ra đời và phát triển của Đại học Thái Nguyên 28
2.1.2 Mô hình tổ chức của Đại học Thái Nguyên 29
2.1.3 Qui mô đào tạo và chất lượng đội ngũ của Đại học Thái Nguyên 30 2.2 Thực trạng của việc tổ chức thi ở Đại học Thái Nguyên 32
2.3 Thực trạng thanh tra, thanh tra thi ở Đại học Thái Nguyên 33
2.3.1 Thực trạng về tổ chức thanh tra, thanh tra thi ở Đại học Thái Nguyên 33
2.3.2 Thực trạng đội ngũ cán bộ làm công tác thanh tra, thanh tra thi 35
2.3.3 Thực trạng thanh tra và thanh tra thi ở Đại học Thái Nguyên 37
2.4 Nhận thức của cán bộ quản lý và giảng viên về thanh tra, thanh tra thi 40
2.4.1 Thực trạng nội dung thanh tra thi ở ĐHTN đã được tiến hành 43
2.4.2 Thực trạng các hình thức thanh tra thi đã thực hiện ở các trường đại học thành viên, các khoa trực thuộc ĐHTN 46
2.5 Đánh giá thực trạng thanh tra thi 49
Chương 3: ĐỔI MỚI HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC THANH TRA THICỦA HIỆU TRƯỞNG Ở ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN 52
3.1 Định hướng đề xuất các biện pháp 52
3.2 Những nguyên tắc đề xuất các biện pháp 52
3.2.1 Nguyên tắc tuân theo pháp luật, đảm bảo tính pháp chế 52
3.2.2 Nguyên tắc coi trọng công tác giáo dục chính trị - tư tưởng 53
Trang 63.2.3 Nguyên tắc công khai, dân chủ 54
3.2.4 Nguyên tắc đảm bảo tích hiệu quả, tính giáo dục 54
3.2.5 Nguyên tắc đảm bảo tính khách quan, kịp thời, đúng quy chế 55
3.2.6 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ, toàn diện 55
3.3 Các biện pháp chỉ đạo hoạt động thanh tra thi 55
3.3.1 Nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý, giảng viên, học viên, sinh viên và các cán bộ làm công tác thanh tra thi ở các trường, đơn vị trong Đại học Thái Nguyên 55
3.3.2 Tăng cường bồi dưỡng nâng cao kiến thức về trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác thanh tra tra thi 58
3.3.3 Ban hành kịp thời những văn bản hướng dẫn cụ thể đối với thanh tra thanh tra tra thi: xây dựng thành các tiêu chí đánh giá để bình xét thi đua đối với giảng viên, xét kết quả học tập của sinh viên 62 3.3.4 Xác định những khâu đột phá trong công tác thanh tra thi để đạt hiệu quả cao nhất 64
3.3.5 Tăngcường thanh tra thi đối các kỳ thi hệ vừa làm vừa họ… 66
3.4 Mối quan hệ giữa các biện pháp 68
3.5 Khảo nghiệm về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất 69
3.5.1 Tổ chức khảo sát 69
3.5.2 Kết quả khảo nghiệm và ý kiến đánh giá 69
Kết luận chương 3 73
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 75
1 Kết luận 75
2 Khuyến nghị 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 7CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Quy mô học sinh, sinh viên các trường, dơn vị thành viên 30
Bảng 2.2: Kết quả phát triển bậc đào tạo bậc đại học trở xuống qua các năm 30
Bảng 2.3: Kết quả phát triển bậc đào tạo sau đại học qua các năm 31
Bảng 2.4: Đội ngũ giảng viên của ĐHTN 31
Bảng 2.5: Kết quả đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ qua các giai đoạn 32
Bảng 2.6: Đánh giá về thực trạng cán bộ làm công tác thanh tra thi ở ĐHTN trong giai đoạn hiện nay 36
Bảng 2.7: Tổng hợp về kỷ luật HSSV trong ĐHTN 38
Bảng 2.8: Tổng hợp về kỷ luật HSSV trong ĐHTN 39
Bảng 2.9: Nhận thức của cán bộ quản lý và giảng viên về thanh tra, thanh tra thi 42
Bảng 2.10: Bảng đánh giá thực trạng nội dung công tác thanh tra thi ở ĐHTN 44
Bảng 2.11: Các hình thức thanh tra thi ở Đại học Thái Nguyên 47
Bảng 3.1: Mức độ cần thiết của các biện pháp 70
Bảng 3.2: Mức độ khả thi của các biện pháp đã đề xuất 72
Trang 9NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1 Lý do chọn đề tài
Thanh tra là hoạt động điều tra, xem xét sự việc từ góc độ bên ngoài để làm
rõ bản chất của sự việc, nhờ có hoạt động thanh tra mà hoạt động đào tạo trong các nhà trường, cơ sở giáo dục đảm bảo tính pháp chế, tính kỷ cương, kỷ luật, nhờ có hoạt động thanh tra mà đối tượng giáo dục và nhà quản lý giáo dục biết được những điểm yếu của mình để tìm cách khắc phục, phòng ngừa những sai sót Thanh tra giáo dục là biểu hiện đặc thù của kiểm tra trong quản lý giáo dục, chức năng cơ bản của thanh tra là kiểm tra, phát hiện những sai sót để giúp đỡ nhà trường, cơ sở giáo dục khắc phục yếu kém đang tồn tại, hoàn thiện quá trình quản lý nâng cao chất lượng giáo dục
Quản lý giáo dục mang tính đặc thù là quản lý quá trình hình thành nhân cách người học, thực chất là quản lý quá trình dạy học và quản lý quá trình giáo dục
mà sản phẩm của hai quá trình này là quá trình hình thành phát triển nhân cách người học Do vậy phải thường xuyên thanh tra, kiểm tra để hoạt động dạy học và hoạt động giáo dục thực hiện có nề nếp, kỷ cương và hiệu quả để sản phẩm giáo dục không có sản phẩm phế phẩm Hoạt động giáo dục và đào tạo ở các trường rất đa dạng và phong phong phú, phức tạp Để đạt được mục tiêu của quản lý nhà trường, đòi hỏi phải thường xuyên thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện mục tiêu, nội dung, chương trình kế hoạch dạy học, giáo dục của giáo viên và người học, kiểm tra điều kiện phục vụ cho hoạt động dạy học, giáo dục, nề nếp dạy học nhằm kịp thời phát hiện
và điều chỉnh để hoạt động giáo dục, đào tạo của nhà trường đi đúng hướng
Thanh tra thi là một hoạt động kiểm tra giúp cho việc đánh giá kết quả học tập của người học được thực hiện một cách khách quan, chính xác, công bằng, tạo động lực cho hoạt động dạy học phát triển Hoạt động thanh tra giáo dục, đặc biệt là hoạt động thanh tra thi đang được lãnh đạo các nhà trường, đơn vị trong Đại học Thái Nguyên quan tâm đặc biệt, nếu thực hiện tốt việc thanh tra thi sẽ góp phần hạn chế các tiêu cực trong thi cử, đánh giá chính xác kết quả thi của sinh viên, học viên, tạo nhiều động lực cho người học
Trang 10Hiện nay hoạt động thanh tra nói chung và hoạt động thanh tra thi nói riêng cũng đã đi vào nề nếp, tuy nhiên áp lực thi cử và tâm lý coi nhẹ công tác này vẫn còn xuất hiện ở một số trường, đơn vị; do đó để công tác thanh tra thi đi vào nề nếp, luôn được duy trì thực hiện ở các cấp độ đào tạo, các loại hình đào tạo trong các trường, đơn vị thuộc Đại học Thái Nguyên là quan trọng, cần thiết nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nhằm đào tạo đáp ứng với nhu cầu xã hội
và nhà tuyển dụng nguồn nhân lực Vì vậy chúng tôi chọn đề tài :" Biện pháp đổi mới hoạt động thanh tra thi của Hiệu trưởng ở Đại học Thái nguyên"
2 Mục đích nghiên cứu
- Đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác thanh tra thi ở các trường, đơn vị trong Đại học Thái Nguyên, chủ động phòng ngừa, phát hiện và kiến nghị xử lý sai phạm; Giúp các cơ quan quản lý, chỉ đạo thu thập thông tin chính xác, kịp thời để đề ra giải pháp khắc phục khó khăn, vướng mắc, ứng phó mới mọi tình huống bất thường có thể xẩy ra, đảm bảo cho các kỳ thi diễn ra an toàn, nghiêm túc và đúng quy chế
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: Hoạt động thanh tra thi và công tác quản lý, thực hiện thanh tra thi tại 6 trường ĐH, 2 khoa trực thuộc và 1 trường CĐ thuộc Đại học Thái Nguyên
Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp chỉ đạo đổi mới hoạt động thanh tra thi của hiệu trưởng các trường, đơn vị thuộc Đại học Thái Nguyên
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của công tác thanh tra giáo dục, thanh tra thi
- Khảo sát thực trạng công tác thanh tra thi ở các trường, đơn thị thuộc Đại học Thái Nguyên
- Đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm góp phần đổi mới hoạt động của công tác thanh tra thi ở ĐHTN
5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi đề tài này tôi chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng và đề xuất các biện pháp chỉ đạo đổi mới hoạt động thanh tra thi đối với các kỳ thi (Thi kết
Trang 11thúc học phần, thi tốt nghiệp) của các hệ đào tạo chính quy, vừa học vừa làm, sau đại học… tại các trường, đơn vị thành viên trong Đại học Thái Nguyên kể từ khi có Quyết định số 14/QĐ-BGD&ĐT ngày 25/4/ 2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành tổ chức và hoạt động thanh tra trong các cơ sở giáo dục đại học, trường trung cấp chuyên nghiệp
Đề tài này không đề cập đến kỳ các kỳ thi do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức hàng năm trong phạm vi cả nước (Kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức với mục tiêu “ 3 chung”, đó là chung đề, chung đợt, chung kết quả xét tuyển)
6 Phương pháp nghiên cứu
- Nhóm phương pháp tài liệu lý luận văn bản: Sử dụng các PPNC tài liệu, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa để xây dựng hệ thống vấn đề nghiên cứu) gồm:
+ Nghiên cứu các tài liệu về lý luận thanh tra giáo dục, các Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc đề cập đến lĩnh vực giáo dục, các văn bản pháp qui về thanh tra giáo dục, thanh tra thi; các quyết định của Bộ Giáo dục và Đào tạo về tổ chức và hoạt động thanh tra tại các cơ sở giáo dục và trường trung cấp chuyên nghiệp, các văn bản hướng dẫn thanh tra thi của Thanh tra Bộ và các vụ, cục có liên quan; các tài liệu khoa học, bài báo được đăng trên các tạp chí khoa học và những báo cáo tổng kết về thanh tra giáo dục
+ Nghiên cứu các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn thanh tra hoạt động thanh tra thi ở các đơn vị trong ĐHTN (Quyết định số 339/QĐ-TTr ngày 19/5/2006 của Giám đốc ĐHTN ban hành các quy định về công tác thanh tra giáo dục và Hướng dẫn số 648/HD-ĐHTN ngày 28/5/2009 của Giám đốc ĐHTN về việc Hướng dẫn tổ chức
và hoạt động thanh tra thi trong toàn Đại học, các văn bản hướng dẫn chuyên môn
có liên quan…)
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: chủ yếu là phương pháp điều tra nêu bảng hỏi và phương pháp chuyên gia
+ Điều tra bằng bảng các câu hỏi đối với giảng viên, sinh viên, các cá nhân
có liên quan khác theo các tiêu chí có liên quan đến phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trang 12+ Kết quả tổng kết kinh nghiệm thanh tra thi ở ĐHTN và các trường, đơn vị trực thuộc từ năm 2006 đến nay
+ Phương pháp chuyên gia và phương pháp phỏng vấn sâu, phương pháp quan sát các kỳ thi
7 Cấu trúc nội dung luận văn
Chương 1: Cơ sở lý luận của công tác thanh tra giáo dục, thanh tra thi
Chương 2: Thực trạng công tác thanh tra thi ở ĐHTN hiện nay
Chương 3: Đổi mới hoạt động thanh tra thi của hiệu trưởng của các trường, đơn vị trong ĐHTN
Trang 13Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ THANH TRA GIÁO DỤC, THANH TRA THI
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề thanh tra giáo dục, thanh tra thi trong quản lý giáo dục
Thanh tra là hoạt động điều tra, xem xét từ góc độ bên ngoài Theo Từ điển
Tiếng Việt “ Thanh tra là kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ
quan, xí nghiệp’’ Với nghĩa này thì thanh tra bao hàm nghĩa kiểm soát nhằm xem
xét và phát hiện ngăn chặn những gì trái quy định
Công tác thanh tra được hình thành rất sớm ở nhiều quốc gia trên thế giới như Pháp, Đức, Nhật, Bỉ, Hà Lan, Mỹ, Nga… và luôn luôn gắn liền với chức năng quản lý nhà nước nhằm bảo vệ quyền lợi của giai cấp cầm quyền
Trong thời kỳ phong kiến ở nước ta, khái niệm thanh tra chưa được sử dụng, nhưng các triều đại nhà Lý, Trần, Lê có cơ quan gọi là Ngự Sử Đài với chức năng gần giống như cơ quan thanh tra nhà nước hiện nay và có chức “ Quan ngự sử” giúp nhà vua trong việc theo dõi, xem xét các công việc quan trọng của triều đình Quan ngự sử đời nhà Trần còn có quyền tiền trảm hậu tấu và là chức quan duy nhất
có quyền can gián vua Thời nhà Lê có hàm “Gián nghị đại phu” phong tặng cho bất
cứ bề tôi nào dám nói thẳng, nói đúng sự thật, Gián nghị đại phu có quyền đề xuất ý kiến những việc vua nên làm và can gián nhà vua những việc không nên làm
Dưới thời pháp thuộc, hệ thống thanh tra giáo dục đã được hình thành từ Trung ương đến các tỉnh, huyện Thanh tra giáo dục thời kỳ này đã để lại nhiều dấu
ấn đối với những người dạy, người học thời kỳ trước cách mạng tháng 8/1945 Các quan lại thanh tra thời kỳ này khi thực hiện nhiệm vụ thường có sự đánh giá thường chủ quan, với mục đích tuyên truyền văn hóa pháp cho dân bản địa, bảo vệ lợi ích của giai cấp cầm quyền, thực hiện theo phương châm “vạch mặt, tóm bắt” Quyền hạn của các quan TTGD thời kỳ này rất lớn, ảnh hưởng nhiều tư tưởng của chế độ thực dân
Trang 14Cách mạng tháng 8/1945 thành công, Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, công tác thanh tra giáo dục đã được Đảng và nhà nước rất quan tâm, ngày 23/9/1945 Bác Hồ đã ký Sắc lệnh thành lập Ban Thanh tra học chính để thanh tra việc dạy và học chữ Quốc ngữ thực hiện nhiệm vụ “xóa mù chữ”, với mục đích
“diệt giặc dốt”, là trọng tâm của nền giáo dục quốc dân lúc đó
Năm 1961, trong bài huấn thị về công tác thanh tra, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã nói “Thanh tra là tai mắt của Đảng và Chính phủ, tai mắt sáng suốt thì người
mới sáng suốt”
Hiến pháp năm 1980 của Nước CHXHCN Việt Nam ra đời đã sử dụng thuật ngữ thanh tra như là một chức năng của cơ quan quản lý nhà nước với việc qui định rõ: “Hội đồng Bộ trưởng có nhiệm vụ tổ chức và lãnh đạo công tác thanh tra và kiểm tra của nhà nước”
Ngày 18/9/1989 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có Quyết định số 1019/QĐ- BGD&ĐT quy định về tổ chức và hoạt động của hệ thống thanh tra giáo dục, trong
đó nêu rõ hệ thống TTGD là thanh tra gồm: Thanh tra Bộ, Thanh tra Sở, Thanh tra phòng giáo dục Nhiệm vụ chủ yếu của TTGD là: Thanh tra chuyên môn, thanh tra quản lý, thanh tra khiếu tố Việc ban hành Quyết định này đánh dấu một mốc quan trọng sự chuyển biến về nhận thức và hoạt động TTGD trong các hệ thống các trường đại học, cao đẳng và dạy nghề
Luật Thanh tra năm 2004 và Nghị định số 41/2005/NĐ-CP ngày 25/3/2005 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Thanh tra đã qui định hệ thống thanh tra giáo dục ở các cơ quan quản lí nhà nước cấp bộ, sở (tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương) vừa có chức năng thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành nhằm thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của
cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc thẩm quyền quản lí nhà nước cung cấp
Ngày 24/5/2006 Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quyết định số 14/2006/QĐ-BGD&ĐT qui định về tổ chức và hoạt động thanh tra trong cơ sở giáo dục đại học, trường trung cấp chuyên nghiệp Theo văn bản hướng dẫn này, các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp trong cả nước phải xây dựng bộ
Trang 15máy TTGD để thực hiện nhiệm vụ TTGD của đơn vị mình đặt dưới sự chỉ đạo của thủ trưởng đơn vị Tổ chức TTGD trong các ĐH quốc gia, ĐH vùng gọi là Ban TTGD, tại các trường thành viên tổ chức này được gọi là phòng Thanh tra khảo thí
và Kiểm định chất lượng và đề nghị các trường tăng số cán bộ chuyên trách làm công tác thanh để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của việc đổi mới giáo dục đại học
Công tác thanh tra thi cũng gắn liền với sự hình thành và phát triển của công tác thanh tra giáo dục bởi vì thanh tra thi là một công việc thường kỳ, chủ yếu của thanh tra giáo dục bởi vì hàng năm có rất nhiều kỳ thi diễn ra như tuyển sinh đại học và cao đẳng, tuyển sinh sau đại học, trung học phổ thông…, tuy nhiên tuỳ vào từng thời kỳ lịch sử mà thanh tra thi thể hiện vai trò của mình rất khác nhau, trong giai đoạn hiện nay công tác này đang được lãnh đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo rất quan tâm và chỉ đạo sát sao để từng bước tăng cường đội ngũ cán bộ làm công tác thanh tra, nhằm đảm bảo chất lượng giáo dục và đào tạo
Tác giả Lê Thị Soan với đề tài luận văn thạc sĩ nghiên cứu về thanh tra chuyên môn của ĐHTN đã khai thác hoạt động thanh tra dưới góc độ quản lý chuyên môn thực hiện nề nếp, nội dung, chương trình, kế hoạch dạy học ở các trường đại học thuộc ĐHTN
Như vậy, hoạt động TTGD nói chung và thanh tra thi nói riêng đã có từ lâu trên thế giới và ở Việt Nam, nhưng TTGD được thực hiện 1 cách hệ thống trong các trường đại học, cao đẳng, TCCN ở Việt Nam vẫn còn là điều mới mẻ Đã có một số
đề tài nghiên cứu về vấn đề thanh tra nhưng chủ yếu tập chung vào chức năng quản
lý nhà nước hoặc thanh tra chuyên môn của giáo viên trong lĩnh vực giáo dục ở phạm vi một huyện, thị xã trực thuộc tỉnh cho nên cũng chưa nêu bật được những
ưu điểm, nhược điểm về công tác thanh tra liên quan đến các kỳ thi đang diễn ra trong các trường đại học, cao đẳng hiện nay; có một số bài báo đã đề cập vấn đề này nhưng chỉ mang tính chất đưa tin một cách khái quát, chưa đi sâu nghiên cứu vào một vấn đề lĩnh vực của công tác thanh tra thi
Trên cơ sở nhận thức về tầm quan trọng của công tác TTGD, xuất phát từ thực tiễn công tác thanh tra giáo dục, thanh tra thi ở Đại học Thái Nguyên và bản
Trang 16thân tôi đang tham gia thực hiện công tác này nên tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài này nhằm khảo sát một cách tổng thể thực trạng công tác tổ chức thi của các trường đại học thành viên, các khoa trực thuộc để có cơ sở đề xuất các biện pháp chỉ đạo đổi mới hoạt động thanh tra thi của hiệu trưởng (thủ trưởng đơn vị) của các trường, đơn vị thuộc Đại học Thái Nguyên, nhằm nâng cao hiệu quả công tác thanh tra thi, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, khẳng định vị trí, vai trò của Đại học Thái Nguyên là một đại học vùng có vai trò quan trọng trong việc đào tạo nhân lực và chuyển giao công nghệ cho các tỉnh trung du miền núi phía bắc
1.2 Một số khái niệm công cụ
i Quản lý
Theo Đại bách khoa toàn thư Liên Xô, 1977 thì “ Quản lý là chức năng của
hệ thống có tổ chức với bản chất khác nhau (xã hội, sinh vật, kỹ thuật), nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng và duy trì chế độ hoạt động, thực hiện những chương trình, mục đích hoạt động”
Quản lý có nguồn gốc từ tiếng la tinh, có nghĩa là sự rèn luyện, sự dẫn dắt Quản lí xuất hiện khi con người hình thành các nhóm để thực hiện những mục tiêu chung mà với tư cách cá nhân họ không thể thực hiện được Ở đâu hình thành nhóm người thì ở đó có quản lí Với một tổ chức được hình thành thì bất luận nó có mục đích, cơ cấu và quy mô ra sao đều cần có sự quản lí để đạt được mục đích chung của tổt chức Vì vậy, quản lí xuất hiện là một tất yếu khi con người kết hợp với nhau thành các nhóm, các tổ
Quản lý là thuật ngữ chỉ "hoạt động có ý thức của con người nhằm sắp xếp tổ chức, chỉ huy, điều hành, hướng dẫn, kiểm tra các quá trình xã hội và hoạt động của con người để hướng chúng phát triển phù hợp với qui luật xã hội, đạt được mục tiêu xác định theo ý chí của nhà quản lý với chi phí ít nhất"
Quản lí có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau:
Theo F.W Tay lo (người Mỹ) định nghĩa: Quản lý là biết chính xác người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất
Trang 17Theo Các Mác thì “ Quản lí là một đặc điểm sẵn có, bất biến của đời sống xã hội vì bất cứ lao động trực tiếp hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy
mô khá lớn đều yêu cầu phải có sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân Một nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì cần có một nhạc trưởng"
Theo chúng tôi: Quản lý là sự điều hành, hướng dẫn và điều chỉnh các quá
trình xã hội và hành vi của con người nhằm đạt tới các mục tiêu đã đề ra
Quản lí là một quá trình chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lí bằng
kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá dựa trên những nguồn lực và những điều kiện có thể nhằm đạt được mục đích đã đề ra
Xét cho cùng thì quản lí luôn có bốn chức năng cơ bản là: Lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra (kế, tổ, đạo, kiểm)
Chức năng lập kế hoạch: Là chức năng nền tảng của quản lí, bao gồm việc
xác định sứ mệnh, mục tiêu, mục đích của tổ chức và cách thức, biện pháp để đạt được mục tiêu đó dựa trên việc huy động các nguồn lực, lựa chon giải pháp để thực hiện Lập kế hoạch chính là việc xây dựng các định hướng và đề ra quyết định tổ chức thực hiện trong một thời gian nhất định cho tổ chức
Chức năng tổ chức: Là việc chuyển hóa những ý tưởng đã được xác định
trong khâu lập kế hoạch thành hiện thực Đó là việc sắp xếp, tuyển chọn, xác định vai trò cho từng con người thông qua phân tích công việc, đề ra nhiệm vụ để chọn người đảm nhận công việc cho thích hợp, đồng thời hình thành cấu trúc mối quan
hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong tổ chức giúp cá nhân hoàn thành kế hoạch được giao và đạt được mục tiêu chung của tổ chức
Chức năng điều hành, chỉ đạo: Là sự tác động của người quản lí đến đối tượng
quản lí sau khi kế hoạch đã được lập, cơ cấu bộ máy đã hình thành với sự phân công công việc cụ thể Sự lãnh đạo bao gồm sự liên kết, liên hệ với người khác và động viên
họ hoàn thành nhiệm vụ được giao để đạt được mục tiêu chung của tố chức
Chức năng kiểm tra, đánh giá: Nhằm đo lường và điều chỉnh hoạt động các
bộ phận trong tổ chức thông qua việc theo dõi, giám sát các hoạt động và thành quả
Trang 18của tổ chức để đối chiếu, so sánh với chi phí bỏ ra, nếu không phù hợp phải tiến hành điều chỉnh, uốn nắn Đó cũng chính là quá trình tự điều chỉnh
Trong bốn chức năng trên thì mỗi chức năng có 1 vị trí, vai trò khác nhau, có những ưu điểm và nhược điểm khác nhau nên đòi hỏi chủ thể quản lý phải biết gắn kết các chức năng này, tạo mối quan hệ mật thiết giữa các chức năng, phải được thực hiện liên tiếp và đan xen nhau, bổ sung cho nhau để tạo thành một chu trình quản lí Thông tin là yếu tố xuyên suốt không thể thiếu trong việc thực hiện các chức năng quản lí và là cơ sở để ra các quyết định quản lí
ii Quản lí giáo dục
Có thể khẳng định, giáo dục và quản lý giáo dục là tồn tại song hành Nếu nói giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, là một chức năng của xã hội loài người được thực hiện một cách tự giác và vận động, tồn tại, phát triển với tư cách là môt hệ thống Giáo dục xuất hiện nhằm thực hiện cơ chế truyền kinh nghiệm lịch sử- xã hội của loài người, của thế hệ trước cho thế hệ sau và để thế hệ sau có trách nhiệm kế thừa, phát triển nó một cách sáng tạo, làm cho xã hội, giáo dục và bản thân con người phát triển không ngừng Tuy nhiên giáo dục không thể tồn tại và phát triển nếu không có sự quản lý, đặc biệt là trong xã hội phát triển, nếu không quản lý thì giáo dục sẽ phát triển một cách tự phát người lãnh đạo không kiểm soát nổi, vì vậy theo cách nói của Các Mác thì "dàn nhạc" giáo dục trong quá trình tồn tại và phát triển cũng phải có “ nhạc trưởng” đó là quản lí giáo dục
Quản lí giáo dục với tư cách là một chuyên ngành khoa học được nhiều nhà khoa học trong nước và quốc tế nghiên cứu cho nên có nhiều quan điểm khác nhau
về quản lý giáo dục:
Theo M.M Mêchti Zađe (người Nga): Quản lí giáo dục là tập hợp những biện pháp (tổ chức, phương pháp, kế hoạch hóa, tài chính, cung tiêu ) nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống cả về số lượng, chất lượng
Theo Khuđôminky (người Nga): Quản lí là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của chủ thể quản lí ở các cấp khác nhau đến tất cả
Trang 19các khâu của hệ thống (từ trung ương đến địa phương, từ bộ Giáo dục đến nhà trường) nhằm mục đích đảm bảo việc giáo dục Cộng sản Chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, bảo đảm sự phát triển toàn diện và hài hòa của họ
Theo tác giả Trần Kiểm trong tác phẩm“Khoa học quản lý – Một số vấn đề
lý luận và thực tiễn” thì quản lí giáo dục được định nghĩa ở hai cấp độ chủ yếu: cấp
độ vi mô và cấp độ vĩ mô
Ở cấp độ vi mô: Quản lí giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có mục đích, có ý thức, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy định) của chủ thể quản lí đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục
Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính trồi (emergeence) của hệ thống;
sử dụng một cách tối ưu các tiền năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện đảm bảo sự cân bằng với môi trường bên ngoài luôn luôn biến động
Cũng có thể định nghĩa quản lý giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thẻ quản lý nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát… một cách có hiệu quản các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
Ở cấp độ vĩ mô: Quản lí giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có mục đích, có ý thức, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy định) của chủ thể quản lí đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường
Theo chúng tôi: Quản lý giáo dục thực chất là những tác động của chủ thể
quản lý vào quá trình giáo dục (được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường
Trang 20Tóm lại: Quản lí giáo dục là một qúa trình tác động có định hướng của nhà quản lí giáo dục (chủ thể quản lí) trong việc vận dụng những nguyên lí, phương pháp chung nhất của khoa học quản lí vào lĩnh vực giáo dục nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đã đề ra Những tác động đó thực chất là những tác động khoa học đến
cơ sở giáo dục, làm cho cơ sở giáo dục tổ chức một cách khoa học, có kế hoạch quá trình dạy học - giáo dục theo mục tiêu đào tạo đề ra
Chủ thể quản lí là trung tâm thực hiện các tác động có mục đích của qúa trình giáo dục, là nơi ra các quyết định quản lí và kiểm tra các hoạt động của hệ thống giáo dục theo mục tiêu đề ra
Đối tượng quản lí giáo dục bao gồm: nguồn nhân lực (đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh sinh viên), cơ sở vật chất kĩ thuật và các hoạt động có liên quan đến việc thực hiện chức năng, mục tiêu giáo dục
Cơ sở giáo dục là đối tượng quan trọng hàng đầu của quản lí giáo dục, trong
đó đội ngũ cán bộ, giáo dục, học sinh sinh viên là đối tượng quan trọng nhất, nhưng đồng thời lại là chủ thể trực tiếp quản lí quá trình giáo dục
iii Thanh tra
Quan niệm về thanh tra trong mỗi thời kỳ, giai đoạn lịch sử có khác nhau
như hiểu 1 cách chung nhất thì “ Thanh tra là kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm
của đối tượng thanh tra”
Khái niệm thanh tra có nguồn gốc từ chữ la tinh, có nghĩa là "nhìn vào bên trong" và là "Kiểm tra, xem xét từ bên ngoài vào một đối tượng nhất định"
Thanh tra bao hàm nghĩa kiểm soát nhằm xem xét và phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy định Thanh tra thường đi kèm với một chủ thể nhất định với phạm vi quyền hạn nhất định
Theo quan điểm của Đảng và Nhà nước ta thì thanh tra luôn có một vị trí
quan trọng Luật Thanh tra năm 2004 đã chỉ rõ: "Thanh tra là một chức năng thiết
yếu của cơ quan quản lí nhà nước, là hình thức bảo đảm pháp chế, tăng cường kỉ luật trong quản lí nhà nước, thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa"
Trang 21Như vậy, thanh tra là hoạt động hành chính của cơ quan nhà nước, có chức năng duy trì các hoạt động bình thường của cơ quan và công chức hành chính phù hợp với pháp luật của nhà nước, bằng các hoạt động xem xét, thẩm định lại những hành vi của công chức, những hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước trên cơ
sở những qui định pháp lý về quyền hạn, nhiệm vụ của các cá nhân (công chức, cán
bộ và các nhân viên khác trong cơ quan hành chính và tổ chức)
Khái niệm thanh tra có thể khái quát lại như sau: " Thanh tra là một chức
năng thiết yếu của quản lí nhà nước, là hoạt động kiểm tra xem xét việc làm của các
cơ quan chuyên trách theo một trình tự, thủ tục do pháp luật qui định nhằm kết luận đúng, sai, đánh giá ưu, khuyết điểm, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa, xử lí các vi phạm, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lí, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của nhà nước, các quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân”
Có thể rút ra kết luận: Thanh tra là chức năng thiết yếu của quản lí nhà nước Nếu không có hoạt động thanh tra, kiểm tra thì không thể làm tốt chức năng quản lí nhà nước, không mang lại hiệu quả cao cho hoạt động quản lí
Chính vì vậy mà thanh tra luôn có các đặc điểm gắn liền với quản lí nhà nước, mang tính quyền lực nhà nước và có tính độc lập tương đối
iv Kiểm tra
Theo từ điển tiếng Việt "Kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá,
Trang 22hiện trước khi có thanh tra và trước khi có nhà nước đầu tiên trong lịch sử Nó được
xem như là phương thức hành động để đạt được mục đích Ăng ghen đã nói: “ Mỗi
hoạt động có ý thức, có tổ chức của con người đều chứa đựng trong đó những yếu
tố của kiểm tra” và “đối với mỗi con người tự nhiên, mỗi cộng đồng nguyên thuỷ, kiểm tra được xem như là 1 phương thức hành động để thực hiện mục đích”
* Mối quan hệ giữa thanh tra và kiểm tra
Giữa kiểm tra và thanh tra có mối quan hệ gần gũi, bổ sung lẫn nhau Trong nhiều tác phẩm và bài viết của mình khi đề cập đến mục đích, nhiệm vụ của thanh tra, kiểm tra, Lênin đã không phân biệt 2 khái niệm này Trong báo cáo chính trị đọc trước Đại hội XI- Đảng cộng sản Nga (tháng 3/1922) ông nói “ Chúng ta phải
tổ chức kiểm tra nghiệm ngặt công tác của chúng ta…, phải kiểm tra thực sự đứng trên quan điểm của nền kinh tế quốc dân để kiểm tra ” Giữa thanh tra kiểm tra có chức năng chung của quản lí nhà nước với mối quan hệ đan chéo, theo nghĩa rộng thì kiểm tra bao hàm thanh tra, thanh tra là loại hình đặc biệt của kiểm tra do một chủ thể là nhà nước tiến hành và luôn mang tính quyền lực nhà nước với sự độc lập tương đối, theo nghĩa hẹp thì thanh tra cũng bao hàm kiểm tra vì các hoạt động, các thao tác nghiêp vụ cho một cuộc thanh tra chính là kiểm tra
vi Giám sát
Theo Từ điển tiếng Việt “ giám sát” được hiểu là sự theo dõi, xem xét làm
đúng hoặc sai những điều đã quy định” hoặc được hiểu là “ theo dõi và kiểm tra
xem có thực hiện đúng những quy định không”
Giám sát luôn gắn với 1 chủ thể nhất định, tức là phải trả lời được câu hỏi: ai
có quyền thực hiện việc theo dõi, xem xét, kiểm tra và đưa ra những nhận định về một việc làm nào đó đã được thực hiện đúng hoặc sai những điều quy định
Trong hoạt động giám sát, chủ thể giám sát và đối tượng giám sát và nội dung, tính chất hoạt động giám sát đều rất đa dạng, tuy nhiên có thể phân biệt giám sát thành 2 loại đó là giám sát mang tính quyền lực nhà nước và giám sát không mang tính quyền lực nhà nước Trong quản lý nhà nước thì việc giám sát được thực hiện thường xuyên bởi hệ thống tư pháp như công an, kiểm sát, toà án; còn trong
Trang 23giáo dục thì việc giám sát ít được đề cập đến mà chủ yếu thường thông qua thanh tra
và kiểm tra
vii Thanh tra giáo dục
Thanh tra giáo dục là thanh tra chuyên ngành về giáo dục, là hoạt động kiểm tra có tính chất nhà nước của cơ quan quản lí giáo dục cấp trên đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân cấp dưới do một tổ chức chuyên biệt (tổ chức thanh tra) tiến hành nhằm đánh giá, phát hiện, điều chỉnh và giúp đỡ đối tượng thanh tra đảm bảo pháp chế, giữ vững kỉ cương, tăng cường kỉ luật và góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo
Luật Giáo dục năm 2005 đã qui định: Tổ chức, bộ máy của TTGD là thanh tra chuyên ngành, thực hiện quyền thanh tra nhà nước về giáo dục - đào tạo, vừa thể hiện quyền lực nhà nước, vừa đảm bảo dân chủ, kỉ cương trong quản lí giáo dục Vì vậy, TTGD có tính chất: Hành chính - pháp chế - nhà nước Tổ chức TTGD do pháp luật qui định, cấp trên bổ nhiệm và hoạt động theo luật định
Nghị định 85/2006/NĐ-CP ngày 18/8/2006 của Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động TTGD cũng chỉ rõ: “Thanh tra giáo dục thực hiện chức năng thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành trong phạm vi quản lí của nhà nước
về giáo dục và đào tạo theo luật định của pháp luật” Cũng theo Nghị định này, nguyên tắc hoạt động của TTGD là: "Hoạt động thanh tra giáo dục phải tuân theo pháp luật, bảo đảm chính xác, khách quan, trung thực, công khai, dân chủ, kịp thời, không làm cản trở đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan"
viii Thanh tra thi
Thanh tra thi là một hoạt động thanh tra thường kỳ của các cơ sở giáo dục nhằm chủ động phòng ngừa, phát hiện và kiến nghị xử lý sai phạm, đồng thời giúp
cơ quan quản lý, chỉ đạo thu thập thông tin chính xác, kịp thời đề ra các giải pháp khắc phục khó khăn, vướng mắc, ứng phó với mọi tình huống bất thường có thể xẩy
ra, bảo đảm cho các kỳ thi diễn ra an toàn, nghiêm túc, đúng quy chế, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo
Trang 241.3 Những vấn đề cơ bản về thanh tra giáo dục
1.3.1 Vai trò của thanh tra giáo dục
Thanh tra giáo dục là hệ thống thanh tra chuyên ngành, thực hiện quyền thanh tra Nhà nước về giáo dục và đào tạo, thanh tra có vai trò quan trọng trong việc đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục, đánh giá công tác chỉ đạo quản lý của đơn vị giáo dục Thanh tra giáo dục là chức năng đích thực của quản lý giáo dục, là chức năng thiết yếu của các cơ quan quản lý giáo dục, là công cụ sắc bén góp phần tăng hiệu lực và hiệu quả của hoạt động quản lý giáo dục Thanh tra là sự nghiệp của cán bộ quản lý, lãnh đạo phải thanh tra, kiểm tra thường xuyên, không coi trọng thanh tra, kiểm tra thì nhà quản lý khó có thể hoàn thành nhiệm vụ của mình
Thanh tra giáo dục góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, nội quy, quy chế đào tạo cho cán bộ giảng viên và người học trong các trường đại học, nâng cao trách nhiệm cá nhân trong hoạt động đào tạo của nhà trường Thanh tra giáo dục thực hiện tốt giúp cho cán bộ giảng viên, người học hình thành kỹ năng tự kiểm tra
để điều chỉnh quá trình hoạt động phù hợp với mục tiêu
Thanh tra giáo dục, giúp nhà trường, cơ sở giáo dục phát hiện những điểm yếu kém để kịp thời điều chỉnh nhằm nâng cao chất lượng giáo dục
1.3.2 Nội dung thanh tra giáo duc
+ Thanh tra việc thực hiện chính sách và pháp luật về giáo dục và đào tạo + Thanh tra việc thực hiện mục tiêu, kế hoạch, chương trình nội dung, phương pháp giáo dục, quy chế đào tạo, quy chế thi cử, cấp văn bằng, chứng chỉ việc thực hiện các quy định về bài giảng ở mọi loại hình, cấp học, trình độ đào tạo
+ Thanh tra việc thực hiện các quy định của Nhà nước về quản lý tài chính, tài sản, khoa học công nghệ, công tác tổ chức cán bộ và các điều kiện cần thiết đẩm bảo chất lượng giáo dục
+ Thực hiện nhiệm vụ tiếp công dân, giải quyết khiếu nại tố cáo trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo của các trường, đơn vị cơ sở giáo dục theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo
+ Thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng trong lĩnh vực giáo dục vào đào tạo theo quy định của pháp luật về phòng chống tham nhũng
Trang 25+ Kiến nghị các biện pháp bảo đảm thi hành các quy định của cơ sở giáo dục, các văn bản pháp quy của Bộ Giáo dục và Đào tạo, pháp luật của Nhà nước về giáo dục và đào tạo, đề nghị sửa đổi bổ sung các quy định pháp luật về giáo dục và đào tạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo và đơn vị cơ sở giáo dục, đào tạo nhằm khắc phục những hạn chế không phù hợp với thực tế, phát huy những yếu tố tích cực
+ Thực hiện các nhiệm vụ khác do Hiệu trưởng hay Giám đốc cơ sở giáo dục giao
1.3.2 Quy trình thực hiện 1 cuộc thanh tra
Căn cứ vào các quy định hướng dẫn của Thanh tra Chính phủ, Thanh tra Bộ Giáo dục và đào tạo, Ban Thanh tra giáo dục ĐHTN đã hướng dẫn quy trình để việc thực hiện 1 cuộc thanh tra như sau:
Bước 1: Xây dựng chương trình kế hoạch năm:
Trưởng ban (phòng) thanh tra giáo dục có trách nhiệm xây dựng chương trình, kế hoạch thanh tra hàng năm, căn cứ yêu cầu nhiệm vụ trọng tâm của ĐH (nhà trường) và yêu cầu công tác giải quyết khiếu nại tố cáo và hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo để trình Giám đốc (Hiệu trưởng) phê duyệt
Bước 2: Chuẩn bị cho cuộc thanh tra cụ thể:
Tiến hành một cuộc thanh tra cụ thể, căn cứ chương trình kế hoạch đã được phê duyệt, trưởng ban (phòng) thanh tra lập danh sách đoàn thanh tra và trình thủ trưởng đơn vị ký quyết định thành lập đoàn thanh tra; cán bộ tham gia đoàn thanh tra được lựa chọn phân theo nguyên tắc công việc đang phụ trách có liên quan theo ngành dọc nhưng có tính độc lập tương đối, đối với đối tượng thanh tra Sau khi có quyết định thanh tra, trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm xây dựng kế hoạch cụ thể của cuộc thanh tra, trong đó xác định rõ thời gian, mục đích, yêu cầu nội dung
và phương pháp tiến hành, đồng thời phổ biến kế hoạch và phân công nhiệm vụ cho từng thành viên đoàn thanh tra
Bước 3: Công bố quyết định và tiến hành cuộc thanh tra:
Tuân thủ đúng các nội dung quy định tại Nghị định 41/2005/NĐ-CP ngày 25/3/2006 của Chính phủ về công bố quyết định thanh tra và các biện pháp thực hiện
Trang 26Bước 4: Công bố báo cáo kết quả và kết luận thanh tra:
Trước khi công bố báo cáo kết quả và bản kết luận thanh tra chính thức đoàn thanh tra cần thông báo nội dung dự thảo các văn bản này cho đối tượng thanh tra
để nếu có các vấn đề chưa nhất trí đối tượng thanh tra có thể giải trình Việc giải trình nếu có chứng cứ chứng minh thuyết phục sẽ được đoàn thanh tra sẽ xem xét, sửa đổi lại trong báo cáo kết luận chính thức
Thành phần buổi công bố báo cáo kết quả và kết luận thanh tra có mặt của người ra quyết định thanh tra, đoàn thanh tra, đối tượng thanh tra và các cán bộ có liên quan
Bước 5: Chấp hành kết luận thanh tra:
Như đã nói ở trên, hiệu quả của công tác thanh tra thể hiện ở việc đối tượng thanh tra thực hiện các kết luận thanh tra có nghiêm túc không, việc khắc phục hậu quả, việc xử lý vi phạm (nếu có) cần được thể hiện rất rõ trong kết luận thanh tra, yêu cầu đối tượng thanh tra phải thực hiện theo từng lộ trình cụ thể, thời hạn cuối cùng được ấn định để đối tượng thanh tra báo cáo bằng văn bản việc hoàn thành thực hiện các kết luận thanh tra cho người ra quyết định thanh tra Nếu có dấu hiệu đối tượng thanh tra không chấp hành hoặc chấp hành kết luận thanh tra không đầy
đủ, không trung thực như báo cáo, Ban (phòng ) thanh tra có thể cử cán bộ đi kiểm tra xác minh báo cáo thủ trưởng đơn vị áp dụng biện pháp xử lý
1.4 Thanh tra thi trong hoạt động giáo dục đại học
1.4.1 Vai trò, ý nghĩa, chức năng của hoạt động thanh tra thi đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo
i Vai trò, ý nghĩa
Thanh tra thi trong hoạt động giáo dục và đào tạo có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các trường đại học và các cơ sở giáo dục góp phần đảm bảo sự công bằng, chính xác trong hoạt động thi cử, kịp thời đề ra các giải pháp để khắc phục khó khăn, xử lý kịp thời các tình huống bất thường có thể xẩy ra trong hoạt động giáo dục
Hoạt động thanh tra thi sẽ góp phần đảm bảo tính dân chủ, kịp thời; đúng nội dung, đối tượng ghi trong quyết định thanh tra; không làm cản trở hoạt động bình
Trang 27thường của các đơn vị, tổ chức, cá nhân tham gia kỳ thi, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ năm học
Thanh tra thi giúp cho việc đánh giá năng lực học tập của sinh viên được thực hiện một cách khách quan chính xác, công bằng, tạo động lực cho hoạt động học tập nghiên cứu của sinh viên và hoạt động giảng dạy của giảng viên phát triển Đồng thời giúp chủ thể quản lý hoàn thiện quá trình quản lý nhà trường để nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo
ii Chức năng của thanh tra thi
* Chức năng kiểm tra
Kiểm tra là chức năng đầu tiên của hoạt động thanh tra thi nhằm phát hiện những sai phạm trong quá trình tổ chức thi và đánh giá kết quả đào tạo
* Chức năng phát hiện
Thanh tra thi có chức năng phát hiện những mặt tốt để phát huy đồng thời tìm ra những sai phạm để ngăn chặn kịp thời giúp cho hoạt động đánh giá được tiến hành khách quan, chính xác, công bằng
* Chức năng giúp đỡ, động viên, phê phán
Thanh tra thi còn nhằm mục đích kiểm soát việc tuân thủ quy chế thi và quy chế đánh giá của Bộ Giáo dục và Đào tạo và nội quy, quy chế của nhà trường, giúp đối tượng hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Động viên khích lệ những mặt làm tốt, phê phán những mặt chưa tốt
* Chức năng thu thập thông tin
Thu thập thông tin là chức năng trung tâm của hoạt động thanh tra thi, qua kiểm tra, đánh giá nhằm cung cấp những thông tin về đối tượng và đề xuất biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
1.4.2 Nội dung của thanh tra thi trong giáo dục
i Thanh tra công tác chuẩn bị thi
Nhiệm vụ trọng tâm là thanh tra phương án tổ chức kỳ thi, các văn bản chỉ đạo thi, hồ sơ thi; việc chuẩn bị cơ sở vật chất, kinh phí; việc bảo đảm bí mật, an toàn của đề thi; việc bố trí lực lượng tham gia kỳ thi và các công tác khác có liên quan
Trang 28* Thanh tra công tác tổ chức, chỉ đạo kỳ thi
- Kiểm tra phương án tổ chức kỳ thi
- Kiểm tra các văn bản chỉ đạo kỳ thi, hồ sơ thi
- Kiểm tra việc phối hợp với các cơ quan để bảo vệ, phục vụ kỳ thi
- Kiểm tra phương án bố trí lực lượng làm nhiệm vụ coi thi, giám sát phòng thi, lực lượng bảo vệ, nhân viên y tế, phục vụ
* Thanh tra việc đảm bảo an toàn cho kỳ thi
- Kiểm tra lịch thi, giờ thi từng môn theo quy định của chủ tịch hội đồng thi
- Kiểm tra các điều kiện đảm bảo an toàn cho các địa điểm ra đề thi; bảo quản, giao nhận đề thi, bài thi
- Kiểm tra các hội đồng thi, điểm thi về điều kiện đảm bảo an ninh cho các
kỳ thi
- Kiểm tra phương án, phương tiện thông tin liên lạc giữa các cơ quan chỉ đạo cấp trên với địa điểm thi đặt tại các cơ sở liên kết, các hội đồng thi và giữa hội đồng thi với các điểm thi để phục vụ yêu cầu chỉ đạo thông suốt trong mọi tình huống khi tiến hành các kỳ thi
* Thanh tra việc chuẩn bị cơ sở vật chất và kinh phí
- Kiểm tra phòng thi, bàn ghế, ánh sáng, bố trí phòng thi để đảm bảo quy định về số lượng trong phòng thi và khoảng cách giữa 2 thí sinh
- Kiểm tra việc thu lệ phí theo quy định của hội đồng tuyển sinh ở các nhà trường, đơn vị
Kết thúc thanh tra công tác chuẩn bị thi, đoàn thanh tra (cán bộ thanh tra) phải dự thảo biên bản thông qua hội đồng thi hoặc đơn vị liên kết tổ chức kỳ thi để các bên nhất trí ký tên
ii Thanh tra công tác coi thi
* Thanh tra hoạt động của hội đồng coi thi
- Kiểm tra các quyết định về hội đồng coi thi; phương án phân công cán bộ coi thi hoặc giám thị (sau đây gọi chung là cán bộ coi thi), cán bộ giám sát phòng thi hoặc giám thi hành lang (sau đây gọi chung là cán bộ giám sát phòng thi), công
Trang 29an và nhân viên bản vệ, phục vụ theo yêu cầu bảo đảm tính khách quan, bí mật, đúng quy định
- Kiểm tra việc chuẩn bị sẵn các mẫu biên bản cho cán bộ coi thi, cán bộ giám sát phòng thi
- Giám sát việc thực hiện quy định về môn thi, giờ thi, giao đề thi, bảo quản
và mở bì đựng đề thi, phương án xử lý tình huống bất thường về đề thi
- Kiểm tra danh sách thí sinh của mỗi phòng thi và phương án đánh số báo danh trong từng buổi thi theo quy định
- Giám sát, đôn đốc việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ của các thành viên hội đồng (ban coi thi), nhân viên bảo vệ, phục vụ kỳ thi
* Thanh tra việc bảo đảm an toàn cho kỳ thi
- Giám sát việc gọi thí sinh vào phòng thi và việc thực hiện yêu cầu tuyệt đối không để thí sinh mang vào phòng thi tài liệu, vật dụng, phương tiện đã bị cấm theo quy định của quy chế
- Giám sát, đôn đốc cán bộ coi thi thực hiện nghiêm quy định về ký và ghi rõ
họ tên vào tờ giấy thi và giấy nháp của thí sinh
- Giám sát, đôn đốc cán bộ coi thi, cán bộ giám sát phòng thi ngăn chặn, xử
lý kịp thời thí sinh vi phạm quy chế
- Giám sát việc tuân thủ quy chế thi của thí sinh Khi phát hiện thí sinh vi phạm quy chế thi cần yêu cầu cán bộ coi thi hoặc cán bộ giám sát phòng thi lập biên bản xử lý và ghi nhận lại yêu cầu này bằng biên bản ghi nhớ Trong trường hợp yêu cầu đó không được thực hiện hoặc thực hiện không đúng quy định của quy chế thi thì đoàn thanh tra (cán bộ thanh tra) trực tiếp lập biên bản ghi nhớ
* Thanh tra việc kết thúc buổi thi
- Giám sát cán bộ coi thi thực hiện đúng quy định về việc ngừng làm bài và thu bài thi khi hết giờ thi
- Giám sát, đôn đốc việc thực hiện đúng quy định về bàn giao bài thi sau mỗi môn thi, thực hiện quy định về ký và dán nhãn niêm phong túi đựng bài thi
Trang 30- Kiểm tra việc xử lý cán bộ, nhân viên và thí sinh vi phạm quy chế thi Cuối mỗi buổi thi, đoàn thanh tra (cán bộ thanh tra) cần kiểm tra lại biên bản ghi nhớ các trường hợp vi phạm quy chế thi Những trường hợp vi phạm quy chế thi nhưng chưa lập biên bản xử lý kỷ luật hoặc xử lý kỷ luật không đúng với quy chế thi, cán bộ thanh tra phải lập biên bản ghi nhớ các vấn đề cần khắc phục
Kết thúc thanh tra công tác coi thi, đoàn thanh tra (cán bộ thanh tra) phải dự thảo thông qua hội đồng thi hoặc đơn vị liên kết tổ chức thi báo cáo kết quả công tác coi thi và biên bản thanh tra công tác coi thi
iii Thanh tra công tác chấm thi
Thanh tra chấm thi cần tập trung xem xét quy trình làm phách của hội đồng chấm thi hoặc ban chấm thi, việc bảo mật số phách của bài thi, việc xử lý các biên bản do hội đồng coi thi hoặc ban coi thi đã lập; trực tiếp chấm thanh tra một số bài thi để đánh giá chất lượng chấm thi
* Thanh tra công tác chuẩn bị chấm thi
- Kiểm tra việc chỉ đạo chấm thi, làm phách và lập biểu mẫu chấm thi, các biên bản hoặc sổ theo dõi bàn giao bài thi giữa ban thư ký và tổ trưởng hoặc trưởng môn chấm, giữa trưởng môn chấm với cán bộ chấm thi, phiếu chấm thi và biên bản chấm thi, in sổ điểm và phiếu báo điểm cho thí sinh và việc chấp hành các quy định
về bảo mật các tài liệu, hồ sơ của kỳ thi
- Kiểm tra việc thực hiện quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với cán bộ chấm thi
- Kiểm tra việc thực hiện các quy định về ký hợp đồng chấm thi (nếu có)
- Kiểm tra việc xử lý kết quả bài thi của thí sinh vi phạm quy chế qua các biên bản đã lập khi coi thi
* Thanh tra chấm thi:
- Kiểm tra việc tổ chức thảo luận đáp án, thang điểm, chấm tập thể một số bài thi và quy trình giao nhận bài thi
- Kiểm tra công việc của cán bộ chấm thi trên bài thi theo quy định, việc phát hiện và xử lý các bài thi có dấu hiệu vi phạm quy chế thi (bài có dấu hiệu đánh dấu
Trang 31như viết bằng 2 loại mực khác nhau, dùng bút xoá, có nếp gấp hoặc dấu hiệu khác thường…)
- Kiểm tra việc thực hiện bố trí phòng chấm lần 1 và lần 2, quy trình chấm, việc thống nhất điểm, lập biên bản chấm thi theo quy định của quy chế
- Kiểm tra việc chấp hành các quy định về ghi điểm và độ chính xác của việc ghi điểm vào phiếu chấm, biên bản chấm thi
Khi cần thiết đoàn thanh tra (cán bộ thanh tra) tiến hành chấm một số bài đã chấm xong để đánh giá chất lượng chấm thi Việc chấm thanh tra thực hiện trên phiếu chấm riêng, không chấm trực tiếp vào bài thi Thời điểm chấm thanh tra có thể tiến hành đồng thời hay sau khi kết thúc công tác chấm thi
Việc kiến nghị với hội đồng chấm thi xử lý những sai lệch phát hiện qua chấm thanh tra thực hiện theo quy định tại điểm a và b, khoản 2, điều 10 của “Quy định về tổ chức và hoạt động thanh tra các kỳ thi” ban hành kèm theo Quyết định số 41/2006/QĐ-BGD&ĐT ngày 16/10/2006 của Bộ Giáo dục và Đào tạo Nếu kiến nghị đó không được đối tượng thanh tra chấp nhận thì trưởng đoàn thanh tra phải báo cáo kịp thời với người đã ký quyết định thanh tra để giải quyết kịp thời
Kết thúc thanh tra công tác chấm thi, đoàn thanh tra (cán bộ thanh tra) phải
dự thảo, thông qua hội đồng chấm thi báo cáo kết quả công tác thanh tra chấm thi và biên bản thanh tra chấm thi
iv Thanh tra việc chấm lại (phúc khảo) và giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến kỳ thi
Thanh tra việc chấm lại, xét trúng tuyển và giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến kỳ thi bao gồm:
- Kiểm tra việc bố trí người chấm lại và điều hành chấm lại
- Kiểm tra việc thực hiện quy định về chấm lại thể hiện trên từng bài thi, độ chính xác của chấm lại, việc lập biên bản đối thoại giữa các cập chấm (nếu có) và danh sách thí sinh trúng tuyển, tốt nghiệp do chấm lại
- Kiểm tra việc giải quyết khiếu nại và tố cáo liên quan đến kỳ thi
Trang 32- Thanh tra việc kiểm tra kết quả thi của số thí sinh trúng tuyển, tính hợp pháp của tất cả các bài thi và các loại công việc khác của khâu chấm thi theo quy định của quy chế
1.4.3 Nguyên tắc chỉ đạo hoạt động và phương pháp thanh tra thi trong giáo dục
i Nguyên tắc chỉ đạo thanh tra thi
- Hoạt động thanh tra giáo dục chỉ tuân theo pháp luật, các quy định về thi và chịu trách nhiệm trước pháp luật, nhằm đảm bảo việc thi hành pháp luật và hiệu lực của công tác quản lý giáo dục Không một tổ chức, cá nhân nào được can thiệp trái pháp luật vào hoạt động thanh tra giáo dục
- Cán bộ thanh tra thi không làm thay nhiệm vụ và không làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của các đơn vị, tổ chức, cá nhân tham gia thi; đảm bảo chính xác, khách quan, trung thực, công khai, dân chủ và kịp thời
ii Phương pháp thanh tra thi
* Phương pháp quan sát
Quan sát đem lại cho thanh tra viên tài liệu cụ thể, cảm tính, trực quan song
có ý nghĩa vô cùng quan trọng thiết thực trong thanh tra thi Quan sát là phương pháp hữu hiệu của hoạt động thanh tra thi thi, nhờ có hoạt động quan sát mà phát hiện được những sai phạm trong hoạt động coi thi, chấm thi
* Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
Phương pháp nghiên cứu sản phẩm giúp cho cán bộ thanh tra có được những minh chứng cụ thể trên từng bài làm hay sản phẩm hoạt động do sinh viên tạo ra, phát hiện những biểu hiện tiêu cực trong coi, chấm thi để có những biện pháp xử lý kịp thời
Để nghiên cứu sản phẩm có hiệu quả đòi hỏi cán bộ thanh tra phải kết hợp với phương pháp quan sát, phương pháp phân tích nhằm phát hiện những sai phạm thể hiện trên sản phẩm
* Phương pháp phân tích, tổng hợp
Dựa trên những kết quả dẫn chứng thu được từ quan sát và nghiên cứu sản phẩm đòi hỏi cán bộ thanh tra phải phân tích các dấu hiệu đặc trưng, từ đó đưa ra nhận định, kết luận khách quan, chính xác
Trang 33* Phương pháp tham dự hoạt động
Đóng vai là một thành viên, cán bộ thanh tra tham gia hoạt động với mục đích phản ánh chân thực sự việc để phát hiện những sai phạm và đề xuất biện pháp phòng ngừa
* Phương pháp điều tra
Đây là hình thức tìm hiểu bản chất sự việc bằng các hình thức kiểm tra nhằm phát hiện những sai phạm
* Phương pháp phỏng vấn
Trao đổi trực tiếp với cán bộ coi thi, chấm thi, sinh viên để tìm hiểu sự việcphát hiện vấn đề và đề xuất hướng khắc phục
1.4.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động thanh tra thi ở Đại học Thái Nguyên
- Chủ trương đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của nhà nước về giáo dục đại học trong giai đoạn 2001 - 2010 và chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam trong giai đoạn 2011 - 2020
- Sự quan tâm, lãnh đạo của Đảng ủy, Ban Giám đốc Đại học, Ban Giám hiệu các trường đại học và thủ trưởng các khoa trực thuộc Đại học về công tác thanh tra nói chung và công tác thanh tra thi nói riêng
- Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ làm công tác thanh tra
và các cán bộ đang công tác tại phòng (bộ phận) Thanh tra khảo thí và Kiểm định chất lượng tại các trường, đơn vị trong toàn Đại học
- Trình độ nhận thức về ý thức pháp luật nói chung và các quy định về thanh tra thi nói riêng và khả năng hợp tác của đội ngũ cán bộ viên chức, học sinh sinh viên trong nhà trường và cơ sở giáo dục đại học…
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị phương tiện, kinh phí, chế độ đãi ngộ cho cán
bộ làm công tác thanh tra thi
1.4.5 Vai trò của lãnh đạo các trường, đơn vị, các phòng chức năng (bộ phận thanh tra khảo thí) trong hoạt động thanh tra thi
i.Vai trò của lãnh đạo các trường đại học, các khoa trong hoạt động thanh tra thi
- Lãnh đạo các trường, đơn vị có vai trò quan trọng, góp phần thúc đẩy hoạt động thanh tra thi trong đơn vị phát triển, nhằm đảm bảo chất lượng giáo dục của các loại hình đào tạo, tạo sự công bằng, yên tâm cho người học
Trang 34- Chỉ đạo phòng (bộ phận) thanh tra khảo thí và kiểm định chất lượng lập kế hoạch công tác thanh tra hàng năm để trình thủ trưởng đơn vị ra quyết định phê duyệt
- Tổ chức các cuộc thanh tra nói chung và thanh tra thi nói riêng trong phạm
vi nội bộ của đơn vị mình, tham gia các đoàn thanh tra do Đại học, nhà trường hay
cơ sở giáo dục tổ chức
- Đề xuất các ý kiến với lãnh đạo Đại học, Hiệu trưởng hay giám đốc cơ sở giáo dục và lãnh đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc thay đổi các quy định về tuyển sinh, thanh tra thi theo phân cấp quản lý
ii Vai trò của cán bộ làm công tác thanh tra tại các phòng (bộ phận) thanh tra khảo thí và kiểm định chất lượng ở các trường, đơn vị trực thuộc
- Cán bộ, viên chức đã góp phần tạo nên thành công của các đợt thanh tra thi
- Là người trực tiếp tham gia vào các đoàn thanh tra thi, chịu trách nhiệm trước trưởng đoàn, thủ trưởng đơn vị về tính chính xác, trung thực, khách quan về các nội dung thông tin đã thu thập được
- Là người phát hiện ra các hành vi gian dối của đối tượng vi phạm nên đòi hỏi đội ngũ cán bộ thanh tra phải có đủ phẩm chất và năng lực, trình độ chuyên môn trong giảng dạy, có năng lực phân tích, kết luận mới có thể làm nên thành công của các đợt thanh tra thi
Kết luận chương 1
Thanh tra thi là một chức năng thiết yếu của quản lí nhà nước về Giáo dục- Đào tạo, là hoạt động kiểm tra xem xét việc làm của các cơ quan chuyên trách theo một trình tự, thủ tục do pháp luật qui định nhằm kết luận đúng, sai, đánh giá ưu, khuyết điểm, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa, xử lí các vi phạm trong đào tạo đặc biệt là trong đánh giá kết quả năng lực học tập của sinh viên, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lí nhà trường, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của nhà nước, các quyền, lợi ích hợp pháp của trường đại học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu xã hội Thực hiện quyền bình đẳng đối với người học
Trang 35Thanh tra thi trong hoạt động giáo dục và đào tạo có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các trường đại học và các cơ sở giáo dục giúp cơ sở giáo dục làm tốt công tác kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học, góp phần đảm bảo sự công bằng, chính xác trong hoạt động thi cử, kịp thời đề ra các giải pháp để khắc phục khó khăn, xử
lý kịp thời các tình huống bất thường có thể xẩy ra trong hoạt động giáo dục Thanh tra thi thực hiện khách quan, chính xác công bằng, giúp nhà quản lý đánh giá đúng thực trạng đào tạo của nhà trường phát hiện sai sót yếu kém trong đào tạo, quản lý
đề xuất biện pháp khắc phục
Hoạt động thanh tra thi sẽ góp phần đảm bảo tính dân chủ, tính khách quan, tính chính xác, tính công bằng trong đào tạo, giúp cho nhà trường có được tính kỷ cương, kỷ luật; nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ năm học
Nội dung thanh tra thi bao gồm thanh tra công tác tổ chức coi thi, chấm thi
và việc đảm bảo an toàn cho kỳ thi, hoạt động thanh tra thi đòi hỏi phải tuân thủ tính pháp chế, tính công bằng, tính khách quan, chính xác Kết quả của thanh tra thi phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau: Nghiệp vụ của cán bộ thanh tra, ý thức chấp hành của cán bộ giảng viên và người học và các yếu tố quản lý của nhà trường, điều kiện hỗ trợ cho công tác thanh tra
Trang 36Chương 2 THỰC TRẠNG THANH TRA THI Ở ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
2.1 Những nét khái quát về Đại học Thái nguyên
2.1.1 Sự ra đời và phát triển của Đại học Thái Nguyên
Đại học Thái Nguyên được hình thành theo Nghị định số 31/CP ngày 4/4/1994 của Chính phủ trên cơ sở tổ chức, sắp xếp lại các trường đại học trên địa bàn thành phố Thái Nguyên: Trường ĐH Sư phạm Việt Bắc, trường ĐH Nông Nghiệp 3 Thái Nguyên, trường ĐH Kỹ thuật công nghiệp, trường Đại học Y Bắc Thái, trường Công nhân cơ điện miền núi Đại học Thái Nguyên ra đời cùng với các Đại học vùng khác (Đại học Huế, Đại học Đà Nẵng) nhằm đáp ứng nhu cầu đổi mới giáo dục đại học Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế Trải qua 15 năm xây dựng và phát triển hiện nay Đại học Thái Nguyên đã có 9 trường đại học, cao đẳng
và khoa trực thuộc, 10 trung tâm, đơn vị, bệnh viện thực hành… để phục vụ cho công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học Đại học Thái Nguyên là cơ sở đào tạo đa cấp, đa nghành, đa lĩnh vực có nhiệm vụ đào tạo đội ngũ cán bộ từ sau đại học, đại học, cao đẳng và các cấp học thấp hơn trong các lĩnh vực khoa học công nghệ, công nghiệp, nông lâm nghiệp, kinh tế, giáo dục, y tế , nghiên cứu và triển khai ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ trong khu vực trung du miền núi phía bắc và
và trong cả nước
Các trường và đơn vị trực thuộc ĐHTN là những đơn vị nòng cốt về các lĩnh vực khoa học kỹ thuật, công nghệ, ứng dụng và chuyển giao khoa học kỹ thuật cho các tỉnh, doanh nghiệp trong cả nước Nhiều công trình nghiên cứu khoa học đã đáp ứng được cho sự phát triển kinh tế xã hội ở khu vực; các trường đã từng bước nâng cao chất lượng đào tạo như đổi mới chương trình đào tạo, đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh; tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật như phòng học, giáo trình, tài liệu tham khảo, tạo môi trường học tập tốt
Với vị trí quan trọng của mình và các thành tích đã đạt được, Đại học Thái Nguyên được công nhận là một trong 14 đại học trọng điểm trong mạng lưới các
Trang 37trường đại học của cả nước Phương hướng chung của ĐHTN từ nay đến năm 2020
là thực hiện thắng lợi "Đề án qui hoạch phát triển ĐHTN thành đại học trọng điểm;
trung tâm đào tạo khoa học của vùng đến năm 2020 đã được BGD&ĐT phê duyệt”
2.1.2 Mô hình tổ chức của Đại học Thái Nguyên
Về mô hình tổ chức hiện nay, ĐHTN bao gồm khối cơ quan và các đơn vị thành viên Khối cơ quan ĐHTN có 15 ban chức năng giúp việc cho Giám đốc (trong đó có Ban Thanh tra Giáo dục); các đơn vị thành viên gồm có 6 trường đại học, 1 trường cao đẳng, 2 khoa trực thuộc, 1 Trung tâm Giáo dục Quốc phòng, 3 viện nghiên cứu, 1 bệnh viện thực hành, 1 Trung tâm Học liệu, 1 Trung tâm hợp tác quốc tế, 1
trung tâm nghiên cứu khoa học và chuyển giáo công nghệ vùng Đông bắc
Đại học Thái Nguyên là một Đại học vùng, với một mô hình quản lý mới, được thiết lập đầu tiên ở Việt Nam, vì thế sự phân cấp giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo với Đại học Thái Nguyên, giữa ĐHTN với các trường, đơn vị thành viên nhiều khi còn chưa rõ ràng, chồng chéo nên gặp rất nhiều khó khăn trong công tác quản lý và điều hành, các ban chức năng gặp khó khăn trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo (xem
mô hình dưới đây)
Mô hình tổ chức của Đại học Thái Nguyên
Mô hình tổ chức của Đại học Thái nguyên ĐẠI HỌC
THÁI NGUYÊN
- Đảng ủy và các tổ chức đoàn thể (CĐ, ĐTN, HSV)
Các Ban, trung tâm
chức năng
Các khoa
trực thuộc
Các trường ĐH,CĐ thành viên
Các trung tâm, viện nghiên cứu, nhà XB
Các bộ môn
chuyên môn
Các khoa chuyên môn
Các bộ môn chuyên môn Các tổ bộ môn
Các phòng nghiệp vụ
Trang 382.1.3 Qui mô đào tạo và chất lượng đội ngũ của Đại học Thái Nguyên
* Qui mô đào tạo:
Hiện nay ĐHTN có 67.577 học sinh, sinh viên chính qui và các loại hình đào tạo khác hiện đang học tập tại các trường và đơn vị thành viên (xem bảng 2.1 sau)
Bảng 2.1: Quy mô học sinh, sinh viên các trường, dơn vị thành viên
Đơn vị tính: người
CQ
Hệ cử tuyển
Bảng 2.2: Kết quả phát triển bậc đào tạo bậc đại học trở xuống qua các năm
2 Số lượng tuyển sinh /năm (người) 2.216 5.304 13.794 25.000
(Nguồn ĐHTN, tháng 4/2009)
Trang 39Thực hiện các văn bản chỉ đạo của Chính phủ và Bộ GD&ĐT về việc xây dựng ĐHTN thành đại học trọng điểm quốc gia, ĐHTN cũng đẩy mạnh đào tạo bậc sau đại học, đưa đào tạo sau đại học chiểm tỷ trọng lớn trong qui mô đào tạo (xem bảng 2.3)
Bảng 2.3: Kết quả phát triển bậc đào tạo sau đại học qua các năm
(Nguồn ĐHTN, tháng 4/2009)
* Chất lượng đội ngũ giảng viên
Việc xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ, đặc biệt đội ngũ giảng viên được Đảng ủy, Ban Giám đốc ĐHTN rất quan tâm, có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển và chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học của Đại học Trong quá trình phát triển, đội ngũ giảng viên của Đại học từng bước được tăng cường về số lượng và chất lượng (xem bảng 2.4)
Bảng 2.4: Đội ngũ giảng viên của ĐHTN (người) Năm
Trang 40* Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ
Sau 15 năm xây dựng và phát triển, ĐHTN đã cử 1.760 người đi học thạc sỹ
và tiến sỹ, trong đó 484 người đi học tiến sỹ và 1.276 người đi học thạc sỹ Số lượng cán bộ được cử đi học ngày càng tăng, chỉ tính riêng trong 3 năm 2006-2009 Đại học đã cử 259 người đi học tiến sỹ (chiếm 53% số người được cử đi học tiến sỹ trong vòng 15 năm) Trung bình giai đoạn này mỗi năm có 20 người tốt nghiệp tiến
sỹ và 135 người tốt nghiệp thạc sỹ (xem bảng 2.5)
Bảng 2.5: Kết quả đào tạo, bồi dƣỡng đội ngũ qua các giai đoạn
2.2 Thực trạng của việc tổ chức thi ở Đại học Thái Nguyên
Hàng năm các trường, đơn vị tổ chức rất nhiều kỳ thi để kiểm tra kiến thức của sinh viên, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay Đại học Thái Nguyên đang trong giai đoạn bắt đầu áp dụng việc đào tạo và tính điểm theo tín chỉ cho sinh viên Tuy nhiên việc tổ chức thi ở các trường, đơn vị có một số ưu điểm và tồn tại sau:
a Ưu điểm
- Nhìn chung công tác tổ chức thi được các trường tuân thủ theo đúng các quy chế đào tạo và công nhận tốt nghiệp, quy chế đào tạo tín chỉ như công bố trên mạng internet nội bộ của nhà trường về thông tin tuyển sinh, chương trình đào tạo, thời gian dự kiến tổ chức thi, điều kiện xét công nhận tốt nghiệp…