1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đánh giá hiệu quả của cây trúc sào trong xóa đói giảm nghèo tại tỉnh cao bằng

128 1K 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 1,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn CHU MINH THU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA CÂY TRÚC SÀO TRONG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TẠI TỈNH CAO BẰNG LUẬN VĂN THẠC S

Trang 1

Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

CHU MINH THU

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA CÂY TRÚC SÀO

TRONG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TẠI TỈNH CAO BẰNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp

Mã ngành: 60.31.10

_Thái Nguyên, năm 2011_

Trang 2

Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

CHU MINH THU

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA CÂY TRÚC SÀO

TRONG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TẠI TỈNH CAO BẰNG

Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp

Mã ngành: 60.31.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Đại Nghĩa

Thái Nguyên, năm 2011

Trang 3

Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng đề tài này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi Những đoạn trích dẫn có trong đề tài đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc và đã đƣợc cảm ơn đầy đủ Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về những thông tin có trong đề tài và xin khẳng định đề tài là kết quả của một quá trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc

Thái Nguyên, tháng 6 năm 2011

TÁC GIẢ

Chu Minh Thu

Trang 4

Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

LỜI CẢM ƠN

Cuộc đời của mỗi người là quá trình vận động vươn lên đầy nỗ lực trên con đường trang bị cho mình những hành trang cho cuộc sống; tìm kiếm, khẳng định bản thân và hoàn thiện chính mình Có thể nói luận văn mà tôi đã thực hiện cũng để đạt mục tiêu này, bổ sung cho mình những tri thức của nhân loại và nâng cao những hiểu biết của mình về cuộc sống

Ngày hôm nay, có thể nói tôi đã hoàn thành luận văn của mình Trong hành trình đến với tri thức của tôi không thể thiếu sự động viên, ủng hộ, giúp

đỡ của gia đình, các thầy cô giáo và bè bạn Để có được kết quả này, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Kinh tế & QTKD - Đại học Thái Nguyên, đặc biệt là các thầy cô giáo Khoa Sau đại học đã tận tình chỉ bảo tôi trong suốt quá trình học tập cũng như nghiên cứu

Tôi đặc biệt bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giáo viên hướng dẫn chính của mình: TS Trần Đại Nghĩa Cảm ơn thầy vì đã gợi ý cho em một đề tài hay, chỉ cho em phương pháp làm việc khoa học, giúp đỡ em trong quá trình làm việc tại địa phương và tận tình chỉ bảo cho em những vướng mắc trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin cảm ơn các anh chị đang công tác tại Hiệp hội Thụy Sỹ Vì Sự Hợp tác Quốc tế (Helvetas) ở Cao Bằng đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong thời gian tôi thực hiện đề tài cũng như đã cung cấp cho tôi những số liệu quý giá

Tôi xin cảm ơn bà con các huyện Bảo Lạc, Nguyên Bình - nơi tôi thực hiện đề tài Đây thực là những người giàu tình nghĩa đã giúp tôi hiểu thêm về cuộc sống khốn khó của nhà nông, cho tôi những tình cảm yêu quý chân thành, là động lực để tôi thêm yêu quý ngành mình lựa chọn và vượt qua những khó khăn của quá trình thực hiện đề tài

Trang 5

Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Tôi cũng xin cảm ơn các bạn cộng tác viên đã hỗ trợ, giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình điều tra, thu thập số liệu Tôi sẽ khó lòng hoàn thành đề tài nếu không có sự giúp đỡ tuyệt vời của các bạn

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, góp ý của các bạn học viên trong tập thể lớp Cao học Kinh tế K5 đã nhiệt tình giúp đỡ, cho ý kiến và ủng

hộ tôi trong suốt quá trình học

Xin chân thành cảm ơn vì tất cả!

Thái Nguyên, tháng 6 năm 2011

Chu Minh Thu

Trang 6

Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Ý nghĩa khoa học của đề tài 5

5 Bố cục của luận văn 5

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6 1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC 6

1.1.1 Cơ sở lý luận nghiên cứu hiệu quả 6

1.1.1.1 Quan điểm về hiệu quả 6

1.1.1.2 Tiêu chuẩn đánh giá 10

1.1.1.3 Phân loại hiệu quả 11

1.1.1.4 Hệ thống chỉ tiêu và phương pháp đánh giá 13

1.1.2 Chủ trương của Đảng và Nhà nước trong xoá đói giảm nghèo 17

1.1.3 Thành tích xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam 19

1.1.4 Cơ sở thực tiễn về phát triển cây trúc sào 21

Trang 7

Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1.1.4.1 Hiện trạng tài nguyên tre trúc trên thế giới và ở Việt Nam 21

1.1.4.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm từ tre trúc trên thế giới và tại Việt Nam 22

1.1.4.3 Một số sản phẩm được làm từ trúc sào 24

1.1.4.4 Một số đặc điểm của cây trúc sào Cao Bằng 25

1.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

1.2.1 Câu hỏi đặt ra mà đề tài cần giải quyết 26

1.2.2 Phương pháp nghiên cứu 27

1.2.2.1 Chọn điểm nghiên cứu 27

1.2.2.2 Thu thập số liệu sơ cấp 28

1.2.2.3 Thu thập số liệu thứ cấp 30

1.2.2.4 Phân tích dữ liệu 30

1.2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 32

Chương 2 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA CÂY TRÚC SÀO TRONG XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO TẠI TỈNH CAO BẰNG 33 2.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 33

2.1.1 Vị trí địa lý và đặc điểm địa hình 33

2.1.2 Đặc điểm khí hậu, thuỷ văn, đất đai, thổ nhưỡng 34

2.1.3 Tình hình phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh Cao Bằng 36

2.1.3.1 Tình hình kinh tế 36

2.1.3.2 Tình hình chính trị, văn hoá, xã hội 38

2.1.4 Vai trò của cây trúc sào trong chương trình xoá đói giảm nghèo tại Cao Bằng 40

2.2 THỰC TRẠNG SẢN XUẤT TRÚC SÀO TỪ NĂM 2001-2010 40 2.2.1 Thực trạng kinh tế vùng trồng trúc 40

2.2.2 Tình hình sản xuất, kinh doanh trúc sào tại Cao Bằng 42

Trang 8

Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

2.2.2.1 Trước năm 2003 43

2.2.2.2 Trong thời gian 2003-2008 43

2.2.2.3 Sau năm 2008 45

2.2.3 Các tiềm năng phát triển cây trúc sào 46

2.3 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA CÂY TRÚC SÀO TRONG XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO TẠI CAO BẰNG 48

2.3.1 Hiệu quả kinh tế 49

2.3.1.1 Đặc điểm chung của các hộ trồng trúc sào tại tỉnh Cao Bằng 49 2.3.1.2 Mức độ đầu tư thâm canh của hộ trồng trúc 52

2.3.1.3 Hiệu quả kinh tế của cây trúc sào ……… 52

2.3.2 Hiệu quả xã hội 57

2.3.3 Hiệu quả môi trường 61

2.3.4 Những vấn đề rút ra từ thực trạng sản xuất kinh doanh trúc sào tại Cao Bằng 66

2.3.4.1 Những kết quả chủ yếu 66

2.3.4.2 Những vấn đề cần quan tâm trong phát triển trúc sào tại Cao Bằng 66

Chương 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA CÂY TRÚC SÀO TRONG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TẠI TỈNH CAO BẰNG 71 3.1 ĐỐI VỚI CÁC CƠ SỞ CHẾ BIẾN TRÚC TRONG TỈNH 74

3.2 ĐỐI VỚI CÁC HỘ GIA ĐÌNH 75

3.3 ĐỐI VỚI CÁC CẤP CHÍNH QUYỀN 76

3.3.1 Quy hoạch, phát triển và ổn định vùng nguyên liệu 76

3.3.2 Vận dụng tốt các chính sách của Đảng và Nhà nước trong phát triển sản xuất kinh doanh 77

3.3.3 Làm tốt công tác quản lý, hỗ trợ xúc tiến thương mại 79

Trang 9

Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

3.4 ĐỐI VỚI CÁC NHÀ KHOA HỌC 82

3.5 ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI KHÁC 84

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 86

1 Kết luận 86

2 Kiến nghị 90

PHỤ LỤC

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 10

Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

Ký hiệu viết tắt Ý nghĩa từ viết tắt

Trang 11

Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

Trang 12

Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Trang 13

Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ở Việt Nam, tre trúc luôn là một hình ảnh thân thương, gần gũi với cuộc sống người dân Trên thế giới có khoảng 1500 loài tre trúc thì Việt Nam

đã có tới 1/3 tổng số loài với rất nhiều tên gọi: bương, luồng, lồ ô, tre, nứa, trúc đen, trúc xanh, trúc vàng, trúc vuông phân bố tại nhiều khu vực khác nhau, trải dài từ Nam ra Bắc Tuy nhiên, loài cây này chưa thực sự phát huy được hết giá trị của nó trong phát triển kinh tế của người dân, nhất là ở khu vực các tỉnh miền núi phía Bắc

Vùng miền núi trung du Bắc Bộ bao gồm 16 tỉnh, phân bố ở ba vùng sinh thái lâm nghiệp là Đông Bắc, Tây Bắc và Trung tâm Bắc Bộ Đây là vùng có vị trí chiến lược hết sức quan trọng đối với vấn đề an ninh quốc phòng và tiềm năng phát triển kinh tế, xã hội của đất nước cũng như phòng hộ môi trường Nhưng đây cũng có thể coi là vùng chậm phát triển của nước ta với cơ sở hạ tầng còn nhiều bất cập, địa hình phức tạp với đồi núi cao và rất dốc Bên cạnh đó, yếu tố kinh tế - xã hội cũng là trở ngại cho vùng

Nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế của vùng miền núi phía Bắc, trong thời gian qua, Chính phủ đã liên tục triển khai nhiều chính sách đầu tư, thực hiện nhiều chương trình, dự án, áp dụng nhiều giải pháp, trong đó đáng chú ý là Chương trình 327 và Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng Tuy nhiên, d-êng nh- chúng ta tập trung sự quan tâm khá nhiều tới rừng phòng hộ và rừng đặc dụng mà quên mất vai trò của rừng sản xuất, chưa chú ý tới đời sống của những người tham gia trồng rừng sản xuất

Cao Bằng là tỉnh miền núi rộng lớn của vùng §ông Bắc nước ta Với đường biên giới tiếp giáp Trung Quốc dài 311 km, trình độ dân trí thấp, nông nghiệp giữ vai trò quan trọng trong đời sống người dân các huyện miền núi,

Trang 14

Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Cao Bằng hiện là một trong những tỉnh được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến phát triển kinh tế cũng như an ninh, văn hóa, xã hội Đảm bảo các lợi ích kinh tế cho người dân địa phương kết hợp với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường là một trong những điều kiện đảm bảo an ninh biên giới cũng như sự ổn định cần thiết cho sự phát triển của toàn vùng Đông Bắc nói chung và tỉnh Cao Bằng nói riêng Do đó, lựa chọn loại cây trồng phù hợp với điều kiện tự nhiên của địa phương và mang lại hiệu quả kinh tế cho nông dân, đặc biệt là các hộ dân ở các huyện vùng sâu vùng xa là một vấn đề không đơn giản

Trúc sào được xác định là một trong những cây trồng mũi nhọn của tỉnh Cao Bằng Cây trúc sào đã tạo ra nhiều mặt hàng thủ công có giá trị, giúp giải quyết việc làm và tạo thu nhập ổn định cho hàng trăm lao động tại các cơ

sở chế biến; góp phần quan trọng trong việc nâng cao thu nhập của các hộ trồng trúc; là nguồn cung cấp nguyên liệu dồi dào và giá trị cho các cơ sở chế biến trong

có khoảng 5.000 ha rừng trồng tre trúc các loại, trong đó chủ yếu là trúc sào

và trúc cần câu Với diện tích 4.000 ha, chiếm khoảng 17% tổng diện tích rừng sản xuất vµ 0,5% tổng diÖn tÝch đất rừng của tỉnh [15], trúc sào mang lại

Biểu đồ 1: Tỷ lệ diện tích trúc trồng tại Cao Bằng [14]

Trang 15

Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

nguồn thu nhập đáng kể cho nhiều hộ dân, đặc biệt là cư dân vùng sâu vùng

xa của bốn huyện Hòa An, Thông Nông, Bảo Lạc và Nguyên Bình §©y được xem là loại cây rất quan trọng trong phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo tại tỉnh Cao Bằng Tuy nhiên, so với tiềm năng của địa phương, việc sản xuất, chế biến kinh doanh trúc sào còn bộc lộ nhiều tồn tại, yếu kém

Trong những năm qua, UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành nhiều chính sách để tăng cường sức sản xuất của loại cây này Trong đó, đáng chú ý là lệnh cấm bán trúc sào chưa chế biến ra ngoài tỉnh (Chỉ thị 17/2003/CT-UBND của UBND tỉnh Cao Bằng ngày 02/6/2003 về việc thực hiện Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hoá thông qua hợp đồng để đầu tư và thu mua trúc nguyên liệu tại Cao Bằng) và quyết định dỡ bỏ lệnh cấm (Quyết định 1050/2008/QĐ-UBND của UBND tỉnh Cao Bằng ban hành ngày 02/7/2008) Đây là những chính sách có ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất và kinh doanh trúc sào cũng như thu nhập của những người trồng trúc tại Cao Bằng

Cho đến nay, đã có nhiều bài báo đánh giá về hiệu quả kinh tế của cây trúc sào, nhiều dự án phát triển vùng trồng trúc nguyên liệu được triển khai, nhiều công trình nghiên cứu về kỹ thuật trồng trúc sào của các viện nghiên cứu, các trường đại học nhưng chưa có một đề tài nào đánh giá đầy đủ và toàn vẹn nhất về hiệu quả của loại cây này đối với đời sống của người dân địa phương trong lĩnh vực xóa đói giảm nghèo Vì vậy, câu hỏi đặt ra là cây trúc sào có vai trò như thế nào trong phát triển kinh tế cũng như đóng góp vào thu nhập của người dân các huyện trồng trúc nói chung và xóa đói giảm nghèo nói riêng của địa phương? Làm thế nào để nâng cao hiệu quả kinh tế của sản xuất trúc sào để nâng cao thu nhập cho người trồng trúc?… Để trả lời những

câu hỏi trên, tôi chọn đề tài “Đánh giá hiệu quả của cây trúc sào trong xóa đói giảm nghèo tại tỉnh Cao Bằng” để nghiên cứu

Trang 16

Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

2.1 Mục tiêu chung

Từ việc đánh giá hiệu quả của cây trúc sào trong xóa đói giảm nghèo tại các huyện trồng trúc, đề ra các khuyến nghị trong phát triển sản xuất, kinh doanh, chế biến, góp phần xóa đói giảm nghèo một cách ổn định tại các huyện trồng trúc của tỉnh Cao Bằng

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu các vấn đề liên quan đến quá trình sản xuất và kinh doanh trúc sào trên địa bàn tỉnh Cao Bằng

Trang 17

Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Thời gian nghiên cứu: Đề tài được thực hiện từ tháng 11/2009 đến tháng 6/2011 với số liệu nghiên cứu của 10 năm (2001-2010)

4 Ý nghĩa khoa học của đề tài

Kết luận của đề tài là cơ sở khoa học cho định hướng phát triển sản xuất trúc sào theo hướng hiệu quả, ổn định, phục vụ công tác xóa đói giảm nghèo cho các huyện miền núi của tỉnh Cao Bằng

5 Bố cục của luận văn

Nội dung luận văn gồm các phần sau:

Mở đầu

Chương 1: Tổng quan tài liệu và phương pháp nghiên cứu

Chương 2: Đánh giá hiệu quả của cây trúc sào trong xóa đói giảm

nghèo tại tỉnh Cao Bằng

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả của cây trúc sào trong xóa đói

giảm nghèo tại tỉnh Cao Bằng

Kết luận và kiến nghị

Danh mục tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 18

Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Chương 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC

1.1.1 Cơ sở lý luận nghiên cứu hiệu quả

1.1.1.1 Quan điểm về hiệu quả

Khi nghiên cứu một mô hình, để đánh giá mức độ thành công hay thất bại của nó, người ta dùng khái niệm “hiệu quả” Hiệu quả là quan hệ so sánh tối ưu giữa đầu vào và đầu ra, là lợi ích lớn nhất thu được với một chi phí nhất định hoặc một kết quả nhất định với chi phí là nhỏ nhất

Trước đây, người ta thường đồng nghĩa “hiệu quả” với “hiệu quả kinh tế” Và hiệu quả kinh tế là mục tiêu, là cái đích cuối cùng mà nhiều mô hình kinh tế muốn đạt đến Đó là một quan điểm không đúng Mặc dù hiệu quả kinh tế là biểu hiện rõ ràng nhất về tính hiệu quả của một mô hình (thể hiện qua sản lượng đầu ra trên mỗi đơn vị đầu vào) nhưng nó chỉ thể hiện một phần của hiệu quả

Cùng với thời gian, quan điểm của các nhà kinh tế dần thay đổi Ngày nay, để đánh giá sự thành công của một mô hình, người ta đánh giá chúng trong mối quan hệ biện chứng, trong sự tương tác giữa các sự vật Hiệu quả kinh tế là mục tiêu phấn đấu nhưng không đánh đổi bằng mọi giá Khái niệm

“hiệu quả” được mở rộng và ngoài mục tiêu hiệu quả kinh tế, người ta còn chú ý đến hiệu quả xã hội, hiệu quả kinh doanh và hiệu quả môi trường mà

mô hình ấy mang lại và coi đây là một phần quan trọng để đánh giá mô hình kinh tế trong một chỉnh thể hoàn chỉnh Tùy vào từng lĩnh vực và so sánh mức

độ đánh đổi mà hiệu quả môi trường, hiệu quả kinh tế hay hiệu quả xã hội được đề cao

Trang 19

Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất của các hoạt động kinh tế, quá trình tăng cường và lợi dụng những nguồn lực sẵn có phục vụ cho lợi ích con người, có nghĩa là nâng cao chất lượng của các hoạt động kinh tế Nâng cao hiệu quả kinh tế là đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất xã hội xuất phát từ nhu cầu ngày càng tăng của xã hội loài người Yêu cầu của công tác quản lý kinh tế đòi hỏi phải nâng cao chất lượng của các hoạt động kinh

tế, do đó xuất hiện phạm trù hiệu quả kinh tế

Xuất phát từ các góc độ xem xét, các nhà kinh tế đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế

* Quan điểm thứ nhất: Trước đây, người ta coi hiệu quả kinh tế là kết

quả đạt được trong hoạt động kinh tế Ngày nay, quan điểm này không còn phù hợp, bởi nếu cùng một kết quả sản xuất nhưng hai mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này chúng có cùng một hiệu quả

* Quan điểm thứ hai: Hiệu quả đạt được xác định bằng nhịp độ tăng

trưởng sản phẩm xã hội hoặc thu nhập quốc dân, hiệu quả sẽ cao khi nhịp độ tăng của các chỉ tiêu đó cao Nhưng nếu chi phí hoặc nguồn lực tăng nhanh thì sao? Hơn nữa, điều kiện sản xuất mỗi năm một khác, các yếu tố bên trong và bên ngoài của nền kinh tế có những ảnh hưởng cũng khác nhau Do đó, quan điểm này chưa thoả đáng

* Quan điểm thứ ba: Hiệu quả là mức độ hữu ích của sản phẩm được

sản xuất ra, tức là giá trị sử dụng chứ không phải là giá trị Quan điểm này cũng chưa thỏa đáng bởi giá trị sử dụng là mục tiêu hướng đến của người tiêu dùng còn giá trị là mục tiêu của nhà sản xuất Tùy từng bối cảnh mà giá trị sử dụng được đánh giá khác nhau

* Quan điểm thứ tư: Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết

kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất

Trang 20

Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích của xã hội và của nền kinh

có thể đạt được Đó là mức sản lượng tương ứng với tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên

Tỷ lệ giữa tổng sản phẩm quốc dân thực tế và tổng sản phẩm quốc dân tiềm năng là chỉ tiêu hiệu quả Chỉ tiêu chênh lệch tuyệt đối giữa sản lượng tiềm năng và sản lượng thực tế là phần sản lượng tiềm năng mà xã hội không

sử dụng được (phần lãng phí) Tuy nhiên, khái niệm tiềm năng phụ thuộc vào lao động tiềm năng Lao động tiềm năng là lao động ứng với tỷ lệ thất nghiệp

tự nhiên Sản lượng tiềm năng cũng phải ứng với tỷ lệ huy động tài sản cố định nào đó mới hợp lý

Như vậy, có rất nhiều quan điểm về hiệu quả kinh tế, cho nên, xác định khái niệm hiệu quả kinh tế cần phải xuất phát từ quan điểm triết học Mác xít

và những luận điểm của lý thuyết hệ thống để có cách nhìn nhận và đánh giá đúng đắn

Một là, theo quan điểm triết học Mác xít, bản chất hiệu quả kinh tế là

sự thực hiện yêu cầu của quy luật tiết kiệm thời gian, biểu hiện trình độ sử dụng nguồn lực của xã hội Các Mác cho rằng quy luật tiết kiệm thời gian là quy luật có tầm quan trọng đặc biệt, tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất Mọi hoạt động của con người đều quan tâm đến quy luật này, nó quy định động lực phát triển của lực lượng sản xuất, tạo điều kiện phát minh, phát triển

xã hội và nâng cao đời sống của con người qua mọi thời đại

Trang 21

Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Hai là, theo quan điểm của lý thuyết hệ thống, nền sản xuất xã hội là

một hệ thống các yếu tố sản xuất và các quan hệ vật chất hình thành giữa con người với con người trong quá trình sản xuất, các phương tiện bảo tồn và tiếp tục đời sống xã hội

Việc bảo tồn và tiếp tục đời sống xã hội, đáp ứng các nhu cầu xã hội, nhu cầu con người là những yếu tố khách quan phản ánh mối liên hệ nhất định của con người đối với môi trường bên ngoài Đó là quá trình trao đổi vật chất, năng lượng giữa xã hội và môi trường

Ba là, hiệu quả kinh tế không phải là mục tiêu cuối cùng mà là mục tiêu

xuyên suốt mọi hoạt động kinh tế Trong phân tích kinh tế, hiệu quả kinh tế được phản ánh thông qua hệ thống các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật đặc trưng Nó được xác định bằng các tỷ lệ so sánh giữa đầu vào và đầu ra của hệ thống sản xuất xã hội, phản ánh trình độ sử dụng nguồn lực và việc tạo ra lợi ích nhằm đạt được mục tiêu kinh tế - xã hội

Từ những quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế nói trên có thể thấy hiệu quả kinh tế là phạm trù trọng tâm rất cơ bản của nền kinh tế và công tác quản lý Xác định hiệu quả kinh tế rất khó khăn về cả lý luận và thực tiễn Bản chất của hiệu quả kinh tế xuất phát từ mục đích của sản xuất và phát triển kinh tế xã hội, đó là đáp ứng ngày càng cao về đời sống vật chất và tinh thần của con người Muốn vậy sản xuất phải luôn luôn phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu

Bởi sự phức tạp trong các quan điểm về hiệu quả kinh tế nên việc xác định quan điểm về hiệu quả càng trở nên phức tạp Quan điểm về hiệu quả kinh tế trong điều kiện hiện nay là thoả mãn vấn đề tiết kiệm thời gian, nguyên liệu trong sản xuất, mang lại lợi ích cho xã hội loài người và bảo vệ môi trường sinh thái Sự thịnh vượng, lợi ích đạt được của một nhóm người từ các hoạt động kinh tế phải đảm bảo không vi phạm, không làm tổn hại đến

Trang 22

Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

những giá trị, lợi ích chung của một nhóm người hay của toàn xã hội, đồng thời phải cân đối giữa lợi ích của con người và môi trường sinh thái Chính vì vậy, đánh giá hiệu quả của một quá trình kinh tế cần được đánh giá trên cả ba khía cạnh: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường sinh thái

1.1.1.2 Tiêu chuẩn đánh giá

Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế chung nhất, liên quan trực tiếp đến nền sản xuất hàng hoá và tất cả các phạm trù, các quy luật kinh tế khác, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực…) để đạt được mục tiêu xác định Nó được biểu hiện ở mức độ đặc trưng quan hệ so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra

Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế là một vấn đề phức tạp và còn nhiều ý kiến chưa được thống nhất Tuy nhiên, các nhà kinh tế đều cho rằng tiêu chuẩn cơ bản và tổng quát nhất khi đánh giá hiệu quả kinh tế là mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội và sự tiết kiệm lớn nhất về chi phí và tiêu hao các tài nguyên trong những điều kiện cụ thể, ở mỗi giai đoạn nhất định Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế là các quan điểm, nguyên tắc đánh giá hiệu quả kinh

tế trong những điều kiện cụ thể, ở mỗi giai đoạn nhất định Nâng cao hiệu quả kinh tế là mục tiêu chung và chủ yếu xuyên suốt trong mọi thời kỳ, còn tiêu chuẩn là chỉ tiêu lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá bằng định lượng theo tiêu chí

đã lựa chọn ở từng giai đoạn Mỗi thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội khác nhau thì tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế cũng khác nhau Tuỳ theo nội dung của hiệu quả kinh tế mà có tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế quốc dân và hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp Vì mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội rất đa dạng (nhu cầu tối thiểu, nhu cầu có khả năng thanh toán và nhu cầu theo ước muốn chung), thay đổi theo thời gian và phụ thuộc vào trình độ KHKT áp dụng trong sản xuất, nên thu nhập tối đa trên một đơn vị chi phí được xem là tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế hiện nay

Trang 23

Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Đối với toàn xã hội, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế là khả năng thoả mãn nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của xã hội bằng của cải sản xuất ra Đối với các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế là thu nhập tối đa tính trên chi phí hoặc công lao động bỏ ra Đánh giá hiệu quả kinh tế phải đứng trên góc độ hạch toán kinh tế, tính toán các chi phí, các yếu tố đầu vào, dự đoán kết quả sản xuất và tính được các yếu tố đầu

ra, từ đó xác định mối tương quan giữa mức độ đầu tư với kết quả đạt được,

đó chính là lợi nhuận

1.1.1.3 Phân loại hiệu quả

Mục đích chủ yếu của mọi hoạt động sản xuất của con người và quá trình áp dụng tiến bộ KHKT vào sản xuất đều là hiệu quả kinh tế Tuy nhiên, kết quả của các hoạt động đó không chỉ duy nhất đạt được về mặt kinh tế mà đồng thời còn tạo ra nhiều kết quả liên quan đến đời sống kinh tế - xã hội của con người Những kết quả đạt được đó là nâng cao chất lượng cuộc sống, giải quyết công ăn việc làm, góp phần ổn định chính trị xã hội, trật tự an ninh, xây dựng xã hội tiên tiến, cải tạo môi trường sinh thái, nâng cao đời sống văn hoá tinh thần cho nhân dân tức là đạt hiệu quả về mặt xã hội Tuy nhiên, để đảm bảo mục tiêu phát triển hiệu quả và bền vững, phải có sự kết hợp hài hòa về mặt lợi ích của cá nhân và lợi ích của số đông Trong quan điểm phát triển kinh tế hiện đại, ngoài hiệu quả về kinh tế - xã hội người ta còn quan tâm đến hiệu quả về môi trường Các hoạt động kinh tế mang lại hiệu quả cho cá nhân,

tổ chức, nhưng xét trên phạm vi toàn xã hội thì nó có thể ảnh hưởng xấu đến lợi ích và hiệu quả chung Giá trị mà hoạt động kinh tế mang lại có thể lớn nhưng không đủ bù đắp những thiệt hại hoặc những nguy cơ tiềm ẩn đối với

xã hội trong tương lai Do vậy, khi đánh giá hiệu quả cần có sự phân loại, cân nhắc về mặt lợi ích mà hoạt động kinh tế mang lại để có những kết luận chính xác, khoa học

Trang 24

Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Căn cứ theo nội dung và bản chất có thể phân hiệu quả thành ba phạm trù: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường Ba phạm trù này tuy khác nhau về nội dung nhưng có tác động qua lại lẫn nhau

Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được về mặt kinh tế và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Khi xác định hiệu quả kinh tế, nhiều nhà kinh tế thường ít nhấn mạnh đến quan hệ so sánh tương đối mà chỉ quan tâm đến quan hệ so sánh tuyệt đối và chưa xem xét đầy đủ mối quan hệ kết hợp quan hệ chặt chẽ giữa đại lượng tương đối và đại lượng tuyệt đối

- Hiệu quả kinh tế được thể hiện ở mức đặc trưng quan hệ so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra Một giải pháp kỹ thuật quản lý

có hiệu quả kinh tế cao là một phương án đạt được tương quan tương đối giữa các kết quả đem lại và chi phí bỏ ra Khi xác định hiệu quả kinh tế phải xem xét đầy đủ mối quan hệ chặt chẽ giữa các đại lượng tương đối và đại lượng tuyệt đối Hiệu quả kinh tế ở đây được biểu hiện bằng tổng giá trị sản phẩm, tổng thu nhập, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận, mối quan hệ đầu vào và đầu ra

- Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh về mặt xã hội như tạo công ăn việc làm, tạo thu nhập ổn định và tạo ra sự công bằng xã hội trong cộng đồng dân cư, cải thiện đời sống nông thôn…

- Hiệu quả môi trường là hiệu quả mang tính chất lâu dài, vừa đảm bảo lợi ích trước mắt, vừa đảm bảo lợi ích lâu dài, nó gắn chặt chẽ với quá trình khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên, nước và môi trường sinh thái

Có thể nói hiệu quả kinh tế là trọng tâm, giữ vai trò quyết định tới mọi hoạt động kinh tế và nó được đánh giá một cách đầy đủ nhất khi kết hợp với hiệu quả xã hội Để làm rõ phạm trù hiệu quả kinh tế, ta có thể phân loại chúng theo các tiêu thức nhất định từ đó thấy rõ được nội dung nghiên cứu của các loại hiệu quả kinh tế

Trang 25

Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Xét trong phạm vi và đối tượng các hoạt động kinh tế, có thể phân chia phạm trù hiệu quả kinh tế thành:

- Hiệu quả kinh tế theo ngành: hiệu quả kinh tế tính riêng cho từng ngành sản xuất vật chất như công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ… Trong từng ngành lớn có lúc phải phân bố hiệu quả kinh tế cho những ngành hẹp hơn

- Hiệu quả kinh tế quốc dân: hiệu quả kinh tế tính chung cho toàn bộ nền sản xuất xã hội

- Hiệu quả kinh tế doanh nghiệp: xem xét riêng cho từng doanh nghiệp,

vì mỗi doanh nghiệp hoạt động theo từng mục đích riêng và lấy lợi nhuận là mục tiêu cao nhất Chính vì thế, nhà nước cần có các chính sách liên kết vĩ

mô với doanh nghiệp

- Hiệu quả kinh tế khu vực sản xuất vật chất, phi vật chất và dịch vụ Căn cứ vào các yếu tố cơ bản của sản xuất và phương hướng tác động vào sản xuất, có thể chia hiệu quả kinh tế thành:

- Hiệu quả sử dụng vốn

- Hiệu quả sử dụng lao động

- Hiệu quả sử dụng máy móc, thiết bị

- Hiệu quả sử dụng đất đai, năng lượng…

- Hiệu quả áp dụng các tiến bộ KHKT và quản lý

1.1.1.4 Hệ thống chỉ tiêu và phương pháp đánh giá

Do tính phức tạp của vấn đề hiệu quả trong nông nghiệp nên đánh giá hiệu quả kinh tế của mọi hiện tượng kinh tế, quá trình sản xuất kinh doanh đều đòi hỏi phải có hệ thống chỉ tiêu Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh

tế phải đáp ứng được các yêu cầu sau:

- Đảm bảo tính thống nhất về nội dung với hệ thống chỉ tiêu kinh tế của nền kinh tế quốc dân với ngành nông nghiệp

- Đảm bảo tính toàn diện và hệ thống

Trang 26

Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

- Đảm bảo tính khoa học, tính thực tiễn và tính khả thi

- Phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển nông nghiệp ở nước ta, đồng thời phải có khả năng so sánh quốc tế trong quan hệ kinh tế đối ngoại, nhất là các sản phẩm có khả năng xuất khẩu

- Kích thích được sản xuất phát triển và tăng cường ứng dụng KHKT vào sản xuất

Hệ thống chỉ tiêu hiệu quả kinh tế bắt nguồn từ bản chất hiệu quả Đó

là mối quan hệ giữa các yếu tố đầu vào và các yếu tố đầu ra hay giữa chí phí

và kết quả thu được từ chi phí đó, có thể thể hiện chỉ tiêu hiệu quả sau:

Công thức 1:

C

Q

H Trong đó: H: Hiệu quả

Q: Kết quả thu được C: Chi phí bỏ ra Công thức này phản ánh hiệu quả sử dụng các nguồn lực sản xuất Từ công thức chung này ta có thể tính được các chỉ tiêu tỷ suất như: tỷ suất giá trị sản xuất tính theo chi phí, chi phí trung gian hay một chi phí yếu tố đầu vào

cụ thể nào đó

Công thức 2: HQC

Trong đó: H: Hiệu quả

Q: Kết quả thu được C: Chi phí bỏ ra Chỉ tiêu này tính toán cho toàn bộ quá trình sản xuất như tổng giá trị tăng, tổng thu nhập hỗn hợp hay tổng lãi ròng thu được Tuy nhiên, chỉ tiêu này thường được tính cho một đơn vị chi phí bỏ ra như tổng chi phí, chi phí trung gian, chi phí lao động hoặc chi phí một yếu tố đầu vào cụ thể nào đó

Công thức 3: H QC

Trang 27

Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Trong đó: H: Hiệu quả

ΔQ: Giá trị tăng thêm ΔC: Chi phí tăng thêm

Công thức 4:

C

Q H

Trong đó: H: Hiệu quả

ΔQ: Giá trị tăng thêm ΔC: Chi phí tăng thêm Công thức này thể hiện mức độ hiệu quả của việc đầu tư thêm chi phí

Nó thường được sử dụng để xác định hiệu quả kinh tế của đầu tư thêm chiều sâu hoặc hiệu quả kinh tế của việc áp dụng các tiến bộ KHKT

* Những chỉ tiêu chủ yếu liên quan tới việc tính toán hiệu quả kinh tế

- Giá trị sản xuất (GO: Gross Output) là giá trị bằng tiền của các loại

sản phẩm trên một diện tích trong một vụ hay một chu kỳ sản xuất kinh doanh

1

Pi: giá cả sản phẩm hay công việc thứ i

- Chi phí trung gian (IC: Intermediate Cost) là toàn bộ các khoản chi phí vật chất (trừ phần khấu hao tài sản cố định) và dịch vụ sản xuất Trong nông nghiệp, chi phí trung gian bao gồm các khoản chi nguyên nhiên vật liệu: giống, phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật, công làm đất, hệ thống cung cấp nước

n

j j C IC

1

Trong đó: Cj là các khoản chi phí thứ j trong một chu kỳ sản xuất

Trang 28

Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

- Giá trị gia tăng (VA: Value Added) là giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ do các ngành sản xuất tạo ra trong một năm hay một chu kỳ sản xuất Giá trị gia tăng được tính bằng công thức:

IC GO

VA Trong nền kinh tế thị trường, người sản xuất rất quan tâm đến giá trị gia tăng Nó thể hiện kết quả của quá trình đầu tư chi phí vật chất và lao động sống vào quá trình sản xuất

- Thu nhập hỗn hợp (MI: Mix Income) là phần thu nhập thuần tuý của người sản xuất bao gồm phần trả công lao động và phần lợi nhuận mà họ có thể nhận được trong một chu kỳ sản xuất, được tính theo công thức:

)

VA

MI   Trong đó: A: là phần giá trị tài sản cố định và chi phí phân bổ

Trên đây là các công thức và chỉ tiêu chủ yếu xác định hiệu quả kinh tế của sản xuất Tuy nhiên, mỗi ngành kinh tế, mỗi lĩnh vực sản xuất đều có đặc điểm riêng nên khi xác định hiệu quả kinh tế cũng có những đặc thù riêng

VA là kết quả trung gian

MI là kết quả cuối cùng Tổng chi phí gồm chi phí trung gian, khấu hao và thuê sản xuất

Trang 29

Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Hệ thống chỉ tiêu này quan tâm nhiều hơn đến chi phí trung gian mà không quan tâm nhiều đến tổng chi phí

* Q có thể biểu hiện là:

- Tổng giá trị sản xuất (GO)

- Tổng giá trị gia tăng (VA)

- Đơn vị diện tích đất đai (S)

* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất cây trồng

Cây trồng là nguồn lực chủ yếu trong sản xuất nông nghiệp nên các chỉ tiêu phải thể hiện được đầy đủ hiệu quả sản xuất kết hợp với hiệu quả sử dụng tổng hợp các nguồn lực khác

- Giá trị sản xuất / Chi phí trung gian

- Giá trị gia tăng / Chi phí trung gian

- Thu nhập hỗn hợp / Chi phí trung gian

- Giá trị sản xuất / Công lao động

- Giá trị gia tăng / Công lao động

* Giá trị sử dụng trong tính toán: Sử dụng giá trị bình quân thị trường

trong thời gian nghiên cứu

1.1.2 Chủ trương của Đảng và Nhà nước trong xóa đói giảm nghèo

Đối với công tác xóa đói giảm nghèo, Đảng và Nhà nước ta chủ trương: bằng nguồn lực của ngân sách nhà nước, ngân sách địa phương và của toàn xã hội, tăng cường đầu tư kết cấu hạ tầng, cho vay vốn, trợ giúp đào tạo nghề, cung cấp thông tin, chuyển giao công nghệ, trợ giúp tiêu thụ sản phẩm, thực

Trang 30

Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

hiện chính sách trợ giúp y tế, giáo dục, dạy nghề linh hoạt nhằm đảm bảo cho người nghèo tiếp cận với các dịch vụ này bình đẳng và ngày càng chất lượng Đối với những vùng nghèo, xã nghèo và nhóm dân cư nghèo, chủ động di dời một bộ phận dân cư không có đất canh tác và điều kiện sản xuất đến lập nghiệp ở những vùng có tiềm năng Nhà nước tạo môi trường thuận lợi và khuyến khích người dân vươn lên làm giàu chính đáng

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX trong chiến lược phát triển kinh tế giai đoạn 2005-2010 chỉ ra định hướng phát triển kinh tế vùng đã chỉ rõ: khu vực nông thôn trung du, miền núi, phát triển mạnh cây dài ngày, chăn nuôi gia súc và công nghiệp chế biến Bảo vệ và phát triển vốn rừng, hoàn thành và bảo vệ vững chắc định canh định cư Bố trí lại dân cư, lao động và đất đai theo quy hoạch đi đôi với xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội để khai thác

có hiệu quả các nguồn tài nguyên, phát triển kinh tế trang trại Giảm bớt khoảng cách phát triển nông thôn với đồng bằng Có chính sách đặc biệt để phát triển kinh tế xã hội ở các vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo [1]

Ngoài ra, văn kiện Đại hội Đảng còn đặc biệt nhấn mạnh: đối với các vùng kinh tế trung du và miền núi Bắc Bộ (bao gồm cả khu vực Tây Bắc và Đông Bắc): phát triển mạnh cây ăn quả, cây công nghiệp, cây dược liệu, cây đặc sản, chăn nuôi đại gia súc và chế biến, tạo các vùng rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng nguyên liệu công nghiệp, gỗ trụ mỏ…

Ngày 28/12/2008, với việc ban hành Nghị quyết 30a, Chính phủ một lần nữa khẳng định quyết tâm xóa đói giảm nghèo thông qua việc hỗ trợ cho

797 xã (thuộc 61 huyện nghèo) có tỷ lệ hộ nghèo hơn 50% với kinh phí hàng nghìn tỷ đồng và thời gian thực hiện lên tới 11 năm (2009-2020) Cùng với các chương trình đang được thực hiện như: Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006-2010, Chương trình 134, 135 đầu tư hạ tầng kinh

tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng

Trang 31

Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

xa, giai đoạn II (2006-2010), Chương trình 30a được kỳ vọng sẽ đột phá vào các thành trì đói nghèo nhất của cả nước

1.1.3 Thành tích xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam

Trong những năm qua, Việt Nam được thế giới thừa nhận như là một điển hình về thành tích xóa đói giảm nghèo

Từ năm 1998, xoá đói giảm nghèo đã trở thành chương trình mục tiêu quốc gia và được đưa vào kế hoạch định kỳ 5 năm của Chính phủ và các địa phương Cùng với các chương trình 134, 135, chính sách giảm nghèo, chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc, chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo đã thu được những thành tựu quan trọng Từ chỗ chỉ có các hoạt động vay vốn, giúp hộ nghèo làm nhà tình nghĩa thông qua các tổ chức đoàn thể đã hình thành hệ thống cơ chế, chính sách giảm nghèo và ngân sách nhà nước đầu tư trực tiếp, tập trung vào các nhóm giải pháp lớn như: hỗ trợ điều kiện sinh kế cho người nghèo (cho vay tín dụng, dạy nghề, xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu…); hỗ trợ người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản (về y tế, giáo dục, nhà ở…) Qua đó, hàng triệu hộ nghèo đã được hỗ trợ về nhà ở, vay vốn tín dụng, hàng chục triệu người nghèo được trợ giúp kiến thức sản xuất, học sinh được miễn giảm học phí…

Mặc dù theo thời gian chuẩn nghèo đã được nâng lên nhưng tỷ lệ hộ nghèo cũng liên tục giảm từ 58,1% năm 1993 xuống còn 12,3% vào năm

2009 [22] Điều đó có nghĩa trong 16 năm qua đã có hơn 30 triệu người thoát khỏi đói nghèo Theo đánh giá của nhóm chuyên gia Anh thuộc tổ chức tư vấn Viện Phát triển nước ngoài (ODI), trong vòng 14 năm (từ 1990-2004), Việt Nam đã đạt được “tiến bộ chưa từng có" trong xóa đói giảm nghèo và cải thiện đời sống của người dân [19] Và một trong những mục tiêu thiên niên kỷ của Việt Nam là đến năm 2015 giảm 1/2 số người nghèo đã sớm đạt được

Trang 32

Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Nhưng bên cạnh những thành tựu đó, mục tiêu giảm nghèo của Việt Nam vẫn gặp phải không ít thách thức Liên hợp quốc đã xác định ba thách thức chính đối với công cuộc xoá đói giảm nghèo tại Việt Nam đó là:

- Tình trạng nghèo cùng cực vẫn còn tập trung nhiều ở một số khu vực

và trong các nhóm dân tộc thiểu số;

- Đã xuất hiện bằng chứng cho thấy

những khoảng cách về kinh tế xã hội ngày

càng rộng thêm

- Các chỉ số về tình trạng bất bình

đẳng không ngừng gia tăng

Bên cạnh đó, hàng triệu người dân

vẫn phải sống với mức thu nhập chỉ nhỉnh

hơn chuẩn nghèo một chút Những cá nhân

và hộ gia đình này rất dễ bị tổn thương

trước những cú sốc về kinh tế do các yếu tố

trong nước hay ngoài nước gây ra

Do vậy, những thành tựu đạt được chưa thực sự bền vững Nguy cơ tái nghèo vẫn còn cao Đó là do chính sách xóa đói giảm nghèo từ khi ra đời luôn được coi là chính sách hành chính hơn là một chính sách xã hội Nguồn vốn đầu tư thực hiện chương trình còn hạn chế so với nhu cầu thực tế Người dân - đối tượng hướng tới của chính sách - chưa được xem là chủ thể của các chương trình đang được tiến hành Khủng hoảng kinh tế cũng là một nguyên nhân khiến đói nghèo quay trở lại Với nhiều địa phương, nghèo đói còn do thiên tai, dịch bệnh

Vì vậy, xóa đói giảm nghèo không chỉ ở Việt Nam mà ở hầu hết các nước kém phát triển khác, chỉ có thể đạt được kết quả bền vững khi có sự gắn kết hữu cơ với công tác bảo vệ môi trường

Ngôi nhà lợp trúc của hộ nghèo

xã Huy Giáp

Trang 33

Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1.1.4 Cơ sở thực tiễn về phát triển cây trúc sào

1.1.4.1 Hiện trạng tài nguyên tre trúc trên thế giới và ở Việt Nam

Tre trúc là tập hợp các loài thực vật thuộc lớp một lá mầm (Monotyledoneae), bộ Hòa thảo (Poales), họ Hòa thảo (Poaceae), phân họ Tre (Bambusoideae)

Trên thế giới có khoảng 1.250 loài tre trúc, thuộc 75 chi (Rao - 1995) phân bố khá rộng, nằm trong nhiều vùng khí hậu khác nhau: từ miền khí hậu nhiệt đới đến á nhiệt đới, từ những vùng có địa hình thấp, chỉ cao hơn mặt biển vài mét đến địa hình vùng núi cao hiểm trở nằm ở độ cao 3.400 m trên mặt nước biển (vùng núi Hymalaya) IT Haig và MA Huberman (1959) cho rằng “ở miền nhiệt đới và đặc biệt là ở châu Á, sau thóc gạo, người ta coi tre trúc là đối tượng chủ yếu mà đời sống con người phải nương tựa vào” [10, 5] Thực vậy, châu Á là khu vực đặc biệt giàu có về các loài tre với 900 loài thuộc 75 chi Đây cũng là khu vực có diện tích rừng tre trúc rộng nhất Trung Quốc là nước có số loài và chi tre trúc nhiều nhất thế giới

Việt Nam là một trong những trung tâm quan trọng phân bố tự nhiên của các loài tre trúc trên thế giới với 216 loài của 25 chi (theo PGS.TS Nguyễn Hoàng Nghĩa) Tính tới tháng 12/2004, tổng diện tích rừng tre trúc của nước ta là 1.563.253 ha [10]

Bên cạnh vai trò của bảo vệ môi trường, tre trúc là một sản phẩm ngoài

gỗ có giá trị cao, được sử dụng rộng rãi trong xây dựng, làm hàng gia dụng, thủ công mỹ nghệ và chế biến thực phẩm Gần đây, các loài tre trúc đã được

sử dụng để làm giấy, ván nhân tạo, sản xuất than Phát triển các mặt hàng sử dụng nguyên liệu là tre trúc đã và đang góp phần tạo thêm nhiều việc làm cho lao động khu vực nông thôn và nâng cao hơn nữa mức sống của người dân, đặc biệt là với nông dân trồng tre trúc ở khu vực miền núi Căn cứ vào những lợi ích trên, tre đã được ưu tiên phát triển tại Việt Nam Trong những năm gần

Trang 34

Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

đây, diện tích tre ở Việt Nam có nhiều biến động do sự thay đổi các mục tiêu

sử dụng đất Trong khi đó, số liệu về tài nguyên rừng tre trúc đã không được cập nhật đầy đủ và thường xuyên Các số liệu này thường không chi tiết theo từng nhóm đối tượng và chưa phản ánh được quy mô của rừng tre trúc tại Việt Nam khiến việc quản lý và phát triển rừng tre trúc gặp nhiều khó khăn

1.1.4.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm từ tre trúc trên thế giới và tại Việt Nam

Các sản phẩm từ tre trúc trên thế giới có thể được chia thành ba nhóm chính: thủ công mỹ nghệ, măng phục vụ chế biến thực phẩm và công nghiệp sản xuất sản phẩm Sản phẩm tre công nghiệp là một sự phát triển mới trong ngành công nghiệp Tre trúc về bản chất có thể thay thế trực tiếp cho gỗ trong sản xuất ván sàn, ván ốp và giấy So với các loài cây lấy gỗ, tre trúc có ưu điểm đặc biệt là tốc độ sinh trưởng nhanh, tuổi thành thục khai thác sớm Trong tương lai, các sản phẩm tre công nghiệp sẽ là đối thủ cạnh tranh chủ đạo trong thị trường gỗ nguyên liệu và gỗ xây dựng

Nhu cầu của thế giới về sản phẩm này liên tục tăng Hiện nay, ước tính nhu cầu về sản phẩm là hơn 11 tỷ USD/năm, tăng từ 7 tỷ USD năm 2005 và

dự kiến sẽ lên tới 15-20 tỷ USD/năm vào năm 2018

Các sản phẩm truyền thống hiện đang thống trị thị trường như thủ công

mỹ nghệ (bao gồm các sản phẩm đồ đạc làm từ tre trúc), rèm và mành, tương ứng với 95% sản phẩm của ngành, phần lớn được tiêu dùng nội địa, đã đạt tới đỉnh cao của sự phát triển và có tiềm năng tăng trưởng hạn chế

Sản phẩm tre công nghiệp mà cạnh tranh với các sản phẩm gỗ chủ đạo chỉ xuất hiện trên phạm vi thương mại khoảng 10 năm nay (không bao gồm các sản phẩm giấy và đũa) Hiện tại, tiêu dùng toàn cầu chỉ xấp xỉ 500 triệu USD/năm, so với thị trường xuất khẩu tổng thể của 80 tỷ USD/năm của các sản phẩm gỗ chế biến thứ cấp đã phát triển trung bình hơn 12%/năm từ năm

Trang 35

Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

2000 Với sự tăng trưởng tại các thị trường xuất khẩu của các sản phẩm gỗ chế biến và sự thâm nhập ngày càng tăng của các sản phẩm tre vào các thị trường này, thị trường tre công nghiệp có thể đạt từ 4-8 tỷ USD sau hơn 10 năm nữa [15]

Tiềm năng tăng trưởng mạnh mẽ này dựa trên năng lực cạnh tranh của sản phẩm tre kỹ nghệ đối với các sản phẩm gỗ tương đương, đặc biệt là gỗ cứng Tre kỹ nghệ có chi phí thấp hơn, có thể thay thế hầu hết gỗ cứng với sự tiết kiệm lên tới 30% hoặc hơn, trong khi hiệu suất kỹ thuật tốt hơn về mặt độ cứng, độ bền và sự ổn định Kết hợp khả năng chống chịu với môi trường và tính thẩm mỹ cao, đây là một sản phẩm rất có tính cạnh tranh trên thị trường

gỗ chủ đạo Trung Quốc hiện là siêu cường quốc tre của thế giới với việc sản xuất trên 80% sản lượng và tiêu thụ trên 60% tổng sản lượng của toàn cầu

Tại Việt Nam, nhiều nhà máy giấy sử dụng tre trúc làm nguyên liệu do thân tre trúc chứa lượng sợi cao (40-60%) và chiều dài sợi từ 1,5-2,5 mm (tối

đa 5 mm) là nguyên liệu tốt cho sản xuất giấy Mặt khác, cây dễ gây trồng thành rừng và sớm cho thu hoạch

Trong những năm gần đây, chế biến tre trúc trở thành một trong các

ngành chế biến lâm sản phát triển Tuy nhiên, mặt hàng tre trúc xuất khẩu còn đơn điệu về mẫu mã, thiết bị tương đối hiện đại nhưng quy mô sản xuất nhỏ, manh mún Các cơ sở chế biến phụ thuộc nhiều vào nguồn cung nguyên liệu Những biến động của thị trường nguyên liệu là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những khó khăn khó tháo gỡ trong sản xuất của các doanh nghiệp Cá biệt nhiều làng mất nghề do thiếu nguyên liệu Trong khi vùng nguyên liệu chưa được mở rộng để đáp ứng nhu cầu trong nước thì việc xuất thô nguyên liệu ra nước ngoài vẫn diễn ra khiến nhiều cơ sở, doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh khốn đốn Vì những nguyên nhân trên, trong những năm qua, tuy sản lượng từ các sản phẩm tre trúc có tăng nhưng giá trị thu được vẫn còn hạn chế

Trang 36

Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Trên thế giới, trúc sào phân bố chủ yếu ở Trung Quốc, Nhật Bản Vùng Hoa Nam (Trung Quốc) là quê hương của cây trúc sào Ở Việt Nam, loài trúc này không gặp trong trạng thái tự nhiên Chúng được trồng nhiều ở Cao Bằng (chủ yếu ở Nguyên Bình và Bảo Lạc), Hà Giang (Đồng Văn), Bắc Kạn (Chợ Đồn, Bạch Thông)

Trúc sào thường được nhân dân dùng làm nhà Trong các căn nhà của đồng bào Dao ở Cao Bằng, có rất nhiều bộ phận làm bằng trúc như: mái nhà, tường liếp, cột kèo, cửa Trúc sào cũng dùng làm các đồ gia dụng như: bàn ghế, giương, chõng, rổ rá và các cơ sở thường chế biến trúc sào làm cần câu, sào nhẩy cao, gậy trượt tuyết xuất khẩu

có thể kích thích dạ dày co bóp, hỗ trợ quá trình tiêu hóa, tạo cảm giác no bụng và không gây béo Ngoài ra, măng còn có thể hấp thụ những chất béo dư thừa, làm giảm lượng cholesterol trong máu Tuy nhiên, tùy theo từng cách chế biến và phối hợp nguyên liệu mà măng có những tác dụng khác nhau

Măng trúc sào có sản lượng tương đối cao Nếu rừng trúc kinh doanh theo hướng thâm canh sản xuất cây và măng thì sản lượng măng có thể đạt 7-

8 tấn/ha/năm Măng lại cho vào thời vụ cuối đông sang xuân, nên giá trị kinh

tế càng cao vì vào thời điểm này, các loài tre thân mọc cụm chưa ra măng [5]

Trang 37

Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Trong Đông y, măng trúc (Stolo phyllostachyos) vị ngọt, tính hàn, được

coi như một loại kháng sinh tự nhiên rất tốt Măng có tác dụng lợi chín khiếu, thông huyết mạch, hoá đàm tiên (đờm dãi), tiêu thực trướng, phát đậu chẩn thấu độc Ở Trung Quốc, măng trúc được dùng trị trẻ em lên sởi đậu không mọc [21]

Thân trúc trưởng thành được dùng để làm đồ thủ công mỹ nghệ và hàng gia dụng như bàn, ghế, chiếu, bình phong, mành có giá trị Hiện nay, những sản phẩm từ trúc của Việt Nam đã được xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới và rất được ưa chuộng Trúc sào đã mang lại thu nhập cho cả cơ sở sản xuất và người trồng Nhiều làng nghề nổi tiếng nhờ các sản phẩm làm từ tre, trúc như làng Xuân Lai (huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh), làng Thu Hồng (xã Xuân Thu, huyện Sóc Sơn, Hà Nội) Nhiều hộ

gia đình cũng đi lên từ loài cây gắn bó với

miền quê này

Cùng với nhiều loài cây khác trong phân

họ Tre, trúc sào được phát triển phục vụ ngành

công nghiệp sản xuất ván sàn, ván ốp thay gỗ,

và là nguyên liệu sản xuất bột giấy sợi dài

Ngoài ra, rừng trúc còn có khả năng

phòng hộ, chống xói mòn, giữ đất, giữ nước,

tăng cao dòng chảy kiệt của các lưu vực sông

ngòi trong mùa khô và tạo cảnh quan môi trường sinh thái tốt

1.1.4.4 Một số đặc điểm của cây trúc sào

Trúc sào là một loài tre không gai, có tên khoa học là Phyllostachys

edulis (Carr.) Houz de Lehaie (tên khác gọi là Trúc Cao Bằng, May khoang

hoài, Sào pên) thuộc giới Plantae, bộ Poales, họ Hòa thảo (Poaceae), phân họ Tre (Bambusoideae), phân tông Shibataeinae, chi Phyllostachys

Vườn trúc sào tại xã Huy Giáp

Trang 38

Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Trúc sào phân bố rộng ở các tỉnh Triết Giang, Phúc Kiến, Giang Tây,

Hồ Nam (Trung Quốc) và có giả thuyết cho rằng trúc sào được đưa về gây trồng ở các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn nước ta từ thế kỷ thứ VIII cùng với quá trình người Dao từ Trung Quốc mở các đợt di cư xuống phương Nam Hiện nay, khi di chuyển đến các địa điểm mới, đồng bào Dao thường mang giống trúc sào theo để trồng ở nơi mới định cư

-350 vĩ Bắc và độ cao tuyệt đối

từ 500-1.500 m, khí hậu á nhiệt đới với hai mùa mưa nóng và khô lạnh phân

C, trung bình là 200C, nhiệt

độ tối cao trung bình 300C, tối thấp trung bình là 4,50C, lượng mưa bình quân

từ 1.300-1.500 mm, có sương giá và đôi khi có tuyết xuất hiện trong mùa khô lạnh Trúc sào ưa sáng, sinh trưởng tốt trên sườn đồi, đỉnh núi đất dày, tơi xốp, thoát nước tốt, ẩm mát và nhiều mùn, ít chua

Vì những đặc điểm trên nên ở Việt Nam, trúc sào được trồng chủ yếu ở những huyện núi đất của Cao Bằng - nơi có khí hậu mát mẻ, độ ẩm không khí

và lượng mưa tương đối cao - và một số ít diện tích ở Bắc Kạn, Hà Giang trên

độ cao tuyệt đối 400-1000 m Ngoài ra, người ta còn tìm thấy số lượng ít loài này ở huyện Tân An (tỉnh Long An)

1.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.2.1 Câu hỏi đặt ra mà đề tài cần giải quyết

Điều kiện kinh tế, thực trạng sản xuất và tình hình phát triển cây trúc sào tại các huyện trồng trúc của tỉnh Cao Bằng?

Đánh giá hiệu quả của việc trồng cây trúc sào trên địa bàn?

Vai trò của cây trúc sào trong xóa đói giảm nghèo ở địa phương?

Tiềm năng và những yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển cây trúc sào tại tỉnh Cao Bằng?

Trang 39

Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Những vấn đề cần giải quyết để thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh, chế biến trúc sào phát triển?

1.2.2 Phương pháp nghiên cứu

1.2.2.1 Chọn điểm nghiên cứu

Trúc sào được trồng ở nhiều tỉnh nhưng chỉ trúc sào Cao Bằng mới được nhiều người biết đến với những sản phẩm có tiếng Trúc được trồng ở nhiều nơi và có nhiều loại nhưng không phải loại nào cũng có thể chế biến thành hàng thủ công mỹ nghệ Yêu cầu đối với trúc nguyên liệu là phải có độ dẻo, dai, màu sắc đẹp Có thể nói ở Việt Nam, chỉ Cao Bằng mới có trúc sào (những tỉnh khác có thì diện tích không đáng kể) Và ngay ở Cao Bằng, chỉ trong vùng rừng sâu của các huyện Nguyên Bình, Thông Nông, Bảo Lạc và Hòa An mới có loại trúc này Với số liệu nghiên cứu về diện tích trồng trúc lớn và số lượng hộ trồng trúc đông đảo, việc đánh giá vai trò của cây trúc sào trong xóa đói giảm nghèo tại Cao Bằng sẽ có tính đại diện cao và có giá trị về mặt thực tiễn Vì vậy, Cao Bằng được chọn là điểm nghiên cứu và khu vực nghiên cứu của đề tài là Bảo Lạc và Nguyên Bình - hai huyện có diện tích và

số hộ dân trồng trúc sào lớn nhất tỉnh

Biểu 1.1: Diện tích và số hộ trồng trúc sào tại Cao Bằng năm 2007

Nguồn: Số liệu do Helvetas Cao Bằng cung cấp năm 2010

Xã nghiên cứu được lựa chọn từ ma trận chọn xã theo các tiêu chí sau:

- Có diện tích trồng trúc lớn;

Trang 40

Số hóa bởi trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

- Nhiều hộ trồng trúc sào;

- Tỷ lệ thu nhập từ sản xuất trúc (so với tổng thu nhập của nông hộ) cao;

- Tỷ lệ nghèo đói vùng nghiên cứu (theo tiêu chí của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội năm 2005) cao;

- Khả năng tiếp cận các xã/ thôn thuận lợi;

- Khả năng hợp tác trong việc cung cấp thông tin (cởi mở, dễ nói chuyện)

Các tiêu chí được cho điểm từ 1 tới 5 Các xã thỏa mãn các điều kiện sẽ được sử dụng để nghiên cứu và phỏng vấn người trồng và người kinh doanh, chế biến trúc Mỗi xã sẽ chọn ra một thôn để tiến hành phỏng vấn sâu, thảo luận với người trồng trúc địa phương và quan sát việc trồng trúc Việc lựa chọn các xã, thôn nghiên cứu dựa trên các tiêu chí và sử dụng ma trận chọn điểm được mô tả chi tiết trong phần phụ lục

Biểu 1.2: Kết quả ma trận lựa chọn xã và thôn nghiên cứu

Nguồn: Số liệu tổng hợp từ điều tra năm 2010

Lựa chọn các thôn nghiên cứu là cơ sở để lựa chọn các hộ trồng trúc, các tư thương kinh doanh trúc nguyên liệu đại diện

1.2.2.2 Thu thập số liệu sơ cấp

Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua các phương pháp sau:

a Thảo luận nhóm

Ngày đăng: 01/08/2014, 22:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[12] Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngƣ Quốc gia (2008), Kỹ thuật gây trồng một số loài cây lâm sản ngoài gỗ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật gây trồng một số loài cây lâm sản ngoài gỗ
Tác giả: Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngƣ Quốc gia
Năm: 2008
[13] TS. Võ Đại Hải, Thị trường lâm sản rừng trồng sản xuất ở các tỉnh miền núi phía Bắc và các chính sách để phát triển, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường lâm sản rừng trồng sản xuất ở các tỉnh miền núi phía Bắc và các chính sách để phát triển
[16] Prosperity Initiative (2008), Industrial bamboo in North West Viet Nam and North East Lao PDR, Practical steps to large-scale poverty impacts.Các cổng thông tin điện tử Sách, tạp chí
Tiêu đề: Industrial bamboo in North West Viet Nam and North East Lao PDR, Practical steps to large-scale poverty impacts
Tác giả: Prosperity Initiative
Năm: 2008
[17] Cổng thông tin Cục Lâm nghiệp: http://dof.mard.gov.vn Link
[18] Cổng thông tin điện tử tỉnh Cao Bằng: http://www.caobang.gov.vn [19] Cổng thông tin điện tử báo Hà Nội Mới:http://www.hanoimoi.com.vn Link
[20] Cổng thông tin điện tử báo Tài nguyên và Môi trường - Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam: http://www.monre.gov.vn Link
[22] Trang điện tử Tổng cục Thống kê Việt Nam: http://gso.gov.vn Link
[14] Tran Dai Nghia. PhD (2008), Report on value chain of ivory bamboo Khác
[21] Cổng thông tin Sức khỏe cộng đồng - Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam: http://suckhoecongdong.vn Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w