Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ------ NGUYỄN THỊ VÂN ANH ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT TRỒNG CHÈ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGU
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
- -
NGUYỄN THỊ VÂN ANH
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT TRỒNG CHÈ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2011
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
- -
NGUYỄN THỊ VÂN ANH
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT TRỒNG CHÈ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
MÃ SỐ : 60 62 16
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thế Hùng
THÁI NGUYÊN - 2011
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác, mọi trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc, mọi sự giúp đỡ đã được cảm ơn
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Vân Anh
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn, tôi đã được sự giúp đỡ nhiệt tình của các cơ quan, các cấp lãnh đạo và cá nhân Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc và kính trọng tới các tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt qua trình học tập và nghiên cứu
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Nguyễn Thế
Hùng và ThS Phan Thị Thanh Huyền, các thầy cô hướng dẫn trực tiếp tôi
trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa sau đại học trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận án
Tôi xin chân thành cảm ơn Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường, Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên, Ủy ban Nhân dân, phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các huyện, thành phố Thái Nguyên, huyện Đại Từ và huyện Phú Lương cùng cán bộ và bà con nông dân các xã trên địa bàn đã tạo điều kiện và nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình làm luận án
Tôi xin chân thành cảm ơn tới bạn bè, người thân trong gia đình đã động viên, chia sẻ, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2011
Sinh viên
Nguyễn Thị Vân Anh
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
1.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 3
1.3 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI 3
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 NGUỒN GỐC, PHÂN LOẠI VÀ SỰ PHÂN BỐ CỦA CÂY CHÈ 4
2.1.1 Nguồn gốc 4
2.1.2 Phân loại cây chè 6
2.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT, CHẾ BIẾN VÀ TIÊU THỤ CHÈ TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 8
2.2.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè trên thế giới 8
2.2.2 Tình hình sản xuất, chế biến và tiêu thụ chè ở Việt Nam 11
2.3 HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT 13
2.3.1 Những vấn đề chung về hiệu quả 13
2.3.2 Đặc điểm và phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 19
2.3.2.1 Nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp 19
2.3.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 20
2.3.2.3 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 23
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
3.1 ĐỐI TƯỢNG PHẠM VI NGHIÊN CỨU 26
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 26
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 26
3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 26
3.2.1 Điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội 26
3.2.1.1 Điều kiện tự nhiên 26
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
3.2.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội 26
3.2.1.3 Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội của tỉnh liên quan đến sử dụng đất đai 27
3.2.2 Hiện trạng sử dụng đất đai tỉnh Thái Nguyên 27
3.2.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất trồng chè ở Thái Nguyên 27
3.2.4 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất chè ở Thái Nguyên 28
3.2.4.1 Giải pháp về cơ chế chính sách 28
3.2.4.2.Giải pháp về công tác khuyến nông 28
3.2.4.3 Giải pháp về vốn đầu tư cho cây chè 28
3.2.4.4 Giải pháp về kỹ thuật 28
3.2.4.5.Giải pháp về chế biến 28
3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
3.3.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu 28
3.3.2 Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất 28
3.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 30
3.3.4 Phương pháp lợi thế so sánh 30
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31
4.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI 31
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 31
4.1.1.1 Vị trí địa lý 31
4.1.1.2 Địa hình địa mạo 31
4.1.1.3 Khí hậu 31
4.1.1.5 Tài nguyên khoáng sản 33
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 33
4.1.2.1 Thực trạng phát triển kinh tế xã hội 33
4.1.2.2 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng 37
4.1.2.3 Thực trạng phát triển ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp 38
4.1.2.4 Thực trạng phát triển phát triển thương mại dịch vụ 39
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
4.1.3 Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh liên
quan đến sử dụng đất đai 39
4.1.3.1 Thuận lợi 39
4.1.3.2 Khó khăn 40
4.2 TÌNH HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI TỈNH THÁI NGUYÊN 40
4.3 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT CHÈ Ở THÁI NGUYÊN 42
4.3.1 Tình hình chung về sản xuất chè ở Thái Nguyên 42
4.3.1.1 Diện tích, năng suất và sản lượng chè 43
4.3.1.2 Một số đặc điểm vườn chè 44
4.3.1.3 Tình hình đầu tư phân bón, thuốc BVTV, tưới nước cho vườn chè 46
4.3.2 Đặc điểm chung của nhóm hộ nghiên cứu 53
4.3.2.1 Nguồn nhân lực của nhóm hộ nghiên cứu 53
4.3.2.2 Nguồn đất sản xuất của hộ 55
4.3.2.3 Phương tiện sản xuất chè của hộ 55
4.3.3 Hiệu quả kinh tế sản xuất chè ở Thái Nguyên 56
4.3.3.1 Công lao động cho các hộ sản xuất chè 57
4.3.3.2 Điều tra chi phí sản xuất chè 58
4.3.3.3 Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất chè ở Thái Nguyên 59
4.3.4 Hiệu quả xã hội sản xuất chè tại Thái Nguyên 63
4.3.5 Hiệu quả môi trường sản xuất chè tại Thái Nguyên 65
4.3.6 Nhận xét chung về hiệu quả sử dụng đất trồng chè tại Thái Nguyên 67
4.4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÂY CHÈ TẠI THÁI NGUYÊN 68
4.4.1 Giải pháp về cơ chế chính sách 68
4.4.2 Giải pháp về công tác khuyến nông 69
4.4.3 Giải pháp về vốn đầu tư cho cây chè 69
4.4.4 Giải pháp về kỹ thuật 70
4.4.5 Giải pháp về chế biến 72
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73
5.1 KẾT LUẬN 73
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
5.2 KIẾN NGHỊ 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Hiệu quả môi trường HQMT
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1 Tổng sản phẩm và tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh Thái Nguyên 34
Bảng 4.2 Hiện trạng sử dụng đất tỉnh Thái Nguyên năm 2010 41
Bảng 4.3 Diện tích, năng suất và sản lượng chè giai đoạn 2006-2010 43
Bảng 4.4 Một số đặc điểm vườn chè ở Thái Nguyên 44
Bảng 4.5 Tình hình sử dụng phân bón cho chè tại Thái Nguyên 48
Bảng 4.6 Các loại sâu bệnh thường gặp trên chè tại Thái Nguyên 49
Bảng 4.7 Các loại thuốc BVTV được sử dụng cho chè tại Thái Nguyên 50
Bảng 4.8 Tổng hợp tình hình đầu tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và tưới nước trên vườn chè 52
Bảng 4.9 Tình hình nguồn nhân lực của nhóm hộ nghiên cứu 54
Bảng 4.10 Tình hình sử dụngđất sản xuất chè của hộ 55
Bảng 4.11 Phương tiện sản xuất chè của hộ nghiên cứu 56
Bảng 4.12 Công lao động cho sản xuất chè 57
Bảng 4.13 Chi phí sản xuất chè (triệu đồng/ha) 58
Bảng 4.14 Phân cấp mức độ đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất 60
tính bình quân cho 1 ha 60
Bảng 4.15 Hiệu quả kinh tế của loại hình sử dụng đất chè tính trung bình trên 1 ha/năm 61
Bảng 4.16 Phân cấp đánh giá hiệu quả xã hội của các vùng trồng chè 64
Bảng 4.17 Kết quả đánh giá hiệu quả xã hội vùng nghiên cứu 64
Bảng 4.18 Phân cấp đánh giá hiệu quả môi trường 66
Bảng 4.19 Hiệu quả môi trường sản xuất chè tại Thái Nguyên 66
Bảng 4.20 Hiệu quả sử dụng đất trồng chè tại Thái Nguyên năm 2010 67
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1 Cơ cấu sản lƣợng chè năm 2007 phân theo châu lục (%) 9Hình 4.1: Cơ cấu tổng sản phẩm theo giá thƣ̣c tế phân theo khu vƣ̣c kinh tế 34Hình 4.2 Số lao động đƣợc tạo việc làm qua các năm 36
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, không thể tái tạo được đối với mỗi quốc gia Đặc biệt là đất nông nghiệp có hạn về diện tích, có nguy cơ bị suy thoái dưới tác động của thiên nhiên và những hoạt động sử dụng đất thiếu hiểu biết của con người trong quá trình sản xuất Khi xã hội phát triển, dân số tăng nhanh, quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh, kéo theo những đòi hỏi ngày càng tăng về nhu cầu lương thực cũng như nhu cầu về đất
sử dụng cho các mục đích chuyên dùng Điều này đã gây ra áp lực ngày càng lớn đối với đất sản xuất nông nghiệp, làm cho quỹ đất nông nghiệp luôn có nguy cơ bị suy giảm diện tích, trong khi khả năng khai hoang những vùng đất mới có khả năng sản xuất nông nghiệp gần như đã cạn kiệt Do vậy, việc nghiên cứu đánh giá tiềm năng đất sản xuất nông nghiệp và sử dụng có hiệu quả trên quan điểm sinh thái, bền vững đang ngày càng trở nên cấp thiết, quan trọng đối với mỗi quốc gia cũng như những vùng đất sản xuất nông nghiệp trong từng vùng riêng biệt để từ đó đưa ra được các giải pháp mang tính chiến lược trong sử dụng đất lâu bền
Chè là một cây được trồng và sử dụng từ lâu đời ở Việt Nam Nước ta
có một số vùng có điều kiện sinh thái (đất, khí hậu, địa hình ) rất thích hợp cho cây chè sinh trưởng phát triển Chất lượng nguyên liệu (chè búp tươi) của
ta ở những vùng này nhìn chung tương đương loại chè tốt của thế giới Chè còn là một trong những sản phẩm xuất khẩu quan trọng trong nông nghiệp ở nước ta Hiện nay, trên thế giới có 41 nước trồng và chế biến chè thì Việt Nam đứng thứ 5 về diện tích và đứng thứ 8 về sản lượng xuất khẩu chè Sản xuất chè đã mang lại thu nhập đáng kể cho người lao động, tuy nhiên sản xuất chè
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
của cả nước nói chung vẫn chưa theo kịp được một số nước như Ấn Độ, Trung Quốc, Srilanca, Kênia
Thái Nguyên là một tỉnh miền núi thuộc vùng Trung du Miền núi Bắc
Bộ, cách thủ đô Hà Nội 45 km về phía Bắc với diện tích tự nhiên là 353.101,67 ha, là vùng đất đai có truyền thống và kinh nghiệm về trồng và chế biến chè, nhờ điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng đã tạo ra được hương vị đặc biệt của chè Thái không thể lẫn với các loại chè khác với hương vị nổi tiếng như chè Tân Cương, chè Trại Cài… Thái Nguyên là một vùng chè trọng điểm trong cả nước với diện tích 17.661 ha (năm 2010), trong đó có trên 16.289
ha chè kinh doanh với sản lượng hàng năm là 171.900 tấn chè tươi Người dân Thái Nguyên có nhiều kinh nghiệm trong việc trồng và chế biến chè Chè Thái Nguyên nổi tiếng trong cả nước không chỉ về quy mô mà còn do chất lượng ngon đặc trưng của nó Hiện nay, cây chè đang được coi là cây trồng mũi nhọn của tỉnh Trồng chè không những khai thác tốt tiềm năng vốn có về điều kiện khí hậu, đất đai của tỉnh mà còn góp phần trong việc xoá đói giảm nghèo, tiến tới làm giàu, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá nông thôn Đồng thời, phát triển cây chè góp phần phủ xanh đất trống đồi núi trọc, chống xói mòn, rửa trôi, bảo vệ đất và môi trường
Ngoài ra, cây chè còn đảm bảo yêu cầu về giải quyết lao động, thu nhập cho người dân, giải quyết nguyên nhiên liệu cho các cơ sở chế biến trong tỉnh, hơn nữa cây chè còn có vai trò quan trọng là tạo lập cảnh quan môi trường sinh thái Vì vậy, phát triển cây chè sẽ góp phần tích cực vào quá trình phát triển của tỉnh theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa với tốc độ nhanh và bền vững Tuy nhiên, ở một số địa phương trong vùng trồng vẫn chưa phát huy hết so với tiềm năng đất đai vốn có Năng suất, chất lượng và giá cả chè của một số địa phương còn thấp chưa tương xứng với nhãn hiệu Chè Thái
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Mặt khác, phương thức sản xuất của hộ trồng chè còn nhỏ lẻ thủ công dựa vào kinh nghiệm là chính Việc bón phân và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật còn chưa đúng cách và thiếu hiệu quả Nhiều hộ trồng chè chưa biết áp dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất nên năng suất vẫn chưa cao chất lượng vẫn chưa được đảm bảo Chính vì thế, cần có sự đánh giá đúng thực trạng để thấy rõ được những vấn đề còn tồn tại, từ đó đề ra các giải pháp phát triển sản xuất sao cho có hiệu quả cao nhất
Xuất phát từ thực tế trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá
hiệu quả sử dụng đất trồng chè trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên”
1.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở điều tra hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp, đánh giá hiệu quả sản xuất chè ở Thái Nguyên làm cơ sở đề xuất hướng cải tạo và sử dụng hợp lý hơn nguồn tài nguyên đất đai
1.3 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
- Đánh giá được thực trạng và hiệu quả sản xuất chè tại địa bàn tỉnh Thái Nguyên
- Kết quả nghiên cứu góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng, bảo vệ đất
trồng chè ở những vùng có tiềm năng và cho thu nhập cao của các nông hộ sản xuất chè trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 NGUỒN GỐC, PHÂN LOẠI VÀ SỰ PHÂN BỐ CỦA CÂY CHÈ 2.1.1 Nguồn gốc
Nguồn gốc cây chè là vấn đề phức tạp, cho đến nay có nhiều quan điểm khác nhau dựa trên những lịch sử, khảo cổ học và thực vật học nói về nguồn gốc của cây chè Trong đó, có một số quan điểm được nhiều người công nhận là:
- Cây chè có nguồn gốc từ Trung Quốc: Năm 1753, lần đầu tiên nhà thực vật học Thuỵ Điển Carl Von Linnaeus đã xác nhận Trung Quốc là vùng
nguyên sản cây chè và đặt tên khoa học cho cây chè là Thea Sinenis, phân thành 2 thứ chè là Thea Bohea (chè đen) và Thea Viridis (chè xanh) (Lê Tất
Khương, 1997) [9]
Năm 1918, Cohen Stuart, nhà phân loại thực vật Hà Lan đã đưa ra thuyết hai nguồn gốc cây chè (Nhị Nguyên thuyết): cây chè lá to có nguồn gốc ở phía Tây cao nguyên Tây Tạng Cây chè lá nhỏ có nguồn gốc ở phía Đông và Đông Nam Trung Quốc
Năm 1951, tác giả Đào Thừa Trân (Trung Quốc) tổng kết ý kiến của các nhà khoa học trên thế giới và đã đi đến kết luận là nguyên sản của cây chè là tỉnh Vân Nam - Trung Quốc Chúng di thực về phía Đông qua tỉnh Tứ Xuyên,
bị ảnh hưởng của khí hậu nên biến thành loại chè lá nhỏ và di thực về phía Nam và Tây Nam ấn Độ, Mianma và Việt Nam biến thành dạng chè là to Theo giáo sư Trang Vãn Phương (Trung Quốc) cũng có kết luận rằng, cây chè tại tỉnh Vân Nam - Trung Quốc là loại hình nguyên thuỷ già nhất (Lê Tất Khương, 1997) [9]
Có tác giả cho rằng, cây chè có nguồn gốc từ các tỉnh miền núi phía Bắc của Việt Nam và tỉnh Vân Nam - Trung Quốc Theo Dalaselia (1989) đã giải
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
thích sự phân bố của cây chè mẹ như sau: đầu tiên, cây chè xuất hiện từ tỉnh Vân Nam - Trung Quốc, sau đó di thực đến các nước Việt Nam, Lào, Campuchia và Mianma theo dòng chảy của các con sông (Nguyễn Văn Hành, 1991) [14]
Theo (Nguyễn Ngọc Kính, 1979) [15] thì cách đây 4.000 năm người Trung Quốc (lần đầu tiên trên thế giới) đã biết dùng cây chè làm dược liệu, sau đó dùng làm nước uống
Năm 1933, J.J.B.Deus (Hà Lan), nguyên giám đốc Viện nghiên cứu Chè
ở Java (Indonexia), cố vấn các Công ty chè Đông Dương thuộc Pháp, sau khi
đi khảo sát vùng chè cổ Tham Vè tại xã Cao Bồ (Vị Xuyên - Hà Gang) đã cho rằng: những nơi con người tìm thấy cây chè bao giờ cũng ở bên bờ các con sông lớn như sông Dương Tử, sông Tsikiang ở Trung Quốc, Sông Hồng (Vân Nam - Trung Quốc, Bắc kỳ - Việt Nam), sông Mê Kông (Vân Nam - Trung Quốc, Thái Lan)…, sông Bramapoutrơ ở Atxam, tất cả các con sông đó đều bắt nguồn từ dãy phía Đông cao nguyên Tây Tạng cho nên nguồn gốc cây chè
là từ dẫy núi phát tán đi (Đỗ Ngọc Quỹ, 1980) [4]
- Cây chè có nguồn gốc ở vùng Atxam - ấn Độ: Theo (Nguyễn Ngọc Kính, 1979) [10] thì năm 1823, R.Bruce đã phát hiện được những cây chè dại,
lá to ở vùng Atxam - Ấn Độ trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm thực vật học và
đã đi đến kết luận: Nguyên sản của cây chè là vùng Atxam - Ấn Độ
- Cây chè có nguồn gốc ở vùng Tây Bắc - Việt Nam: Những công trình nghiên cứu của (Djemukhatze, 1976) [33] từ năm 1961 - 1976 đã tiến hành điều tra cây chè dại tại Hà Giang, Nghĩa Lộ, Lào Cai và Tam Đảo trên cơ sở phân tích sinh hoá để so sánh với loại chè trồng trọt, từ đó tìm ra sự tiến hoá của cây chè làm cơ sở xác định nguồn gốc Djemukhatze thấy rằng, phức catechin của lá chè có nguồn gốc khác nhau Cây chè ở Việt Nam tổng hợp
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
các catechin đơn giản hơn nhiều cây chè ở Vân Nam, các chất catechin của cây chè Vân Nam phức tạp hơn cây chè Việt Nam, như vậy cây chè ở Vân Nam là một loại hình tiến hoá sau cây chè Việt Nam, trên cơ sở đó Djemukhatze đã kết kuận nguồn gốc cây chè chính là ở vùng Tây Bắc - Việt Nam
Thực tế hiện nay, phần đông các nhà khoa học cho rằng nguyên sản của cây chè là cả một vùng từ Atxam - ấn Độ sang Mianma, Vân Nam - Trung Quốc, Việt Nam và Thái Lan Từ đó, chia làm hai nhánh, một đi xuống phía Nam và một đi lên phía Bắc, trung tâm là vùng Vân Nam - Trung Quốc Điều kiện khí hậu ở đây rất lý tưởng cho cây chè sinh trưởng quanh năm (Đặng Hạnh Khôi, 1983) [2] và (Wantanabe và Dassanayake, 1999) [34]
2.1.2 Phân loại cây chè
Tên của cây chè đã trải qua nhiều tranh luận và có rất nhiều cách đặt
tên Tên gọi đầu tiên được nhà khoa học Thụy Điển Linne đặt là Thea Sinensis vào năm 1753 Đến nay, tên khoa học của cây chè được nhiều người
công nhận nhất là Camellia Sinensis (L) Okuntze (Nguyễn Ngọc Kính, 1979) [15]
Trong hệ thống phân loại thực vật, chè được xếp loại như sau:
(Nguyễn Ngọc Kính, 1979) [15], tác giả đã chia Camellia Sinensis (L) Okuntze làm 4 thứ chè chính như sau:
- Chè Trung Quốc lá nhỏ (Camellia Sinensis Var Microphylla): phân bố
chủ yếu ở miền đông, đông nam Trung Quốc, Nhật Bản và một số vùng khác
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Chè Trung Quốc lá to (Camellia Sinensis Var Macrophylla): Nguyên
sản ở Vân Nam, Tứ Xuyên (Trung Quốc)
- Chè Shan (Camellia Sinensis Var Shan): Nguyên sản ở Vân Nam -
Trung Quốc, miền bắc của Miến Điện và Việt Nam
- Chè Atxam (chè ấn Độ ) (Camellia Sinensis Var Atxamica): được trồng
nhiều ở ấn Độ, Miến Điện, Vân Nam (Trung Quốc) và một số vùng khác
Ở Việt Nam, 4 thứ chè trình bày trên đây đều được trồng Tuy nhiên, 2
thứ là chè Trung Quốc lá nhỏ (Camellia Sinensis Var Macrophylla) và chè Shan (Camellia Sinensis Var Shan) được trồng phổ biến hơn Trong đó, chè
Trung Quốc lá nhỏ được trồng nhiều nhất ở các tỉnh trung du với các tên gọi của địa phương (tùy theo màu sắc của lá) như: Trung du lá xanh, Trung du lá vàng Tỷ lệ trồng các giống chè trung du ở miền Bắc đạt tới 70% Năng suất búp trong sản xuất đại trà khi chè 5 - 19 tuổi thường đạt 4 - 5 tấn/ha Các giống chè Trung du chịu được đất xấu, nhưng nhiều sâu hại: rầy xanh, bọ cánh tơ , ở vùng cao thường bị bệnh phồng lá Chè Trung du thường để chế
biến chè xanh, chè đen đều cho phẩm chất tốt Chè Shan được trồng ở miền
núi các tỉnh miền bắc và ở miền nam Tây Nguyên (Lâm Đồng) Ở mỗi địa phương có các giống khác nhau như: Shan Mộc Châu, Shan Tham Vè, Shan Trấn Ninh Năng suất búp thường đạt 6 - 7 tấn/ha Búp chè có nhiều tuyết, dùng chế biến chè xanh, chè đen đều cho phẩm chất tốt nhưng thích hợp với chế biền chè xanh hơn
2.1.3 Sự phân bố của cây chè
Sự phân bố của cây chè chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện tự nhiên
và khí hậu Các nghiên cứu trên thế giới về sự thích nghi của cây chè đều đi đến một kết luận chung là vùng khí hậu thích hợp của cây chè là vùng khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm
Hiện nay, nhờ tiến bộ của khoa học kỹ thuật như lai tạo giống, thực hiện các biện pháp canh tác tiên tiến mà cây chè đã được phân bố rộng hơn từ 42
vĩ độ Bắc (Pochi - Liên Xô cũ) đến 27 vĩ độ Nam (Coriente - Achentina) (Đỗ Ngọc Quỹ, 1980) [4] Tuy nhiên, sản xuất chè chủ yếu vẫn tập trung ở các
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
nước Châu á như Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Sirilanca, Inonexia, Việt Nam… và các nước Châu Phi như Kenia, Malawi, Tanzania…
Ở những độ cao khác nhau cũng có sự khác biệt giữa các giống và khác biệt về chất lượng chè Các nhà khoa học trên thế giới và Việt Nam đều khẳng định rằng: Những giống chè sinh trưởng tốt ở nơi có độ cao so với mực nước biển lớn thì đều có chất lượng chè nguyên liệu và chè thành phẩm tốt hơn những giống chè được trồng ở vùng thấp (Lê Tất Khương và Hoàng Văn Chung, 1999) [10]
Ở Việt Nam, sự phân bố các giống chè ở những độ cao khác nhau có sự khác nhau rất rõ Cụ thể, ở những vùng núi cao trên 500 m so với mực nước biển, có điều kiện khí hậu phù hợp với yêu cầu sinh thái của giống chè Shan, một số giống chè có chất lượng tốt, đặc biệt là khi chế biến chè xanh ở những vùng núi cao, do có biên độ nhiệt độ ngày đêm lớn, ánh sáng yếu, thời gian chiếu sáng trong ngày thường ngắn, khí hậu ẩm và có nhiều ngày mây mù nên
đã tạo ra cho chè có hàm lượng các hợp chất thơm cao hơn ở vùng thấp Do vậy, chúng đã ảnh hưởng tích cực đến chất lượng chè nguyên liệu và chè thành phẩm
2.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT, CHẾ BIẾN VÀ TIÊU THỤ CHÈ TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
2.2.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè trên thế giới
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Tổng sản phẩm (chè chế biến/chè khô) được sản xuất ra đến nay đạt trên 3 triệu tấn/năm (năm 2003: 3.149.356 tấn; năm 2004: 3.220.559 tấn, năm 2006: 3.524.000 tấn, năm 2007: 3.716.538 tấn - theo FAO)
Nguồn: FAOSTAT, 2007
Hình 2.1 Cơ cấu sản lượng chè năm 2007 phân theo châu lục (%)
Diện tích chè toàn thế giới những năm qua thay đổi không đáng kể (chỉ tăng 0,5 %) Trong 10 năm, từ 2,31 triệu ha tăng lên 2,4 triệu ha Mức tăng của một số nước sản xuất chủ yếu như sau: Indonesia 0,9 %/năm, Việt Nam: 3,7 %/năm, Bangladesh: 0,8 %, Ấn Độ: 0,1 % Srilanka: 0,8 %, Trung Quốc 0,1 %, Nhật Bản: - 2,0 % Toàn bộ khu vực Châu Á Thái Bình Dương 0,5 % Phần còn lại của thế giới là 0,2 % Như vậy, Việt Nam có mức tăng diện tích cao nhất thế giới
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
* Tình hình tiêu thụ chè trên thế giới
Theo thống kê của Hiệp hội chè Thế giới, hiện nay toàn Thế giới có 26 nước tiêu thụ chè với số lượng lớn: Châu Âu: 5 nước, đứng đầu là Anh và Ireland; Châu á: 11 nước, lớn nhất là Ấn Độ, Trung Quốc, Pakistan, Thổ Nhĩ
Kỳ, Nhật, các quốc gia Hồi giáo ở Trung Cận Đông; Châu Phi: 6, Châu Mỹ: 3
và Châu Úc: 1 nước
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Thị hiếu tiêu dùng chè ở các nước có sự khác nhau về chủng loại, điều này phụ thuộc vào tập quán sinh hoạt, văn hoá và kinh tế của mỗi nước Các nước phát triển ở Tây Âu và Mỹ có tập quán uống chè với đường, sữa nên rất coi trọng các loại chè có màu nước đỏ tươi sáng, vị nồng mạnh đậm đà, ngọt mát, hàm lượng chất tan không dưới 32 % Ngoài ra, do nhịp sống xã hội khẩn trương nên họ ưa thích các loại chè tan nhanh như chè mảnh CTC, chè bột, chè túi nhúng
Thế giới hiện có 131 nước nhập khẩu chè, trong đó phải kể đến các nước nhập khẩu lớn như Anh, Nga 150 - 200 nghìn tấn/năm, Pakistan, Mỹ
100 - 150 nghìn tấn/năm Nhật, Tiểu Vương Quốc Ả Rập, Ai Cập 50 - 70 nghìn tấn/năm Iraq, Ba Lan, Đức, Maroco, Thổ Nhĩ Kỳ 20 - 30 nghìn tấn/năm Úc, Malaysia, Ucraina, Ireland, Nam Phi, Senegal, Turmenistan trên
10 nghìn tấn/năm
Như vậy, ngoại trừ một số nước sản xuất chè cho thị trường trong nước, còn hầu hết các nước sản xuất chè dành cho xuất khẩu Argentina, Malawi, Kenya và Sri Lanka là đại diện cho những nước dành hầu hết sản phẩm chè để xuất khẩu
2.2.2 Tình hình sản xuất, chế biến và tiêu thụ chè ở Việt Nam
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm Việt Nam có điều kiện tự nhiên thích hợp cho cây chè sinh trưởng và phát triển, tuy nhiên cây chè chỉ thực sự được quan tâm và đầu tư sản xuất bắt đầu từ những năm đầu thế kỷ 20
trở lại đây Năm 2007, cả nước có 126,2 ngàn ha chè, trong đó diện tích cho sản phẩm là 107,4 ngàn ha Tính từ năm 1995 đến năm 2007, diện tích chè cả nước tăng thêm 59,5 ngàn ha, trong đó miền Bắc tăng 48,6 ngàn ha (tăng chủ yếu ở các tỉnh vùng TDMNPB 45,1 ngàn ha); các tỉnh phía Nam
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
tăng 10,8 ngàn ha (tăng chủ yếu ở tỉnh Lâm Đồng 12,5 ngàn ha, một số tỉnh khác giảm diện tích)
Năng suất chè bình quân cả nước tăng liên tục trong những năm qua, và đạt bình quân 65,7 tạ búp tươi/ha vào năm 2007 Tốc độ tăng năng suất chè của cả nước thời kỳ 1995 – 2005 đạt bình quân 5,51 %/năm; thời kỳ 1995 –
2007 đạt 5,62 %/năm và giai đoạn 2000 – 2007 đạt 6,67 %/năm Năng suất chè tăng là do người sản xuất ngày càng áp dụng nhiều tiến bộ kỹ thuật vào
sản xuất, suất đầu tư cho chè (đặc biệt là phân bón) ngày càng tăng; mặt khác
nhiều diện tích chè già cỗi dần được thay thế bằng các giống mới cho năng suất và chất lượng cao hơn
Tổng sản lượng chè của cả nước năm 2007 đạt 705,9 ngàn tấn, tăng 98 ngàn tấn so với năm 2006, đây là mức tăng cao nhất từ trước đến nay trong lịch sử phát triển của ngành chè Việt Nam Cả nước có 276 cơ sở chế biến chè
có quy mô công nghiệp công suất từ 1 tấn tươi/ngày trở lên, tổng công suất thiết kế 3.486 tấn/ngày, tổng năng lực chế biến 500.000 tấn/năm So với năm
1999, số cơ sở chế biến công nghiệp tăng 3,7 lần (năm 1999 có 75 cơ sở), tổng công suất tăng 1,8 lần Các vùng/tỉnh có nhiều cơ sở chế biến công nghiệp nhất là Phú Thọ (47 cơ sở, 656 tấn công suất, năng lực chế biến 21.180 tấn chè khô/năm), Yên Bái (các số liệu tương ứng là 37; 584 và 18.850), Thái Nguyên (28; 776; 25.000) Chỉ tính 3 tỉnh này số cơ sở chế biến công nghiệp
đã lên đến 115, tổng công suất chế biến 2.016 tấn (cao hơn tổng công suất chế biến công nghiệp của cả nước năm 1999 là 1.833 tấn); tổng năng lực chế biến đạt 65.030 tấn sản phẩm/năm
Theo Hiệp hội chè Việt Nam: Sản phẩm chè nội tiêu hiện nay khoảng
37 nghìn tấn/năm Hiện nay, tiêu thụ chè trong nước rất đa dạng và phong phú
về chủng loại Chỉ tính riêng chè búp chế biến mức tiêu thụ bình quân đầu
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
người ở Việt Nam hiện nay khoảng 0,36 kg/người/ năm, là một chỉ tiêu thấp
so với các nước khác Do đặc điểm kinh tế, văn hoá, xã hội của từng vùng mà hình thức và mức độ tiêu dùng chè khác nhau trong cả nước Trong những năm gần đây, do nhịp sống khẩn trương nên chè túi lọc ngày càng được ưa chuộng nhất là khu vực đô thị Tuy nhiên thị hiếu tiêu dùng chè túi lọc hiện nay hầu hết là nhập ngoại của Lipton và Tetley Chè túi lọc của Việt Nam chưa chiếm lĩnh được thị trường do còn quá ít, chất lượng và thương hiệu chưa hấp dẫn, hơn nữa người tiêu dùng Việt Nam có tâm lý thích dùng các thương hiệu nổi tiếng một phần do an tâm về vệ sinh an toàn của sản phẩm Cho đến nay, sản phẩm chè Việt Nam đã có mặt tại 110 quốc gia và vùng lãnh thổ; trong đó thương hiệu “Chè Việt” đã được đăng ký và bảo hộ tại 70 thị trường quốc gia và khu vực thuộc cả 5 châu lục
Như vậy, chè Việt Nam đã gia tăng thị phần, dù cho ở mức khiêm tốn (khoảng 6 % lượng xuất khẩu toàn cầu) So với năm 1997, số nước và vùng lãnh thổ nhập chè của Việt Nam đã tăng gấp đôi, sản lượng chè xuất khẩu cũng tăng hơn 2 lần Đó là do sản phẩm đã đa dạng hơn, đã xoá bỏ hẳn độc quyền xuất khẩu; hiện có khoảng trên 220 doanh nghiệp đủ mọi thành phần tham gia xuất khẩu chè và các nhà xuất khẩu đã năng động hơn trong việc tìm kiếm thị trường
2.3 HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT
2.3.1 Những vấn đề chung về hiệu quả
Khi nghiên cứu về hiệu quả có rất nhiều quan điểm khác nhau (do cách nhìn nhận khác nhau về hiệu quả) Có thể tóm tắt thành các quan điểm sau đây [23]:
Quan điểm 1: Trước đây người ta coi hiệu quả là kết quả đạt được trong
hoạt động kinh tế Ngày nay, quan điểm này không còn phù hợp, bởi lẽ nếu
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
cùng một kết quả sản xuất nhưng 2 mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này chúng có cùng một hiệu quả Điều đó không đúng
Quan điểm 2: Hiệu quả được xác định bằng nhịp độ tăng tổng sản phẩm
xã hội hoặc thu nhập quốc dân Hiệu quả sẽ cao khi nhịp độ tăng của các chỉ tiêu đó cao, nhưng chi phí hoặc nguồn lực được sử dụng tăng nhanh hơn thì sao Hơn nữa điều kiện sản xuất của các năm có thể khác nhau, do đó quan điểm này cũng chưa được thoả đáng
Quan điểm 3: Coi hiệu quả là mức độ thoả mãn yêu cầu trong qui luật
kinh tế cơ bản của chủ nghĩa xã hội Quan điểm này cho rằng: Mức tiêu dùng với tính cách là đại diện cho mức sống của nhân dân, là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của nền sản xuất xã hội
Quan điểm 4: Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi
phí trong một đơn vị và mức tăng khối lượng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích của nền kinh tế quốc dân
Ưu điểm của quan điểm này đã gắn liền chi phí với kết quả Coi hiệu quả là sự phản ánh trình độ sử dụng chi phí
Nói một cách chung nhất, hiệu quả chính là kết quả như yêu cầu của việc làm mang lại [1]
Như vậy, trong thực tế có rất nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả Tuy nhiên, việc xác định bản chất và khái niệm hiệu quả cần phải xuất phát từ những luận điểm triết học Mác và những luận điểm của lý thuyết hệ thống sau đây [25]: Thứ nhất, hiệu quả là sự tiết kiệm thời gian; thứ hai, là đáp ứng nhu cầu của xã hội và con người; thứ ba, là lợi ích vật chất thu được giữa đầu vào
và đầu ra
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới [18] Vấn đề hiệu quả không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là sự mong muốn của nông dân, những người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp
Ngày nay, nhiều nhà khoa học cho rằng: Xác định đúng khái niệm, bản chất hiệu quả sử dụng đất phải xuất phát từ luận điểm triết học của Mác và những nhận thức lý luận của lý thuyết hệ thống [29] Qúa trình sản xuất là sự liên hệ mật thiết giữa yếu tố đầu vào (input) và đầu ra (output), là biểu hiện kết quả của các mối quan hệ thể hiện tính hiệu quả của sản xuất
Như vậy, bản chất của hiệu quả được xem là:
- Việc đáp ứng nhu cầu của con người trong đời sống xã hội
- Việc bảo tồn tài nguyên, nguồn lực để phát triển lâu bền
Từ những quan điểm về hiệu quả như trên, chúng ta thấy rằng:
- Hiệu quả là một phạm trù trọng tâm và rất căn bản của khoa học kinh
Việc nâng cao hiệu quả không chỉ là nhiệm vụ của mỗi doanh nghiệp, mỗi người sản xuất mà là của mọi ngành, mọi vùng Đây là vấn đề mang tính toàn cầu Vì xu hướng chung của thế giới ngày nay là phát triển kinh tế theo chiều
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
sâu, tương ứng với nguồn lực hạn chế mà sản xuất ra một lượng sản phẩm hàng hoá có giá trị sử dụng cao nhất với chi phí ít nhất Khi nghiên cứu hiệu quả sử dụng đất trong một nền sản xuất xã hội, người ta thường quan tâm đến 3 mặt của vấn đề: Hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường
(1) Hiệu quả kinh tế
Theo Các Mác, quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là qui luật tiết kiệm thời gian và phân phối một cách có kế hoạch thời gian lao động theo các ngành sản xuất khác nhau Theo các nhà khoa học kinh tế Samuei-Norhuas "Hiệu quả có nghĩa là không lãng phí" [26] Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải xét đến chi phí cơ hội "Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng số lượng một loại hàng hoá này mà không cắt giảm số lượng hàng hoá khác" Theo các nhà khoa học Đức (Stenien, Hanau, Rusteruyer, Simmerman), hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị hữu ích và mức tăng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích của xã hội [5]
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù chung nhất, nó liên quan trực tiếp đến sản xuất hàng hoá và với tất cả các phạm trù và các qui luật kinh tế khác Vì thế, hiệu quả kinh tế phải đáp ứng được 3 vấn đề:
Một là, mọi hoạt động của con người đều tuân theo qui luật "tiết kiệm thời gian"
Hai là, hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm của lý thuyết
hệ thống
Ba là, hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường các nguồn lực sẵn có phục vụ cho lợi ích của con người
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả kinh tế và hiệu quả phân bổ Điều đó có nghĩa là: cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đều tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp Nếu đạt được một trong các yếu tố hiệu quả kỹ thuật hoặc hiệu quả phân bổ mới, là điều kiện cần chứ chưa phải là điều kiện đủ cho đạt hiệu quả kinh tế Chỉ khi nào việc sử dụng nguồn lực đạt cả chỉ tiêu hiệu quả kỹ thuật
và phân bổ khi đó sản xuất mới đạt hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là khâu trung gian của tất cả các loại hiệu quả Nó có vai trò quyết định đối với các loại hiệu quả khác Hiệu quả kinh tế là loại hiệu quả có khả năng lượng hoá, được tính toán tương đối chính xác và biểu hiện bằng hệ thống các chỉ tiêu [24]
Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng: Bản chất của hiệu quả kinh
tế sử dụng đất là: Với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất với một lượng đầu tư chi phí về vật chất và lao động nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội, [19]
Tất cả các chỉ tiêu đều bắt nguồn từ mối quan hệ giữa đầu ra và đầu vào của quá trình sản xuất Vì vậy, công thức tổng quát về hiệu quả kinh tế là:
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Từ dạng tổng quát trên có thể xem xét nhiều khía cạnh khác nhau của hiệu quả như:
Hiệu số Q-K > Max là trị số tuyệt đối của hiệu quả
Tỷ số (Q-K)/K -> Max là trị số tương đối của hiệu quả
Tỷ số K/Q -> Min biểu thị tỷ trọng chi phí cần thiết để có đơn vị kết quả (hay còn gọi là xuất tiêu hao, xuất chi phí)
(2) Hiệu quả xã hội
- Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xã hội và tổng chi phí bỏ ra, [29], [18] Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau, chúng là tiền đề của nhau và là một phạm trù thống nhất
- Hiệu quả xã hội trong sử dụng là đáp ứng yêu cầu về lương thực, thực phẩm, khả năng tạo việc làm trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp[16]
- Tăng cường khả năng tham gia của người nông dân, nông dân tự quyết định việc sử dụng đất và được hưởng lợi trong qúa trình khai thác sử dụng đất đai [23]
(3) Hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trường là môi trường được sản sinh do tác động của hoá học, sinh học, vật lý, chịu ảnh hưởng tổng hợp của các yếu tố môi trường của các loại vật chất môi trường Hiệu quả môi trường gồm: hiệu quả hoá học môi trường, hiệu quả vật lý môi trường và hiệu quả sinh vật môi trường Hiệu quả sinh vật môi trường là hiệu quả khác nhau của hệ thống sinh thái do sự phát sinh biến hoá của các loại yếu tố môi trường mang đến Hiệu quả hoá học môi trường là hiệu quả môi trường do các phản ứng hoá học giữa các vật
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
chất chịu ảnh hưởng của điều kiện môi trường dẫn đến Hiệu quả vật lý môi trường là hiệu quả môi trường do tác động vật lý dẫn đến [1]
Quá trình nghiên cứu, phân tích tác động của hệ thống cây trồng đến môi trường như đầu tư chi phí phân bón, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, năng suất cây trồng, các mối quan hệ giữa sản xuất nông nghiệp với môi trường
tự nhiên, kinh tế và xã hội, từ đó đưa ra các giải pháp kỹ thuật nhằm hạn chế ảnh hưởng đến môi trường trong quá trình sản xuất
2.3.2 Đặc điểm và phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
2.3.2.1 Nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp
Đất đai là nguồn tài nguyên có hạn Do đó, khi sử dụng đất nông nghiệp phải dựa trên cơ sở mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, tận dụng được tối đa lợi thế so sánh về điều kiện sinh thái và không làm ảnh hưởng xấu đến môi trường Sử dụng đất phải trên nguyên tắc đầy đủ và hợp lý; mặt khác, phải có những quan điểm đúng đắn phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể, trên
cơ sở phát huy tốt hiệu quả kinh tế xã hội
- Trên quan điểm phát triển hệ thống, thực hiện sử dụng đất nông nghiệp theo hướng tập trung chuyên môn hoá, sản xuất hàng hoá theo ngành hàng, nhóm sản phẩm, thực hiện thâm canh toàn diện và liên tục [21]
- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên cơ sở thực hiện
"đa dạng hoá" hình thức sở hữu, tổ chức sử dụng đất nông nghiệp, đa dạng hoá sản phẩm, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với sinh thái và bảo vệ môi trường [20]
- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp gắn liền với chuyển dịch
cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp và quá trình tích tụ ruộng đất
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của các địa phương phải phù hợp và gắn liền với định hướng phát triển kinh tế xã hội của vùng và cả nước
2.3.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
(1) Nhóm các yếu tố về điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu, thời tiết, ) có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp, [13], [16], [29], [27] Các yếu tố tự nhiên là tài nguyên để sinh vật tạo lên sinh khối Do vậy, cần đánh giá đúng điều kiện tự nhiên để trên cơ sở đó xác định cây trồng vật nuôi phù hợp và định hướng đầu
tư thâm canh
Theo Mác, điều kiện tự nhiên là cơ sở hình thành địa tô chênh lệch I Theo N.Borlang- người được giải Nobel về giải quyết lương thực cho các nước đang phát triển cho rằng: Yếu tố duy nhất quan trọng hạn chế năng suất cây trồng ở tầm cỡ thế giới của các nước đang phát triển, đặc biệt đối với nông dân thiếu vốn là độ phì đất [16]
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
(2) Nhóm các yếu tố kinh tế, kỹ thuật
Các biện pháp kỹ thuật của con người tác động vào đất đai, cây trồng, vật nuôi nhằm tạo ra các yếu tố của quá trình sản xuất Đây là những tác động
có sự hiểu biết sâu sắc về đối tượng sản xuất, về thời tiết, điều kiện môi trường và thể hiện những dự báo thông minh sắc sảo [6] Frank Ellis và Douglass C.North cho rằng: ở các nước phát triển, khi có sự tác động tích cực của kỹ thuật, giống mới, thuỷ lợi, phân bón tới hiệu quả thì cũng đặt ra yêu cầu mới đối với tổ chức sử dụng đất [35] Đến thế kỷ 21, trong nông nghiệp nước ta ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất góp phần tăng cao đến 30% của năng suất kinh tế Như vậy, nhóm các biện pháp kỹ thuật đặc biệt có
ý nghĩa quan trọng trong quá trình khai thác đất theo chiều sâu và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
(3) Nhóm các yếu tố kinh tế tổ chức
Nhóm này bao gồm:
* Công tác quy hoạch bố trí sản xuất
Thực hiện công tác qui hoạch phân vùng sinh thái nông nghiệp dựa vào điều kiện tự nhiên, dựa trên cơ sở phân tích, dự báo và đánh giá nhu cầu của thị trường, gắn với quy hoạch phát triển các khu công nghiệp chế biến, kết cấu hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực và thể chế luật pháp bảo vệ tài nguyên, môi trường [21] Đó là cơ sở để phát triển hệ thống cây trồng vật nuôi và khai thác đất một cách đầy đủ, hợp lý Đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi để đầu tư thâm canh và tiến hành tập trung hoá, chuyên môn hoá, hiện đại hoá nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và phát triển sản xuất hàng hoá
* Hình thức tổ chức sản xuất
Các hình thức tổ chức sản xuất có ảnh hưởng trực tiếp đến việc tổ chức khai thác và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp [8] Vì thế, phát huy
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
thế mạnh của các loại hình tổ chức sử dụng đất trong từng cơ sở sản xuất là rất cần thiết Muốn vậy, cần phải đa dạng hoá các hình thức hợp tác trong nông nghiệp, xác lập một hệ thống tổ chức sản xuất phù hợp và giải quyết tốt mối quan hệ giữa các hình thức đó
Nông nghiệp nước ta thời kỳ 1958- 1980 là thời kỳ xây dựng HTX nông nghiệp đã phát triển với nhiều hình thức khác nhau, từ thấp đến cao, từ quy
mô nhỏ đến vừa và lớn và đã trải qua nhiều cuộc vận động, củng cố và mở rộng quy mô ô thửa tương đối lớn đã tạo điều kiện tốt cho việc cơ giới hoá và
áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất Tuy nhiên do ảnh hưởng của cơ chế quan liêu bao cấp nên sức sản xuất trong nông thôn bị kìm hãm, năng suất lao động thấp, công tác quản lý của Ban quản lý HTX cồng kềnh Đời sống nông dân nhất là xã viên HTX vẫn thấp, làm không đủ ăn, mô hình HTX kiểu cũ đã
tỏ ra không còn phù hợp [12]
Thời kỳ từ 1981 đến nay là thời kỳ đổi mới từng bước cơ chế quản lý HTX nông nghiệp gắn liền với cơ chế đổi mới kinh tế nông nghiệp nông thôn Thời kỳ này được mở đầu bằng Chỉ thị 100 CT/TW của Ban bí thư TW Đảng ngày 13/1/1981 Sau đó, thực hiện Nghị quyết 10, theo tinh thần đổi mới đã giải phóng được sức sản xuất, năng suất lao động cao Tính chủ động, sáng tạo, quyền tự chủ và vai trò của hộ nông dân được khẳng định như là một thành phần kinh tế tự chủ trong nông nghiệp, nông thôn Tuy nhiên, sau khi thực hiện khoán hộ ruộng đất bị chia nhỏ, manh mún đã gây cản trở đến quá trình hiện đại hoá nông nghiệp Vì vậy, trong tương lai cần tạo dựng cơ sở nền tảng từng bước phát triển mới trong nông nghiệp, nông thôn, đó là hình thành nên quy mô sản xuất trên ô thửa lớn bằng việc tích tụ ruộng đất và dồn ô đổi thửa, cùng với việc xác lập các hệ thống tổ chức sản xuất như HTX kiểu mới hình thành các trang trại tập trung để phát triển sản xuất [17]
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
(4) Nhóm các yếu tố xã hội
Nhóm này gồm:
- Hệ thống thị trường và sự hình thành thị trường đất nông nghiệp, thị trường nông sản phẩm Có 3 yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là: Năng suất cây trồng, hệ số quay vòng đất và thị trường cung cấp đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu ra [16]
- Hệ thống chính sách (chính sách đất đai, giao quyền sử dụng ruộng đất
ổn định lâu dài, chính sách điều chỉnh cơ cấu đầu tư, chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp, )
- Sự ổn định chính trị - xã hội và các chính sách khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp của Nhà nước
- Những kinh nghiệm, tập quán sản xuất nông nghiệp, trình độ năng lực của các chủ thể kinh doanh, trình độ đầu tư
2.3.2.3 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
(1) Cơ sở để lựa chọn hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
- Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
- Nhu cầu của địa phương về phát triển hoặc thay đổi loại hình sử dụng đất nông nghiệp
- Các khả năng về điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội và các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới được đề xuất cho các thay đổi sử dụng đất đó
(2) Nguyên tắc khi lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
- Hệ thống các chỉ tiêu phải có tính thống nhất, tính toàn diện và tính
hệ thống Các chỉ tiêu có mối quan hệ hữu cơ với nhau, phải đảm bảo tính
so sánh có thang bậc [13], [16], [29], [1]
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Để đánh giá chính xác, toàn diện cần phải xác định các chỉ tiêu chính, các chỉ tiêu cơ bản, biểu hiện mặt cốt yếu của hiệu quả theo quan điểm và tiêu chuẩn đã chọn, các chỉ tiêu bổ sung để hiệu chỉnh chỉ tiêu chính, làm cho nội dung kinh tế biểu hiện đầy đủ hơn, cụ thể hơn [19], [3], [20]
- Hệ thống chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả một cách khách quan, trung thực và đúng đắn nhất theo tiêu chuẩn và quan điểm đã vạch ra ở trên để soi sáng sự lựa chọn các giải pháp tối ưu và phải gắn với cơ chế quản lý kinh tế, phù hợp với đặc điểm và trình độ hiện đại của nền kinh tế [20]
- Các chỉ tiêu phải phù hợp với trình độ phát triển nông nghiệp nước ta, đồng thời có khả năng so sánh quốc tế trong quan hệ đối ngoại (nhất là những sản phẩm có khả năng hướng xuất khẩu)
- Hệ thống chỉ tiêu phải đảm bảo tính thực tiễn và tính khoa học [29]
và phải có tác dụng kích thích sản xuất phát triển
(3) Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
* Hiệu quả kinh tế [25]:
- Hiệu quả tính trên 1 ha đất nông nghiệp
+ Giá trị sản xuất (GTSX): Là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch
vụ được tạo ra trong một thời kỳ nhất định (thường là 1 năm)
+ Giá trị gia tăng (GTGT): Là hiệu số giữa GTSX và chi phí trung gian (CPTG), là giá trị sản phẩm xã hội được tạo ra thêm trong thời kỳ sản xuất đó
GTGT= GTSX- CPTG + Chi phí trung gian (CPTG): Là toàn bộ các khoản chi phí vật chất thường xuyên bằng tiền mà chủ thể bỏ ra để thuê và mua các yếu tố đầu vào
và dịch vụ sử dụng trong quá trình sản xuất
- Hiệu quả kinh tế tính trên một đồng CPTG, bao gồm: GTSX/CPTG và GTGT/CPTG Đây là chỉ tiêu tương đối của hiệu quả Nó chỉ ra hiệu quả sử dụng các chi phí biến đổi và thu dịch vụ
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Hiệu quả kinh tế trên một ngày công lao động (LĐ) quy đổi, bao gồm:
GTSX/LĐ và GTGT/LĐ Thực chất là đánh giá kết quả đầu tư lao động sống cho từng kiểu sử dụng đất và từng cây trồng, làm cơ sở để so sánh với chi phí cơ hội của từng người lao động
Các chỉ tiêu phân tích được đánh giá định lượng (Giá trị tuyệt đối) bằng tiền theo thời giá hiện hành và định tính (giá tương đối), được tính bằng mức độ cao, thấp Các chỉ tiêu đạt mức càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn [7]
* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội
- Trình độ dân trí, trình độ hiểu biết xã hội [28], [29], [18]
Theo hội khoa học đất Việt Nam [7], hiệu quả xã hội được phân tích bởi các chỉ tiêu:
- Đảm bảo an toàn lương thực, gia tăng lợi ích của người nông dân
- Đáp ứng được mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế của vùng
- Thu hút nhiều lao động, giải quyết công ăn việc làm cho người nông dân
- Góp phần định canh, định cư, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật,
- Tăng cường sản phẩm hàng hoá, đặc biệt là hàng xuất khẩu
* Các chỉ tiêu về hiệu quả môi trường:
Chỉ tiêu đánh giá chất lượng môi trường trong quản lý sử đất đai bền vững ở vùng nông nghiệp được tưới là [3]:
- Đánh giá các nguồn tài nguyên nước bền vững
- Đánh giá quản lý đất đai bền vững
- Đánh giá hệ thống quản lý cây trồng
- Đáng giá về tính bền vững với việc duy trì, bảo vệ độ phì của đất và bảo vệ cây trồng
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Sự thích hợp với môi trường đất khi thay đổi kiểu sử dụng đất
Việc xác định hiệu quả về mặt môi trường của quá trình sử dụng đất là rất phức tạp, rất khó định lượng, đòi hỏi phải được nghiên cứu, phân tích trong một thời gian để có thể kiểm chứng và đánh giá, dựa trên cơ sở điều tra đánh giá phỏng vấn trực tiếp các hộ nông dân
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỐI TƯỢNG PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Các vườn chè tại một số vùng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu trong giới hạn phạm vi diện tích đất trồng chè trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, tập trung vào các vùng chè Tân Cương thành phố Thái Nguyên, huyện Đại Từ và huyện Phú Lương
3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
3.2.1 Điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội
3.2.1.1 Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý
- Địa hình địa mạo
- Khí hậu
- Tài nguyên đất
- Tài nguyên khoáng sản
3.2.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội
a Thực trạng kinh tế xã hội
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Cơ cấu kinh tế
- Thực trạng dân số, lao động và việc làm
b Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng
- Xây dựng cơ sở hạ tầng
- Giao thông
- Thủy lợi
c Thực trạng phát triển ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp
d Thực trạng phát triển phát triển thương mại dịch vụ
3.2.1.3 Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội của tỉnh liên quan đến sử dụng đất đai
- Thuận lợi
- Khó khăn
3.2.2 Hiện trạng sử dụng đất đai tỉnh Thái Nguyên
3.2.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất trồng chè ở Thái Nguyên
3.2.3.1 Tình hình chung về sử dụng đất chè ở Thái Nguyên
a Diện tích, năng suất sản lượng chè
b Một số đặc điểm vườn chè
c Tình hình đầu tư phân bón, sử dụng nước tưới và thuốc BVTV
3.2.3.2 Đặc điểm chung của nhóm hộ nghiên cứu
a Nguồn nhân lực của nhóm hộ nghiên cứu
b Nguồn đất trồng chè của các hộ
c Phương tiện sản xuất chè của các hộ
3.2.3.3 Hiệu quả kinh tế sử dụng đất chè ở Thái Nguyên
a Công lao động cho các hộ sử dụng đất chè
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
b Điều tra chi phí sử dụng đất chè
c Đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất chè ở Thái Nguyên
3.2.3.4 Hiệu quả xã hội sử dụng đất chè tại Thái Nguyên
3.2.3.5 Hiệu quả môi trường sử dụng đất chè tại Thái Nguyên
3.2.3.6 Nhận xét chung về hiệu quả sử dụng đất trồng chè tại Thái Nguyên
3.2.4 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất chè ở Thái Nguyên
3.2.4.1 Giải pháp về cơ chế chính sách
3.2.4.2.Giải pháp về công tác khuyến nông
3.2.4.3 Giải pháp về vốn đầu tư cho cây chè
3.2.4.4 Giải pháp về kỹ thuật
3.2.4.5.Giải pháp về chế biến
3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.3.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu
- Thu thập các số liệu thứ cấp từ các nguồn số liệu thống kê điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội, số lượng chất lượng đất vùng nghiên cứu tại các ban ngành, phòng chức năng
- Sử dụng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA) để điều tra thực trạng sử dụng đất nông nghiệp và đất trồng chè theo phiếu điều tra nông hộ
- Điều tra về hiện trạng sử dụng đất trồng chè, tình hình sử dụng phân bón cho chè tại 300 vườn chè kinh doanh thuộc thành phố Thái Nguyên, huyện Đại Từ và huyện Phú Lương (mỗi huyện, thành phố điều tra 100 vườn) của tỉnh Thái Nguyên
3.3.2 Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất
* Hiệu quả kinh tế:
- Hiệu quả tính trên 1 ha đất nông nghiệp
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
+ Giá trị sản xuất (GTSX): Là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch
vụ được tạo ra trong một thời kỳ nhất định (thường là 1 năm)
+ Giá trị gia tăng (GTGT): Là hiệu số giữa GTSX và chi phí trung gian (CPTG), là giá trị sản phẩm xã hội được tạo ra thêm trong thời kỳ sản xuất đó
GTGT= GTSX - CPTG + Chi phí trung gian (CPTG): Là toàn bộ các khoản chi phí vật chất thường xuyên bằng tiền mà chủ thể bỏ ra để thuê và mua các yếu tố đầu vào
và dịch vụ sử dụng trong quá trình sản xuất
- Hiệu quả kinh tế tính trên một đồng CPTG, bao gồm: GTSX/CPTG và GTGT/CPTG Đây là chỉ tiêu tương đối của hiệu quả Nó chỉ ra hiệu quả sử dụng các chi phí biến đổi và thu dịch vụ
- Hiệu quả kinh tế trên một ngày công lao động (LĐ) quy đổi, bao gồm:
GTSX/LĐ và GTGT/LĐ Thực chất là đánh giá kết quả đầu tư lao động sống cho từng kiểu sử dụng đất và từng cây trồng, làm cơ sở để so sánh với chi phí cơ hội của từng người lao động
Các chỉ tiêu phân tích được đánh giá định lượng (Giá trị tuyệt đối) bằng tiền theo thời giá hiện hành và định tính (giá tương đối), được tính bằng mức độ cao, thấp Các chỉ tiêu đạt mức càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn
* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội
- Trình độ dân trí, trình độ hiểu biết xã hội
- Đảm bảo an toàn lương thực, gia tăng lợi ích của người nông dân
- Đáp ứng được mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế của vùng