1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất hướng sử dụng hợp lý tại huyện sơn dương tỉnh tuyên quang

101 542 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên việc sử dụng đất của huyện trong những năm qua cho thấy còn nhiều hạn chế: chưa khoanh định được diện tích đất trồng lúa cần bảo vệ, đối với đất lâm nghiệp chưa thực hiện nghiê

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

- -

PHẠM VIẾT XUYÊN

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÀ ĐỀ XUẤT HƯỚNG SỬ DỤNG HỢP LÝ TẠI HUYỆN SƠN DƯƠNG –

TỈNH TUYÊN QUANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN NĂM 2012

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sơn Dương là một huyện miền núi nằm ở phía Nam của tỉnh Tuyên Quang có diện tích tự nhiên 78.783,51 ha, chiếm 13,43% diện tích tự nhiên toàn tỉnh (586.732,71 ha) Trong những năm qua Đảng bộ và nhân dân các dân tộc huyện Sơn Dương đã phát huy truyền thống quê hương các mạng Tân Trào, phát huy những tiềm năng lợi thế của địa phương, nỗ lực phấn đấu, tích cực, thi đua lao động sản xuất, tạo sự chuyển biến rõ rệt trên các lĩnh vực kinh

tế - xã hội, an ninh - quốc phòng Tuy nhiên việc sử dụng đất của huyện trong những năm qua cho thấy còn nhiều hạn chế: chưa khoanh định được diện tích đất trồng lúa cần bảo vệ, đối với đất lâm nghiệp chưa thực hiện nghiêm ngặt các quy định về bảo vệ rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa còn chậm, phát triển nuôi trồng thủy sản và các hoạt động dịch vụ, du lịch trên địa bàn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của địa phương Bên cạnh đó diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do phải chuyển mục đích sang các loại đất khác, việc bù đắp lại diện tích đất trồng lúa bị mất là vô cùng khó khăn

Vì vậy, việc nghiên cứu để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp đảm bảo an ninh lương thực và giữ gìn được bản sắc của địa phương là một yêu cầu hết sức quan trọng và cần thiết trong thời gian tới Xuất phát từ thực tế đó, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trần Viết

Khanh, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: "Đánh giá hiệu quả sử dụng đất

nông nghiệp và đề xuất hướng sử dụng hợp lý tại huyện Sơn Dương - tỉnh Tuyên Quang"

Trang 3

2 Mục tiêu của đề tài

- Đánh giá được thực trạng sử dụng đất nông nghiệp làm căn cứ đề xuất loại hình sử dụng đất phù hợp với điều kiện tự nhiên, xã hội của địa phương nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất trên địa bàn huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang

3 Yêu cầu của đề tài

- Đề tài nghiên cứu trên cơ sở các thông tin số liệu, tài liệu điều tra phải trung thực, chính xác đảm bảo độ tin cậy, phản ánh đúng thực trạng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn nghiên cứu

- Phân tích, xử lý số liệu khoa học, định lượng bằng các phương pháp nghiên cứu phù hợp và cập nhật

- Các đề xuất phải có ý nghĩa thực tiễn và có tính khả thi cao

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền của huyện Sơn Dương trong việc quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp Các khuyến cáo về loại hình sử dụng đất sẽ cung cấp cho nông dân lựa chọn hợp lý để chuyển đổi cơ cấu sản xuất đạt hiệu quả cao

Trang 4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

1.1 Một số lý luận về sử dụng đất nông nghiệp và tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam

1.1.1 Một số lý luận về sử dụng đất nông nghiệp

1.1.1.1 Đất nông nghiệp

Đất là nguồn tài nguyên quý giá mà thiên nhiên ban tặng cho con người, là nơi họ sinh ra, sống và lớn lên Nhà Thổ nhưỡng lỗi lạc người Nga, Docutraiep cho rằng “Đất là vật thể thiên nhiên cấu tạo độc lập, lâu đời do kết quả của quá trình hoạt động tổng hợp của 5 yếu tố hình thành bao gồm: đá, thực vật, động vật, khí hậu, địa hình, thời gian” [4] Về sau, một số học giả khác đã bổ sung thêm các yếu tố như nước ngầm và đặc biệt là vai trò của con người để hoàn chỉnh khái niệm nêu trên Học giả người Anh, Wiliam lại đưa

ra khái niệm về đất như sau: “Đất là lớp mặt tơi xốp của lục địa có khả năng tạo ra sản phẩm từ cây trồng” [38] Bàn về vấn đề này, C.Mác đã viết: “Đất là

tư liệu sản xuất cơ bản và phổ biến quý báu nhất của sản xuất nông nghiệp”, là “điều kiện không thể thiếu cho sự tồn tại và sinh sống của loài người” [4] Trong phạm vi nghiên cứu về sử dụng đất, đất đai được nhìn nhận là một nhân tố sinh thái, bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng sử dụng đất [36]

Theo quan niệm của các nhà thổ nhưỡng và quy hoạch Việt Nam cho rằng “Đất là phần trên mặt của vỏ trái đất mà ở đó cây cối có thể mọc được” [4] và đất đai được hiểu theo nghĩa rộng: “Đất đai là một diện tích cụ thể của

bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các yếu tố cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt bao gồm: khí hậu, thời tiết, thổ nhưỡng, địa hình, mặt nước, các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản

Trang 5

trong lũng đất, động thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại” [4]

Với ý nghĩa đó, đất nông nghiệp là đất được sử dụng chủ yếu vào sản xuất của các ngành nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hoặc sử dụng vào mục đích nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp Khi nói đất nông nghiệp người ta nói đất sử dụng chủ yếu vào sản xuất của các ngành nông nghiệp, bởi vì thực tế có trường hợp đất đai được sử dụng vào mục đích khác nhau của các ngành Trong trường hợp đó, đất đai được sử dụng chủ yếu cho hoạt động sản xuất nông nghiệp mới được coi là đất nông nghiệp, nếu không sẽ

là các loại đất khác (tùy theo việc sử dụng vào mục đích nào là chính)

Luật đất đai năm 2003 nêu rõ: “Đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng, bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất sản xuất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác”

1.1.1.2 Vai trò đất nông nghiệp

Đất đai là tài nguyên thiên nhiên của mỗi quốc gia, đóng vai trò quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, nó là cơ sở tự nhiên, là tiền

đề cho mọi quá trình sản xuất nhưng vai trò của đất đối với mỗi ngành sản xuất có tầm quan trọng khác nhau C.Mác đã nhấn mạnh “Lao động chỉ là cha của cải vật chất, còn đất là mẹ” [4] Hiến pháp năm 1992 quy định: “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật” [15], Luật đất đai 2003 khẳng định “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá,

xã hội, an ninh và quốc phòng”[19] Trong sản xuất nông lâm nghiệp, đất đai

là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt không thể thay thế, với những đặc

Trang 6

điểm:

- Đất đai được coi là tư liệu sản xuất chủ yếu trong sản xuất nông lâm nghiệp, bởi vì nó vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu lao động trong quá trình sản xuất Đất đai là đối tượng bởi lẽ nó là nơi con người thực hiện các hoạt động của mình tác động vào cây trồng vật nuôi để tạo ra sản phẩm

- Đất đai là loại tư liệu sản xuất không thể thay thế: bởi vì đất đai là sản phẩm của tự nhiên, nếu biết sử dụng hợp lý, sức sản xuất của đất đai ngày càng tăng lên Điều này đòi hỏi trong quá trình sử dụng đất phải đứng trên quan điểm bồi dưỡng, bảo vệ, làm giàu thông qua những hoạt động có ý nghĩa của con người

- Đất đai là tài nguyên bị hạn chế bởi ranh giới đất liền và bề mặt địa cầu [38] Đặc điểm này ảnh hưởng đến khả năng mở rộng quy mô sản xuất nông - lâm nghiệp và sức ép về lao động và việc làm, do nhu cầu nông sản ngày càng tăng trong khi diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp Việc khai khẩn đất hoang hóa đưa vào hoạt động sản xuất nông nghiệp đã làm cho quĩ đất nông nghiệp tăng lên Đây là xu hướng vận động cần khuyến khích

Tuy nhiên, đất đưa vào hoạt động sản xuất nông nghiệp là đất hoang hóa, nằm trong quỹ đất chưa sử dụng Vì vậy, cần phải đầu tư lớn sức người

và sức của Trong điều kiện nguồn lực có hạn, cần phải tính toán kỹ để đầu tư cho công tác này thực sự có hiệu quả

- Đất đai có vị trí cố định và chất lượng không đồng đều giữa các vùng, các miền [38] Mỗi vùng đất luôn gắn với các điều kiện tự nhiên (thổ nhưỡng, thời tiết, khí hậu, nước,…) điều kiện kinh tế - xã hội (dân số, lao động, giao thông, thị trường,…) và có chất lượng đất khác nhau Do vậy, việc sử dụng đất đai phải gắn liền với việc xác định cơ cấu cây trồng, vật nuôi cho phù hợp để nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao trên cơ sở nắm chắc điều kiện của từng vùng lãnh thổ

Trang 7

- Đất đai được coi là một loại tài sản, người chủ sử dụng có quyền nhất định do pháp luật của mỗi nước qui định: tạo thuận lợi cho việc tập trung, tích

tụ và chuyển hướng sử dụng đất từ đó phát huy được hiệu quả nếu biết sử dụng đầy đủ và hợp lý

Như vậy, đất đai là yếu tố hết sức quan trọng và tích cực của quá trình sản xuất nông nghiệp Thực tế cho thấy thông qua quá trình phát triển của xã hội loài người, sự hình thành và phát triển của mọi nền văn minh vật chất - văn minh tinh thần, các thành tựu vật chất, văn hoá khoa học đều được xây dựng trên nền tảng cơ bản đó là đất và sử dụng đất, đặc biệt là đất nông lâm nghiệp Vì vậy, sử dụng đất hợp lý, có hiệu quả là một trong những điều kiện quan trọng nhất cho nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững

1.1.1.3 Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp

- Đất nông nghiệp phải được sử dụng đầy đủ, hợp lý Điều này có nghĩa là toàn bộ diện tích đất cần được sử dụng hết vào sản xuất, với việc bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với đặc điểm của từng loại đất nhằm nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi đồng thời gìn giữ bảo vệ và nâng cao

độ phì của đất

- Đất nông nghiệp phải được sử dụng đạt hiệu quả cao Đây là kết quả của việc sử dụng đầy đủ, hợp lý đất đai, việc xác định hiệu quả sử dụng đất thông qua tính toán hàng loạt các chỉ tiêu khác nhau: năng suất cây trồng, chi phí đầu tư, hệ số sử dụng đất, giá cả sản phẩm, tỷ lệ che phủ đất… Muốn nâng cao hiệu quả sử dụng đất phải thực hiện tốt, đồng bộ các biện pháp kỹ thuật

và chính sách kinh tế - xã hội trên cơ sở đảm bảo an toàn về lượng thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và nông lâm sản cho xuất khẩu [11]

- Đất nông nghiệp cần phải được quản lý và sử dụng một cách bền vững

Sự bền vững ở đây là sự bền vững cả về số lượng và chất lương, có nghĩa là đất

Trang 8

đai phải được bảo tồn không chỉ đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà còn cho thế hệ tương lai Sự bền vững của đất đai gắn liền với điều kiện sinh thái, môi trường Vì vậy, các phương thức sử dụng đất nông lâm nghiệp phải gắn liền với việc bảo vệ môi trường đất, đáp ứng được lợi ích trước mắt và lâu dài

Như vậy, để sử dụng đất triệt để và có hiệu quả, đảm bảo cho quá trình sản xuất được liên tục thì việc tuân thủ những nguyên tắc trên là việc làm cần thiết và hết sức quan trọng với mỗi quốc gia

1.1.2 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam

1.1.2.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới

Đất nông nghiệp là yếu tố vô cùng quan trọng đối với sản xuất nông - lâm nghiệp Trên thế giới, mặc dù nền sản xuất nông nghiệp của các nước phát triển ở trình độ không giống nhau nhưng tầm quan trọng của nông nghiệp đối với đời sống con người thì quốc gia nào cũng phải thừa nhận Hầu hết các nước coi sản xuất nông nghiệp là cơ sở của sự phát triển Tuy nhiên, khi dân số tăng nhanh thì nhu cầu lương thực, thực phẩm là một sức ép rất lớn Để đảm bảo an ninh lương thực, loài người phải tăng cường khai hoang để có thêm đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp Thêm nữa, đất đai lại bị khai thác triệt

để, không có biện pháp ổn định độ phì nhiêu của đất Kết quả là, hàng loạt diện tích đất bị thoái hoá trên phạm vi toàn thế giới Đất bị mất chất dinh dưỡng, hữu

cơ do bị xói mòn, nhiễm mặn…Ước tính có tới 15% tổng diện tích đất toàn cầu

bị thoái hoá do nhân tác [24] Theo P.Buringh, diện tích đất có khả năng nông nghiệp của thế giới khoảng 3,3 tỷ ha (chiếm 22% tổng diện tích đất liền), trong

đó, đất đang sử dụng khoảng 1,5 tỷ ha Như vậy, còn 54% đất có khả năng trồng

trọt chưa được khai thác [32]

Đất đai trên thế giới phân bố ở các châu lục không đều Tuy có diện tích đất nông nghiệp khá cao so với các Châu lục khác nhưng Châu Á lại có tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp trên tổng diện tích đất tự nhiên thấp Mặt khác,

Trang 9

Châu Á là nơi tập trung phần lớn dân số thế giới, ở đây có các quốc gia dân số đông nhất nhì thế giới là Trung Quốc, Ấn Độ, Indonexia Ở Châu Á, đất đồi núi chiếm 35% tổng diện tích Tiềm năng đất trồng trọt nhờ nước trời nói chung là khá lớn khoảng 407 triệu ha, trong đó xấp xỉ 282 triệu ha đang được trồng trọt và khoảng 100 triệu ha chủ yếu nằm trong vùng nhiệt đới ẩm của Đông Nam Á Phần lớn diện tích này là đất dốc và chua; khoảng 40-60 triệu

ha trước đây vốn là đất rừng tự nhiên che phủ, nhưng đến nay do bị khai thác khốc liệt nên rừng đã bị phá và thảm thực vật đã chuyển thành cây bụi và cỏ dại Đất canh tác của thế giới có hạn và được dự đoán là ngày càng tăng do khai thác thêm những diện tích đất có khả năng nông nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu về lương thực thực phẩm cho loài người Tuy nhiên, do dân số ngày một tăng nhanh nên bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người ngày một giảm Đông Nam Á là một khu vực đặc biệt Từ số liệu của UNDP năm 1995 [14] cho ta thấy đây là một khu vực có dân số khá đông trên thế giới nhưng diện tích đất canh tác thấp, trong đó chỉ có Thái Lan là diện tích đất canh tác trên đầu người khá nhất, Việt Nam đứng hàng thấp nhất trong số các quốc gia ASEAN 1.1.2.2 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp của Việt Nam

Theo kết quả kiểm kê đất đai năm 2010, Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên là 33.094.706 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp có 10.118.221 ha, dân số là 86.927,7 nghìn người, bình quân diện tích đất sản xuất nông nghiệp

là 1.163,98 m2/ người

Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nhằm thoả mãn nhu cầu cho

xã hội về sản phẩm nông nghiệp đang trở thành vấn đề cáp bách luôn được các nhà quản lý và sử dụng đất quan tâm Thực tế cho thấy, trong những năm qua do tốc độ công nghiệp hoá cũng như đô thị hoá diễn ra khá mạnh mẽ ở nhiều địa phương trên phạm vi cả nước làm cho diện tích đất nông nghiệp ở Việt Nam có nhiều biến động, theo những tư liệu của Tổng cục Thống kê và

Trang 10

Bộ Tài nguyên và Môi trường thì biến động về số lượng đất nông nghiệp của

nước ta trong những năm gần đây được thể hiện ở Bảng 1.1

Bảng 1.1 Biến động về diện tích đất sản xuất nông nghiệp và diện tích

đất trồng cây hàng năm ở Việt Nam

Dân số (1000 người)

Bình quân diện tích đất sản xuât nông nghiệp

Nguồn: Niên giám thống kê năm 2010

Theo Nguyễn Đình Bồng (2002) [2] đất sản xuất nông nghiệp của chúng ta chỉ chiếm 28,38% diện tích tự nhiên và gần tương đương với diện tích này là diện tích đất chưa sử dụng So với một số nước trên thế giới, nước

ta có tỷ lệ đất nông nghiệp rất thấp Do vậy, để phát triển một nền nông nghiệp đủ sức cung cấp lương thực thực phẩm cho toàn dân và có một phần xuất khẩu cần biết cách khai thác hợp lý đất đai, tiết kiệm và sử dụng đất có hiệu quả

1.2 Đánh giá hiệu quả và tính bền vững trong sử dụng đất nông nghiệp

1.2.1 Sự cần thiết phải đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

Thế giới đang sử dụng khoảng 1,5 tỷ ha đất cho sản xuất nông nghiệp Tiềm năng đất nông nghiệp của thế giới khoảng 3 - 5 tỷ ha Nhân loại đã làm

hư hại khoảng 1,4 tỷ ha đất và hiện nay mỗi năm có khoảng 6 -7 triệu ha đất

Trang 11

nông nghiệp bị bỏ do xói mòn và thoái hoá Để giải quyết nhu cầu về sản phẩm nông nghiệp của con người phải thâm canh tăng vụ, tăng năng suất cây trồng và

mở rộng diện tích đất nông nghiệp [31] Việc điều tra, nghiên cứu đất đai để nắm vững số lượng và chất lượng đất bao gồm điều tra lập bản đồ đất, đánh giá hiện trạng sử dụng đất, đánh giá phân hạng đất và quy hoạch sử dụng đất hợp lý

là vấn đề quan trọng mà các quốc gia đang rất quan tâm Để ngăn chặn những suy thoái tài nguyên đất đai do sự thiếu hiểu biết của con người, đồng thời nhằm hướng dẫn những quyết định về sử dụng và quản lý đất đai, sao cho nguồn tài nguyên này có thể được khai thác tốt nhất mà vẫn duy trì được sức sản xuất của nó trong tương lai, cần thiết phải nghiên cứu thật đầy đủ về tính hiệu quả trong sử dụng đất, đó là sự kết hợp hài hoà cả 3 lĩnh vực hiệu quả kinh

tế, hiệu quả xã hội và bảo vệ môi trường trên quan điểm quản lý sử dụng đất bền vững

1.2.2 Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới việc sử dụng đất nông nghiệp

Việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất là hết sức cần thiết, nó giúp cho việc đưa ra những đánh giá phù hợp với từng loại vùng đất để trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất Các nhân tố ảnh hưởng có thể chia ra làm 3 nhóm sau đây:

* Điều kiện tự nhiên: Điều kiện tự nhiên bao gồm các yếu tố như đất

đai, khí hậu thời tiết, nước, sinh vật có ảnh hưởng trực tiếp tới sản xuất nông nghiệp bởi vì đây là cơ sở để sinh vật sinh trưởng, phát triển và tạo sinh khối Đánh giá đúng điều kiện tự nhiên là cơ sở xác định cây trồng vật nuôi phù hợp và định hướng đầu tư thâm canh đúng

- Đặc điểm lý, hoá tính của đất: trong sản xuất nông lâm nghịêp, thành phần cơ giới, kết cấu đất, hàm lượng các chất hữu cơ và vô cơ trong đất, quyết định đến chất lượng đất và sử dụng đất Quỹ đất đai nhiều hay ít, tốt hay xấu, có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng đất

Trang 12

- Nguồn nước và chế độ nước: là yếu tố rất cần thiết, nó vừa là điều kiện quan trọng để cây trồng vận chuyển chất dinh dưỡng vừa là vật chất giúp cho sinh vật sinh trưởng và phát triển

- Địa hình, độ dốc và thổ nhưỡng: điều kiện địa hình, độ dốc và thổ nhưỡng là yếu tố quyết định lớn đến hiệu quả sản xuất, độ phì đất có ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển và năng suất cây trồng vật nuôi

- Vị trí địa lý: vị trí địa lý của từng vùng với sự khác biệt về điều kiện ánh sáng, nhiệt độ, nguồn nước, gần đường giao thông, khu công nghiệp sẽ quyết định đến khả năng và hiệu quả sử dụng đất Vì vậy, trong thực tiễn sử dụng đất nông lâm nghiệp cần tuân thủ quy luật tự nhiên, tận dụng các lợi thế sẵn có nhằm đạt được hiệu quả cao nhất về kinh tế, xã hội và môi trường

- Điều kiện khí hậu: các yếu tố khí hậu ảnh hưởng trực tiếp đến sản

xuất nông nghiệp và điều kiện sinh hoạt của con người Tổng tích ôn, nhiệt độ bình quân, sự sai khác nhiệt độ ánh sáng, về thời gian và không gian trực tiếp ảnh hưởng tới sự phân bố, sinh trưởng và phát triển của cây trồng, cây rừng và thực vật thuỷ sinh, lượng mưa, bốc hơi có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ nhiệt độ, độ ẩm của đất, cũng như khả năng đảm bảo cung cấp nước cho sinh trưởng của cây trồng, gia súc, thuỷ sản [31]

*Biện pháp kỹ thuật canh tác

Biện pháp kỹ thuật canh tác là các tác động của con người vào đất đai, cây trồng, vật nuôi nhằm tạo nên sự hài hoà giữa các yếu tố của quá trình sản xuất để hình thành, phân bố và tích luỹ năng suất kinh tế Theo tác giả Đường Hồng Dật, (1994) [8] thì biện pháp kỹ thuật canh tác là những tác động thể hiện sự hiểu biết sâu sắc của con người về đối tượng sản xuất, về thời tiết, về điều kiện môi trường và thể hiện những dự báo thông minh và sắc sảo Lựa chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọn chủng loại và cách sử dụng đầu vào phù hợp với các quy luật tự nhiên của sinh vật nhằm đạt mục tiêu đề ra

Trang 13

Ở các nước phát triển, khi có tác động tích cực của kỹ thuật, giống mới, thuỷ lợi, phân bón tới hiệu quả thì cũng đặt ra yêu cầu đối với tổ chức sử dụng đất Có nghĩa là ứng dụng công nghệ sản xuất tiến bộ là một đảm bảo vật chất cho kinh tế nông nghiệp tăng trưởng nhanh Cho đến giữa thế kỷ XXI, trong nông nghiệp Việt Nam, quy trình kỹ thuật có thể góp phần đến 30% của năng suất kinh tế [8] Như vậy nhóm các biện pháp kỹ thuật đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong quá trình khai thác đất theo chiều sâu và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

* Nhân tố kinh tế - xã hội: bao gồm rất nhiều nhân tố như chế độ xã

hội, dân số, cơ sở hạ tầng, môi trường chính sách các yếu tố này có ý nghĩa quyết định, chủ đạo đối với kết quả và hiệu quả sử dụng đất Sau đây là một

số nhân tố chủ yếu:

- Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông lâm nghiệp Trong các yếu tố cơ

sở hạ tầng phục vụ sản xuất thì yếu tố giao thông vận tải là quan trọng nhất,

nó góp phần vào việc trao đổi tiêu thụ sản phẩm cũng như dịch vụ những yếu

tố đầu vào cho sản xuất Các yếu tố khác như thuỷ lợi, điện, thông tin liên lạc, dịch vụ, nông nghiệp đều có sự ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng Trong đó thuỷ lợi và điện là yếu tố không thể thiếu trong điều kiện sản xuất hiện nay, giúp cho việc sử dụng đất theo bề rộng và bề sâu Các yếu tố còn lại cũng có hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất

- Thị trường tiêu thụ sản phẩm nông lâm sản: là cầu nối giữa người sản xuất và tiêu dùng, ở đó người sản xuất thực hiện việc trao đổi hàng hoá, điều này giúp cho họ thực hiện được tốt quá trình tái sản xuất tiếp theo

- Trình độ kiến thức, khả năng và tập quán sản xuất của chủ sử dụng đất thể hiện ở khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật, trình độ sản xuất, khả năng

về vốn lao động, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất, kinh nghiệm truyền thống trong sản xuất và cách xử lý thông tin để ra quyết định trong sản xuất

Trang 14

Do vậy, muốn nâng cao hiệu quả sử dụng đất thì việc nâng cao trình độ và cập nhật thông tin khoa học, kỹ thuật là hết sức quan trọng

- Hệ thống chính sách: Chính sách đất đai, chính sách điều chỉnh cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, chính sách khuyến nông, chính sách hỗ trợ giá, chính sách định canh định cư, chính sách dân số, lao động việc làm, đào tạo kiến thức, chính sách khuyến khích đầu tư, chính sách xoá đói giảm nghèo…các chính sách này đã có những tác động rất lớn đến vấn đề sử dụng đất, phát triển và hình thành các loại hình sử dụng đất mới

Trong các nhóm nhân tố chủ yếu tác động đến việc sử dụng đất được trình bày ở trên, từ thực tế từng vùng, từng địa phương có thể nhận biết thêm những nhân tố khác tác động đến hiệu quả sử dụng đất, trong đó có những yếu

tố thuận lợi và những yếu tố hạn chế Đối với những yếu tố thuận lợi cần khai thác hết tiềm năng của nó, những nhân tố hạn chế phải có những giải pháp để khắc phục dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn Vấn đề mấu chốt là tìm ra những nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng đất, để có những biện pháp thay đổi cơ cấu sử dụng đất nhằm nâng cao hiệu quả

1.2.3 Khái quát về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất

Đánh giá đất cho các vùng sinh thái hoặc các vùng lãnh thổ khác nhau

là nhằm tạo ra một sức sản xuất mới, ổn định, bền vững và hợp lý Trong đó đánh giá hiệu quả sử dụng đất là một nội dung hết sức quan trọng Vậy hiệu quả sử dụng đất là gì?

Theo các nhà khoa học kinh tế Smuel-Norhuas; “Hiệu quả không có nghĩa là lãng phí Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải xét đến chi phí cơ hội Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng số lượng một loại hàng hoá này mà không cắt giảm số lượng một loại hàng hoá khác” (Dẫn theo Vũ Phương Thuỵ [25])

Trang 15

Theo Trung tâm từ điển ngôn ngữ [27], hiệu quả chính là kết quả cũng như yêu cầu của việc làm mang lại

Theo khái niệm trên thì hiệu quả sử dụng đất phải là kết quả của quá trình sử dụng đất Trong đó ta quan tâm nhiều tới kết quả hữu ích, một đại lượng vật chất tạo ra do mục đích của con người, được biểu hiện bằng những chỉ tiêu cụ thể, xác định Do tính chất mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên đất đai là hữu hạn với nhu cầu ngày càng tăng của con người mà ta phải xem xét kết quả sử dụng đất được tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ ra để tạo ra kết quả

đó là bao nhiêu? Có đưa lại kết quả hữu ích hay không? Chính vì thế khi đánh giá hoạt động sản xuất nông nghiệp không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà còn phải đánh giá chất lượng các hoạt động sản xuất tạo ra sản phẩm

đó Đánh giá chất lượng của hoạt động sản xuất là nội dung đánh giá hiệu quả

Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới [33] Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là sự mong muốn của nông dân, những người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp

Căn cứ vào nhu cầu của thị trường, thực hiện đa dạng hoá cây trồng vật nuôi trên cơ sở lựa chọn các sản phẩm có ưu thế ở từng địa phương, từ đó nghiên cứu áp dụng công nghệ mới nhằm làm cho sản phẩm có tính cạnh tranh cao Đó là một trong những điều kiện vô cùng quan trọng để phát triển nền nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá vừa mang tính ổn định vừa đảm bảo sự bền vững

Ngày nay, nhiều nhà khoa học cho rằng: xác định đúng khái niệm, bản chất hiệu quả sử dụng đất phải xuất phát từ luận điểm triết học của Mác và những nhận thức lí luận của lí thuyết hệ thống, nghĩa là hiệu quả phải được xem

Trang 16

xét trên 3 mặt: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường [25]

* Hiệu quả kinh tế:

Theo Các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối một cách có kế hoạch thời gian lao động theo các ngành sản xuất khác nhau Theo các nhà khoa học Đức (Stenien, Hanau, Rusteruyer, Simmerman-1995): Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu

so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích của xã hội [25]

Như vậy hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả đạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị của các nguồn lực đầu vào Mối tương quan đó cần xét cả về phần so sánh tuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan

hệ chặt chẽ giữa 2 đại lượng đó

Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt hiệu quả kinh tế và hiệu quả phân bổ Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đều tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp Nếu đạt được một trong hai yếu tố hiệu quả kỹ thuật và phân bổ thì khi đó sản xuất mới đạt hiệu quả kinh tế

Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng: Bản chất của hiệu quả kinh tế

sử dụng đất là: trên một diện tích đất nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất, với một lượng đầu tư chi phí về vật chất và lao động thấp nhất nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội Xuất phát từ lý do này mà trong quá trình đánh giá đất nông nghiệp cần phải chỉ ra được loại hình sử dụng đất có hiệu quả kinh tế cao

* Hiệu quả xã hội

Trang 17

Hiệu quả xã hội là phạm trù có liên quan mật thiết với hiệu quả kinh tế

và thể hiện mục tiêu hoạt động kinh tế của con người, việc lượng hoá các chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả xã hội còn gặp nhiều khó khăn mà chủ yếu phản ánh bằng các chỉ tiêu mang tính định tính như tạo công ăn việc làm cho lao động, xoá đói giảm nghèo, định canh, định cư, công bằng xã hội, nâng cao mức sống của toàn dân

Trong sử dụng đất nông nghiệp, hiệu quả về mặt xã hội chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một diện tích đất nông nghiệp Hiện nay, việc đánh giá hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp

là vấn đề đang được nhiều nhà khoa học quan tâm

* Hiệu quả môi trường

Hiệu quả môi trường là một vấn đề mang tính toàn cầu, ngày nay đang được chú trọng quan tâm và không thể bỏ qua khi đánh giá hiệu quả Điều này

có ý nghĩa là mọi hoạt động sản xuất, mọi biện pháp khoa học kỹ thuật, mọi giải pháp về quản lý được coi là có hiệu quả khi chúng không gây tổn hại hay có những tác động xấu đến môi trường đất, môi trường nước và môi trường không khí cũng như không làm ảnh hưởng xấu đến môi sinh và đa dạng sinh học Có được điều đó mới đảm bảo cho một sự phát triển bền vững của mỗi vùng lãnh thổ, mỗi quốc gia cũng như cả cộng đồng quốc tế

Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả môi trường là hiệu quả mang tính lâu dài, vừa đảm bảo lợi ích hiện tại mà không làm ảnh hưởng xấu đến tương lai, nó gắn chặt với quá trình khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất và môi trường sinh thái

Sử dụng đất hợp lý, hiệu quả cao và bền vững phải quan tâm tới cả ba hiệu quả trên, trong đó hiệu quả kinh tế là trọng tâm, không có hiệu quả kinh

tế thì không có điều kiện nguồn lực để thực thi hiệu quả xã hội và môi trường, ngược lại, không có hiệu quả xã hội và môi trường thì hiệu quả kinh tế sẽ

Trang 18

cơ sở của những mong muốn trên Việc tìm kiếm các giải pháp sử dụng đất một cách hiệu quả và bền vững luôn là mong muốn của con người trong suốt

cả thời gian Nhiều nhà khoa học và các tổ chức quốc tế đã đi sâu nghiên cứu vấn đề sử dụng đất một cách bền vững trên nhiều vùng của thế giới, trong đó

Trang 19

có Việt Nam Việc sử dụng đất bền vững là sử dụng đất với tất cả những đặc trưng vật lý, hoá học, sinh học có ảnh hưởng đến khả năng sử dụng đất Thuật ngữ đất đai được đề cập đến ở đây gồm thổ nhưỡng, địa hình, khí hậu, thuỷ văn, thực vật và động vật, kể cả vấn đề cải thiện các biện pháp quản lý đất đai

Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên hợp quốc (FAO) sử dụng thuật ngữ

“chất lượng đất đai” trong sử dụng đất bền vững bao gồm các nhân tố ảnh hưởng đến sự bền vững của tài nguyên đất khi sử dụng cho các mục đích nhất định, chất lượng đất đai có thể khác nhau trên nhiều phương diện như khả năng cung cấp nước tưới, khả năng cung cấp chất dinh dưỡng cho mục đích sản xuất nông nghiệp, khả năng chống chịu xói mòn, sức sản xuất tự nhiên và phân bố địa hình ảnh hưởng đến khả năng có giới hoá [30] Để duy trì được

sự bền vững của đất đai, Smyth A.J và Julian Dumanski (1993) [34] đã xác định 5 nguyên tắc có liên quan đến sự sử dụng đất bền vững là:

- Duy trì hoặc nâng cao các hoạt động sản xuất;

- Giảm mức độ rủi ro đối với sản xuất;

- Bảo vệ tiềm năng của các nguồn tài nguyên tự nhiên, chống lại sự thoái hoá chất lượng đất và nước;

- Khả thi về mặt kinh tế;

- Được xã hội chấp nhận

Như vậy, theo các tác giả, sử dụng đất bền vững không chỉ thuần tuý về mặt tự nhiên mà còn cả về mặt môi trường, lợi ích kinh tế và xã hội Năm nguyên tắc trên đây là trụ cột của việc sử dụng đất bền vững, nếu trong thực tiễn đạt được cả 5 nguyên tắc trên thì sự bền vững sẽ thành công, ngược lại sẽ chỉ đạt được ở một vài bộ phận hay sự bền vững có điều kiện Tại Việt Nam, theo ý kiến của Đào Châu Thu và Nguyễn Khang (1998) [24], việc sử dụng đất bền vững cũng dựa trên những nguyên tắc trên và được thể hiện trong 3 yêu cầu sau:

Trang 20

- Bền vững về mặt kinh tế: Cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao và được thị trường chấp nhận;

- Bền vững về mặt môi trường: Loại hình sử dụng đất bảo vệ được đất đai, ngăn chặn sự thoái hoá đất, bảo vệ môi trường tự nhiên;

- Bền vững về mặt xã hội: Thu hút được nhiều lao động, đảm bảo đời sống người dân, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển

Tóm lại, hoạt động sản xuất nông nghiệp của con người diễn ra hết sức

đa dạng trên nhiều vùng đất khác nhau và cũng vì thế khái niệm sử dụng đất bền vững thể hiện trong nhiều hoạt động sản xuất và quản lý đất đai trên từng vùng đất xác định theo nhu cầu và mục đích sử dụng của con người Đất đai trong sản xuất nông nghiệp chỉ được gọi là sử dụng bền vững trên cơ sở duy trì các chức năng chính của đất là đảm bảo khả năng sản xuất của cây trồng một cách ổn định, không làm suy giảm về chất lượng tài nguyên đất theo thời gian và việc sử dụng đất không gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của con người và sinh vật

1.2.4.2 Khung đánh giá sử dụng đất bền vững

Vào năm 1991, ở Nairobi đã tổ chức Hội thảo về “Khung đánh giá quản

lý đất bền vững ” đã đưa ra định nghĩa: “ Quản lý bền vững đất đai bao gồm

tổ hợp các công nghệ, chính sách và hoạt động nhằm liên hợp các nguyên lý kinh tế xã hội với các quan tâm môi trường để đồng thời:

- Duy trì, nâng cao sản lượng (hiệu quả sản xuất);

- Giảm rủi ro sản xuất (an toàn);

- Bảo vệ tiếm năng nguồn lực tự nhiên và ngăn ngừa thoái hoá đất và nước (bảo vệ);

- Có hiệu quả lâu dài (lâu bền);

- Được xã hội chấp nhận (tính chấp nhận)

Năm nguyên tắc trên được coi là trụ cột của sử dụng đất đai bền vững

Trang 21

và là những mục tiêu cần phải đạt được, nếu thực tế diễn ra đồng bộ, so với các mục tiêu cần phải đạt được Nếu chỉ đạt một hay một vài mục tiêu mà không phải tất cả thì khả năng bền vững chỉ mang tính bộ phận

Vận dụng nguyên tắc trên, ở Việt Nam một loại hình sử dụng đất được xem là bền vững phải đạt 3 yêu cầu sau:

- Bền vững về kinh tế: cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, được thị trường chấp nhận

Hệ thống sử dụng đất phải có mức năng suất sinh học cao trên mức bình quân vùng có cùng điều kiện đất đai Năng suất sinh học bao gồm các sản phẩm chính và phụ (đối với cây trồng là gỗ, hạt, củ, quả và tàn dư để lại) Một hệ bền vững phải có năng suất trên mức bình quân vùng, nếu không

sẽ không cạnh tranh được trong cơ chế thị trường

Về chất lượng: sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn tiêu thụ tại địa phương, trong nước và xuất khẩu, tùy mục tiêu của từng vùng

Tổng giá trị sản phẩm trên đơn vị diện tích là thước đo quan trọng nhất của hiệu quả kinh tế đối với một hệ thống sử dụng đất Tổng giá trị trong một giai đoạn hay cả chu kỳ phải trên mức bình quân của vùng, nếu dưới mức đó thì nguy cơ người sử dụng đất sẽ không có lãi, hiệu quả vốn đầu tư phải lớn hơn lãi suất tiền vay vốn ngân hàng

- Bền vững về mặt xã hội: thu hút được lao động, đảm bảo đời sống và phát triển xã hội

Đáp ứng nhu cầu của nông hộ là điều quan tâm trước, nếu muốn họ quan tâm đến lợi ích lâu dài (bảo vệ đất, môi trường ) Sản phẩm thu được cần thoả mãn cái ăn, cái mặc, và nhu cầu sống hàng ngày của người nông dân

Nội lực và nguồn lực địa phương phải được phát huy Về đất đai, hệ thống sử dụng đất phải được tổ chức trên đất mà nông dân có quyền hưởng thụ lâu dài, đất đã được giao và rừng đã được khoán với lợi ích các bên cụ thể

Trang 22

Sử dụng đất sẽ bền vững nếu phù hợp với nền văn hoá dân tộc và tập quán địa phương, nếu ngược lại sẽ không được cộng đồng ủng hộ

- Bền vững về môi trường: loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ màu mỡ của đất, ngăn chặn thoái hoá đất và bảo vệ môi trường sinh thái Giữ đất được thể hiện bằng giảm thiểu lượng đất mất hàng năm dưới mức cho phép

Độ phì nhiêu đất tăng dần là yêu cầu bắt buộc đối với quản lý sử dụng bền vững

Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%)

Đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài (đa canh bền vững hơn độc canh, cây lâu năm có khả năng bảo vệ đất tốt hơn cây hàng năm )

Ba yêu cầu bền vững trên là để xem xét và đánh giá các loại hình sử dụng đất hiện tại Thông qua việc xem xét và đánh giá các yêu cầu trên để giúp cho việc định hướng phát triển nông nghiệp ở vùng sinh thái [13]

Tóm lại: khái niệm sử dụng đất đai bền vững do con người đưa ra được thể hiện trong nhiều hoạt động sử dụng và quản lý đất đai theo các mục đích

mà con người đã lựa chọn cho từng vùng đất xác định Đối với sản xuất nông nghiệp việc sử dụng đất bền vững phải đạt được trên cơ sở đảm bảo khả năng sản xuất ổn định của cây trồng, chất lượng tài nguyên đất không suy giảm theo thời gian và việc sử dụng đất không ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của con người, của các sinh vật

1.3 Đánh giá loại hình sử dụng đất theo phương pháp đánh giá đất của FAO (tổ chức lương thực và nông nghiệp của liên hợp quốc)

* Loại hình sử dụng đất

Trong đánh giá đất, FAO đã đưa ra những khái niệm về loại hình sử dụng đất, đưa vào nội dụng các bước đánh giá đất và coi loại hình sử dụng đất

là một đối tượng dùng trong đánh giá đất

Loại hình Sử dụng đất (Land Use Types-LUT): Là bức tranh mô tả thực

Trang 23

trạng sử dụng đất của mỗi vùng với những phương thức sản xuất và quản lý sản xuất trong điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội và kỹ thuật được xác định [24]

* Nội dung chính của đáng giá các loại hình sử dụng đất

- Lựa chọn và mô tả các loại hình sử dụng đất hiện tại;

- Đánh giá các loại hình sử dụng đất hiện tại trên ba mặt:

+ Hiệu quả về kinh tế: Cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao và được thị trường chấp nhận;

+ Hiệu quả về môi trường: Loại hình sử dụng đất bảo vệ được đất đai, ngăn chặn sự thoái hoá đất, bảo vệ môi trường tự nhiên;

+ Hiệu quả về xã hội: Thu hút được nhiều lao động, đảm bảo đời sống người dân, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển

- Lựa chọn các loại hình sử dụng đất có triển vọng: Lựa chọn các loại hình sử dụng đất để có thể duy trì và phát triển trong tương lai cần thoả mãn các điều kiện về tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường Nói chung nếu có hiệu quả kinh tế cao thì phải được người dân chấp nhận và môi trường đất, nước và không khí không bị suy giảm

1.4 Những nghiên cứu về nâng cao hiệu quả sử dụng đất trên thế giới và Việt Nam

1.4.1 Những nghiên cứu trên thế giới

Cho tới nay, trên thế giới đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu, đề ra nhiều phương pháp đánh giá để tìm ra giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng phát triển hàng hoá Nhưng tuỳ thuộc vào điều kiện, trình độ và phương thức sử dụng đất ở mỗi nước mà có sự đánh giá khác nhau Hàng năm các viện nghiên cứu nông nghiệp ở các nước trên thế giới đều nghiên cứu và đưa ra được một số giống cây trồng mới, giúp cho việc tạo ra được một số loại hình sử dụng đất mới ngày càng có hiệu quả hơn Viện lúa quốc tế IRRI đã có nhiều thành tựu về lĩnh vực giống lúa và hệ thống cây

Trang 24

trồng trên đất canh tác Tạp chí " Farming Japan" của Nhật Bản ra hàng tháng

đã giới thiệu nhiều công trình ở các nước trên thế giới về các hình thức sử dụng đất, điển hình là của Nhật Nhà Khoa học Nhật Bản Otak Tanakad đã nêu lên những vấn đề cơ bản về sự hình thành của sinh thái đồng ruộng và từ

đó cho rằng yếu tố quyết định của hệ thống nông nghiệp là sự thay đổi về kỹ thuật, kinh tế- xã hội Các nhà khoa học Nhật Bản đã hệ thống hoá tiêu chuẩn hiệu quả sử dụng đất thông qua hệ thống cây trồng trên đất canh tác là sự phối hợp giữa các cây trồng và gia súc, các phương pháp trồng trọt và chăn nuôi, cường độ lao động, vốn đầu tư, tổ chức sản xuất, sản phẩm làm ra, tính chất hàng hoá của sản phẩm [27]

Theo kinh nghiệm của Trung Quốc thì việc khai thác và sử dụng đất là yếu tố quyết định để phát triển kinh tế - xã hội nông thôn toàn diện Chính phủ Trung Quốc đã đưa ra các chính sách quản lý sử dụng đất đai ổn định chế độ

sở hữu, giao đất cho nông dân sử dụng, thiết lập hệ thống trách nhiệm và tính chủ động sáng tạo của nông dân trong sản xuất đã thúc đẩy kinh tế - xã hội nông thôn phát triển toàn diện về mọi mặt và nâng cao được hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp [25]

Ở Thái Lan, Uỷ ban chính sách Quốc gia đã có nhiều nhiều quy chế mới ngoài hợp đồng cho tư nhân thuê đất dài hạn, cấm trồng những cây không thích hợp với đất nhằm quản lý và bảo vệ đất tốt hơn [37]

Một trong những chính sách tập trung vào hỗ trợ phát triển nông nghiệp quan trọng nhất là chính sách đầu tư vào sản xuất nông nghiệp, ở Mỹ tổng số tiền trợ cấp là 66,2 tỉ USD (chiếm 28,3% trong tổng thu nhập nông nghiệp), Canada tương ứng là 5,7 tỉ USD (chiếm 39,1%), Otraylia 1,7 tỉ USD (chiếm 14,5%), Nhật Bản là 42,3 tỉ USD (chiếm 68,9%), Cộng đồng Châu Âu 67,2 tỉ USD (chiếm 40,1%), Áo là 1,6 tỉ USD (chiếm 35,3%) [25]

Các nhà khoa học trên thế giới đều cho rằng: đối với các vùng nhiệt đới

Trang 25

có thể thực hiện các công thức luân canh cây trồng hàng năm, có thể chuyển

từ chế độ canh tác cũ sang chế độ canh tác mới tiến bộ hơn mang lại hiệu quả cao hơn Nghiên cứu bố trí luân canh các cây trồng hợp lý hơn bằng cách đưa các giống cây trồng mới vào hệ thống canh tác nhằm tăng sản lượng lương thực, thực phẩm/1đơn vị diện tích đất canh tác trong một năm Ở Châu Á có nhiều nước cũng tìm ra giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất canh tác luân phiên cây lúa với cây trồng cạn đã thu được hiệu quả cao hơn

Trong những năm gần đây, cơ cấu kinh tế nông nghiệp của các nước đã gắn phương thức sử dụng đất truyền thống với phương thức hiện đại và chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá nông nghiệp Các nước Châu Á trong quá trình sử dụng đất canh tác đã rất chú trọng đẩy mạnh công tác thuỷ lợi, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật về giống, phân bón, các công thức luân canh tiến bộ để ngày càng nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Nhưng

để đạt được hiệu quả thì một phần phải nhờ vào công nghiệp chế biến, gắn sự phát triển công nghiệp với bảo vệ môi sinh - môi trường

Xuất phát từ những vấn đề này, nhiều nước trong khu vực đã có sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng kết hợp hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội với việc bảo vệ môi trường tự nhiên, môi trường sinh thái, tiến tới xây dựng nền nông nghiệp sinh thái bền vững

1.4.2 Những nghiên cứu trong nước

Trong những năm qua, ở Việt Nam nhiều tác giả đã có những công trình nghiên cứu về sử dụng đất, vì đây là một vấn đề có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong phát triển sản xuất nông nghiệp Các nhà khoa học đã chú trọng đến công tác lai tạo và chọn lọc giống cây trồng mới cho năng suất cao, chất lượng tốt hơn để đưa vào sản xuất Làm phong phú hơn hệ thống cây trồng, góp phần đáng kể vào việc tăng năng suất cây trồng, nâng cao hiệu quả sử dụng đất Các công trình nghiên cứu đánh giá tài nguyên đất đai Việt Nam của Nguyễn Khang

Trang 26

và Phạm Dương Ưng (1995) [17]; đánh giá hiện trạng sử dụng đất theo quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền [30]; phân vùng sinh thái nông nghiệp vùng đồng bằng Sông Hồng [18]; Lê Hồng Sơn (1995) [23] với nghiên cứu "ứng dụng kết quả đánh giá đất vào đa dạng hoá cây trồng đồng bằng Sông Hồng" hay hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác trên đất phù sa Sông Hồng huyện Mỹ Văn, tỉnh Hải Dương của tác giả Vũ Thị Bình (1993) [1]; Đánh giá kinh tế đất lúa vùng đồng bằng Sông Hồng, Quyền Đình Hà, (1993) [13]

Ở nước ta, khi trình độ sản xuất nông nghiệp còn thấp, phần lớn diện tích đất nông nghiệp đều tập trung vào sản xuất lương thực, thực phẩm Song song với việc nâng cao mức sống, đòi hỏi phát triển các cây thức ăn cao cấp hơn như cây họ đạm (đậu, đỗ ), cây có dầu (lạc, vừng ), rau củ và các loại cây ăn quả

có giá trị phát triển sản xuất hàng hoá có hiệu quả kinh tế cao đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội, có tác dụng bảo vệ, cải tạo môi trường đất

Bên cạnh việc nghiên cứu đưa ra các giống cây trồng mới vào sản xuất thì các nhà khoa học còn tìm các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp dựa vào việc nghiên cứu đa ra các công thức luân canh mới bằng các phương pháp đánh giá hiệu quả của từng giống cây trồng, từng công thức luân canh Từ đó các công thức luân canh mới tiến bộ hơn được cải tiến để khai thác ngày một tốt hơn tiềm năng đất đai

Từ đầu thập kỷ 90, chương trình quy hoạch tổng thể đang được tiến hành nghiên cứu đề xuất dự án phát triển đa dạng hoá nông nghiệp, nội dung quan trọng nhất là phát triển hệ thống cây trồng để nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Những công trình nghiên cứu mô phỏng chiến lược phát triển nông nghiệp vùng đồng bằng Sông Hồng của GS.VS Đào Thế Tuấn (1992) cũng đề cập việc phát triển hệ thống cây trồng, nâng cao hiệu quả sử dụng đất trong điều kiện Việt Nam Công trình nghiên cứu phân vùng sinh thái, hệ thống giống lúa, hệ thống cây trồng vùng đồng bằng Sông Hồng do GS.VS Đào Thế

Trang 27

Tuấn (1998) [28] chủ trì và hệ thống cây trồng vùng đồng bằng sông Cửu Long

do GS.VS Nguyễn Văn Luật chủ trì cũng đưa ra một kết luận về phân vùng sinh thái và hướng áp dụng những giống cây trồng trên các vùng sinh thái khác nhau nhằm khai thác sử dụng đất mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn

Các đề tài nghiên cứu do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì

đã tiến hành nghiên cứu hệ thống cây trồng trên các vùng sinh thái khác nhau như vùng miền núi, vùng trung du và vùng đồng bằng nhằm đánh giá hiệu quả cây trồng trên từng vùng đất đó Từ đó định hướng cho việc khai thác tiềm năng đất đai của từng vùng sao cho phù hợp với quy hoạch chung của nền nông nghiệp cả nước, phát huy tối đa lợi thế so sánh của từng vùng

Vấn đề luân canh tăng vụ, trồng gối, trồng xen nhằm sử dụng nguồn lợi đất đai, khí hậu để bố trí hệ thống cây trồng thích hợp cũng được nhiều nhà nghiên cứu đề cập như Ngô Thế Dân [7]

Trong những năm gần đây, chương trình quy hoạch tổng thể vùng Đồng bằng Sông Hồng (1994) [10]; quy hoạch sử dụng đất vùng Đồng bằng Sông Hồng (Phùng Văn Phúc,1996) [20]; phân bón cho lúa ngắn ngày trên đất phù

xa Sông Hồng (Nguyễn Như Hà, 2000) [12]; đánh giá hiệu quả một số mô hình

đa dạng hoá cây trồng vùng Đồng bằng sông Hồng của Vũ Năng Dũng (1997) [9] cho thấy đã xuất hiện nhiều mô hình luân canh 3- 4 vụ trong một năm đạt hiệu quả kinh tế cao, đặc biệt ở các vùng sinh thái ven đô, vùng có điều kiện tưới tiêu chủ động đã có những điển hình về sử dụng đất đai đạt hiệu quả kinh

tế cao Nhiều loại cây trồng có giá trị kinh tế cao đã được bố trí trong các ơng thức luân canh như cây ăn quả, hoa, cây thực phẩm cao cấp

phư-Tuy nhiên, các đánh giá về thực trạng đất nông nghiệp ở trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang còn chưa nhiều Vì vậy, nghiên cứu đánh giá thực trạng và

đề xuất sử dụng đất nông nghiệp của huyện Sơn Dương trong những năm tới theo hướng phát triển bền vững là rất cần thiết, có ý nghĩa trong phát triển kinh

Trang 28

tế xã hội của huyện và có thể thực hiện đƣợc Đây chính là lý do thúc đẩy tôi đi

sâu vào nghiên cứu đề tài "Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và

đề xuất hướng sử dụng hợp lý tại huyện Sơn Dương - tỉnh Tuyên Quang"

góp phần vào việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của huyện nói

riêng và tỉnh Tuyên Quang nói chung

Trang 29

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Phạm vi nghiên cứu:

Đề tài được tiến hành nghiên cứu trên phạm vi hành chính của huyện Sơn Dương - tỉnh Tuyên Quang

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu

- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tác động đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang;

- Thực trạng các loại hình sử dụng đất nông nghiệp của huyện Sơn Dương

2.2 Nội dung nghiên cứu

- Xác định loại hình sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu vùng nghiên cứu;

- Đánh giá hiệu quả của các loại hình sử dụng đất trên ba mặt: Kinh tế,

xã hội và môi trường làm cơ sở để đề xuất giải pháp sử dụng đất nông nghiệp hợp lý trên địa bàn huyện Sơn Dương

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu

2.3.1.1 Điều tra số liệu thứ cấp

Thu thập và xử lý nguồn số liệu và tài liệu đã có:

+ Số liệu về nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm, lượng bốc hơi, chế độ gió, bão…thu tại trạm khí tượng thủy văn của tỉnh Tuyên Quang;

+ Số liệu liên quan đến tài nguyên nước, khả năng tưới, tiêu và mức độ ngập úng … được thu thập tại Sở Tài nguyên và Môi trường, Phòng Kinh tế huyện, phòng Thống kê huyện;

Trang 30

+ Số liệu về hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của huyện được thu thập tại Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

2.3.1.2 Điều tra số liệu sơ cấp

- Thu thập thông tin về đánh giá hiện trạng và hiệu quả sử dụng đất bằng phương pháp: RRA và điều tra nông hộ (theo phiếu điều tra)

+ Điều tra tình hình sử dụng đất của 150 nông hộ theo tiểu vùng đặc trưng, các bản đồ đất đai chính có liên quan đến tiểu vùng Thông tin thu thập gồm: sở hữu đất đai, các loại hình sử dụng đất, các thuộc tính quản lý và kỹ thuật, các chỉ tiêu kinh tế sản xuất (tổng thu nhập, chi phí vật tư, lao động, lãi), những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sử dụng đất và những tác động tới khả năng suy thoái đất và môi trường

2.3.2 Phương pháp chuyên gia

Tham khảo ý kiến chuyên gia trong lĩnh vực đánh giá đất

2.3.3 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu

Điểm nghiên cứu được lựa chọn dựa trên những tiêu chí sau đây:

- Thể hiện tính đại diện của vùng nghiên cứu

- Đa dạng về các loại hình sử dụng đất

- Đa dạng về chủ thể tham gia sử dụng đất

- Việc chọn cùng và xã nghiên cứu: Do giới hạn về thời gian và mục tiêu nghiên cứu đề tài được thực hiện tại 03 xã của huyện Sơn Dương đại diện cho 03 tiểu vùng, cụ thể:

+ Tiểu vùng 1 Cụm địa hình dọc theo dải núi Tam Đảo, chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, song song với hướng gió mùa Đông Nam Địa

hình khu vực này chủ yếu là đồi núi cao thực hiện tại xã Hợp Hòa

Trang 31

+ Tiểu vùng 2 nằm dọc theo dải sông Phó Đáy của huyện, địa hình chủ yếu là đồi thấp và những dải đất bằng phù xa nằm dọc hai bên bờ sông thực

hiện tại xã Bình Yên

+ Tiểu vùng 3 nằm dọc theo dải sông Lô, địa hình chủ yếu là đồi núi cao, xen kẽ với những khu đồi bát úp ở các xã thuộc vùng hạ huyện Sơn

Dương thực hiện tại xã Đông Lợi

2.3.4 Phương pháp đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất

2.3.4.1 Đánh giá hiệu quả kinh tế

Để đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng các hệ thống chỉ tiêu bao gồm: + Giá trị sản xuất (GTSX): là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch

vụ của từng ngành, từng đơn vị được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian nhất định (thường tính theo 1 năm)

Đối với gia súc, gia cầm thì tính bằng sản lượng nhân với giá bán;

Đối với cây nông nghiệp ngắn ngày hoặc dài ngày tính bằng sản lượng nhân với giá bán;

i n i

i P Q GTSX

1

Trong đó: Q i là khối lượng sản phẩm loại i

P i là đơn giá sản phẩm loại i Đối với cây lâm nghiệp, do đặc điểm của cây lâm nghiệp là chu kỳ kinh doanh dài thường tính từ 7 đến 8 năm, thậm chí đến 15 hoặc 20 năm (nếu là rừng kinh tế), việc trồng cây lâm nghiệp không những có ý nghĩa về mặt kinh

tế mà còn góp phần rất lớn trong việc phòng hộ và môi trường sinh thái, nên đánh giá đúng giá trị của rừng là việc làm rất cần thiết Giá trị kinh tế của cây lâm nghiệp được xác định bằng việc tính giá cây đứng:

Gcđ = Gb – (Ckt + Cvc) – T

Trang 32

Trong đó: Gcđ: Giá bán cây đứng (đồng/m3

n

j j

j P C CPTG

1

Trong đó: C jlà số chi phí đầu tư thứ j

P jlà đơn giá loại j + Giá trị gia tăng (GTGT): là chỉ tiêu hiệu quả phản ánh tổng giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ do các ngành sản xuất tạo ra trong một thời gian nhất định (thường tính theo 1 năm)

GTGT = GTSX – CPTG + Thu nhập hỗn hợp (TNHH): là chỉ tiêu hiệu quả phản ánh thu nhập thuần tuý của người sản xuất bao gồm cả lao động và lợi nhuận sản xuất

TNHH = GTGT – T – A – L Trong đó: GTGT: Giá trị gia tăng

A: Khấu hao tài sản cố định

L: Lao động thuê ngoài + Giá trị ngày công lao động: là chỉ tiêu biểu thị giá trị thu được bình quân trên ngày công lao động, phản ánh trình độ tổ chức, quản lý lao động trong quá trình sử dụng đất Nó không những phản ánh hiệu quả sử dụng đất đai mà còn phản ánh năng suất lao động trong quá trình sản xuất (GTSX/LĐ)

Trang 33

+ Thu nhập hỗn hợp trên ngày công lao động (TNHH/LĐ)

- Tổng chi phí: Bao gồm các khoản chi phí được sử dụng trong quá trình sản xuất (chi phí vật chất và chi công lao động)

- Giá trị sản phẩm (GTSP) = Năng xuất x Đơn giá

- Lợi nhuận = Tổng thu nhập – Tổng chi phí

- Hiệu quả ngày công lao động = Lợi nhuận/số công lao động

- Hiệu suất đồng vốn (HSĐV) = Lợi nhuận/tổng chi phí

Đơn giá nông sản và các loại vật tư nông nghiệp tính bằng tiền theo giá tại địa phương năm 2010

Bảng 2.1: Phân cấp chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế

Mức đánh giá GTSP TCP Lợi nhuận

Giá trị ngày công Lao động

Hiệu xuất đồng vốn

2.3.4.2 Đánh giá hiệu quả xã hội

Đánh giá hiệu quả xã hội là chỉ tiêu rất khó định lượng, đặc biệt là phải

có thời gian dài, tiến hành nghiên cứu một cách khoa học, chi tiết để thấy được những ảnh hưởng trực tiếp, gián tiếp ở các mức độ nặng nhẹ khác nhau của các loại hình sử dụng đất Nhưng do điều kiện thời gian có hạn trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chúng tối chỉ tiến hành đề cập đến một số chỉ tiêu cơ bản:

+ Mức độ chấp nhận của người dân;

+ Hiệu quả giải quyết việc làm;

+ Khả năng phát triển về sản xuất và tiêu thụ hàng hoá

Để đánh giá các chỉ tiêu này chúng tôi sử dụng phương pháp đánh giá

Trang 34

có sự tham gia của người dân địa phương để đưa ra hiệu quả xã hội của từng loại hình sử dụng đất

* Cách xác định mức độ chấp nhận của người dân:

Trên thực tế chúng ta thấy rằng, một mô hình sử dụng đất có được lựa chọn hay không ngoài việc đạt hiệu quả kinh tế, bảo vệ đất thì điều quan trọng

là phải được người dân chấp nhận Mức độ chấp nhận của người dân thì phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Nhận thức của người dân, trình độ dân trí, phong tục tập quán, khả năng đầu tư, trình độ khoa học kỹ thuật, thị trường Tuy nhiên, một mô hình muốn được chấp nhận thì phải đáp ứng được 2 yêu cầu:

+ Khả năng đáp ứng nhu cầu trước mắt: tức là mô hình có sản phẩm đáp ứng được nhu cầu hiện tại của người dân;

+ Khả năng đầu tư và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật: mô hình nào

có mức độ đầu tư thấp hơn, dễ làm hơn thì sẽ được người dân chấp nhận và được ứng dụng rộng rãi;

* Hiệu quả giải quyết việc làm

Hiệu quả giải quyết việc làm chính là thể hiện số ngày công lao động đầu tư vào mỗi loại hình sử dụng đất Mô hình nào có số ngày công lao động lớn thì có hiệu quả hơn

* Khả năng phát triển về sản xuất và tiêu thụ hàng hoá

Đây là một nhân tố quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất

Để xác định mức độ, khả năng phát triển sản xuất hàng hoá của các mô hình

sử dụng đất phụ thuộc vào những nhân tố sau:

+ Chủng loại sản phẩm: loại hình sử dụng đất nào cho ra nhiều chủng loại sản phẩm mà được thị trường chấp nhận thì khả năng sản xuất hàng hoá của mô hình đó sẽ cao hơn;

Bảng 2.2 Phân cấp chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội

Trang 35

Mức đánh

giá Ký hiệu

Khả năng phù hợp với hướng thi trường

Khả năng thu hút lao động

Mức độ chấp nhận của người dân

2.3.4.3 Đánh giá hiệu quả môi trường

Đánh giá tác động môi trường của việc sử dụng đất là việc xem xét thực trạng và nguyên nhân gây ra sự suy thoái môi trường, từ đó loại bỏ các loại hình sử dụng đất có khả năng gây ra tác động xấu đối với môi trường Nhưng việc xác định hiệu quả về mặt môi trường của quá trình sử dụng đất nông nghiệp là rất phức tạp, rất khó định lượng, đòi hỏi phải có quá trình nghiên cứu, phân tích lâu dài Chính vì vậy chúng tôi chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu, đánh giá tác động môi trường thông qua việc đánh giá thích hợp của các cây trồng đối với điều kiện đất đai hiện tại thông qua các kết quả điều tra về đầu tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật

Bảng 2.3 Phân cấp chỉ tiêu đánh giá hiệu quả môi trường

Mức đánh

giá Ký hiệu

Khả năng che phủ đất

Khả năng thích hợp với đặc điểm, tính chất

và nguồn nước

Khả năng duy trì và cải thiện

độ phì cho đất

Mức độ sử dụng phân bón

và các loại thuốc BVTV

Trang 36

CHƯƠNG 3

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Sơn Dương

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1.1 Vị trí địa lý

Sơn Dương là huyện miền núi có 32 xã, 01 thị trấn với tổng diện tích đất tự nhiên là 78.783,51 ha, nằm ở phía Nam của tỉnh Tuyên Quang, cách trung tâm thành phố Tuyên Quang 30 km về phía Đông Nam Huyện có vị trí địa lý như sau:

- Phía Bắc giáp huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang

- Phía Nam giáp huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc

- Phía Đông giáp huyện Định Hoá và huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

- Phía Tây giáp huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang và huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ

3.1.1.2 Địa hình

Huyện Sơn Dương có địa hình đa dạng và phức tạp, mang đặc trưng của huyện miền núi, trung du và cả đồng bằng Địa hình bị phân cách mạnh bởi các dãy núi cao và hệ thống sông suối, hướng chủ đạo địa hình của huyện theo hướng Tây và Tây Nam, địa hình được phân loại như sau:

- Địa hình dọc theo dải núi Tam Đảo, chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, song song với hướng gió mùa Đông Nam, địa hình khu vực này chủ yếu là đồi núi cao

- Địa hình nằm dọc theo dải sông Phó Đáy, khu vực này địa hình chủ yếu là đồi thấp và những dải đồng bằng nằm hai bên bờ sông

- Địa hình nằm dọc theo dải sông Lô, địa hình chủ yếu là đồi núi cao, xen kẽ những khu đồi bát úp ở những xã vùng hạ huyện Sơn Dương, những

xã có một phần là địa hình trung du

Trang 37

3.1.1.3 Khớ hậu, thuỷ văn

- Khớ hậu: Sơn Dương thuộc tiểu vựng khớ hậu phớa Nam của tỉnh, nằm trong khu vực khớ hậu nhiệt đới giú mựa, khớ hậu trong năm được chia thành 2 mựa: Mựa mưa từ thỏng năm đến thỏng 10, mựa khụ từ thỏng 11 đến thỏng 4 năm sau Nhiệt độ trung bỡnh trong năm khoảng 220C, nhiệt độ trung bỡnh cao nhất trong năm khoảng 380C, nhiệt độ thấp nhất trong năm khoảng 80C Độ

ẩm bỡnh quõn năm 85%

- Thuỷ văn: Sơn Dương cú hệ thống sụng suối phõn bố khụng đồng đều trờn địa bàn Với hai con sụng lớn là Sụng Lụ và sụng Phú Đỏy chảy qua địa phận của huyện và hệ thống cỏc khe suối nhỏ tạo nờn mạng lưới thuỷ văn đa dạng Mặc dự hệ thống dũng chảy của cỏc con sụng này ổn định, tuy nhiờn về mựa mưa, nước sụng suối dõng cao đó gõy khụng ớt những khú khăn cho cỏc hoạt động kinh tế xó hội của huyện

3.1.1.4 Tài nguyờn đất

Theo kết quả điều tra trước đõy và kết quả nghiờn cứu từ bản đồ đất tỷ lệ 1/100.000 thỏng 11/2001 huyện Sơn D-ơng 6 nhóm đất với 13 loại đất khác nhau đ-ợc thể hiện qua bảng sau 3.1:

a) Nhúm đất phự sa: Diện tớch 3.752 ha chiếm 4,76% diện tớch tự

nhiờn gồm 3 loại đất:

- Đất phự sa được bồi hàng năm (Pb): Diện tớch 745 ha phõn bố trờn địa bàn cỏc xó ven sụng Lụ, sụng Phú Đỏy như Vĩnh Lợi, Cấp Tiến, Quyết Thắng, Hồng Lạc, Lõm Xuyờn, Sầm Dương, thị trấn Sơn Dương với tầng đất dày, thành phần cơ giới cỏt pha - thịt nhẹ đến thịt trung bỡnh, thớch hợp cho việc trồng cõy hàng năm Tuy nhiờn khu vực này cần bố trớ thời vụ hợp

lý, ỏp dụng cỏc giống cõy trồng ngắn ngày để trỏnh thiệt hại do lũ lụt hàng năm gõy ra

Trang 38

Bảng 3.1 Phân loại đất huyện Sơn Dương

(ha)

Tỷ lệ (%)

- Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa Fl 425 0,54

(Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Tuyên Quang )

- Đất phù sa không được bồi hàng năm (P): Diện tích 1.772 ha phân bố trên bậc thềm cao hơn đất phù sa được bồi hàng năm; tầng đất dày, thành phần cơ giới thịt nhẹ đến thịt trung bình, thích hợp với nhiều loại cây trồng hàng năm, năng suất ổn định

Trang 39

- Đất phù sa ngòi suối (Py): Phân bố chủ yếu trên địa bàn các xã có địa giới hành chính bám dọc theo hai con sông lớn là Sông Lô và sông Phó Đáy như: Vĩnh Lợi, Trung Yên, Minh Thanh, Tân Trào, Bình Yên, Tú Thịnh, thị trấn Sơn Dương, Phúc ứng, Hợp Hoà, Ninh Lai, Thiện Kế, Sơn Nam, Sầm Dương, Lâm Xuyên, Vân Sơn đặc điểm của vùng này là có tầng đất dày, thành phần cơ giới thịt nhẹ đến thịt trung bình, thích hợp với nhiều loại cây trồng hàng năm Tuy nhiên cần bố trí thời vụ hợp lý để tránh lũ quét, bồi lấp phù sa và sạt lở đất

b) Nhóm đất dốc tụ: Diện tích 3.136 ha chiếm 3,98% diện tích đất tự

nhiên của huyện

Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ (D): Phân bố trên địa bàn các xã trong huyện, trong các thung lũng giữa các dải đồi núi Tầng đất dày, thành phần cơ giới thay đổi theo độ cao Đa số diện tích đất trồng lúa của huyện phân bố trên loại đất này

c) Nhóm đất bạc màu: Diện tích 2.240 ha chiếm 2,84% diện tích đất tự

nhiên có 01 loại đất:

Đất xám bạc màu (Ba): Phân bố chủ yếu ở các xã ven chân núi Tam Đảo như: Hợp Hoà, Thiện Kế, Ninh Lai, Sơn Nam Đất bị bạc màu do độ dốc của địa hình lớn và quá trình canh tác lâu dài không hợp lý nên bị xói mòn, rửa trôi mạnh

d) Nhóm đất đỏ vàng: Diện tích 44.162 ha chiếm 56,05 % diện tích tự

nhiên gồm 3 loại đất:

- Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa (Fl); Diện tích 425 ha, tạo thành các khu ruộng bậc thang ven chân đồi có độ dốc < 80, gặp hầu hết ở các xã trong huyện

- Đất nâu đỏ trên đá vôi: Diện tích 324 ha, phân bố trên địa bàn các xã: Tú Thịnh, Phúc Ứng, Tuân Lộ, Thanh Phát , có núi đá vôi độ dốc < 150 tầng đất

Trang 40

dày, tơi, xốp, thành phần cơ giới thịt trung bình, thịt nặng Đất có hàm lượng dinh dưỡng cao song phân bố không tập trung, thường có đá lộ đầu, đá lẫn Đất thích hợp với nhiều loại cây trồng song về mua khô hay bị hạn hán

- Đất đỏ vàng trên đá sét và biến chất (Fs): Diện tích 43.413 ha phân bố rộng khắp trên địa bàn các xã trong huyện Tầng đất dày, thành phần cơ giới thịt nặng đến sét, thích hợp với nhiều loại cây trồng dài ngày, song chỉ nên bố trí trên độ dốc < 200

để sản xuất nông nghiệp còn độ dốc cao hơn để trồng và bảo vệ rừng

e) Đất vàng đỏ: Diện tích 23.025,51 ha chiếm 29,23% Gồm:

- Đất vàng đỏ trên đá Granit (Fa): Diện tích 10.931 ha phân bố trên địa bàn các xã ven chân núi Tam Đảo Đất có thành phần cơ giới thịt nhẹ đến trung bình, khả năng giữ nước, giữ màu kém, phần lớn có độ dốc lớn không thích hợp với đất sản xuất nông nghiệp Cần trồng và bảo vệ rừng

- Đất vàng nhạt trên đa cát kết (Fq): Diện tích 12.029.51 ha phân bố chủ yếu trên địa bàn các xã vùng thượng huyện Tầng đất và độ dốc thay đổi, thành phần cơ giới thịt nhẹ đến trung bình Trên loại đất này ở độ dốc < 200

có thể bố trí cây công nghiệp, cây ăn quả, ở độ cao lớn hơn 200 chỉ nên trồng

và bảo vệ rừng

- Đất nâu vàng trên phù sa cổ (Fp): Diện tích 65 ha phân bố hẹp trên các bậc thềm cao của sông Lô, sông Phó Đáy, thường suất hiện trên địa hình đồi bát úp, thấp và thoải Hiện đã được khai thác trồng cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả song năng suất không cao do luôn bị khô hạn, đất rất chặt và rắn Cần tăng cường bón phân hữu cơ (phân xanh) và trồng cây họ đậu che phủ bảo vệ, cải tạo đất

f) Nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi cao: Diện tích 2.468 ha chiếm

3,13% diện tích tự nhiên của huyện phân bố trên địa hình có độ cao > 1000 m

có 01 loại đất:

Ngày đăng: 01/08/2014, 22:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Thị Bình (1993), "Hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác trên đất phù sa sông Hồng huyện Mỹ Văn, tỉnh Hải Hƣng", Tạp chí Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm, 3/1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác trên đất phù sa sông Hồng huyện Mỹ Văn, tỉnh Hải Hƣng
Tác giả: Vũ Thị Bình
Năm: 1993
2. Nguyễn Đình Bồng (2002), "Quỹ đất quốc gia- Hiện trạng và dự báo sử dụng đất", Tạp Chí khoa học đất, 16/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quỹ đất quốc gia- Hiện trạng và dự báo sử dụng đất
Tác giả: Nguyễn Đình Bồng
Nhà XB: Tạp Chí khoa học đất
Năm: 2002
3. Lê Xuân Cao (2002), Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất một số biện pháp sử dụng đất thích hợp ở Nông trờng quốc doanh sao Vàng Thanh Hoá. Luận văn Thạc sĩ khoa học nông nghiệp, ĐHNN I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất một số biện pháp sử dụng đất thích hợp ở Nông trờng quốc doanh sao Vàng Thanh Hoá
Tác giả: Lê Xuân Cao
Nhà XB: Luận văn Thạc sĩ khoa học nông nghiệp, ĐHNN I, Hà Nội
Năm: 2002
5. Trịnh Văn Chiến (2000), Nghiên cứu xây dựng mô hình canh tác thích hợp trên cơ sở đánh giá tài nguyên đất đai ở huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá, Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp, Viện khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng mô hình canh tác thích hợp trên cơ sở đánh giá tài nguyên đất đai ở huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá
Tác giả: Trịnh Văn Chiến
Nhà XB: Viện khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam
Năm: 2000
6. Cục Thống kê tỉnh Tuyên Quang (2011), Niên giám thống kê 2010, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê 2010
Tác giả: Cục Thống kê tỉnh Tuyên Quang
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2011
8. Đường Hồng Dật và nnk (1994) Lịch sử nông nghiệp Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, trang 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử nông nghiệp Việt Nam
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
9. Vũ Năng Dũng (1997), Đánh giá hiệu quả một số mô hình đa dạng hoá cây trồng vùng đồng bằng sông Hồng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả một số mô hình đa dạng hoá cây trồng vùng đồng bằng sông Hồng
Tác giả: Vũ Năng Dũng
Năm: 1997
10. Dự án quy hoạch tổng thể đồng bằng sông Hồng (1994), Báo cáo nền số 9, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo nền số 9
Tác giả: Dự án quy hoạch tổng thể đồng bằng sông Hồng
Năm: 1994
11. Nguyễn Hoàng Đan, Đỗ Đình Đài (2003), Khả năng mở rộng đất nông nghiệp vùng Tây nguyên, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, số 10, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng mở rộng đất nông nghiệp vùng Tây nguyên
Tác giả: Nguyễn Hoàng Đan, Đỗ Đình Đài
Nhà XB: Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Năm: 2003
12. Nguyễn Nhƣ Hà (2000), Phân bón cho lúa ngắn ngày trên đất phù sa sông Hồng, Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp ĐHNN I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân bón cho lúa ngắn ngày trên đất phù sa sông Hồng
Tác giả: Nguyễn Nhƣ Hà
Năm: 2000
13. Quyền Đình Hà (1993), Đánh giá kinh tế đất lúa vùng đồng bằng sông Hồng, Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp, ĐHNN I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kinh tế đất lúa vùng đồng bằng sông Hồng
Tác giả: Quyền Đình Hà
Năm: 1993
14. Đỗ Nguyên Hải (2000), Đánh giá đất và hướng sử dụng đất bền vững trong sản xuất nông nghiệp của huyện Tiên Sơn - tỉnh Bắc Ninh, Luận án tiến sĩ khoa học nông nghiệp - Hà Nội 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá đất và hướng sử dụng đất bền vững trong sản xuất nông nghiệp của huyện Tiên Sơn - tỉnh Bắc Ninh
Tác giả: Đỗ Nguyên Hải
Năm: 2000
16. Hội Khoa học Đất Việt Nam (2000), Đất Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, trang 271-291 và trang 373 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất Việt Nam
Tác giả: Hội Khoa học Đất Việt Nam
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2000
17. Nguyến Khang và Phạm Dơng Ƣng (1995), "Kết quả bớc dầu đánh giá tài nguyên đất Việt Nam", Hội thảo quốc gia Đánh giá và quy hoạch sử dụng đất trên quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả bớc dầu đánh giá tài nguyên đất Việt Nam
Tác giả: Nguyến Khang và Phạm Dơng Ƣng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1995
18. Cao Liêm, Đào Châu Thu, Trần Thị Tú Ngà (1991), Phân vùng sinh thái nông nghiệp đồng bằng sông Hồng, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân vùng sinh thái nông nghiệp đồng bằng sông Hồng
Tác giả: Cao Liêm, Đào Châu Thu, Trần Thị Tú Ngà
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1991
19. Luật đất đai năm 2003 (2004), NXB chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật đất đai năm 2003
Tác giả: Luật đất đai năm 2003
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia
Năm: 2004
20. Phùng Văn Phúc (1996), "Quy hoạch sử dụng đất vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2010", Kết quả nghiên cứu khoa học thời kỳ 1986- 1996, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch sử dụng đất vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2010
Tác giả: Phùng Văn Phúc
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1996
21. Rosemary Morrow (1994) " Hướng dẫn sử dụng đất theo nông nghiệp bền vững" NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn sử dụng đất theo nông nghiệp bền vững
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
22. Nguyễn Ngọc Sẫm (2003), Đámh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, đề xuất sử dụng theo hớng sản xuất hàng hoá huyện Tữ Kỳ, tỉnh Hải Dương. Luận văn Thạc sĩ Nông nghiệp, ĐHNN I Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đámh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, đề xuất sử dụng theo hớng sản xuất hàng hoá huyện Tữ Kỳ, tỉnh Hải Dương
Tác giả: Nguyễn Ngọc Sẫm
Năm: 2003
23. Lê Hồng Sơn (1996), "ứng dụng kết quả đánh giá đất vào đa dạng hoá cây trồng vùng đồng bằng sông Hồng", Hội thảo quốc gia Đánh giá và quy hoạch sử dụng đất trên quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ứng dụng kết quả đánh giá đất vào đa dạng hoá cây trồng vùng đồng bằng sông Hồng
Tác giả: Lê Hồng Sơn
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1996

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Biến động về diện tích đất sản xuất nông nghiệp và diện tích - đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất hướng sử dụng hợp lý tại huyện sơn dương tỉnh tuyên quang
Bảng 1.1. Biến động về diện tích đất sản xuất nông nghiệp và diện tích (Trang 10)
Bảng 2.1: Phân cấp chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế - đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất hướng sử dụng hợp lý tại huyện sơn dương tỉnh tuyên quang
Bảng 2.1 Phân cấp chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế (Trang 33)
Bảng 2.3. Phân cấp chỉ tiêu đánh giá hiệu quả môi trường - đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất hướng sử dụng hợp lý tại huyện sơn dương tỉnh tuyên quang
Bảng 2.3. Phân cấp chỉ tiêu đánh giá hiệu quả môi trường (Trang 35)
Bảng 3.1. Phân loại đất huyện Sơn Dương. - đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất hướng sử dụng hợp lý tại huyện sơn dương tỉnh tuyên quang
Bảng 3.1. Phân loại đất huyện Sơn Dương (Trang 38)
Hình 3.1 : Sơ đồ thổ nhƣỡng tỉnh Tuyên Quang. - đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất hướng sử dụng hợp lý tại huyện sơn dương tỉnh tuyên quang
Hình 3.1 Sơ đồ thổ nhƣỡng tỉnh Tuyên Quang (Trang 42)
Bảng 3.2 Diện tích, năng xuất và sản lƣợng trồng trọt của huyện từ năm - đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất hướng sử dụng hợp lý tại huyện sơn dương tỉnh tuyên quang
Bảng 3.2 Diện tích, năng xuất và sản lƣợng trồng trọt của huyện từ năm (Trang 46)
Bảng 3.4: Hiện trạng sử dụng đất của huyện Sơn Dương. - đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất hướng sử dụng hợp lý tại huyện sơn dương tỉnh tuyên quang
Bảng 3.4 Hiện trạng sử dụng đất của huyện Sơn Dương (Trang 53)
Hình 3.2: Sơ đồ hiện trạng sử dụng đất huyện Sơn Dương năm 2010. - đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất hướng sử dụng hợp lý tại huyện sơn dương tỉnh tuyên quang
Hình 3.2 Sơ đồ hiện trạng sử dụng đất huyện Sơn Dương năm 2010 (Trang 54)
Bảng 3.6: Các loại hình sử dụng đất chính của huyện Sơn Dương - đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất hướng sử dụng hợp lý tại huyện sơn dương tỉnh tuyên quang
Bảng 3.6 Các loại hình sử dụng đất chính của huyện Sơn Dương (Trang 60)
Bảng 3.7. Đánh giá hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất huyện Sơn Dương. - đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất hướng sử dụng hợp lý tại huyện sơn dương tỉnh tuyên quang
Bảng 3.7. Đánh giá hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất huyện Sơn Dương (Trang 65)
Bảng 3.8 Đánh giá hiệu quả xã hội các loại hình sử dụng đất nông nghiệp huyện Sơn Dương - đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất hướng sử dụng hợp lý tại huyện sơn dương tỉnh tuyên quang
Bảng 3.8 Đánh giá hiệu quả xã hội các loại hình sử dụng đất nông nghiệp huyện Sơn Dương (Trang 69)
Bảng 3.9 Đánh giá hiệu quả Môi trường của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp huyện Sơn Dương - đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất hướng sử dụng hợp lý tại huyện sơn dương tỉnh tuyên quang
Bảng 3.9 Đánh giá hiệu quả Môi trường của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp huyện Sơn Dương (Trang 72)
Bảng 3.10 Đánh giá mức độ hiệu quả của các loại hình sử dụng đất. - đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất hướng sử dụng hợp lý tại huyện sơn dương tỉnh tuyên quang
Bảng 3.10 Đánh giá mức độ hiệu quả của các loại hình sử dụng đất (Trang 74)
Hình 3.3 Bản đồ đề xuất một số loại hình sử dụng đất trong tương lai của - đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất hướng sử dụng hợp lý tại huyện sơn dương tỉnh tuyên quang
Hình 3.3 Bản đồ đề xuất một số loại hình sử dụng đất trong tương lai của (Trang 80)
Bảng 3.11 Đề xuất diện tích các loại hình sử dụng đất trong 10 năm tới - đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất hướng sử dụng hợp lý tại huyện sơn dương tỉnh tuyên quang
Bảng 3.11 Đề xuất diện tích các loại hình sử dụng đất trong 10 năm tới (Trang 81)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w