1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp sau 10 năm thực hiện quy hoạch sử dụng đất huyện phú bình, tỉnh thái nguyên

92 597 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ĐÀM ANH ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP SAU 10 NĂM THỰC HIỆN QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN Ch

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

ĐÀM ANH

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT SẢN XUẤT

NÔNG NGHIỆP SAU 10 NĂM THỰC HIỆN QUY HOẠCH

SỬ DỤNG ĐẤT HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành : Quản lý đất đai

Mã số : 60 85 01 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Lương Văn Hinh

Thái Nguyên - 2012

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Đàm Anh

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được nội dung này, tôi đã nhận được sự chỉ bảo, giúp

đỡ rất tận tình của PGS.TS Lương Văn Hinh, sự giúp đỡ, động viên của các thầy cô giáo trong Khoa Tài nguyên và Môi trường, Khoa Sau Đại học Nhân dịp này cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS Lương Văn Hinh và những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo trong Khoa Tài nguyên và Môi trường, Khoa sau Đại học – Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên

Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo và cán bộ UBND huyện Phú Bình, phòng nông nghiệp, phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Thống

kê, chính quyền các xã trong huyện Phú Bình đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và các bạn đồng nghiệp động viên, giúp đỡ trong quá trình thực hiện luận văn./

Thái Nguyên, ngày tháng 9 năm 2012

Tác giả luận văn

Đàm Anh

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU i

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục đích nghiên cứu 3

1.3 Yêu cầu 3

1.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3

1.4.1 Ý nghĩa khoa học 3

1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

Chương 1 : TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4

1.1 Một số vấn đề lý luận về sử dụng đất 4

1.1.1 Những vấn đề về quy hoạch sử dụng đất 4

1.1.2 Những vấn đề về sử dụng đất nông nghiệp 9

1.2 Nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp 12

1.2.1 Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp 12

1.2.2 Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp 13

1.2.3 Những yếu tố ảnh hưởng tới việc sử dụng đất nông nghiệp 14

1.2.4 Đặc điểm đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 16

1.2.5 Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 16

1.3 Một số định hướng phát triển nền nông nghiệp 17

1.4 Tình hình nghiên cứu hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam 19

Chương 2 : NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 21

2.2 Nội dung nghiên cứu 21

Trang 5

2.3 Phương pháp nghiên cứu 22

2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu tài liệu 22

2.3.2 Phương pháp tổng hợp và xử lý tài liệu, số liệu 22

2.3.3 Phương pháp điều tra có sự tham gia của người dân 22

2.3.4 Phương pháp minh họa bằng biểu đồ, bản đồ 22

2.4 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 22

Chương 3 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 25

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Phú Bình 25

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 25

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 31

3.1.3 Hiện trạng sử dụng đất 36

3.1.4 Đánh giá chung 38

3.2 Tình hình sản xuất nông nghiệp huyện Phú Bình 39

3.2.1 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Phú Bình 39

3.2.2 Các loại hình sử dụng đất huyện Phú Bình 41

3.2.3 Thực trạng phát triển sản xuất nông nghiệp 41

3.2.4 Đánh giá chung 43

3.3 Kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp giai đoạn 2001 - 2010 44

3.3.1 Đánh giá biến động các loại đất 45

3.3.2 Kết quả thực hiện chuyển đất sản xuất nông nghiệp sang sử dụng vào mục đích khác 48

3.3.3 Kết quả thực hiện khai hoang, mở rộng diện tích đất sản xuất nông nghiệp49 3.3.4 Kết quả thâm canh tăng vụ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng 50

3.3.5 Nhận xét chung về tình hình thực hiện kế hoạch sử dụng đất sảu xuất nông nghiệp giai đoạn 2001 – 2010 51

3.4 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp sau 10 năm thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất đai huyện Phú Bình 51

3.4.1 Hiệu quả kinh tế 51

3.4.2 Hiệu quả xã hội 60

3.4.3 Hiệu quả môi trường 63

3.5 Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trong quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 64

Trang 6

3.5.1 Giải pháp về quản lý và sử dụng đất nông nghiệp 64

3.5.2 Giải pháp về thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp 65

3.5.3 Giải pháp cải tạo, nâng cấp hệ thống thuỷ lợi 66

3.5.4 Giải pháp trồng rừng, nâng cao độ che phủ đất 66

3.5.5 Giải pháp về vốn đầu tư 67

3.5.6 Giải pháp về tổ chức 67

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Tăng tưởng kinh tế huyện Phú Bình giai đoạn 2001 – 2010 36

Bảng 3.2: Hiện trạng sử dụng đất năm 2010 huyện Phú Bình 37

Bảng 3.3: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2010 huyện Phú Bình 40

Bảng 3.4: Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp huyện Phú Bình giai đoạn 2001 – 2010 42

Bảng 3.5: Chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp đến năm 2010 44

Bảng 3.6: So sánh diện tích các loại đất sau 10 năm thực hiện quy hoạch 45

Bảng 3.7: So sánh diện tích đất sản xuất nông nghiệp trước và sau 10 năm thực hiện quy hoạch sử dụng đất 47

Bảng 3.8: Kết quả thực hiện chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp huyện Phú Bình giai đoạn 2001 - 2010 48

Bảng 3.9 Kết quả khai hoang mở rộng diện tích đất sản xuất nông nghiệp 50

Bảng 3.10: Kết quả thâm canh tăng vụ và chuyển đổi cơ cấu cây trồng 50

Bảng 3.11: Cơ cấu kinh tế huyện Phú Bình qua các năm 2001 – 2010 53

Bảng 3.12: So sánh giá trị sản xuất các ngành kinh tế 54

Bảng 3.13: GTSX, cơ cấu của ngành nông nghiệp giai đoạn 2001 - 2010 55

Bảng 3.14: So sánh diện tích một số cây trồng chính trước và sau 10 năm thực hiện quy hoạch 56

Bảng 3.15: So sánh năng xuất một số cây trồng chính trước và sau 10 năm thực hiện quy hoạch 57

Bảng 3.16: So sánh sản lượng một số cây trồng chính trước và sau 10 năm thực hiện quy hoạch 59

Bảng 3.17: Một số chỉ tiêu bình quân /đầu người trên địa bàn huyện 62

Trang 9

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1: Tăng tưởng kinh tế huyện Phú Bình giai đoạn 2001 – 2010 36

Biểu đồ 3.2: Cơ cấu các nhóm đất chính của huyện Phú Bình 38

Biểu đồ 3.3: So sánh diện tích các loại đất năm 2001 và năm 2010 45

Biểu đồ 3.4: Cơ cấu kinh tế huyện Phú Bình qua các năm 2001 - 2010 52

Trang 10

MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai có vai trò quan trọng đối với mỗi quốc gia vì nó là nền tảng, là môi trường sống của con người Với sản xuất nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất không thể thay thế được, không có đất thì không có sản xuất nông nghiệp Chính vì vậy, sử dụng đất là một phần hợp thành của chiến lược nông nghiệp sinh thái và phát triển bền vững (Đặng Kim Sơn, Trần Công Thắng (2001) [6]

Nông nghiệp là hoạt động sản xuất cổ nhất và cơ bản nhất của loài người (Nguyễn Văn Bộ (2000) [14] Hầu hết các nước trên thế giới đều phải xây dựng một nền kinh tế xuất phát từ phát triển nông nghiệp, dựa vào khai thác các tiềm năng của đất, lấy đó làm cơ sở phát triển các ngành khác

Vì vậy, việc tổ chức sử dụng nguồn tài nguyên đất đai hợp lý, có hiệu quả theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững đang trở thành vấn đề toàn cầu Điều mà các nhà khoa học trên thế giới quan tâm là làm thế nào để sản xuất ra nhiều lương thực, thực phẩm đáp ứng cho nhu cầu trong khuôn khổ

xã hội và kinh tế có thể thực hiện được Nói cách khác, mục tiêu hiện nay của loài người là phấn đấu xây dựng một nền nông nghiệp toàn diện về kinh

tế - xã hội, môi trường một cách bền vững

Trong điều kiện các nguồn tài nguyên để sản xuất có hạn, diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do sức ép của quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và sự gia tăng dân số thì mục tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là hết sức cần thiết, tạo ra giá trị lớn về kinh tế đồng thời tạo

đà cho phát triển nông nghiệp bền vững Chính vì vậy, phát triển nông nghiệp

hàng hóa là một nội dung trong Nghị quyết Đ ạ i hội X của Đảng: “Xây dựng nền nông nghiệp hàng hóa mạnh, đa dạng và bền vững dựa trên cơ sở phát huy các lợi thế so sánh, áp dụng khoa học công nghệ, làm ra sản phẩm chất lượng cao đáp ứng nhu cầu đa dạng trong nước và tăng khả năng cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường Quốc tế; nâng cao hiệu quả sử dụng đất, lao động, vốn; tăng thu nhập và đời sống nhân dân” Văn kiện đại hội Đảng

Trang 11

lần thứ 10 (2006) [24] Cuộc khủng hoảng lương thực toàn cầu diễn ra gần

đây đã gây sức ép rất lớn đến vấn đề sản xuất lương thực hiện nay Nhiều nước trong đó có Việt Nam đang phải nhìn lại vấn đề sử dụng đất để đáp ứng mục tiêu phát triển cân đối giữa công nghiệp và nông nghiệp Ngày 18/04/2008, chính phủ đã ban hành Quyết định 391/QĐ-TTg về rà soát, kiểm tra thực trạng việc quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 5 năm

từ 2005 – 2010 trên địa bàn cả nước, trong đó tập trung vào đất nông nghiệp nói chung và đất chuyên trồng lúa nước nói riêng (Nguyễn Tấn

Dũng (2008) [12] Tại khoản 1 điều 3, Quyết định nêu rõ: “Hạn chế tối đa việc chuyển đất trồng lúa nước sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp Không xét quy hoạch chuyển đất trồng lúa nước sang sử dụng vào mục đích sản xuất dịch vụ phi nông nghiệp ở những địa phương có điều kiện sử dụng các loại đất này” (Nguyễn Tấn Dũng (2008) [12] Điều đó một lần nữa

khẳng định xu hướng phát triển nông nghiệp hàng hoá bền vững là hướng đi tất yếu đảm bảo phát triển đất nước lâu dài, ổn định

Phú Bình là một huyện trung du nằm phía Đông Nam của tỉnh Thái Nguyên, cách thủ đô Hà Nội khoảng 80km Phía Bắc giáp huyện Đồng Hỷ, phía Đông Nam giáp huyện Hiệp Hoà (tỉnh Bắc Giang), phía Tây giáp thành phố Thái Nguyên, phía Tây Nam giáp huyện Phổ Yên Với tổng diện tích tự nhiên của huyện là 25.171,49 ha (số liệu tổng kiểm kê đất đai năm 2010), sản xuất nông nghiệp là nguồn thu chủ yếu của nhân dân trong huyện Hiện nay,

áp lực về vấn đề lương thực đã giảm xuống, tình trạng độc canh cây lúa ngày càng thu hẹp Chuyển dịch cơ cấu giống cây trồng diễn ra hầu hết ở các xã trong huyện Từ đó tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá góp phần hình thành một nền kinh tế mới - kinh tế hàng hoá Từ những vấn đề khoa học và thực tiễn sản xuất đang diễn ra ở huyện Phú Bình như đã trình bày ở trên, để góp phần thực hiện thành công các mục tiêu phát triển nông nghiệp của huyện đến năm

2015 và mục tiêu lâu dài nhằm khai thác tốt nhất phát triển nền sản xuất nông

nghiệp Chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả sử

dụng đất sản xuất nông nghiệp sau 10 năm thực hiện quy hoạch sử dụng đất huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên”

Trang 12

1.2 Mục đích nghiên cứu

- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp huyện Phú Bình

- Đề xuất định hướng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trong kỳ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020

- Các giải pháp đề xuất phải có cơ sở khoa học và phải có tính thực thi

1.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

1.4.1 Ý nghĩa khoa học

- Đề tài nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên cơ sở thực hiện quy hoạch sử dụng đất của huyện Phú Bình, nhằm đề xuất giải pháp quy hoạch sử dụng đất kỳ tiếp theo của địa phương

- Những kết quả khoa học thu được thông qua thực hiện đề tài sẽ bổ sung cơ sở thực tiễn để đánh giá chung tác động của việc quy hoạch sử dụng đất đến hiệu quả sử dụng đất

1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả của đề tài ngoài việc đóng góp để định hướng xây dựng quy hoạch sử dụng đất, phát triển sản xuất nông nghiệp, còn là tài liệu tham khảo trong công tác quản lý ở địa phương

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Một số vấn đề lý luận về sử dụng đất

1.1.1 Những vấn đề về quy hoạch sử dụng đất

1.1.1.1 Khái niệm về quy hoạch sử dụng đất

Quy hoạch sử dụng đất là hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và pháp chế của Nhà nước về tổ chức, sử dụng và quản lý đất đai đầy đủ, hợp lý, khoa học và có hiệu quả cao nhất thông qua việc phân bổ quỹ đất đai (khoanh định cho các mục đích và các ngành) và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất (các giải pháp sử dụng đất cụ thể), nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất của

xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất đai và môi trường

Về thực chất quy hoạch sử dụng đất là quá trình hình thành các quyết định nhằm tạo điều kiện đưa đất đai vào sử dụng bền vững để mang lại lợi ích cao nhất, thực hiện đồng thời hai chức năng: Điều chỉnh các mối quan hệ đất đai và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất đặc biệt với mục đích nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội kết hợp bảo vệ đất và môi trường

Quy hoạch sử dụng đất nhằm định hướng cho các cấp, các ngành trên địa bàn lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất chi tiết của mình; Xác lập sự ổn định về mặt pháp lý cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai; Làm cơ sở để tiến hành giao cấp đất và đầu tư để phát triển sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực, phục vụ các nhu cầu dân sinh, văn hoá - xã hội Mặt khác, quy hoạch sử dụng đất còn là biện pháp hữu hiệu của Nhà nước nhằm tổ chức lại việc sử dụng đất theo đúng mục đích, hạn chế sự chồng chéo gây lãng phí đất đai, tránh tình trạng chuyển mục đích tuỳ tiện, làm giảm sút nghiêm trọng quỹ đất nông, lâm nghiệp (đặc biệt là diện tích trồng lúa và đất rừng); Ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực, tranh chấp, lấn chiếm huỷ hoại đất, phá vỡ cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi trường dẫn đến những tổn thất hoặc kìm hãm sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội và các hậu quả khó lường về những tình hình bất ổn định chính trị, an ninh quốc phòng ở từng địa phương

Trang 14

1.1.1.2 Đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất

Quy hoạch sử dụng đất thuộc loại quy hoạch có tính lịch sử - xã hội, tính khống chế vĩ mô, tính chỉ đạo, tính tổng hợp trung và dài hạn, là bộ phận hợp thành quan trọng của hệ thống kế hoạch phát triển xã hội và kinh tế quốc dân

* Tính lịch sử - xã hội: Lịch sử phát triển của xã hội chính là lịch sử phát

triển của quy hoạch sử dụng đất Quy hoạch sử dụng đất thể hiện đồng thời là yếu tố thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, vừa là yếu tố thúc đẩy các mối quan hệ sản xuất, vì vậy nó luôn là một bộ phận của phương thức sản xuất của

xã hội Ở nước ta, quy hoạch sử dụng đất phục vụ nhu cầu của người sử dụng đất và quyền lợi của toàn xã hội; Góp phần tích cực thay đổi quan hệ sản xuất

ở nông thôn; Nhằm sử dụng, bảo vệ đất và nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội

* Tính tổng hợp: Quy hoạch tổng hợp toàn bộ nhu cầu sử dụng đất; Điều

hoà các mâu thuẫn về đất đai của các ngành, lĩnh vực; Xác định và điều phối phương hướng, phương thức phân bố sử dụng đất phù hợp với mục tiêu kinh

tế - xã hội, bảo đảm cho nền kinh tế quốc dân luôn phát triển bền vững, đạt tốc độ cao và ổn định

* Tính dài hạn: Quy hoạch dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu đất để phát

triển lâu dài kinh tế - xã hội Cơ cấu và phương thức sử dụng đất được điều chỉnh từng bước trong thời gian dài (cùng với quá trình phát triển dài hạn kinh

tế - xã hội) cho đến khi đạt được mục tiêu dự kiến Thời hạn (xác định phương hướng, chính sách và biện pháp sử dụng đất để phát triển kinh tế và hoạt động xã hội) của quy hoạch sử dụng đất thường từ trên 10 năm đến 20 năm hoặc lâu hơn

* Tính chiến lược và chỉ đạo vĩ mô: Với đặc tính trung và dài hạn, quy hoạch

sử dụng đất đai chỉ dự kiến trước được các xu thế thay đổi phương hướng, mục tiêu, cơ cấu và phân bố sử dụng đất (mang tính đại thể, không dự kiến được các hình thức và nội dung cụ thể, chi tiết của sự thay đổi) Vì vậy, quy hoạch sử dụng đất là quy hoạch mang tính chiến lược, các chỉ tiêu của quy hoạch mang tính chỉ đạo vĩ mô, tính phương hướng và khái lược về sử dụng đất của các ngành

* Tính chính sách: Quy hoạch sử dụng đất thể hiện rất mạnh đặc tính

chính trị và chính sách xã hội Khi xây dựng phương án phải quán triệt các chính sách và quy định có liên quan đến đất đai của Đảng và Nhà nước, đảm

Trang 15

bảo thể hiện cụ thể trên mặt bằng đất đai các mục tiêu phát triển nền kinh tế quốc dân, phát triển ổn định kế hoạch kinh tế - xã hội; Tuân thủ các quy định, các chỉ tiêu khống chế về dân số, đất đai và môi trường sinh thái

* Tính khả biến: Quy hoạch sử dụng đất chỉ là một trong những giải pháp

biến đổi hiện trạng sử dụng đất sang trạng thái mới thích hợp hơn cho việc phát triển kinh tế trong một thời kỳ nhất định Quy hoạch sử dụng đất luôn là quy hoạch động, một quá trình lặp lại theo chiều xoắn ốc “quy hoạch - thực hiện - quy hoạch lại hoặc chỉnh lý - tiếp tục thực hiện ” với chất lượng, mức

độ hoàn thiện và tính phù hợp ngày càng cao

1.1.1.3 Sự cần thiết về pháp lý phải lập quy hoạch sử dụng đất

Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã nêu: “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm

bảo sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả” (chương II, điều 18)

- Điều 5 Luật Đất đai năm 2003 nêu rõ [10]:

+ Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu

+ Nhà nước thực hiện quyền định đoạt đối với đất đai

+ Nhà nước thực hiện quyền điều tiết các nguồn lợi từ đất đai thông qua các chính sách tài chính về đất đai

+ Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất thông qua hình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất đối với người đang sử dụng đất ổn định; quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất

- Điều 6 Luật Đất đai năm 2003, xác định một trong 13 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai là quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

- Nghị Quyết số 01/1997/QH9 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX thông qua tại kỳ họp thứ 11 về kế hoạch sử dụng đất

cả nước năm 2000 và đẩy mạnh công tác quy hoạch sử dụng đất các cấp đến năm 2010

Như vậy, để sử dụng và quản lý đất đai (thuộc sở hữu toàn dân, là tư liệu sản xuất đặc biệt) một cách tiết kiệm, hợp lý và có hiệu quả nhất thiết phải làm quy hoạch

Trang 16

1.1.1.4 Các loại hình quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Đối với Việt Nam, Luật Đất đai năm 2003 (Điều 25) quy định: quy

hoạch sử dụng đất được tiến hành theo lãnh thổ hành chính

(1) Quy hoạch sử dụng đất cả nước (gồm cả quy hoạch sử dụng đất các vùng kinh tế tự nhiên);

(2) Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh;

(3) Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện;

(4) Quy hoạch sử dụng đất cấp xã (không thuộc khu vực quy hoạch phát triển đô thị)

Trong nông nghiệp, quy hoạch sử dụng đất cho các vùng chuyên môn hoá - sản xuất hàng hoá có thể nằm gọn trong cấp vị lãnh thổ hoặc không trọn vẹn ở một đơn vị hành chính Do tính đặc thù của sản xuất nông nghiệp, ngoài sản phẩm chuyên môn hóa phải kết hợp phát triển tổng hợp để sử dụng đầy đủ

và hợp lý đất đai

1.1.1.5 Kế hoạch sử dụng đất

Quy hoạch sử dụng đất được phân kỳ, thực hiện theo kế hoạch 5 năm

Kế hoạch sử dụng đất cũng được lập theo cấp lãnh thổ hành chính, phải cụ thể hoá các mục tiêu vĩ mô, cùng với việc xử lý các mục tiêu cụ thể của địa phương và các vấn đề cụ thể của từng chủ sử dụng đất khác nhau trên địa bàn

Kế hoạch sử dụng đất phải gắn với kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, dựa trên mục đích chung vì lợi ích lâu dài phát triển kinh tế – xã hội nhằm thoả mãn nhu cầu của nhân dân về tinh thần và vật chất Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội là tiền đề của kế hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất là

sự tiếp tục của kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội nhằm bố trí không gian thống nhất đối với các hạng mục liên quan đến đất đai (xây dựng, khai hoang, chuyển mục đích sử dụng đất ) trong thời kỳ kế hoạch

1.1.1.6 Tình hình triển khai quy hoạch sử dụng đất trong nước

Thời kỳ trước Luật Đất đai năm 1993

Trước những năm 80 quy hoạch sử dụng đất đai chưa được coi là công tác của Ngành quản lý đất đai mà chỉ được đề cập tới như là một phần của quy hoạch phát triển ngành nông - lâm nghiệp Các phương án phân vùng nông - lâm nghiệp đã đề cập tới phương hướng sử dụng tài nguyên đất trong đó có tính

Trang 17

toán quỹ đất nông nghiệp, lâm nghiệp và coi đây là phần quan trọng Tuy nhiên, do còn thiếu các tài liệu điều tra cơ bản và chưa tính được khả năng đầu

tư nên tính khả thi của phương án còn thấp

Trong thời gian từ năm 1981 đến năm 1986 các Bộ, Ngành, các tỉnh, thành phố đã tham gia triển khai chương trình lập Tổng sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất ở Việt Nam đến năm 2000, các huyện trong tỉnh, bước đầu đánh giá được hiện trạng, tiềm năng và đưa ra các phương hướng sử dụng quỹ đất quốc gia đến năm 2000 Từ năm 1987 đến trước Luật Đất đai năm 1993, thời kỳ này công cuộc đổi mới nông thôn diễn ra sâu sắc, công tác quy hoạch sử dụng đất đai cấp xã nổi lên như một vấn đề cấp bách về giao đất, cấp đất Đây cũng là mốc đầu tiên triển khai quy hoạch sử dụng đất đai cấp xã trên phạm vi cả nước

Thời kỳ sau Luật Đất đai 1993 đến trước Luật Đất đai năm 2003

Sau Đại hội Đảng lần thứ VII năm 1992, Nhà nước ta triển khai công tác nghiên cứu chiến lược phát triển, quy hoạch tổng thể kinh tế, xã hội ở hầu hết

53 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung Ương, các vùng kinh tế Đây là mốc bắt đầu của thời kỳ đưa công tác quản lý đất đai vào nề nếp Từ năm 1994, Chính phủ đã cho triển khai xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai cả nước đến năm 2010, và được Quốc hội khoá IX thông qua kế hoạch sử dụng đất đai

5 năm (1996 - 2000) Năm 2000, Chính phủ đã chỉ đạo Tổng cục Địa chính (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai đến năm 2010

Thời kỳ sau Luật Đất đai năm 2003

Trong Luật Đất đai năm 2003 quy định rõ nội dung việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của các cấp Đối với kỳ quy hoạch sử dụng đất của cả nước, cấp tỉnh, cấp xã là 10 năm và kỳ kế hoạch sử dụng đất là 5 năm Việc lập bản

đồ hiện trạng sử dụng đất là 5 năm một lần gắn với việc kiểm kê đất đai để phục vụ cho việc quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được tốt hơn Bản

đồ quy hoạch sử dụng đất được lập 10 năm một lần gắn với kỳ quy hoạch sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất cấp xã phải được lập trên nền bản đồ địa chính Bộ Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo việc khảo sát, đo đạc, lập và quản lý bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ quy hoạch sử dụng đất trong

Trang 18

phạm vi cả nước và tổ chức thực hiện việc lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ quy hoạch sử dụng đất của cả nước UBND các cấp có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch sử dụng đất của địa phương mình

1.1.2 Những vấn đề về sử dụng đất nông nghiệp

1.1.2.1 Đất nông nghiệp và tình hình sử dụng đất nông nghiệp

Lịch sử của thế giới đã chứng minh bất kỳ nước nào dù là nước phát triển hay đang phát triển thì sản xuất nông nghiệp đều có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, tạo ra sự ổn định xã hội và mức an toàn lương thực quốc gia Đối với các nước đang phát triển, sản phẩm nông nghiệp còn là nguồn tạo ra thu nhập ngoại tệ Tuỳ theo lợi thế của mình, mà mỗi nước có thể lựa chọn những nông sản phù hợp để xuất khẩu thu ngoại

tệ hay trao đổi lấy sản phẩm công nghiệp để đầu tư lại cho nông nghiệp

và các ngành khác trong nền kinh tế quốc dân

Theo Luật đất đai năm 2003, đất nông nghiệp được chia ra làm các nhóm đất chính sau: đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng

thuỷ sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác (Luật đất đai 2003 [10]) Sự

phân chia cụ thể này sẽ giúp cho việc khai thác tiềm năng và nâng cao hiệu quả sử dụng của từng loại đất

Cùng với việc phát triển mạnh mẽ kinh tế - xã hội, công nghệ, khoa học

và kỹ thuật, công năng của đất được mở rộng và có vai trò quan trọng đối với cuộc sống của con người Nhân loại đã có những bước tiến kỳ diệu làm thay đổi bộ mặt trái đất và mức sống hằng ngày Nhưng do chạy theo lợi nhuận tối đa cục bộ không có một chiến lược phát triển chung nên đã gây ra những hậu quả tiêu cực như: ô nhiễm môi trường, thoái hoá đất… Hàng năm gần 12 triệu ha rừng nhiệt đới bị tàn phá ở Châu Mỹ La Tinh và Châu Á Cân bằng sinh thái bị phá vỡ, hàng triệu ha đất đai bị hoang mạc hoá (Trần

An Phong và cộng sự (1996) [18] Sự thoái hoá đất đai tập trung chủ yếu ở các nước đang phát triển Theo kết quả điều tra của Liên Hợp Quốc (UNDP)

và Trung tâm Thông tin nghiên cứu đất quốc tế (ISRIC), thế giới có khoảng 13,4 tỷ ha đất thì đã có khoảng 2 tỷ ha đất bị hoang hoá ở các mức độ khác nhau trong đó Châu Á và Châu Phi là 1,2 tỷ ha chiếm 62% tổng diện tích bị thoái hoá (Đỗ Nguyên Hải (1999) [5]

Trang 19

Theo Tổ chức WorlkBank, hàng năm mức sản xuất so với yêu cầu sử dụng lương thực vẫn thiếu hụt từ 150 - 200 triệu tấn, trong khi đó vẫn có 6 - 7 triệu ha đất canh tác bị mất khả năng sản xuất, bị xói mòn Trong 1.200 triệu ha đất bị thoái hoá có tới 544 triệu ha đất canh tác bị mất khả năng sản xuất do sử dụng không hợp lý

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2010, Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên là 331.211 km2, dân số là 85.846.997 người (tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009), mật độ dân số 259 người/km2

Bình quân diện tích đất

tự nhiên là 3.858 m2/người đứng thứ 9 trong khu vực Trong đó đất nông nghiệp chỉ có 24.997,2 nghìn ha, bình quân diện tích đất nông nghiệp là 2.899,55 m2/người, giá trị sản xuất nông lâm nghiệp, thủy sản đạt 407.647 tỷ đồng, trong đó sản xuất nông nghiệp là 319.047 tỷ đồng, lâm nghiệp là 14.498 tỷ đồng, thủy sản là 74.102 tỷ đồng

1.1.2.2 Những vấn đề về hiệu quả sử dụng đất và đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

*) Khái quát về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

Hiệu quả sử dụng đất là chỉ tiêu chất lượng đánh giá kết quả sử dụng đất trong hoạt động kinh tế, thể hiện qua lượng sản phẩm, lượng giá trị thu được bằng tiền Đồng thời về mặt hiệu quả xã hội là thể hiện mức thu hút lao động trong quá trình hoạt động kinh tế để khai thác sử dụng đất hiệu quả sử dụng đất là kết quả của cả một hệ thống các biện pháp tổ chức sản xuất, khoa học, kỹ thuật, quản lý kinh tế và phát huy các lợi thế, khắc phục các khó khăn khách quan của điều kiện tự nhiên, trong những hoàn cảnh cụ thể còn gắn sản xuất nông nghiệp với các ngành khác của nền kinh tế quốc dân, gắn sản xuất

trong nước với thị trường quốc tế (Bách khoa toàn thư Việt Nam) [1]

Đối với ngành nông nghiệp, cùng với hiệu quả kinh tế về giá trị và hiệu quả về mặt sử dụng lao động trong nhiều trường hợp phải coi trọng hiệu quả về mặt hiện vật là sản lượng nông sản thu hoạch được, nhất là các loại nông sản cơ bản có ý nghĩa chiến lược (lương thực, sản phẩm xuất

khẩu…) để đảm bảo sự ổn định về kinh tế - xã hội của đất nước (Bách khoa toàn thư Việt Nam) [1]

Trang 20

Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng vật nuôi là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp

mà còn là mong muốn của nông dân - những người trực tiếp tham gia sản xuất nông nghiệp (Nguyễn Thị Vòng và cộng sự (2001) [15]

Hiện nay, các nhà khoa học đều cho rằng, vấn đề đánh giá hiệu quả sử dụng đất không chỉ xem xét đơn thuần ở một mặt hay một khía cạnh nào

đó mà phải xem xét trên tổng thể các mặt bao gồm: hiệu quả kinh tế, hiệu quả

xã hội và hiệu quả môi trường

*) Hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế là phạm trù chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới nền sản xuất hàng hoá với tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác nhau Vì thế, hiệu quả kinh tế phải đáp ứng được 3 vấn đề:

- Một là mọi hoạt động của con người đều phải quan tâm và tuân theo quy luật “tiết kiệm thời gian”;

- Hai là hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm của lý thuyết hệ thống;

- Ba là hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường các nguồn lực sẵn có phục

vụ các lợi ích của con người

Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả đạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ

ra là phần giá trị của nguồn lực đầu vào Mối tương quan đó cần xem xét cả

về phần so sánh tuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng đó

*) Hiệu quả xã hội

Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt

xã hội và tổng chi phí bỏ ra Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau và là một phạm trù thống nhất Theo Ngu yễn

Trang 21

Duy Tính [13], hiệu quả về mặt xã hội của sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp

Hiệu quả xã hội được thể hiện thông qua mức thu hút lao động, thu nhập của nhân dân Hiệu quả xã hội cao góp phần thúc đẩy xã hội phát triển, phát huy được nguồn lực của địa phương, nâng cao mức sống của nhân dân Sử dụng đất phải phù hợp với tập quán, nền văn hoá của địa phương thì việc sử dụng đất bền vững hơn

*) Hiệu quả môi trường

Hiệu quả môi trường là môi trường được sản sinh do tác động của sinh vật, hoá học, vật lý , chịu ảnh hưởng tổng hợp của các yếu tố môi trường của các loại vật chất trong môi trường

Hiệu quả môi trường được thể hiện ở chỗ: loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ màu mỡ của đất đai, ngăn chặn được sự thoái hoá đất bảo vệ môi trường sinh thái Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%) đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài (Bùi Huy Hiền, Nguyễn Văn Bộ (2001) [14]

Ngoài ra hiệu quả môi trường được phân ra theo nguyên nhân gây nên, gồm: hiệu quả hoá học, hiệu quả vật lý và hiệu quả sinh học môi trường (Đỗ Nguyên Hải (1999) [5]

Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả hoá học môi trường được đánh giá thông qua mức độ sử dụng các chất hoá học trong nông nghiệp Đó là việc sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong quá trình sản xuất đảm bảo cho cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt, cho năng suất cao và không gây ô nhiễm môi trường

1.2 Nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp

1.2.1 Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp

Đất đai là nguồn tài nguyên có hạn trong khi nhu cầu của con người được lấy từ đất ngày càng tăng, mặt khác đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do bị chuyển sang sử dụng vào mục đích khác Vì vậy, sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta với mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế, xã hội trên cơ sở đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm, bảo vệ, khôi phục và phát triển rừng, tăng cường

Trang 22

nguyên liệu cho công nghiệp, đảm bảo khả năng phòng hộ môi trường, bảo vệ tính đa dạng sinh học, bảo vệ hệ động thực vật quý hiếm của rừng, phát triển công nghệ chế biến vừa và nhỏ với thiết bị công nghệ tiên tiến, khai thác tiềm năng lao động, giải quyết công ăn việc làm góp phần xoá đói giảm nghèo, thu hút các nguồn lực đầu tư, nâng cao vai trò và giá trị đóng góp của ngành nông nghiệp vào phát triển kinh tế quốc dân Do đó, đất nông nghiệp cần được sử dụng theo nguyên tắc "đầy đủ, hợp lý và hiệu quả"

- Đầy đủ: Đây là nguyên tắc quan trọng, đảm bảo diện tích đất canh tác

luôn đáp ứng được như cầu về an toàn lương thực, diện tích đất lâm nghiệp đáp ứng được tiêu chuẩn của môi trường sinh thái được bền vững cũng như nhu cầu sinh hoạt của con người

- Hợp lý: Đây là nguyên tắc giúp cho việc khai thác, sử dụng đất đạt hiệu

quả cao nhưng vẫn đảm bảo được tính an toàn và bền vững

- Hiệu quả: Trong khai thác và quản lý sử dụng đất tính hiệu quả luôn

được đặt lên hàng đầu, sao cho việc đầu tư ở mức thấp nhất nhưng mang lại hiệu quả cao nhất cả về kinh tế, xã hội và môi trường

1.2.2 Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp

Theo Chiến lược phát triển nông nghiệp - nông thôn Việt Nam đến năm

2010 [4] quan điểm sử dụng đất nông nghiệp là:

- Tận dụng triệt để các nguồn lực thuận lợi, khai thác lợi thế so sánh về khoa học - kỹ thuật, đất đai, lao động để phát triển cây trồng, vật nuôi có tỷ xuất hàng hoá cao, tăng sức cạnh tranh và hướng tới xuất khẩu

- Áp dụng phương thức sản xuất nông - lâm kết hợp, lựa chọn các loại hình sử dụng đất thích hợp, đa dạng hoá sản phẩm, chống xói mòn, thâm canh sản xuất bền vững

- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông - lâm nghiệp trên cơ sở thực hiện

đa dạng hoá cây trồng vật nuôi, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp với sinh thái và bảo vệ môi trường

- Phát triển nông nghiệp một cách toàn diện và có hệ thống trên cơ sở chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển theo chiều sâu, đáp ứng yêu cầu đa dạng hoá của nền kinh tế quốc dân

Trang 23

- Phát triển nông nghiệp toàn diện gắn liền với việc xoá đói giảm nghèo, giữ vững ổn định chính trị, an ninh quốc phòng và phát huy nền văn hoá truyền thống của các dân tộc, không ngừng nâng cao vai trò nguồn lực của con người

- Phát triển kinh tế nông nghiệp trên cơ sở áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất

- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của địa phương phải gắn liền với định hướng phát triển kinh tế, xã hội của vùng và cả nước

1.2.3 Những yếu tố ảnh hưởng tới việc sử dụng đất nông nghiệp

Phạm vi sử dụng đất, cơ cấu và phương thức sử dụng đất một mặt bị chi phối bởi các điều kiện và quy luật sinh thái tự nhiên, mặt khác bị kiềm chế bởi các điều kiện, quy luật kinh tế, xã hội và các yếu tố kỹ thuật Vì vậy, có thể khái quát những điều kiện và nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng đất theo bốn nội dung sau đây:

*) Nhóm các yếu tố về điều kiện tự nhiên

Điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu, thời tiết ) là yếu tố cơ bản để xác định công dụng của đất đai, có ảnh hưởng trực tiếp, cụ thể và sâu sắc, nhất là đối với sản xuất nông nghiệp Đặc thù của điều kiện tự nhiên mang tính khu vực, vị trí địa lý của vùng với sự khác biệt về điều kiện ánh sáng, nhiệt độ, nguồn nước và các điều kiện tự nhiên khác sẽ quyết định đến khả năng, công dụng và hiệu quả sử dụng đất Vì vậy, trong thực tiễn sử dụng đất cần tuân thủ quy luật tự nhiên, tận dụng các lợi thế nhằm đạt hiệu quả cao nhất về kinh tế,

xã hội và môi trường

*) Nhóm các yếu tố về điều kiện kinh tế, xã hội

Bao gồm các yếu tố như chế độ xã hội, dân số và lao động, thông tin và quản lý, chính sách môi trường, chính sách đất đai, sức sản xuất và trình độ phát triển của kinh tế hàng hoá, cơ cấu kinh tế và phân bố sản xuất, các điều kiện về nông nghiệp, thương nghiệp, giao thông, sự phát triển của khoa học kĩ thuật, trình độ quản lý, sử dụng lao động, áp dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất

Điều kiện kinh tế, xã hội thường có ý nghĩa quyết định, chủ đạo đối với việc sử dụng đất đai Thực vậy, phương hướng sử dụng đất được quyết định bởi yêu cầu của xã hội và mục tiêu kinh tế trong từng thời kỳ nhất định Việc

Trang 24

sử dụng đất đai như thế nào được quyết định bởi sự năng động của con người

và các điều kiện kinh tế, xã hội, kĩ thuật hiện có; quyết định bởi tính hợp lý, tính khả thi về kinh tế kĩ thuật; quyết định bởi nhu cầu của thị trường

*) Nhóm các yếu tố về kỹ thuật canh tác

Biện pháp kỹ thuật canh tác là các tác động của con người vào đất đai, cây trồng, vật nuôi nhằm tạo nên sự hài hoà giữa các yếu tố của các quá trình sản xuất để đạt hiệu quả kinh tế cao Trên cơ sở nghiên cứu các quy luật tự nhiên của sinh vật để lựa chọn các tác động kĩ thuật, lựa chọn chủng loại và cách sử dụng các đầu vào nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế đề ra Tuy nhiên, việc ứng dụng các biện pháp kỹ thuật tiến bộ trong canh tác còn phụ thuộc rất lớn vào trình độ đầu tư các cơ sở kinh tế, hạ tầng trong nông nghiệp Đây là những tác động thể hiện sự hiểu biết sâu sắc về đối tượng sản xuất, về thời tiết, về điều kiện môi trường Theo Frank Ellis và Douglass C.North, ở các nước phát triển, khi có tác động tích cực của kĩ thuật, giống mới, thuỷ lợi, phân bón tới hiệu quả thì cũng đặt ra yêu cầu mới đối với việc tổ chức sử dụng đất Có nghĩa là ứng dụng công nghệ sản xuất tiến bộ là một đảm bảo vật chất cho kinh tế nông nghiệp tăng trưởng nhanh Cho đến giữa thế kỷ XXI, trong nông nghiệp nước

ta quy trình kỹ thuật có thể góp 30% năng suất kinh tế Như vậy, nhóm các biện pháp kĩ thuật đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong quá trình khai thác đất theo chiều sâu và nâng cao hiệu quả sử dụng đất

*) Nhóm các yếu tố kinh tế - tổ chức

- Việc quy hoạch và bố trí sản xuất:

Thực hiện phân vùng sinh thái nông nghiệp dựa vào điều kiện tự nhiên, dựa trên cơ sở phân tích, dự báo và đánh giá nhu cầu thị trường, gắn với quy hoạch phát triển công nghiệp chế biến, kết cấu hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực và các thể chế luật pháp về bảo vệ tài nguyên, môi trường Đó là cơ sở để phát triển hệ thống cây trồng, vật nuôi và khai thác đất một cách đầy đủ, hợp lý Đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để đầu tư thâm canh và tiến hành tập trung hoá, chuyên môn hoá, hiện đại hoá nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông lâm nghiệp

Trang 25

- Hình thức tổ chức sản xuất:

Các hình thức tổ chức sản xuất có ảnh hưởng trực tiếp đến việc tổ chức khai thác và nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp Vì thế, phát huy thế mạnh của các loại hình tổ chức sử dụng đất trong từng cơ sở sản xuất là rất cần thiết Muốn vậy cần phải thực hiện đa dạng hoá các hình thức hợp tác trong nông nghiệp, xác lập một hệ thống tổ chức sản xuất phù hợp và giải quyết tốt mối quan hệ giữa các hình thức đó

1.2.4 Đặc điểm đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có thể xem xét ở các mặt sau:

- Quá trình sản xuất trên đất nông nghiệp phải sử dụng nhiều yếu tố đầu vào khác nhau như tiền vốn, giống cây, phân bón, nước tưới, lao động Vì thế, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trước tiên phải được xác định bằng kết quả thu được trên một đơn vị diện tích cụ thể (thường là 1 ha)

- Trên đất nông nghiệp có thể bố trí các cây trồng, các hệ thống luân canh,

do đó cần đánh giá hiệu quả của từng loại cây trồng

- Phát triển nông nghiệp chỉ có thể thích hợp khi con người biết cách làm cho môi trường cùng phát triển Do đó, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông

- lâm nghiệp cần quan tâm đến những ảnh hưởng của sản xuất nông - lâm nghiệp đến môi trường xung quanh

- Hoạt động sản xuất nông nghiệp mang tính chất xã hội sâu sắc Vì vậy, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần quan tâm đến những tác động của sản xuất nông nghiệp đến các vấn đề xã hội như giải quyết việc làm, tăng thu nhập, nâng cao trình độ dân trí

1.2.5 Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

Trong quá trình sử dụng đất, tiêu chuẩn cơ bản và tổng quát khi đánh giá hiệu quả là mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội và sự tiết kiệm lớn nhất về chi phí các nguồn tài nguyên, sự ổn định lâu dài của hiệu quả Do đó, tiêu chuẩn đánh giá việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên đất nông - lâm nghiệp là mức độ tăng thêm các kết quả sản xuất trong điều kiện nguồn lực hiện có hoặc mức tiết kiệm về chi phí các nguồn lực khi sản xuất ra một khối lượng nông - lâm sản nhất định

Trang 26

Tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là mức đạt được các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

có ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp, đến môi trường sinh thái, đến đời sống người nông dân Vì vậy, đánh giá hiệu quả sử dụng đất phải theo quan điểm sử dụng đất bền vững hướng vào ba tiêu chuẩn chung là bền vững về mặt kinh tế, xã hội và môi trường

1.3 Một số định hướng phát triển nền nông nghiệp

Trong thế kỷ 21, nông nghiệp Việt Nam giữ một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, tạo việc làm và thu nhập cho hơn 54,2% lực lượng lao động cả nước, đảm bảo đời sống cho 70% dân số, giữ gìn và bảo vệ các nguồn tài nguyên môi trường sinh thái Đứng trước những cơ hội cũng như thử thách mới, ngành nông nghiệp đã xác định rõ: tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, phấn đấu xây dựng nhiều cánh đồng, trang trại, hộ nông dân đạt 50 triệu đồng/ha/năm Tốc độ tăng trưởng giá trị nông nghiệp tăng 3,5%, sản lượng lương thực có hạt đạt trên 40 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt trên 4,5 tỷ USD Để khuyến khích sự phát triển của nền nông nghiệp hàng hóa, Chính phủ ban hành một số chính sách

về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp Theo đó

10 năm tới ngành sản xuất nông nghiệp nước ta cần phát triển theo định hướng sau:

* Về sản xuất lương thực: Lúa gạo là ngành sản xuất có thế mạnh

Mức sản lượng lúa ổn định khoảng 33 triệu tấn/năm Cây màu lương thực chủ yếu là ngô, cần phát triển đạt mức 5 - 6 triệu tấn/năm đủ nguyên liệu làm thức ăn chăn nuôi

* Về cây công nghiệp ngắn ngày: Phát triển mạnh cây có dầu (lạc, đậu

tương, vừng, hướng dương ) để cung cấp dầu ăn, các loại cây có sợi (dâu tằm, bông ) gắn với ngành ươm tơ dệt lụa

* Những cây công nghiệp lâu năm truyền thống có giá trị kinh tế cao,

tập trung phát triển cà phê, chè sản lượng cà phê trong tương lai giữ mức khoảng 600.000 tấn/năm Phát triển mạnh cây điều ở miền trung, diện tích cây cao su Bên cạnh đó phát triển mạnh công nghiệp chế biến các sản phẩm mủ từ cao su, gỗ cao su

Trang 27

* Về rau, hoa quả và cây cảnh, ngoài các loại rau truyền thống, phát

triển các loại rau cao cấp mới như: Các loại đậu rau, ngô rau, măng, nấm ăn, nấm dược liệu… là những loại rau có giá trị dinh dưỡng cao, có thị trường tiêu thụ, tiếp tục phát triển các loại cây ăn quả có khả năng xuất khẩu: vải, nhãn, dứa, thanh long… gắn với công nghiệp chế biến

* Về lâm nghiệp: ngoài việc bảo vệ, khoanh nuôi, tái sinh, trồng rừng

phòng hộ, cần phát triển rừng sản xuất Cụ thể là phát triển các loại tre trúc, keo thông, các loại bạch đàn… làm nguyên liệu cho phát triển ngành giấy Tiếp tục phát triển các ngành sản xuất gỗ ván nhân tạo gồm ván ghép thành, ván dăm, ván sợi, công nghiệp chế biến và xuất khẩu gỗ, thủ công mỹ nghệ… Phát triển các loại quế hồi… các loại cây quý hiếm như giáng hương, sao, lim, lat, pơmu, tếch… các loại cây đặc sản, cây lấy gỗ để làm nguyên liệu để chế biến sản phẩm thủ công mỹ nghệ

* Về chăn nuôi: Phát triển đàn lợn phù hợp với nhu cầu của thị trường

tiêu dùng trong nước, một số vùng chăn nuôi lợn chất lượng cao để xuất khẩu Phát triển đàn bò sữa, nâng cao chất lượng và năng suất sữa Phát triển đàn gia cầm chủ yếu là chăn nuôi gà vịt ngan

* Về thuỷ sản: Cùng với việc phát triển đánh bắt xa bờ, tập trung đầu tư

phát triển bền vững ngành nuôi trồng thuỷ sản Tôm là ngành chủ lực trong nuôi trồng thuỷ sản gồm tôm nước lợ và tôm nước ngọt Đồng thời phát triển mạnh nuôi các loại cá nước ngọt, nước lợ, nước mặn và các loại đặc sản khác (Bộ NN & PTNT (2005) [3]

Ở Việt Nam, chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp đã góp phần làm tăng trưởng kinh tế trong nông nghiệp: năm 1990 - 1992 tăng 4,21%, GTSX nông nghiệp tăng 5,83%, trong đó trồng trọt tăng 5,88%, chăn nuôi tăng 5,98% Năm 2000, cơ cấu GTSX ngành nông nghiệp (tính theo giá hiện hành) cho thấy: ngành trồng trọt chiếm 79,39%, chăn nuôi chiếm 18,22%, dịch vụ chiếm 2,39% Cơ cấu GTSX ngành trồng trọt năm 2000 (tính theo giá cố định 1994) cây lương thực chiếm 63,7%, cây rau đậu chiếm 7,3%, cây công nghiệp chiếm 20,5% và cây ăn quả chiếm 7,5% Mặt khác, cơ cấu mùa vụ nhiều vùng đã có sự chuyển đổi, đã hình thành một số vùng chuyên canh tập trung sản xuất các sản phẩm nông nghiệp có chất lượng đáp ứng yêu cầu xuất khẩu (Vũ Thị Thanh Tâm (2007) [25]

Trang 28

1.4 Tình hình nghiên cứu hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam

Từ thời kỳ phong kiến, các triều đại Vua chúa nước ta đã thực hiện đạc điền, phân hạng đất theo kinh nghiệm nhằm quản lý đất đai cả về số lượng và chất lượng Năm 1092, nhà Lý lần đầu tiên đã tiến hành đạc điền, lập điền bạ, đánh thuế ruộng đất Thời nhà Lê vào thế kỷ XV, ruộng đất đã được phân chia tứ hạng điền (nhất đẳng điền, nhị đẳng điền, tam đẳng điền

và tứ đẳng điền) nhằm phục vụ cho chính sách quản điền và tô thuế Trong thời kỳ thống trị của thực dân Pháp, việc nghiên cứu đánh giá đất đã được tiến hành ở những vùng đất đai phì nhiêu, những vùng đất có khả năng khai phá với mục đích xác định tiềm năng sử dụng để lựa chọn đất lập đồn điền Năm 1995, Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp đã tổ chức Hội thảo quốc gia về đánh giá đất đai và quy hoạch sử dụng đất trên quan điểm sinh thái, phát triển bền vững Hội nghị đã tổng kết đánh giá việc ứng dụng quy trình đánh giá đất của F.A.O vào thực tiễn ở Việt Nam, nêu những vấn

đề cần tiếp tục nghiên cứu để sử dụng kết quả đánh giá đất vào công tác quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả Thông qua việc đánh giá khả năng thích hợp của đất đai để thấy tiềm năng đa dạng hoá của nông nghiệp, khả năng tăng vụ, lựa chọn hệ thống sử dụng đất, loại hình sử dụng đất phù hợp để tiến tới sử dụng đất hợp lý và có hiệu quả cao hơn

Đánh giá đất của F.A.O gồm 9 bước được vận dụng trong đánh giá đất đai từ các địa phương đến các vùng, miền trong toàn quốc Những công trình nghiên cứu được triển khai ở những vùng sinh thái lớn có đóng góp rất nhiều của các nhà nghiên cứu như:

+ Vùng đồi núi Tây Bắc và Trung du phía Bắc có Lê Duy Thước (1992), Lê Văn Khoa (1993), Lê Thái Bạt (1995) Các tác giả có những nhận định tổng quát về quỹ đất của vùng

+ Vùng đồng bằng sông Hồng với những công trình nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Công Pho, Lê Hồng Sơn (1995); Cao Liêm, Vũ Thị Bình, Nguyễn Đình Hà (1992-1993); Đỗ Nguyên Hải (1999) Trong chương trình nghiên cứu vận dụng phương pháp đánh giá đất của F.A.O thực hiện trên bản đồ tỷ lệ 1:250.000 cho phép đánh giá mức độ tổng hợp phục vụ quy hoạch tổng thể vùng đồng bằng sông Hồng

Trang 29

Định hướng phát triển nông nghiệp Việt Nam đến năm 2010 là "Xây dựng nền nông nghiệp tăng trưởng nhanh và bền vững theo hướng nền nông nghiệp sinh thái" Thực hiện đa canh, đa dạng hoá sản phẩm, kết hợp nông nghiệp, lâm nghiệp với công nghiệp chế biến, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, tăng nhanh nông sản hàng hoá, tăng cường xuất khẩu nâng cao đời sống nông dân và xây dựng nông thôn míi

Phương pháp đánh giá đất của F.A.O đã được các nhà khoa học đất Việt Nam bước đầu vận dụng thử nghiệm và đã có những kết quả đóng góp

để hoàn thiện từng bước Từ năm 1990 đến nay, Viện Quy hoạch và Thiết

kế nông nghiệp đã thực hiện nhiều công trình nghiên cứu đánh giá đất trên phạm vi toàn quốc với 9 vùng sinh thái và nhiều vùng chuyên canh theo các dự án đầu tư

Thực tế trong những năm qua nước ta đã quan tâm giải quyết tốt các vấn đề kỹ thuật và kinh tế, tổ chức trong sử dụng đất nông - lâm nghiệp Việc nghiên cứu và ứng dụng được tập trung vào các vấn đề như: lai tạo giống cây trồng mới có năng xuất cao, bố trí luân canh cây trồng vật nuôi, thực hiện thâm canh toàn diện, áp dụng khoa học, kỹ thuật vào sản xuất Trong nghiên cứu hệ thống sử dụng đất và các yếu tố sinh thái nông nghiệp phục vụ quy hoạch sử dụng đất trên quan điểm sinh thái và phát triển bền vững đã có nhiều công trình nghiên cứu trên các vùng sinh thái của cả nước Những công trình nghiên cứu về sử dụng đất chung trên phạm

vi cả nước với quan điểm này gồm: "Hệ sinh thái nông nghiệp" (Đào Thế Tuấn, 1984); "Khả năng phát triển nông nghiệp nước ta trong giai đoạn tới" (Tôn Thất Chiểu, 1992); "Chiến lược sử dụng, bảo vệ, bồi dưỡng đất đai và môi trường" (Nguyễn Vy, 1992)

Trang 30

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là đất sản xuất nông nghiệp và phương án quy hoạch sử dụng đất đai huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2001 - 2010 cùng các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tác động đến việc sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của huyện

- Phạm vi nghiên cứu

+ Phạm vi không gian: Địa bàn huyện Phú Bình Chọn các hộ điều tra

đại diện cho các tiểu vùng theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên Các hộ điều tra là những hộ tham gia trực tiếp sản xuất nông nghiệp thuộc 3 vùng, số

hộ điều tra là 48 hộ theo phương pháp điều tra phỏng vấn trực tiếp

+ Giới hạn về thời gian: Các số liệu thống kê được lấy tại 2 thời điểm

2001 và 2010 về diện tích đất đai, diện tích cây trồng và điều kiện kinh tế - xã hội của huyện

2.2 Nội dung nghiên cứu

- Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tác động đến việc sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của huyện

- Đánh giá biến động trong sử dụng đất sản xuất nông nghiệp sau 10 năm thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất đai của huyện Phú Bình

- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp sau 10 năm thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất đai của huyện Phú Bình

- Đề xuất phương hướng và các giải pháp nhằm nâng cao tính khả thi trong quy hoạch sử dụng đất nông - lâm nghiệp của huyện

Trang 31

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu tài liệu

- Nguồn số liệu thứ cấp: thu thập tư liệu, số liệu có sẵn từ các cơ quan

nhà nước, phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn, phòng Thống kê, phòng Kế hoạch - Tài chính

- Nguồn số liệu sơ cấp: nguồn số liệu sơ cấp được thu thập nhằm đánh

giá chi tiết tình hình sản xuất của nông hộ Thu thập bằng phương pháp điều tra nông hộ thông qua phiếu điều tra Phương pháp này cung cấp số liệu chi tiết về chi phí, thu nhập cũng như đặc điểm cơ bản của nông hộ, mức

độ thích hợp cây trồng đối với đất đai và ảnh hưởng đến môi trường

2.3.2 Phương pháp tổng hợp và xử lý tài liệu, số liệu

- Xử lý số liệu điều tra bằng phương pháp thống kê và sử dụng phần mềm Excel thông qua máy vi tính

2.3.3 Phương pháp điều tra có sự tham gia của người dân

Phương pháp này được sử dụng để điều tra phỏng vấn nông hộ được chọn tại xã điển hình theo mẫu phiếu điều tra nhằm đánh giá đúng đắn, chính xác, có cơ sở thực tế hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp huyện Phú Bình

2.3.4 Phương pháp minh họa bằng biểu đồ, bản đồ

- Phương pháp minh hoạ bằng bản đồ được ứng dụng để thể hiện các kết quả nghiên cứu thông qua bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2000, năm 2010 của huyện Phú Bình

- Phương pháp biểu đồ, đồ thị được ứng dụng để thể hiện một số kết quả nghiên cứu

2.4 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp

Để đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên các phương diện kinh tế, xã hội và môi trường chúng tôi sử dụng các chỉ tiêu sau:

Trang 32

*) Hiệu quả kinh tế

- Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tăng trưởng kinh tế

- Diện tích, năng xuất và sản lượng cây trồng

- Giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích (so sánh giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích trước và sau 10 năm thực hiện quy hoạch)

Giá trị sản xuất (GTSX) là toàn bộ giá trị sản phẩm được tạo ra trong một thời kỳ nhất định (thường là 1 năm)

Giá trị gia tăng (GTGT) là hiệu số giữa GTSX và chi phí trung gian (CPTG), là giá trị sản phẩm xã hội được tạo ra thêm trong thời kỳ sản xuất đó GTGT = GTSX - CPTG

CPTG là toàn bộ các khoản chi phí vật chất thường xuyên bằng tiền mà chủ thể bỏ ra để thuê và mua các yếu tố đầu vào và dịch vụ sử dụng trong quá trình sản xuất

*) Hiệu quả xã hội

- Mức thu hút lao động, mức độ sử dụng lao động, tạo việc làm, tăng thu nhập

- Đáp ứng nhu cầu về lương thực, thực phẩm

- Trình độ dân trí, hiểu biết xã hội

- Phù hợp với năng lực của nông hộ: về đất đai, vốn, kỹ thuật

- Được cộng đồng chấp nhận (phù hợp với tập quán địa phương)

Vũ Thị Bình (1993) [23]

*) Hiệu quả môi trường

Việc xác định hiệu quả về mặt môi trường trong quá trình sử dụng đất nông - lâm nghiệp là rất phức tạp, rất khó định lượng, đòi hỏi phải được nghiên cứu, phân tích trong một thời gian dài Vì vậy, đề tài nghiên cứu của chúng tôi chỉ dừng lại ở việc đánh giá hiệu quả môi trường thông qua một số chỉ tiêu như sau:

- Tăng độ che phủ đất

- Giảm thiểu xói mòn, thoái hoá đất

- Bảo vệ nguồn nước

- Nâng cao đa dạng sinh học của hệ sinh thái tự nhiên

Trang 33

Sơ đồ các bước tiến hành thực hiện đề tài

Điều tra nông hộ

- Điều kiện tự nhiên -kinh tế xã hội

- Đặc điểm về đất

- Hiện trạng sử dụng đất

Thực trạng phát triển nông lâm nghiệp

Đánh giá hiệu quả

xã hội

Đánh giá hiệu quả môi trường

- Bản đồ HTSDĐ năm

2000, 2010

- Bản đồ thổ nhưỡng

Phương hướng

phát triển kinh tế

xã hội của tỉnh

và huyện

Tham khảo ‎ kiến

- Lãnh đạo địa phương

- Các chuyên gia

- Những điển hình sản xuất giỏi

Đề xuất phương hướng và các giải pháp nhằm nâng cao tính khả thi trong quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp của huyện đến năm 2020

Trang 34

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Phú Bình

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1.1 Vị trí địa lý

Huyện Phú Bình là huyện trung du, nằm ở phía nam của tỉnh Thái Nguyên Trung tâm huyện Phú Bình cách trung tâm thành phố Thái Nguyên khoảng 25km, cách trung tâm thủ đô Hà Nội khoảng 70 km, có vị trí địa lý như sau:

Từ 21023’40’’ đến 21034’30’’ vĩ độ Bắc

Từ 105051’30’’ đến 106003’10’’ kinh độ Đông

Ranh giới hành chính của huyện:

- Phía Đông giáp huyện Yên Thế và huyện Tân Yên tỉnh Bắc Giang;

- Phía Tây giáp huyện Phổ Yên và thành Phố Thái Nguyên;

- Phía Nam giáp huyện Hiệp Hoà tỉnh Bắc Giang;

- Phía Bắc giáp huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên;

Huyện Phú Bình có 21 đơn vị hành chính gồm: (20 xã và 01 thị trấn) được chia làm 3 vùng: vùng núi, vùng kênh hồ Núi Cốc, vùng máng Sông Đào Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 251,71km2, dân số là 149.021 người Phú Bình là huyện có vị trí quan trọng và thuận lợi, có khả năng giao lưu kinh tế xã hội và giao lưu hàng hóa với các tỉnh, thành phố và các huyện trong tỉnh tạo mối quan hệ vùng và hợp tác đầu tư thúc đẩy kinh tế phát triển

3.1.1.2 Địa hình

a Địa hình: Địa hình huyện Phú Bình thuộc 2 nhóm cảnh quan chính:

- Nhóm cảnh quan địa hình đồng bằng: Có diện tích không lớn phân bố

ở phía Nam và Đông - Nam của huyện, chủ yếu thuộc các xã vùng nước máng sông Cầu và các xã thuộc vùng nước kênh hồ Núi Cốc Kiểu địa hình đồng bằng xen lẫn gò đồi thấp có độ cao trung bình từ 20  30m Bao gồm các xã: Thượng Đình, Điềm Thụy, Nhã Lộng, Úc Kỳ, Nga My, Hà Châu, Xuân

Trang 35

Phương, Kha Sơn, Lương Phú, Tân Đức, Dương Thành, Thanh Ninh và thị trấn Hương Sơn

- Nhóm cảnh quan hình thái địa hình gò đồi: Nhóm cảnh quan này đặc trưng cho địa hình miền núi, cảnh quan gò đồi thấp dạng bát úp với độ cao 50

 70m, một số núi cao, đỉnh hẹp, độ cao tuyệt đối phổ biến từ 100  125m, chủ yếu phân bố ở phía Đông - Bắc của huyện, kéo dài dọc theo ranh giới giữa huyện Phú Bình và huyện Đồng Hỷ và huyện Phú Bình với tỉnh Bắc Giang Địa hình này chủ yếu ở các xã niền núi như Tân Hòa, Tân Khánh, Tân Kim, Tân Thành, Bàn Đạt, Bảo Lý và một phần xã Đào Xá, phía Bắc thị trấn Hương Sơn

Một số cảnh quan địa hình nhân tác nằm trong nhóm cảnh quan địa hình gò đồi tạo bởi việc xây dựng các hồ đập nhân tạo giữ nước, tạo lên các

hồ lớn như: Hồ Trại Gạo, hồ Kim Đĩnh, hồ Làng Ngò, hồ Hố Cùng cảnh quan nhân tác khá đẹp có thể khai thác cho du lịch sinh thái, nơi nghỉ dưỡng;

- 15 o chiếm khoảng 16,41% diện tích đất tự nhiên của huyện, phân bố chủ yếu là đất ruộng lúa, ruộng màu, khu dân cư gần các vùng

gò đồi thấp Độ dốc trung bình bậc III từ 15 o

- 25 o chiếm khoảng 14,25 % diện tích đất tự nhiên của huyện, bao gồm các khu vực gò đồi thấp, một số diện tích rừng trồng và rừng tự nhiên, đất nương rẫy trồng cây hàng năm khác Độ dốc địa hình trung bình bậc IV > 25 o

chiếm khoảng 1,77%, phân bố thuộc khu vực đồi núi cao, các sườn dốc, các khe suối, diện tích phân bố tập trung trên các vùng núi phía Đông, Đông - Bắc của huyện

c Địa mạo, địa chất: Cấu trúc địa tầng của huyện Phú Bình khá đa

dạng, các quá trình thành tạo địa chất, hình thành trầm tích, các loại đá gốc, đều có tuổi phong hoá khá cao

Trang 36

3.1.1.3 Điều kiện khí hậu, thời tiết

Khí hậu của huyện Phú Bình mang đặc tính của khí hậu miền núi trung

du Bắc Bộ, nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, gồm hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, mùa hè (mùa mưa) có gió đông nam mang nhiều hơi nước nên độ ẩm cao, mùa đông (mùa khô) có gió mùa đông bắc thời tiết hanh khô

a Chế độ gió: Chế độ gió có các loại gió mùa như sau:

Gió mùa Đông Bắc xuất hiện khoảng 18 lần trong năm với tần xuất khá mạnh, phân bố tập trung từ tháng 10 đến tháng 3 hàng năm, mang theo không khí lạnh, có những đợt rét đậm cục bộ từ 3- 5 ngày vào khoảng tháng 12 hàng năm Gió mùa Đông Nam xuất hiện khoảng 16 lần trong năm, tập trung vào các tháng 4 đến tháng 8 hàng năm, thường mang theo không khí mát mẻ, độ

ẩm lớn Gió mùa Tây Nam xuất hiện khoảng 3 lần trong năm, tập trung vào cuối năm, tần xuất yếu, thường mang theo không khí hanh, khô

b Nhiệt độ, độ ẩm:

Nhiệt độ trung bình hàng năm của huyện Phú Bình giao động khoảng 23,10C - 24,40C Nhiệt độ cao nhất trong năm là vào giữa tháng 6, tháng 7, nhiệt độ thấp nhất trung bình năm vào tháng 12, tháng 01 là khoảng 11o

C, lạnh nhất có thể đến dưới 9o

C

Độ ẩm không khí trung bình năm là khoảng 84,8 %, cao nhất là 80% - 90% vào các tháng mùa mưa (tháng 1, 2, 3), thấp nhất là 30% - 60% vào tháng (10, 11, 12)

c Chế độ mưa: Tổng lượng mưa bình quân năm là 2332,3 mm; mưa

tập trung nhiều nhất vào các tháng mùa mưa lượng mưa (350 - 400mm/ tháng), chiếm tới 70%-80% tổng lượng mưa (Tháng 6, 7, 8, 9) Lượng mưa thấp nhất vào các tháng mùa khô (16,5 mm - 31,3 mm/ tháng) chỉ chiếm 20%-30%, tổng lượng mưa tháng (10, 11, 12, 1) Mưa lớn kéo dài thường gây ngập úng cục bộ, mưa không đúng thời vụ lại ảnh hưởng tới thời vụ gieo trồng, sinh trưởng và phát triển của cây trồng Mưa ít lại gây thiếu nước cho đồng ruộng Đôi khi có mưa đá phá hoại cây trồng

Trang 37

d Chế độ nắng: Bình quân có 255 ngày có nắng trong một năm, số giờ

nắng trung bình năm khoảng 1644 giờ, tập trung cao nhất vào các tháng mùa nóng (Tháng 5, 6, 7, 8) Các tháng có số giờ nắng thấp vào mùa mưa (tháng

10, 11, 12)

3.1.1.4 Thủy văn

Huyện Phú Bình có hai con sông chính chảy qua là sông Cầu và sông

/s, mùa khô là 7,5 m3/s Chảy qua địa phận các xã Đồng Liên, Đào Xá, Thượng Đình, Nhã Lộng, Xuân Phương, Úc Kỳ, Nga My, Hà Châu, chảy về Bắc Giang Đây cũng là con sông có giá trị kinh tế lớn nhất trong khu vực Sông Đào (sông Máng) nằm trong hệ thống thuỷ nông sông Cầu tổng dài khoảng 53 km, được xây dựng từ năm 1936, chảy qua địa bàn huyện Phú Bình

Phú Bình có 2 hệ thống kênh mương chính: Hệ thống sông Đào nằm trong hệ thống thuỷ nông sông Cầu cung cấp nước tưới cho các xã nằm ở phía Đông Nam của huyện Hệ thống kênh mương hồ Núi Cốc cung cấp nước tưới cho các xã phía tây của huyện

Ngoài ra còn có các công trình thuỷ nông hồ đập chứa nước tưới cho các

xã vùng núi Đông - Bắc huyện Phú Bình địa hình cao thấp không đều, mặt ruộng cao hơn mặt nước sông Máng, đó là hồ Trại Gạo, hồ Kim Đĩnh, Tân Kim, hồ Làng Ngò, Đập Hố Cùng

3.1.1.5 Đặc điểm về đất đai

Đất đai trên địa bàn huyện có đặc điểm thổ nhưỡng chủ yếu thuộc 4 nhóm chính là: nhóm đất phù sa, nhóm đất cát, nhóm đất dốc tụ, nhóm đất đỏ

vàng - nâu vàng (theo tài liệu thổ nhưỡng Thái Nguyên và huyện Phú Bình ):

- Nhóm đất phù sa: Nhóm đất này có diện tích khoảng 3484,8 ha, chiếm

khoảng 13,84% tổng diện tích tự nhiên của huyện, phân bố ở các xã ven sông Cầu như Xuân Phương, Úc Kỳ, Nhã Lộng, Nga My, Hà Châu, một phần của các xã: Bảo Lý, Đào Xá, Đồng Liên Nhìn chung nhóm đất phù sa có tầng đất mặt khá dày, độ phì tốt, phù hợp phát triển cây lúa, cây hàng năm, hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày, cây lâu năm ăn quả, song cần đầu tư thuỷ lợi, cải

Trang 38

tạo đất, một số vùng thấp dễ bị ngập úng khi mưa lũ lớn hoặc các khu vực chân ruộng cao khó tưới

- Nhóm đất cát: Đất cát sông Cầu có diện tích khoảng 12,20 ha, chiếm

0,05% diện tích tự nhiên

- Nhóm đất dốc tụ (đất thung lũng dốc tụ) gồm: Đất dốc tụ trồng lúa

nước không bạc mầu, đất dốc tụ trồng lúa nước bạc mầu, đất thung lũng không trồng lúa nước Có diện tích khoảng 6.134 ha chiếm 24,4 % diện tích tự nhiên Nhóm đất dốc tụ có tầng dày, độ phì tốt, thích hợp với các loại cây màu, các cây hàng năm, cây công nghiệp lâu năm, cây ăn quả, trồng cỏ chăn nuôi

- Nhóm đất nâu vàng đỏ vàng (Đại diện cho đất khu vực gò đồi): Có diện

tích khảng 15.305 haC, chiếm 60,8 % diện tích tự nhiên của huyện Nhóm đất

đỏ vàng, nâu vàng thích hợp với các cây lâm nghiệp như thông, bạch đàn, keo

lá chàm Cây công nghiệp lâu năm, cây ăn quả, như chè, vải, nhãn

3.1.1.6 Các tài nguyên khác

a Tài nguyên đất

Theo số liệu tổng liểm kê đất đai năm 2010, tài nguyên đất của huyện Phú Bình có tổng diện tích là 25.171,49 ha Chiếm 7,13% diện tích tự nhiên của tỉnh Thái Nguyên (353.101,67 ha) Bao gồm có 3 nhóm đất chính sau:

- Nhóm đất nông nghiệp: Diện tích 20.849,83 ha, chiếm 82,83 % diện tích tự nhiên của huyện

- Nhóm đất phi nông nghiệp: Diện tích 4.244,29 ha, chiếm 16,86 % diện tích tự nhiên của huyện

- Nhóm đất chưa sử dụng: Diện tích 77,37 ha chiếm 0,31% diện tích tự nhiên của huyện

b Tài nguyên nước

Nguồn nước cung cấp cho huyện Phú Bình chủ yếu nước của sông Cầu, sông Đào và các suối, hồ đập Trữ lượng nước khá lớn, chất lượng tốt là nguồn cung cấp chính cho sinh hoạt, đáp ứng nhu cầu sản xuất nông nghiệp của huyện

Trang 39

Ngoài ra còn nước ngầm được phân bố chủ yếu dọc theo các thung lũng,

ở độ sâu trung bình từ 4 đến 8 mét, một số khu vực đồi núi từ 10 đến 20m Chất lượng chủ yếu là nước nhạt, môi trường trung tính, không độc hại, lưu lượng khá lớn là nguồn cung cấp chính cho nhu cầu sinh hoạt của nhân dân (có thể dùng giếng đào hoặc giếng khoan, tuy nhiên ở một số nơi đã bị thẩm thấu ô nhiễm bởi nước mặt)

d Tài nguyên khoáng sản

Về tài nguyên khoáng sản Phú Bình không có các mỏ khoáng sản kim loại mầu như các huyện khác trong tỉnh, Phú Bình có nguồn cát, sỏi ở sông Cầu Đây là nguồn vật liệu khá dồi dào phục vụ cho các hoạt động khai thác, đáp ứng cho ngành xây dựng trong và ngoài huyện

e Tài nguyên nhân văn

Là một huyện trung du miền núi của tỉnh Thái Nguyên, với 21 đơn vị hành chính gồm 8 dân tộc anh em cùng chung sống Tập thể cán bộ nhân dân huyện Phú Bình với truyền thống cách mạng kiên cường, lịch sử văn hoá lâu đời, với những con người giàu tài năng, yêu lao động, cần cù học tập, lao động và sáng tạo, hiền lành giản dị, thân thiện và mến khách, với các lễ hội mùa xuân

Phú Bình cũng mang nhiều bản sắc văn hoá trong cộng đồng văn hoá Việt Nam, người dân nơi đây đã góp phần công sức lớn lao trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng trước đây cũng như công cuộc xây dựng tổ quốc hiện nay Phú Bình đã có nhiều con em là những cán bộ khoa học đang công tác và giữ những chức vụ quan trọng trong các cơ quan nhà nước

Trang 40

3.1.1.7 Thực trạng môi trường

Môi trường tự nhiên của Phú Bình hiện nay đã có dấu hiệu ô nhiễm, do ảnh hưởng từ việc phát triển dân số, tác động của các hoạt động sản xuất phát triển kinh tế, độ che phủ của rừng thấp, do các loại hoá chất bảo vệ thực vật,

do rác thải sinh hoạt và nước thải vệ sinh nông thôn Tuy nhiên ô nhiễm còn ở mức thấp, vẫn ở mức cho phép, bởi Phú Bình là huyện thuần nông các khu, cụm, điểm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đã được hình thành nhưng ở mức độ thấp và đang trong giai đoạn xây dựng chưa đưa vào sản xuất nên chưa chịu ảnh hưởng độc hại của các chất thải, nước thải, khói bụi của các hóa chất từ nhà máy gây ra

Tóm lại Phú Bình không gặp phải tình trạng ô nhiễm môi trường trầm trọng như các huyện khác trong tỉnh có công nghiệp khai thác khoáng sản hay cơ khí, luyện kim nhưng Phú Bình đã chịu ảnh hưởng

ô nhiễm của nguồn nước mặt sông cầu, nên nguồn nước tưới lấy từ sông Cầu ảnh hưởng không ít đến môi trường nước của các xã có nguồn nước sông Cầu, sông máng chảy qua

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Lao động, việc làm, thu nhập: Toàn huyện có số người trong độ tuổi có khả năng lao động là 80.700 người, số lao động trong nền kinh tế quốc dân là 80.471 người, lao động ngành nông, lâm, ngư nghiệp là 44.259 người, lao động ngành công nghiệp là 20.118 người, lao động ngành dịch vụ là 16.094 người Số người có việc làm mới hàng năm là 2.300 người (trong đó lao động xuất khẩu khoảng 100 người) Lao động được đào tạo mới trong năm khoảng

3000 lao động, tỷ lệ lao động qua đào tạo so với tổng số lao động là 25% Lực

Ngày đăng: 01/08/2014, 22:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bùi Huy Hiền, Nguyễn Văn Bộ (2001), Quy trình công nghệ và bảo vệ đất dốc nông lâm nghiệp, tuyển tập hội nghị đào tạo nghiện cứu và chuyển giao công khoa học công nghệ cho phát triển bền vững trên đất dốc Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy trình công nghệ và bảo vệ đất dốc nông lâm nghiệp, tuyển tập hội nghị đào tạo nghiện cứu và chuyển giao công khoa học công nghệ cho phát triển bền vững trên đất dốc Việt Nam
Tác giả: Bùi Huy Hiền, Nguyễn Văn Bộ
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2001
4. Bộ NN & PTNT (2009), Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2011 – 2020 ban hành kèm theo công văn số: 3310/BNN-KH ngày 12/10/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2011 – 2020
Tác giả: Bộ NN & PTNT
Năm: 2009
6. Đặng Kim Sơn, Trần Công Thắng (2001), Chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp ở một số nước Đông Nam Á, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 274 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp ở một số nước Đông Nam Á
Tác giả: Đặng Kim Sơn, Trần Công Thắng
Năm: 2001
13. Nguyễn Duy Tính (1995), Nghiên cứu hệ thống cây trồng vùng Đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hệ thống cây trồng vùng Đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ
Tác giả: Nguyễn Duy Tính
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1995
14. Nguyễn Văn Bộ (2000), Bón phân cân đối và hợp lý cho cây trồng, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bón phân cân đối và hợp lý cho cây trồng
Tác giả: Nguyễn Văn Bộ
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2000
15. Nguyễn Thị Vòng và cộng sự (2001), Nghiên cứu và xây dựng quy trình công nghệ đánh giá hiệu quả sử dụng đất thông qua chuyển đổi cơ cấu cây trồng, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Tổng cục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu và xây dựng quy trình công nghệ đánh giá hiệu quả sử dụng đất thông qua chuyển đổi cơ cấu cây trồng
Tác giả: Nguyễn Thị Vòng và cộng sự
Năm: 2001
16. Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Phú Bình (2009). Báo cáo về “Nội dung quy hoạch Kinh tế - xã hội huyện Phú Bình đến năm 2007, ngày 21/01/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về “Nội dung quy hoạch Kinh tế - xã hội huyện Phú Bình đến năm 2007
Tác giả: Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Phú Bình
Năm: 2009
18. Trần An Phong và cộng sự (1996), Các vùng sinh thái nông nghiệp Việt Nam - kết quả nghiên cứu thời kỳ 1986-1996. NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các vùng sinh thái nông nghiệp Việt Nam - kết quả nghiên cứu thời kỳ 1986-1996
Tác giả: Trần An Phong và cộng sự
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1996
22. Ủy ban Nhân dân huyện Phú Bình (2000). Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội huyện Phú Bình thời kỳ 2000 – 2010, tháng 11 năm 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội huyện Phú Bình thời kỳ 2000 – 2010
Tác giả: Ủy ban Nhân dân huyện Phú Bình
Năm: 2000
23. Vũ Thị Bình (1993), Hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác trên đất phù sa sông Hồng huyện Mỹ Văn - Hải Hưng, Tạp chí Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm số 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác trên đất phù sa sông Hồng huyện Mỹ Văn - Hải Hưng
Tác giả: Vũ Thị Bình
Năm: 1993
25. Vũ Thị Thanh Tâm (2007), Đánh giá hiệu quả sử dụng đất của huyện Kiến Thuỵ - thành phố Hải Phòng, Luận văn thạc sĩ nông nghiệp, Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả sử dụng đất của huyện Kiến Thuỵ - thành phố Hải Phòng
Tác giả: Vũ Thị Thanh Tâm
Năm: 2007
3. Bộ NN & PTNT (2005), Định hướng phát triển nông nghiệp Việt Nam đến năm 2010 Khác
5. Đỗ Nguyên Hải (1999), Xác định các chỉ tiêu đánh giá chất lượng môi trường trong quản lý sử dụng đất đai bền vững cho sản xuất nông nghiệp Khác
7. Huyện ủy Phú Bình (2005). Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Phú Bình lần thứ XXIV, nhiệm kỳ 2005 – 2010 Khác
8. Huyện uỷ Phú Bình (2010). Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện lần thứ XXIV trình Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XXV, nhiệm kỳ 2010–2015) Khác
9. Hội đồng Nhân dân huyện Phú Bình (2007). Nghị quyết số 49/2007/NQ-HĐND ngày 24/12/2007 về việc phê duyệt quy hoạch sử dụng đất đai huyện Phú Bình giai đoạn 2006 – 2010 và định hướng đến năm 2020 Khác
11. Lê Ngọc Dương, Trần Công Tá (1999), Nguyên lý kinh tế nông nghiệp (tài liệu dịch), NXB Nông nghiệp, Hà Nội Khác
17. Phòng Thống kê huyện Phú Bình. Niên giám thống kế huyện Phú Bình các năm 2001 – 2010 Khác
19. Ủy ban Nhân dân tỉnh Thái Nguyên (2001). Quyết định số 3733/QĐ- UB ngày 28/12/2001 về việc phê duyệt quy hoạch phát triển giao thông nông thôn huyện Phú Bình giai đoạn 2002 – 2010 Khác
20. Ủy ban Nhân dân tỉnh Thái Nguyên (2008). Quyết định số 490/QĐ- UBND ngày 14/3/2008 về việc xét duyệt quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006 – 2010, kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006 – 2010, huyện Phú Bình Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ các bước tiến hành thực hiện đề tài - đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp sau 10 năm thực hiện quy hoạch sử dụng đất huyện phú bình, tỉnh thái nguyên
Sơ đồ c ác bước tiến hành thực hiện đề tài (Trang 33)
Bảng 3.1: Tăng tưởng kinh tế huyện Phú Bình giai đoạn 2001 – 2010  ĐVT: Triệu đồng -  (Giá hiện hành) - đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp sau 10 năm thực hiện quy hoạch sử dụng đất huyện phú bình, tỉnh thái nguyên
Bảng 3.1 Tăng tưởng kinh tế huyện Phú Bình giai đoạn 2001 – 2010 ĐVT: Triệu đồng - (Giá hiện hành) (Trang 45)
Bảng 3.2: Hiện trạng sử dụng đất năm 2010 huyện Phú Bình - đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp sau 10 năm thực hiện quy hoạch sử dụng đất huyện phú bình, tỉnh thái nguyên
Bảng 3.2 Hiện trạng sử dụng đất năm 2010 huyện Phú Bình (Trang 46)
Bảng 3.3: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2010 huyện Phú Bình - đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp sau 10 năm thực hiện quy hoạch sử dụng đất huyện phú bình, tỉnh thái nguyên
Bảng 3.3 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2010 huyện Phú Bình (Trang 49)
Bảng 3.4: Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp huyện Phú Bình   giai đoạn 2001 – 2010 - đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp sau 10 năm thực hiện quy hoạch sử dụng đất huyện phú bình, tỉnh thái nguyên
Bảng 3.4 Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp huyện Phú Bình giai đoạn 2001 – 2010 (Trang 51)
Bảng 3.6:So sánh diện tích các loại đất sau 10 năm thực hiện quy hoạch  Đơn vị tính: ha - đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp sau 10 năm thực hiện quy hoạch sử dụng đất huyện phú bình, tỉnh thái nguyên
Bảng 3.6 So sánh diện tích các loại đất sau 10 năm thực hiện quy hoạch Đơn vị tính: ha (Trang 54)
Bảng 3.8: Kết quả thực hiện chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp  huyện Phú Bình giai đoạn 2001 - 2010 - đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp sau 10 năm thực hiện quy hoạch sử dụng đất huyện phú bình, tỉnh thái nguyên
Bảng 3.8 Kết quả thực hiện chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp huyện Phú Bình giai đoạn 2001 - 2010 (Trang 57)
Bảng 3.9. Kết quả khai hoang mở rộng diện tích đất sản xuất nông nghiệp - đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp sau 10 năm thực hiện quy hoạch sử dụng đất huyện phú bình, tỉnh thái nguyên
Bảng 3.9. Kết quả khai hoang mở rộng diện tích đất sản xuất nông nghiệp (Trang 59)
Bảng 3.10: Kết quả thâm canh tăng vụ và chuyển đổi cơ cấu cây trồng - đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp sau 10 năm thực hiện quy hoạch sử dụng đất huyện phú bình, tỉnh thái nguyên
Bảng 3.10 Kết quả thâm canh tăng vụ và chuyển đổi cơ cấu cây trồng (Trang 59)
Bảng 3.11: Cơ cấu kinh tế huyện Phú Bình qua các năm 2001 – 2010 - đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp sau 10 năm thực hiện quy hoạch sử dụng đất huyện phú bình, tỉnh thái nguyên
Bảng 3.11 Cơ cấu kinh tế huyện Phú Bình qua các năm 2001 – 2010 (Trang 62)
Bảng 3.12: So sánh giá trị sản xuất các ngành kinh tế - đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp sau 10 năm thực hiện quy hoạch sử dụng đất huyện phú bình, tỉnh thái nguyên
Bảng 3.12 So sánh giá trị sản xuất các ngành kinh tế (Trang 63)
Bảng 3.14: So sánh diện tích một số cây trồng chính trước và sau 10 năm  thực hiện quy hoạch - đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp sau 10 năm thực hiện quy hoạch sử dụng đất huyện phú bình, tỉnh thái nguyên
Bảng 3.14 So sánh diện tích một số cây trồng chính trước và sau 10 năm thực hiện quy hoạch (Trang 65)
Bảng 3.15: So sánh năng xuất một số cây trồng chính trước và sau 10 năm  thực hiện quy hoạch - đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp sau 10 năm thực hiện quy hoạch sử dụng đất huyện phú bình, tỉnh thái nguyên
Bảng 3.15 So sánh năng xuất một số cây trồng chính trước và sau 10 năm thực hiện quy hoạch (Trang 66)
Bảng 3.16: So sánh sản lượng một số cây trồng chính trước và sau 10 năm  thực hiện quy hoạch - đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp sau 10 năm thực hiện quy hoạch sử dụng đất huyện phú bình, tỉnh thái nguyên
Bảng 3.16 So sánh sản lượng một số cây trồng chính trước và sau 10 năm thực hiện quy hoạch (Trang 68)
Bảng 3.17: Một số chỉ tiêu bình quân /đầu người trên địa bàn huyện - đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp sau 10 năm thực hiện quy hoạch sử dụng đất huyện phú bình, tỉnh thái nguyên
Bảng 3.17 Một số chỉ tiêu bình quân /đầu người trên địa bàn huyện (Trang 71)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w