Rượu có nhiều loại khác nhau, không những khác về tên, màu sắc... mà còn khác nhau một điểm cơ bản là độ cồn etylic và thành phần các chất có trong rượu. Có thể phân rượu thành các loại: rượu trắng, rượu màu, rượu vang và rượu nếp... Loài người biết đến rượu cách đây hàng ngàn năm. Ở nước ta nghề sản xuất rượu cũng có từ lâu đời, chủ yếu là do dân nấu. Từ lâu rượu đã được gắn liền với phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo của người Việt Nam. Trong các dịp lễ, hội nhất là vào dịp Tết, dù giàu hay nghèo thì người Việt Nam không thể thiếu được rượu. Ngày nay rượu không chỉ được dùng trong các dịp lễ hội, liên hoan... mà còn xuất hiện trong cuộc sống hàng ngày của người dân. Điều này thúc đẩy ngành sản xuất rượu của nước ta phát triển. Trong những năm gần đây thị trường rượu ở nước ta rất phong phú, đa dạng về số lượng, chủng loại... Tuy nhiên, với cơ chế thị trường nên trong quá trình sản xuất một số cơ sở đã sử dụng hoá chất, hương liệu pha chế, bột màu thực phẩm, chất phụ gia... quá giới hạn cho phép hay pha chế cồn công nghiệp vào rượu làm cho rượu kém chất lượng. Bên cạnh đó công nghệ sản xuất lạc hậu, nguyên liệu đầu vào chưa được kiểm tra chặt chẽ... cũng là nguyên nhân làm cho rượu kém chất lượng. Những sản phẩm kém chất lượng đó được bán trà trộn với những loại rượu có chất lượng cao trên thị trường làm cho người tiêu dùng khó phân biệt. Theo số liệu thống kê thì mức độ tiêu thụ rượu của người dân Việt Nam thuộc vào loại nhiều trên thế giới, bình quân 10 lít ngườinăm. Cùng với mức tiêu thụ lớn như vậy thì vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm cho ngành sản xuất rượu trở thành mối quan tâm hàng đầu của xã hội bởi vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ của người dân và tương lai là cả một đất nước. Với đề tài: “Phân tích, đánh giá chất lượng các loại rượu Việt Nam trên thị trường ” chúng tôi hy vọng với kết quả phân tích của mình sẽ giúp cho người tiêu dùng nhận biết được loại rượu nào uống có lợi và loại rượu nào uống có hại cho sức khoẻ người tiêu dùng. Phần I : tổng quan I.1. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT RƯỢU TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM I.1.1. Tình hình sản xuất rượu trên thế giới Hiện nay hầu hết các nước trên thế giới đều có nhà máy rượu với quy mô lớn nhỏ khác nhau. Việc sản xuất rượu đã trở thành một nghề thực sự và nó mang tính thương mại cao của nhiều quốc gia trên thế giới. Tình hình sản xuất rượu trên thế giới có tốc độ gia tăng mạnh trong vài năm trở lại đây do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng chủ yếu do mức sống người dân tăng lên, do tiến bộ khoa học công nghệ làm cho chất lượng, sản lượng rượu tăng, giá thành lại hạ xuống, do tập tính tiêu dùng thay đổi. Nhưng mức độ sản xuất và tiêu thụ của mỗi quốc gia đều khác nhau. Hàng năm trên thế giới sản xuất khoảng 30 tỷ lít rượu vang 14. Theo thống kê công bố của Viện Rượu vang Mỹ, xuất khẩu rượu vang của Mỹ năm 2000 đạt 359,2 triệu lít. Cơ quan thống kê của Óc (ABS) cho biết : lượng rượu trắng bán trong nước là 17,8 triệu lít, trong khi tổng số rượu bán trong nước tăng lên 33,1 triệu lít 6,7. Rượu và các loại đồ uống có rượu chiếm một vị trí đáng kể trong công nghiệp thực phẩm. Chúng rất đa dạng, tuỳ theo truyền thống và thị hiếu của người tiêu dùng mà các nhà sản xuất làm ra nhiều loại rượu mang tên khác nhau. Trên thế giới có rất nhiều loại rượu nổi tiếng như Brandy, Hennessy, Camus.... I.1.2. Tình hình sản xuất rượu ở Việt Nam Ở nước ta, nghề nấu rượu thủ công đã có từ ngàn xưa và chưa có tài liệu nào cho biết nghề nấu rượu ra đời vào thời gian nào. Rượu thủ công ở mỗi nơi, mỗi vùng đều có phương thức sản xuất khác nhau nhưng phải thừa nhận rượu uống rất ngon, vị đậm mà êm dịu, say mà không cảm thấy xốc hoặc váng đầu. Nhiều khách nước ngoài rất thích uống rượu “nút lá chuối khô” của Việt Nam. Để có được rượu ngon như vậy thì chất lượng rượu thu được phụ thuộc rất nhiều yếu tố như nguyên liệu, men giống và cách tiến hành chưng cất lấy sản phẩm ra ngoài còn phụ thuộc vào kinh nghiệm cổ truyền.
Trang 1MỞ ĐẦU
Rượu có nhiều loại khác nhau, không những khác về tên, màu sắc mà còn khác nhau một điểm cơ bản là độ cồn etylic và thành phần các chất có trong rượu
Có thể phân rượu thành các loại: rượu trắng, rượu màu, rượu vang và rượu nếp
Loài người biết đến rượu cách đây hàng ngàn năm Ở nước ta nghề sản xuất rượu cũng có từ lâu đời, chủ yếu là do dân nấu Từ lâu rượu đã được gắn liền với phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo của người Việt Nam Trong các dịp lễ, hội nhất là vào dịp Tết, dù giàu hay nghèo thì người Việt Nam không thể thiếu được rượu Ngày nay rượu không chỉ được dùng trong các dịp lễ hội, liên hoan mà còn xuất hiện trong cuộc sống hàng ngày của người dân Điều này thúc đẩy ngành sản xuất rượu của nước ta phát triển
Trong những năm gần đây thị trường rượu ở nước ta rất phong phú, đa dạng
về số lượng, chủng loại Tuy nhiên, với cơ chế thị trường nên trong quá trình sản xuất một số cơ sở đã sử dụng hoá chất, hương liệu pha chế, bột màu thực phẩm, chất phụ gia quá giới hạn cho phép hay pha chế cồn công nghiệp vào rượu làm cho rượu kém chất lượng Bên cạnh đó công nghệ sản xuất lạc hậu, nguyên liệu đầu vào chưa được kiểm tra chặt chẽ cũng là nguyên nhân làm cho rượu kém chất lượng Những sản phẩm kém chất lượng đó được bán trà trộn với những loại rượu
có chất lượng cao trên thị trường làm cho người tiêu dùng khó phân biệt Theo số liệu thống kê thì mức độ tiêu thụ rượu của người dân Việt Nam thuộc vào loại nhiều trên thế giới, bình quân 10 lít/ người/năm Cùng với mức tiêu thụ lớn như vậy thì vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm cho ngành sản xuất rượu trở thành mối quan tâm hàng đầu của xã hội bởi vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ của người dân và tương lai là cả một đất nước
Với đề tài: “Phân tích, đánh giá chất lượng các loại rượu Việt Nam trên thị trường ” chúng tôi hy vọng với kết quả phân tích của mình sẽ giúp cho người
Trang 2tiêu dùng nhận biết được loại rượu nào uống có lợi và loại rượu nào uống có hại cho sức khoẻ người tiêu dùng.
Phần I : tổng quanI.1 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT RƯỢU TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
I.1.1 Tình hình sản xuất rượu trên thế giới
Hiện nay hầu hết các nước trên thế giới đều có nhà máy rượu với quy mô lớn nhỏ khác nhau Việc sản xuất rượu đã trở thành một nghề thực sự và nó mang tính thương mại cao của nhiều quốc gia trên thế giới
Tình hình sản xuất rượu trên thế giới có tốc độ gia tăng mạnh trong vài năm trở lại đây do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng chủ yếu do mức sống người dân tăng lên, do tiến bộ khoa học công nghệ làm cho chất lượng, sản lượng rượu tăng, giá thành lại hạ xuống, do tập tính tiêu dùng thay đổi Nhưng mức độ sản xuất và tiêu thụ của mỗi quốc gia đều khác nhau Hàng năm trên thế giới sản xuất khoảng
30 tỷ lít rượu vang [14] Theo thống kê công bố của Viện Rượu vang Mỹ, xuất khẩu rượu vang của Mỹ năm 2000 đạt 359,2 triệu lít Cơ quan thống kê của Óc (ABS) cho biết : lượng rượu trắng bán trong nước là 17,8 triệu lít, trong khi tổng số rượu bán trong nước tăng lên 33,1 triệu lít [6,7]
Rượu và các loại đồ uống có rượu chiếm một vị trí đáng kể trong công nghiệp thực phẩm Chúng rất đa dạng, tuỳ theo truyền thống và thị hiếu của người tiêu dùng mà các nhà sản xuất làm ra nhiều loại rượu mang tên khác nhau Trên thế giới có rất nhiều loại rượu nổi tiếng như Brandy, Hennessy, Camus
I.1.2 Tình hình sản xuất rượu ở Việt Nam
Ở nước ta, nghề nấu rượu thủ công đã có từ ngàn xưa và chưa có tài liệu nào cho biết nghề nấu rượu ra đời vào thời gian nào Rượu thủ công ở mỗi nơi, mỗi vùng đều có phương thức sản xuất khác nhau nhưng phải thừa nhận rượu uống rất ngon, vị đậm mà êm dịu, say mà không cảm thấy xốc hoặc váng đầu Nhiều khách nước ngoài rất thích uống rượu “nút lá chuối khô” của Việt Nam Để có được rượu ngon như vậy thì chất lượng rượu thu được phụ thuộc rất nhiều yếu tố như nguyên liệu, men giống và cách tiến hành chưng cất lấy sản phẩm ra ngoài còn phụ thuộc vào kinh nghiệm cổ truyền
Trang 3Từ cuối thế kỷ XIX, các Nhà Sinh vật học Pháp Calmetle và Boidin đã phân
lập được một loài nấm mốc trong bánh men thuốc bắc, đặt tên là Mucor rouxii có
khả năng phân giải tinh bột với hiệu suất cao Từ đó một loạt các nhà máy sản xuất rượu theo phương pháp công nghiệp từ nguyên liệu tinh bột (chủ yếu là gạo, ngô ) theo phương pháp Amylomyces Rouxii được xây dựng ở Hà Nội, Sài Gòn, Nam Định, Hải Dương [8], do người Pháp thiết kế và xây dựng Tuy nhiên với mục đích chính trị nên rượu sản xuất không cần tinh chế, hàm lượng tạp chất cao Sau ngày hoà bình lập lại, hầu hết các nhà máy rượu Trung ương sản xuất được rượu tinh chế đạt tiêu chuẩn chất lượng cung cấp cho tiêu dùng và xuất khẩu Vào những năm 1986-1987, do đổi mới cơ chế quản lý nhiều xí nghiệp làm ăn thua lỗ, sản phẩm trong nước bị thu hẹp vì rượu quốc doanh không cạnh tranh nổi với rượu thủ công Trước kia chỉ có rượu “quốc lủi” do dân nấu, rượu trắng và rượu màu của các cơ sở quốc doanh, từ năm 1984 có thêm mặt hàng rượu vang sản xuất Khoảng 10 năm trở lại đây, do chính sách đổi mới mở cửa ở nước ta, đời sống nhân dân được nâng cao, nhu cầu về rượu tăng nên tình hình sản xuất rượu được khôi phục dần… Bên cạnh
đó một số công ty, xí nghiệp nâng cấp cải tạo dây chuyền sản xuất hoặc liên doanh với nước ngoài ở Việt Nam làm cho thị trường rượu nước ta rất phong phú về mặt chủng loại, số lượng
Ngành công nghiệp rượu đang phát triển khá nhanh, mức tiêu thụ rượu bình quân khoảng 10 lít/người/năm [15] Về phân bố sản xuất rượu tập trung ở các thành phố lớn như: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng Trong hội thảo “Dự án chiến lược phát triển khoa học công nghệ ngành Rượu- Bia- Nước giải khát” năm
1998, theo đề nghị của các chuyên gia đến năm 2005 nước ta nên có khoảng 684 triệu lít rượu các loại [14]
I.2 PHÂN LOẠI RƯỢU
Trên thị trường Việt Nam có rất nhiều loại rượu khác nhau, để dễ phân biệt
có thể tạm thời chia làm 4 nhóm sau:
I.2.1.Rượu trắng và rượu trắng pha chế
Trang 4Rượu trắng là rượu sau khi nguyên liệu đã lên men đem cất làm cho cồn và nước bốc hơi, hơi đọng lại thành dịch thể trong một hệ thống tháp chưng cất, thu được rượu trắng.
Rượu trắng là chất lỏng dễ bay hơi, không màu, có mùi thơm đặc trưng, vị cay ngọt, Muốn chế được rượu trắng trước hết ta cho đường hoá một khối lượng nhất định chất bột (gạo, ngô, sắn ) đã nấu chín hoặc sử dụng dung dịch đường saccaroza, glucoza Dưới tác dụng của nấm men đường chuyển thành rượu, đem cất
ta được rượu trắng Rượu trắng có độ cồn cao từ 29-45%V hay cao hơn nữa, ngoài rượu etylic còn có các chất bay hơi khác với lượng nhỏ Vì vậy, giá trị dinh dưỡng thấp hơn rượu vang Rượu trắng nếu uống Ýt sẽ có tác dụng kích thích tiêu hoá, tăng sức khoẻ nhưng uống nhiều và thường xuyên có thể người uống sẽ bị nhiễm độc rượu mãn tính ảnh hưởng lớn đến hệ thần kinh và hệ tiêu hoá [3, 8, 9]
Ở nước ta trước đây và hiện nay có một số loại rượu tương đối ngon, được người tiêu dùng trong nước và một số khách nước ngoài ưa chuộng như: Lúa Mới (Hà Nội), Nàng Hương (Bình Tây), Hoàng Đế (Thanh Ba) Các loại rượu này không thua kém một số loại rượu mạnh ngoại nhập mà giá cả phù hợp với người tiêu dùng Việc nhiều loại rượu sản xuất ở Việt Nam đang chiếm lĩnh thị trường là điều đáng mừng, chẳng những thế đang có hiện tượng nhái, giả nhãn hiệu các loại rượu nổi tiếng của Việt Nam Do đó, người tiêu dùng cần cẩn thận khi sử dụng để tránh bị ngộ độc rượu
Rượu trắng pha chế là loại rượu sau khi trưng cất người ta bổ xung một số hương liệu vào để tăng mùi vị, tạo cảm giác dễ uống, rượu có độ cồn tương đối cao Một số loại rượu này được người tiêu dùng thích như Nếp mới của Hà Nội, Nếp mới của Hà Đông
I.2.2 Rượu mùi
Rượu mùi là rượu pha chế từ rượu trắng dùng làm gốc có thể thêm đường hoặc không và thêm hương liệu có mùi thơm trái cây hay tinh dầu thơm pha thêm chất mùi [7]
Rượu mùi có thể bắt nguồn từ các vị thuốc, đem các hương thảo ngâm trong rượu etylic để lấy các thành phần dùng làm dược liệu Trên thị trường ta thấy có rượu cam, chanh, cafê, dâu, mơ độ cồn thường đạt 15-30% hay hơn Đối với
Trang 5người chưa có kinh nghiệm rượu màu là đỏ, hồng hoặc trắng và nó cũng có thể là màu sáng hoặc màu tối Muốn có rượu ngon thì phải bổ sung các chất điều hương vị phù hợp với từng loại rượu Ngoài ra chất lượng rượu còn phụ thuộc vào chất lượng cồn etylic dùng để chế biến rượu, nếu trong cồn tỷ lệ tạp chất cao và cồn xấu kéo theo chất lượng rượu mùi cũng xấu Để rượu được người tiêu dùng chấp nhận thì chất lượng rượu phải ổn định, có mùi vị đặc trưng cho từng loại Tuy nhiên do một
số cơ sở sản xuất chạy theo lợi nhuận nên rượu sản xuất ra không đạt yêu cầu họ vẫn cho lưu hành trên thị trường Sản lượng tiêu thụ năm 1995 của một số tỉnh thành trong cả nước là: Hà Nội 5.899 triệu lít, Ninh Bình 144 triệu lít, Huế 972 triệu lít, Ninh Thuận 576 triệu lít, Yên Bái 38 triệu lít, Lào Cai 11 triệu lít, Hoà Bình 48 triệu lít, Bắc Ninh và Bắc Giang 63 triệu lít [14]
I.2.3 Rượu vang
Vang là loại đồ uống có cồn (độ cồn nhẹ 10-14%V) thu được từ quá trình lên men dịch quả, không qua chưng cất, có hương vị đặc trưng Thành phần hoá học của rượu vang bao gồm cồn, axit, đường, vitamin, các chất khoáng, axit amin do
đó vang là đồ uống có giá trị dinh dưỡng cao [1,10]
Về bản chất, vang là sản phẩm của quá trình biến đổi phức tạp các hợp chất hữu cơ có trong dịch quả như axit amin, vitamin thành rượu và các hợp chất tạo hương vị đặc trưng trong quá trình lên men của nấm men
Vang theo đúng nghĩa là sản phẩm được sản xuất từ quả nho hoặc dịch Ðp quả nho nên “vang nho” đồng nghĩa với vang Gần đây người ta mở rộng khái niệm vang để chỉ tất cả các loại rượu lên men từ dịch quả khác như: dâu, dừa, mơ, táo [1]
Người Việt Nam đã biết dùng vang cách đây nhiều thế kỷ, kể từ khi quan hệ thương mại buôn bán với các nước phương tây hình thành và phát triển Việc sản xuất đồ uống theo kiểu lên men vang ở quy mô gia đình cũng đã có từ lâu, xong để trở thành hàng hoá và sản xuất ở quy mô công nghiệp thì ngành sản xuất vang ở Việt Nam mới thực sự phát triển từ năm 1984 trở lại đây nhờ một số công trình đã nghiên cứu và triển khai ở trong nước [Nguyễn Quang Hào và cộng sự, ] Trải qua thăng trầm và chập chững trong những bước đi ban đầu, ngành sản xuất vang Việt Nam đã từng bước hình thành và phát triển với tốc độ khá nhanh, đã từng bước tiếp cận và đáp ứng phần nào của thị trường nội địa, mặc dù công nghệ và thiết bị còn thô sơ Cho đến nay có hàng chục cơ sở sản xuất vang có uy tín ra đời như: công ty
Trang 6rượu nước giải khát Thăng Long, Công ty rượu Hà Nội, Viện Nghiên cứu Bia-Nước giải khát (thuộc Tổng Công ty Rượu Bia Nước giải khát Việt Nam), Công ty rượu Hà Đông với các sản phẩm bước đầu được thị trường nội địa chấp nhận Tuy nhiên sản lượng ở hầu hết các cơ sở sản xuất hàng năm đều tăng không đáng kể, tổng sản lượng của các cơ sở trong nước sản xuất chỉ xấp xỉ 8 triệu lít năm, tính ra bình quân mỗi người dân Việt Nam mới chỉ sử dụng khoảng 0,1 lít vang/ năm [11] Để tăng cường mức độ phổ biến vang trong nhân dân, tạo được thói quen
Rượu-sử dụng vang thì các xí nghiệp, công ty phải từng bước nâng cao chất lượng vang, giá thành tương đối rẻ, hình thức, mẫu mã phong phó
I.2.4 Rượu nếp cẩm
Rượu Nếp cẩm là loại đồ uống có chứa rượu etylic được chế biến từ gạo nếp cẩm đem nấu chín rồi cho lên men (men thuốc bắc), không qua chưng cất
Rượu Nếp cẩm là loại rượu đặc sản của Việt Nam có cách đây rất lâu Rượu
có hương vị đặc trưng và được xem là loại rượu bổ do có chứa hàm lượng dinh dưỡng cao, nhất là vitamin B1, B13, PP cùng một số axit amin không thay thế rất cần cho sự phát triển của cơ thể Loại rượu này dùng phổ biến ở đồng bằng, được nhân dân rất ưa chuộng và nó cũng mang ý nghĩa truyền thống Tuy nhiên, việc sản xuất rượu nếp cẩm cho tới nay vẫn ở quy mô nhỏ tại các địa phương, với công nghệ
và thiết bị còn thô sơ, hiệu suất thu hồi chưa cao, chất lượng rượu thường không ổn định Từ năm 1999 Viện Nghiên cứu Rượu - Bia - Nước giải khát Việt Nam đã tập chung nghiên cứu và sản xuất với một số lượng nhỏ theo công nghệ cải tiến, sản phẩm đã được thị trường chấp nhận và đánh giá cao
I.3 QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT RƯỢU
1.3.1 Quy trình công nghệ sản xuất rượu trắng
Trang 7Bao gồm các bước cơ bản sau:
1 Hồ hoá tinh bột: Quá trình tinh bột hút nước và trương nở, phá vỡ cấu trúc hạt tinh bột dưới tác dụng của nhiệt độ, tạo điều kiện cho các enzyme dịch hoá và đường hoá dễ dàng hoạt động
2 Thuỷ phân tinh bột: Quá trình chyển tinh bột đã hồ hoá thành các loại đường sử dụng cho quá trình lên men
3 Lên men: Là quá trình biến đổi đường thành rượu và các sản phẩm phụ khác nhờ nấm men
4 Chưng cất: Là quá trình phân tách và tinh chế cồn được tạo ra từ quá trình lên men Tuỳ theo công nghệ và thiết bị mà cồn thu được có chất lượng khác nhau
Sơ đồ 1 : Quy trình công nghệ sản xuất rượu trắng
Nguyªn liÖu chøa tinh bét
Xö lý nguyªn liÖu
chñng gièngnÊm men
Trang 8I.3.2 Quy trình công nghệ sản xuất rượu mùi [7]
Nguyên liệu
Nguyên liệu dùng cho sản xuất rượu mùi bao gồm: nguyên liệu quả, cồn etylic, đường, hương liệu, axit, chất màu và các phô gia khác Để tạo ra được rượu mùi có chất lượng cao cần sử dụng cồn thực phẩm tinh khiết và hương liệu có chất lượng cao
Quy trình
- Chiết nguyên liệu thơm (hay tách hương liệu): Thành phần hương liệu cần
lấy trong các cây hương liệu tự nhiên, trong quá trình pha chế rượu mùi cũng có thể dùng các loại tinh dầu làm hương liệu Tách hương liệu cần dựa trên khả năng hoà tan và tính ổn định của hương liệu để dùng biện pháp thích hợp
- Chưng cất : Đem các nguyên liệu tự nhiên (quả, hoa, rễ ) ngâm trong rượu
mạnh cho đến khi đạt hương vị đầy đủ, sau đó đưa đi chưng cất Thường phải được thực hiện trong môi trường chân không để bảo vệ mùi hương Khi đó thu được loại dung dịch không màu có độ rượu cao, sau đó phải qua tinh luyện (chưng cất lại lần nữa) Quá trình chưng cất làm cho rượu tinh khiết hơn, loại bỏ được các tạp chất trong hương liệu
- Pha chế : Khi đã có đủ nguyên liệu phải dựa theo quy trình pha chế
nghiêm ngặt mới hy vọng đạt được mùi hương và vị rượu ưng ý
Trang 9- Tàng trữ : Rượu mùi sau khi pha chế xong phải để cho các thành phần có
đủ thời gian hoà trộn vào nhau hoàn toàn Rượu mùi tốt nhất cho tàng trữ trong thùng bằng gỗ cây cao su, mục đích là làm cho rượu êm giọng
- Lắng, lọc : Loại trừ các tạp chất ở dạng huyền phù có trong rượu.
- Đóng chai : Khi đóng chai có thể pha thêm rượu mạnh để điều chỉnh độ
rượu theo yêu cầu của từng loại rượu Có khi còn cho thêm đường để điều chỉnh độ ngọt Còn có nhiều loại rượu mùi dùng các chất màu thực vật không độc hại để làm tăng màu sắc của rượu
Trang 10Sơ đồ 2: Quy trỡnh cụng nghệ sản xuất rượu mựi
I.3.3 Quy trỡnh cụng nghệ sản xuất rượu vang
Nguyên liệu qủa
Xử lý quả
Ngâm, trích ly
Dịch trích lydung dịch
rượu- nước
Trang 11Trong quỏ trỡnh lờn men, cồn và cỏc sản phẩm phụ tạo hương và vị dần dần được hỡnh thành.
Tỏch cặn và tàng trữ
Khi lờn men đạt yờu cầu, kết thỳc quỏ trỡnh lờn men và tiến hành tỏch cặn Rượu sau khi tỏch cặn được tàng trữ trong một thời gian nhất định Quỏ trỡnh này nhằm ổn định chất lượng và tạo hương vị hài hoà đặc trưng cho vang
Lên men phụ16-200C
Dược thảo
Sát khuẩnChai rửa sạch
Chiết dịch thơmCồn bổ sung
Men giống
Ngâm đườngRửa
Nguyên liệu
Trang 12I.3.4 Quy trình công nghệ sản xuất rượu nếp
Quá trình ủ cơm thực chất là quá trình chuyển hoá tinh bột thành đường nhờ
hệ enzyme có sẵn trong bánh men
Trang 13I.4 MỘT SỐ THÀNH PHẦN CỦA RƯỢU
Trong quỏ trỡnh lờn men, ngoài sản phẩm chớnh là rượu và CO2 cũn cú nhiều sản phẩm phụ khỏc Bằng phõn tớch sắc ký người ta phỏt hiện trong rượu trắng cũn
cú trờn 50 chất khỏc là sản phẩm phụ như axit este, andehyt, alcol Ngoài ra đối với rượu màu và nhất là rượu vang (người ta cũng chưa biết hết cỏc chất cấu thành cú trong vang) cũn cú thờm cỏc chất axit amin, cỏc vitamin, khoỏng, đường
I.4.1 Hàm lượng rượu
Là thành phần quan trọng nhất, tuỳ từng loại rượu mà hàm lượng cồn khỏc nhau Trong cỏc loại rượu kể trờn thỡ rượu etylic đều được tạo thành từ cỏc phản
Sơ đồ 4: Quy trình công nghệ sản xuất rợu nếp cẩm
Gạo cẩm
Xử lý
Đồ chín
ủ menLên men
ủ chínTách cặn
Đóng chai
Nấm men
Trang 14ứng của quá trình lên men, nhờ các enzim của hệ vi sinh vật Phương trình tổng quát của lên men rượu:
C6H12O6 Zymaza 2CO2 + 2CH3CH2OH
I.4.2 Hàm lượng axit
Quá trình lên men rượu luôn có sự tạo thành các axit hữu cơ bao gồm: axit acetic (chiếm phần lớn trong rượu trắng), axit citric (chiếm chủ yếu trong rượu màu
và rượu vang, rượu nếp cẩm), axit lactic, axit succinic
Axit acetic có thể được tạo thành từ phản ứng oxy hóa khử giữa 2 andehyt axetic, một phần tử bị oxy hóa, phần tử thứ 2 sẽ bị khử theo phản ứng:
CH3CHO + CH3CHO + H2O = CH3COOH + C2H5OH
Axit citric: Theo Laphon axit citric được tạo thành từ andehyt axetic, phản ứng tổng quát như sau:
9CH3CHO + 4 H2O = (CH2COOH)2C(OH)COOH + 6 CH3CH2OH
I.4.3 Hàm lượng este
Este là sản phẩm bậc 2 của quá trình lên men chính Nó không phải là sản phẩm tạo thành từ hoạt động sống của tế bào nấm men mà là kết quả của sự tương tác giữa các sản phẩm bậc 2 thường trực este hoá các axit bay hơi với các loại rượu khác nhau Chiếm khối lượng nhiều nhất là etylacetat, sự có mặt của các este đơn giản này đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo mùi và hương cho rượu
Dạng tổng quát của các este được tạo thành do quá trình este hoá rượu và các axit hữu cơ:
Trang 15RCHO + R1CHO RCOOCH2R1
I.4.3 Hàm lượng andehyt
Andehyt là sản phẩm bậc 2 thường trực trong quá trình trao đổi chất của nấm men, và nó cũng có thể được tạo thành qua con đường oxy hóa các loại rượu Trong giai đoạn lên men rượu thì dưới tác dụng của pyrovat decacboxylaza axit pyruvic sẽ mất CO2 và tạo aldehyt axetic:
2CH3COCOOH 2CO2 + 2CH3CHO
Nếu trong quá trình lên men tăng pH tới kiềm thì lượng đường tạo andehyt đạt tới 11,9%
Giai đoạn cuối của lên men rượu hàm lượng andehyt axetic giảm đi do bị khử tạo thành rượu
I.4.4 Hàm lượng rượu bậc cao
Mét trong các sản phẩm phụ quan trọng là rượu bậc cao-có số cacbon lớn hơn 2, các rượu này tuy Ýt nhưng nếu lẫn vào rượu etylic sẽ ảnh hưởng xấu đến mùi vị sản phẩm, gây vị khét cho sản phẩm Hàm lượng rượu bậc cao chỉ vào khoảng 0,1-0,5% Rượu bậc cao còn có tên chung là dầu fusel (dầu khét) vì có mùi rất khó chịu Trong thành phần của nó chứa chủ yếu là alcol propylic, alcol butyric
Phương trình tổng quát quá trình tạo alcol cao phân tử diễn ra theo phản ứng:
R – CH – COOH + H2O RCH2OH + NH3 + CO2
NH2
Nguyên nhân hình thành dầu fusel là do nấm men sử dụng nitơ của các axit amin có trong dịch lên men [10]
I.4.5 Hàm lượng đường
Cồn etylic có trong rượu có mùi thơm, vị hơi ngọt, giống đường do đó những rượu không có đường uống vẫn có vị ngọt (ví dụ rượu trắng)
Trang 16Trong dịch quả có nhiều loại đường khác nhau Thành phần và số lượng mỗi loại đường phụ thuộc vào từng loại quả Trong quá trình lên men, hàm lượng đường trong dịch quả được chuyển thành rượu etylic và CO2 Đường trong rượu vang chủ yếu là đường khử fructoza, glucoza, mét Ýt galactoza Nếu cho thêm sacaroza trước khi lên men thì sacaroza phải bị thuỷ phân thành đường khử Vì vậy nếu phát hiện sacroza trong thành phẩm thì đó là do pha thêm đường saccaroza quá nhiều [1].
I.4.6 Các hợp chất chứa Nitơ
Trong rượu mùi (một phần nhỏ) và nhất là rượu nếp cẩm và vang hầu như có mặt đầy đủ các axit amin không thay thế như: Lizin, treonin, metiomin, loxin, izolơxin, valin, arginin, histidin, phenylalanin Các axit amin là thành phần cơ bản của cấu tạo tế bào nấm men Khi nấm men bị tự phân tạo ra các axit amin gây mùi khó chịu cho sản phẩm
I.4.7 Các Vitamin
Nước quả rất giàu vitamin, tuỳ loại quả mà có thành phần và hàm lượng vitamin khác nhau Vấn đề là ở chỗ các vitamin này có bị phá huỷ trong quá trình lên men không Gayon viết : “Nói tóm lại, lên men rựơu điều chỉnh lại thành phần vitamin của nước quả, có phần bổ sung thêm Chớ tưởng rằng lên men phá huỷ hết các vitamin của nước quả Thực ra, đó là một kỹ thuật tốt để giữ lại các vitamin đó” [1] Vitamin là thành phần của nhiều enzym, tham gia tích cực vào các quá trình lên men ở các giai đoạn khác nhau Bởi vậy chúng có ảnh hưởng lớn đến chất lượng của vang Điều kiện cất giữ cũng ảnh hưởng nhiều đến vitamin trong vang Các vitamin không có trong rượu trắng chỉ có một phần nhỏ trong rượu màu, đối với rượu nếp cẩm thì hàm lượng vitamin có khá nhiều
I 4 8 Các loại muối khoáng
Có nhiều loại muối khoáng trong vang quả, phổ biến nhất là P, S, K, Na, Ca,
Fe, Mn Mặc dù hàm lượng rất thấp Trong một lít vang, chỉ có 1-3g tro nhưng
Trang 17muối khoáng giữ một vai trò quan trọng làm tăng hương vị của rượu, tăng giá trị dinh dưỡng, nhiều loại khoáng cần thiết với con người [1].
I.4.9 Các chất gây mùi thơm
Người ta chưa phát hiện được hầu hết các chất tạo mùi thơm Mùi thơm do các chất có nguồn gốc tecpen quyết định, nhưng đại bộ phận các chất này bị phân huỷ và bị CO2 kéo theo trong quá trình lên men Về phần mình, nấm men còng sinh
ra các chất có mùi thơm như cồn cao phân tử, các este của chúng
I 5.THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG CỒN VÀ RƯỢU VIỆT NAM
Cùng với sự phát triển chung của nhiều nghành kinh tế, trong những năm gần đây nghành sản xuất đồ uống lên men nói chung nghành sản xuất rượu nói riêng đã có những bước phát triển lớn Rượu và các đồ uống khác có rượu chiếm được một vị trí đáng kể trong ngành công nghiệp thực phẩm Nhiều nhà máy rượu sau nhiều năm sản xuất ngừng trệ đã được đầu tư nâng cấp hoạt động trở lại Bên cạnh đó nhiều nhà máy rượu quy mô nhỏ ở các địa phương được xây mới nhằm giải quyết một phần nông sản dư thừa và rỉ đường Cồn thu được một phần đáng kể được pha chế tạo thành các loại rượu khác nhau Trong công nghiệp sản xuất rượu, cồn được sử dụng để sản xuất rượu trắng, rượu mùi Cồn chất lượng cao không chứa nhiều tạp chất độc hại sẽ là một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo chất lượng cho các sản phẩm pha chế Điều này cũng giống như muốn có món ăn ngon
ta phải có thịt cá ngon và tươi sống kèm theo rau, gia vị cần thiết Cồn của các nhà máy ta làm ra nói chung chưa đạt được TCVN-71, nhưng bản thân TCVN-71 về cồn cũng thuộc loại thấp so với các nước trên thế giới Hiện tại trên lãnh thổ Việt Nam chỉ có 3 cơ sở làm được cồn loại I thoả mãn TCVN-71 Đó là công ty Rượu Bia Đồng Xuân Phú Thọ, Hà Nội và Bình Tây Tỷ lệ đạt loại I cũng còn chưa nhiều riêng rượu Đồng Xuân đạt 70-80% Ngoài 3 cơ sở sản xuất trên các cơ sở còn lại chỉ làm ra được cồn loại II hoặc thấp hơn nữa và hầu hết cồn từ rỉ đường Muốn có cồn tinh khiết chất lượng cao cần phải có hệ thống chưng luyện tốt và phải biết cách
sử dụng nó Mặt khác nên có thêm cồn sản xuất từ gạo, ngô và sắn
Cồn tốt mới chỉ là điều kiện cần để pha được rượu ngon Tương tự như nấu
ăn, có cá thịt ngon tươi rồi nhưng người đầu bếp tồi thì món ăn làm ra cũng chỉ là
Trang 18ăn được mà thôi Vì vậy rượu ngon cũng cần những người hiểu biết phương pháp và công thức pha chế.
Từ trước tới nay nhiều người quan niệm rượu chỉ là cồn pha thêm nước Về đại thể là như vậy nhưng thực ra không hoàn toàn như thế Trước hết nước đem pha rượu phải là nước sạch đã qua xử lý để đạt các chỉ tiêu hoá lý và hoá sinh nhất định, nhưng quan trọng hơn cả là muốn có rượu ngon thì phải bổ sung các chất điều hương, vị phù hợp với từng loại rượu Chất điều hương vị đó là những chất gì, liều lượng bao nhiêu và chất nào cho trước chất nào cho sau Tất cả đều là những bí quyết riêng mà mỗi cơ sở sản xuất cần phải tự tìm hiểu mới có được Hiện nay trên thị trường đã có một số loại trắng và rượu pha chế qua nhiều năm đã khẳng định và giữ vững được chất lượng, đạt được chữ tín với người tiêu dùng như rượu Lúa Mới, Nếp mới của Hà Nội; Nàng Hương của Bình Tây và Hoàng Đế của Thanh Ba - Phú Thọ
Khác với những năm của thời kỳ bao cấp, các sản phẩm rượu không chỉ dừng lại ở rượu cồn và rượu pha chế thuần tuý Khoảng 20 năm về trước, rượu vang còn là một sản phẩm khá xa lạ đối với đại đa số người tiêu dùng Việt Nam Trải qua những thăng trầm và những bước đi ban đầu nghành sản xuất vang Việt Nam đã từng bước hình thành và phát triển Cho đến nay đã có những loại vang thực sự là đồ uống thân thiết với nhiều gia đình không chỉ trong những dịp lễ tết mà còn cả trong những bữa ăn thường nhật như Vang Thăng Long; Vang Sơn Tra; Vang Hữu Nghị Qua số liệu thống kê sơ bộ nhiều cơ sở sản xuất liên tục trong nhiều năm đều có lượng sản phẩm bán ra năm sau cao hơn năm trước
Là một quốc gia của vùng nhiệt đới, Việt Nam có nguồn nguyên liệu khá phong phú về chủng loại để có thể sản xuất được vang nhưng cũng phải nói rằng không phải bất kỳ loại trái cây nào cứ có đường, axít đều sử dụng để sản xuất vang được (nhất là các loại Vang có chất lượng cao) vì ngoài axít trong thịt quả cũng cần phải có các yếu tố để có thể tạo được hương vị, hài hoà đặc trưng của vang như các hợp chất Tanin, axít amin, các cấu tử thơm Cho đến nay mặc dù đã có một số loại quả của Việt Nam được sử dụng để sản xuất Vang như: nho, dứa, dâu và sẽ có thêm vải thiều, mơ Tuy nhiên việc sản xuất vang hoàn toàn 100% từ dịch Ðp nước quả theo đúng công nghệ sản xuất vang của các nước tiên tiến vẫn đang là thử thách lớn đối với nghành sản xuất vang của Việt Nam Những loại rượu vang bán trên thị trường hiện nay nhiều loại cũng là nước quả lên men nhưng có pha thêm nước,
Trang 19đường, cồn tinh chế để thoả mãn thị hiếu của người tiêu dùng nhưng giá trị dinh dưỡng và vệ sinh đều giảm đi.
Bảng 1 : Nhu cầu các loại rượu cho thị trường nội địa và xuất khẩu
khoảng năm 2000-2005 (đơn vị tính Triệu lít)
Trang 20cơ sở sản xuất lớn Hiện nay cả nước có khoảng 328 cơ sở sản xuất rượu, ngoài ra còn rất nhiều các cơ sở do dân nấu [14] Theo số lượng thống kê sản lượng rượu do dân tự nấu đạt khoảng 242,412 triệu lít năm (chiếm 90% tổng sản lượng của cả nước) [15] Các cơ sở sản xuất trung ương và địa phương chiếm khoảng 72 triệu lít [13] Rượu do dân tự nấu sản phẩm chứa nhiều tạp chất độc hại, không có lợi cho sức khoẻ người tiêu dùng Rượu do các nhà máy sản xuất theo phương pháp công nghiệp, khử hầu hết các độc tố, nhưng do trình độ trang thiết bị và công nghệ của các cơ sở sản xuất khác nhau nhiều nên sản phẩm sản xuất ra cũng có chất lượng khác nhau Nhiều cơ sở sản phẩm có chất lượng tương đối tốt như công ty rượu Hà Nội, rượu Đồng Xuân (Phú Thọ), công ty rượu Bình Tây (thành phố Hồ Chí Minh) [14]
Cùng với một lượng không nhỏ rượu ngoại được nhập lậu trái phép có thể nói rằng thị trường rượu Việt Nam khá phong phú về chủng loại Sự buông lỏng quản lý của các cơ quan chức năng là khe hở tạo điều kiện cho các cơ sở sản xuất không đăng kí chất lượng hoặc có đăng ký nhưng không nghiêm chỉnh thực hiện
Do đó dẫn tới tình trạng làm hàng giả của các cơ sở sản xuất lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng uy tín các cơ sở này đồng thời ảnh hưởng tới sức khoẻ người tiêu dùng Từ thực trạng trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Phân tích và đánh giá chất lượng các loại rượu của Việt Nam trên thị trường”
Trang 21PHẦN II : VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
II.1 VẬT LIỆU
Thị trường rượu nước ta những năm gần đây đã có bước phát triển lớn đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng Nhiều cơ sở sản xuất rượu của địa phương và trung ương được thành lập mới hoặc cải tạo, nâng cấp hoặc liên doanh với các hãng rượu nước ngoài Điều này làm cho thị trường rượu rất phong phú về mặt số lượng cũng như chất lượng, chủng loại, Trong phạm vi của một luận văn tốt nghiệp với thời gian hạn hẹp, không cho phép chúng tôi tiến hành thu thập tất cả các mẫu rượu sản xuất và bán trên thị trường Việt Nam, nên chúng tôi chỉ thu thập một số mẫu rượu bán trên thị trường được sản xuÊt ở Hà Nội và khu vực lân cận Dựa vào đặc điểm của công nghệ sản xuất, tạm thời chúng tôi chia các loại rượu thu thập được làm 4 nhóm chính:
- Rượu trắng: Rượu chưng cất sau lên men
- Rượu trắng pha chế: Rượu trắng có bổ sung hương liệu
- Rượu mùi: Rượu pha chế từ cồn có bổ sung hương liệu và chất màu
- Rượu vang: Rượu lên men từ dịch trái cây nhưng không qua quá trình chưng cất
Trang 22Bảng 2: Một số mẫu rượu tiến hành phân tích
STT Loại rượu Ký hiệu rượu Đặc điểm
Trang 23II.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Như đã trình bày ở trên có thể nói rằng rượu là một dung dịch đồng nhất gồm nhiều chất khác nhau Chất lượng rượu tốt hay xấu, ngon hay không ngon phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhưng ảnh hưởng nhiều nhất đến chất lượng của rượu thành phẩm là hàm lượng của từng cấu tử và mức độ hài hoà giữa chúng trong hỗn hợp
Do đó chúng tôi tiến hành xác định các chỉ tiêu hoá lý thông qua việc phân tích định lượng; mức độ hài hoà giữa các thành phần được đánh giá thông qua các chỉ tiêu cảm quan
Theo TCVN-71 và một số tài liệu phân tích khác cho thấy các loại rượu khác nhau có những quy định khác nhau về thành phần các chất cũng như hàm lượng của chúng Có những chỉ tiêu mà loại rượu này có mà loại rượu kia lại không có và ngược lại Mục tiêu của đề tài là phân tích và đánh giá chất lượng rượu trên thị trường nên chúng tôi tiến hành phân tích các chỉ tiêu theo TCVN-71 đối với những loại rượu mà tiêu chuẩn này quy định Với những loại rượu khác mà TCVN-71 không có hoặc không quy định về một số chỉ tiêu nào đó chúng tôi tiến hành phân tích theo các tài liệu hướng dẫn khác
Căn cứ vào đặc điểm trong quy trình sản xuất của từng nhóm rượu, chúng tôi tiến hành phân tích, đánh giá theo từng nhóm Cụ thể như sau:
+ Đối với rượu trắng, rượu pha chế và cồn