.1. Đặt vấn đề Nấm Linh Chi có tên khoa học là Ganoderma lucidum (W.Curt.:Fr.)Karst. phiên âm theo tiếng Trung Quốc gọi là Ling zhi, theo tiếng Nhật gọi là Reishi. Ở Việt Nam còn có tên gọi là nấm Lim, nhưng thông dụng nhất vẫn gọi là nấm Linh Chi. Linh Chi đã được người xưa kể lại với rất nhiều truyền thuyết, họ coi đó là tiên đan, linh dược, chữa được bách bệnh, trường sinh bất lão, cải tử hoàn sinh .v.v... Ngày nay, khoa học càng phát triển nhưng Linh Chi vẫn được coi như là một dược thảo quý, đã được nhiều người, cơ quan, viện nghiên cứu chú ý đến loài nấm này. Từ thời Hoàng đế (trên 4.000 năm về trước) cho đến nay Linh Chi vẫn được coi là Thượng dược được xếp vào hàng siêu dược liệu, trên cả nhân sâm, là loại thuốc quý trong y học cổ truyền đã được ghi trong Thần nông bản thảo cách đây 2.000 năm và trong Bản thảo cương mục (thế kỷ 16), nhưng nó mới thực sự chú ý nghiên cứu và sử dụng nhiều từ những năm 1960 trở lại đây nhất là ở Trung Quốc, số lượng các loài nấm Linh Chi được sử dụng trong công nghệ dược liệu ngày càng tăng, đặc biệt ở các quốc gia Á Đông. Ở Việt Nam từ thế kỷ 18 Hải Thượng Lãn Ông đã có bài thơ Lên núi hái Linh Chi chứng tỏ nước ta đã sử dụng Linh Chi từ rất lâu đời. Từ đầu thế kỷ 17 các loài nấm Linh Chi đã được nuôi trồng ở Trung Quốc, chính bởi giá trị dược liệu cao của chúng như: tăng cường hệ thống miễn dịch, điều trị suy nhược thần kinh, xơ cứng mạch máu, huyết áp cao, giảm cholesterol trong máu, loét dạ dày, thấp khớp, ung thư ...
Trang 1PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Nấm Linh Chi có tên khoa học là [Ganoderma lucidum
(W.Curt.:Fr.)Karst.] phiên âm theo tiếng Trung Quốc gọi là Ling zhi, theo
tiếng Nhật gọi là Reishi Ở Việt Nam còn có tên gọi là nấm Lim, nhưngthông dụng nhất vẫn gọi là nấm Linh Chi Linh Chi đã được người xưa kểlại với rất nhiều truyền thuyết, họ coi đó là tiên đan, linh dược, chữa đượcbách bệnh, trường sinh bất lão, cải tử hoàn sinh v.v
Ngày nay, khoa học càng phát triển nhưng Linh Chi vẫn được coinhư là một dược thảo quý, đã được nhiều người, cơ quan, viện nghiên cứuchú ý đến loài nấm này
Từ thời Hoàng đế (trên 4.000 năm về trước) cho đến nay Linh Chi
vẫn được coi là "Thượng dược" được xếp vào hàng siêu dược liệu, trên cả nhân sâm, là loại thuốc quý trong y học cổ truyền đã được ghi trong "Thần nông bản thảo" cách đây 2.000 năm và trong "Bản thảo cương mục" (thế
kỷ 16), nhưng nó mới thực sự chú ý nghiên cứu và sử dụng nhiều từ nhữngnăm 1960 trở lại đây nhất là ở Trung Quốc, số lượng các loài nấm LinhChi được sử dụng trong công nghệ dược liệu ngày càng tăng, đặc biệt ở cácquốc gia Á Đông
Ở Việt Nam từ thế kỷ 18 Hải Thượng Lãn Ông đã có bài thơ "Lênnúi hái Linh Chi" chứng tỏ nước ta đã sử dụng Linh Chi từ rất lâu đời
Từ đầu thế kỷ 17 các loài nấm Linh Chi đã được nuôi trồng ở TrungQuốc, chính bởi giá trị dược liệu cao của chúng như: tăng cường hệ thốngmiễn dịch, điều trị suy nhược thần kinh, xơ cứng mạch máu, huyết áp cao,giảm cholesterol trong máu, loét dạ dày, thấp khớp, ung thư
Trang 2Do giá trị về mặt dược liệu cao nên giá trị về kinh tế của Linh Chicũng rất cao, giá bán tại thời điểm năm 1996 ở thị trường Nhật Bản lên tớitrên 200USD/kg quả thể khô đóng gói, giá xuất chính thức tại thành phố
Hồ Chí Minh khoảng từ 15 đến 20 USD/kg khô Cho nên việc khai thácnguồn nấm mọc hoang dại trong tự nhiên trở nên khó khăn và khan hiếmdần Từ đó người ta đã nghĩ đến việc nuôi trồng nấm Linh Chi trong điềukiện môi trường nhân tạo, sử dụng các nguồn nguyên vật liệu có trong tựnhiên hoặc các phế thải trong sản xuất Nông - Lâm nghiệp để làm cơ chấtnuôi trồng nấm Linh Chi
Dựa vào đặc tính sinh học và sinh thái của nấm Linh Chi, ThừaThiên-Huế có các điều kiện tự nhiên thích hợp cho quả thể nấm Linh Chisinh trưởng và phát triển
Vì vậy, việc "So sánh một số chủng giống nấm Linh Chi
[Ganoderma lucidum (W.Curt.:Fr.)Karst.] nuôi trồng ở Hợp Tác Xã Nông nghiệp Phú Lương 1, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên- Huế "
sẽ chọn ra những chủng giống nấm cho năng suất cao, chất lượng tốt, thíchứng rộng và có tính di truyền ổn định, bổ sung một số giống mới phục vucho sản xuất nuôi trồng nấm dược liệu, tăng hiệu quả kinh tế và cung cấpnguồn dược liệu phong phú cho việc bào chế các loại dược liệu chữa bệnhhiểm nghèo bảo vệ sức khoẻ cộng đồng Việc hoàn chỉnh qui trình trồngnấm Linh Chi góp phần vào ngành sản xuầt nấm nói chung và nấm dượcliệu nói riêng của tỉnh nhà phát triển nhanh, mạnh và bền vững
1.2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.2.1 Ý nghĩa khoa học
So sánh một số chủng giống nấm Linh Chi, được trồng trên 3 côngthức cơ chất trong điều kiện tự nhiên ở Thừa Thiên Huế, sẽ đóng góp cơ sởkhoa học cho các nghiên cứu về nấm Linh Chi, có ý nghĩa bảo tồn đa dạng
Trang 3sinh học Vì hiện nay nấm Linh Chi trong tự nhiên đã bị khai thác cạn kiệt
và có nguy cơ tuyệt chủng
1.2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Từ kết quả nghiên cứu sẽ chọn lựa được một số chủng giống nấmLinh Chi thích hợp cho sản xuất, góp phần xây dựng quy trình kỹ thuật sảnxuất hoàn chỉnh Tăng thu nhập cho người dân, tận dụng được một số phếthải Nông-Lâm nghiệp để sản xuất nấm, sau đó làm nguồn phân hữu cơ chotrồng trọt, góp phần bảo vệ môi trường, tận dụng thời gian nhàn rỗi củanông dân
1.3 Mục đích của đề tài
Dựa vào các chỉ tiêu nghiên cứu theo dõi và so sánh bốn chủnggiống nấm Linh Chi để lựa chọn một số chủng giống thích hợp, góp phầnxây dựng một quy trình sản xuất nấm hoàn chỉnh nhất, đơn giản, dễ ápdụng đối với sản xuất nấm đại trà, với điều kiện tự nhiên ở Thừa Thiên Huế
Trang 4PHẦN 2TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
2.1.1 Sơ lược lịch sử về nuôi trồng nấm Linh Chi
Linh Chi có nhiều tên gọi: Nấm vạn năm, Nấm thần tiên, Cây điềmlành, Cỏ huyền diệu Nhưng tên Linh Chi là được dùng phổ biến nhất
Trong "Thần nông bản thảo" cách đây 2.000 năm đã đề cập 365 dược thảo
thì Linh Chi được xếp vào loại thượng dược Đến thời nhà Minh, Lý Thời
Trân đã viết "Bản thảo cương mục" gồm 2.000 loại thuốc thì Linh Chi vẫn
được xếp hàng đầu, ông còn phân biệt Linh Chi theo màu sắc: Đỏ, Vàng,Đen, Tím, Trắng, Xanh (Lục bảo Linh Chi)
Linh Chi phân bố khắp nơi trên thế giới, hoại sinh hoặc ký sinhrộng khắp ở các loài cây lá rộng đến lá kim, thậm chí ở các tre trúc, dừa,cau, cọ dừa và nho đều có cả Linh Chi tiết ra các men phân giải màng tếbào endopolygalacturonase và endopectin methyl-translinase có tác dụnglàm nhũn tế bào thực vật rất mạnh gây nên tình trạng các loại gỗ và rễ cây
bị mủn ra.[
Theo Wang nấm Linh Chi được nuôi trồng ở Trung Quốc năm 1621chính bởi giá trị dược liệu cao của chúng [10] Ngay từ thời kỳ hoàng đếtrong các thư tịch cổ đã ghi chép về giá trị của Linh Chi (Zhao Ji Ding vàZhang Xiao - Quing, 1994) cách nay đã trên dưới 4.000 năm
Trong "Bản thảo cương mục" các ghi chép đã chuẩn mực hơn và
nấm Linh Chi càng được coi trọng hơn Các nhà Y dược Việt Nam đã kếtục Lý Thời Trân phát hiện Linh Chi ở nước ta như Lê Quý Đôn đã chỉ rõ
là "nguồn sản vật quý hiếm của đất rừng Đại Nam" Gần đây người ta lại
tìm thấy một tấm bia đá khắc năm 1124 ghi chép về 36 loại Linh Chi(Ganodermataceae) ở núi Mai Ji, tỉnh Gan Su, tỉnh Gui Zhou ở Tây nam
Trang 5Trung Quốc có tới 37 loài trong đó có 34 loài Ganoderma, 2 loàiAmauroderma và một loài Humphreya (He Zhaochang Linan Bing, 1994)[10].
Chính vì công nghệ dược học Linh Chi mà các nhà nghiên cứuTrung Quốc đã đạt được các thành tựu lớn về điều tra, sưu tầm, bảo tồn vàkhai thác triệt để họ Ganodermataceae Cho đến nay đã có ít nhất 10 loàiđược chính thức nuôi trồng làm thuốc: G applanatum, G ambonense,
G gorninose, G capense, G japonicum, G lucidum, G tsugae, G tenue,
G formosarum, và vài loài Amauroderma [10]
Theo nghiên cứu của Ngô Anh ở Việt Nam, riêng ở Thừa ThiênHuế họ Ganodermataceae Donk rất đa dạng phong phú có đến 39 loài thuộc
3 chi Amauroderma, Ganoderma và Haddowia Trong đó có 5 loài đượclàm dược liệu: G amboinense, G applanatum, G capense, G lucidum và
G sinense [1]
Người nuôi trồng nấm Linh Chi đầu tiên ở Việt Nam là kỹ sưNguyễn Thanh, ông đã đưa được nấm Linh Chi chuẩn từ Trung Quốc vềViệt Nam Nhờ đó vào cuối năm 1978 dưới sự hướng dẫn của giáo sư TrịnhTam Kiệt lần đầu tiên nấm Hồng Chi Trung Quốc đã ra quả thể trongphòng thí nghiệm, nhưng mãi đến năm 1987 sau khi kỹ sư Nguyễn Thanh,
TS Nguyễn Thiện Tịch cùng với thạc sĩ Cổ Đức Trọng đi tìm Linh Chimọc hoang ở vùng rừng núi tỉnh Lâm Đồng để tìm nguồn giống ban đầu thìLinh Chi mới thực sự được đưa vào nghiên cứu trồng trọt và sản xuất
Đến năm 1988, xí nghiệp dược phẩm Trung ương 24 đã nghiên cứucác dạng thành phẩm, cùng sự khảo sát về dược lý của giáo sư Bùi ChíHiếu tại viện y học thành phố Hồ Chí Minh và khảo sát về lão khoa lâmsàng của giáo sư Nguyễn Thiện Thành tại bệnh viện Thống Nhất, đã đưa ranhững kết luận bước đầu rất quan trọng về giá trị của Linh Chi Việt Nam từnăm 1993
Trang 6Trên thế giới việc phân tích tiến hoá của họ Linh Chi đã đạt đượcnhững thành tựu rất quý giá Theo tiến sĩ Jean Marc Moncalvo ở đại họcDucke, bắc Calorina ông đã phân tích về quan hệ chủng loại phát sinh củacác nhóm loài Ganodermataceae (15 loài) bằng kỹ thuật chẩn đoán cấu trúcDNA ribosome (1995) Đáng lưu ý là tiến sĩ Hseu ở Đại học Quốc gia ĐàiLoan cũng dùng phân tích phổ izozyme và đặc điểm hệ sợi, sự phát sinhbào tử màng dày trong nuôi cấy thuần khiết của các chủng, loài Ganoderma
để đánh giá mức quan hệ họ hàng của chúng (khoảng 9 loài) trong luận ántiến sĩ năm 1980 [5]
2.1.2 Đặc tính sinh học của nấm Linh Chi
2.1.2.1 Mũ nấm
Nấm Linh Chi hay còn gọi là nấm Lim, quả thể có cuống dài, ngắnhay hầu như không có cuống và mũ đính lệch hay đính bên, có màu nâu đỏbóng
Mới sinh có dạng cục lồi, tròn, sau phát triển thành dạng thận, dạngtâm lượn sóng nhiều hay ít, hơi có vân răn dạng phóng xạ Mép nấm mỏnghoặc hơi tù, lượn sóng, hơi chia thuỳ ở những mũ nấm có kích thước lớn
Mũ mới sinh có mầu trắng, có sắc thái vàng lưu huỳnh, sau chuyển sangmàu vàng, vàng rỉ sắt, nâu, nâu đỏ, nâu hồng tím tạo nên một lớp vỏbóng nhoáng như quét sơn hoặc vécni Kích thước mũ 2 - 25 x 3 - 30 cm,dày 0,5 - 1,5 cm
2.1.2.2 Thể sinh sản
Là dạng ống màu nâu nhạt đến nâu, một lớp, dày 0,1 đến 0,7cm
Mô của ống và thịt nấm đồng nhất Miệng ống lúc non có màu trắng sau cósắc thái màu vàng lưu huỳnh, màu trắng vàng khi già khô hoặc khi bị sờ
mó thì chuyển sang màu nâu, nâu rỉ, sẫm, miệng ống hình tròn, trong 1mm
có 4-5 ống
Trang 72.1.2.3 Cuống nấm
Cuống nấm có thể dài hoặc ngắn, hay gần như không có cuống,thường đính ở bên phần lõm vào của mũ nấm Cuống mới hình thành cómàu trắng sau chuyển sang màu vàng đến nâu và phủ vỏ bóng, có màusắc và cấu trúc tương tự như mũ nấm Cuống hình trụ, gần như tròn hoặchơi dẹp, chiều dài có kích thước 3-20 x 0,5-2 cm Mô của cuống đồng nhấtvới mô của mũ
2.1.2.4 Bào tử
Hình trứng hoặc hình trứng cụt đầu, có phần phụ không màu pháttriển bao quanh lỗ nẩy mầm có màu vàng rỉ sắt, bào tử có vỏ với cấu trúc 2lớp màng, màng ngoài nhẵn, không màu, màng trong màu nâu rỉ, phát triểnthành những gai nhọn vươn sát màng ngoài Kích thước 5-6,5 x 8,5-11 m[8], [14]
Mặt dù hình thái bên ngoài rất biến đổi đa dạng song về cấu tạohiển vi của bào tử đảm thì có độ ổn định rất cao dù là chủng nuôi trồng ởNhật, Trung Quốc, chủng nấm Lim Hà Bắc hay chủng Đà Lạt
Lớp vỏ bóng trên mặt mũ được tạo nên do một lớp sợi nấm dạngchuỳ không có vách ngăn ngang (phần phình lớn đạt 8 - 10 m đường kính)sắp xếp theo dạng bờ rào tạo nên Hệ thống sợi của quả thể thường do sợicứng (không vách, màng dày) và sợi bện phân nhánh nhiều, kích thước nhỏhơn tạo nên Kích thước sợi 1,5-6,5 m đường kính Hệ sợi khi nuôi cấythuần khiết lúc đầu có màu trắng sau có màu sáng, màu vàng có hình thànhsợi nguyên thuỷ vách mỏng có màng ngăn ngang và hình thành bào tử vôtính với kích thước 9,5-11 x 12,5-15 m [8]
Cây gỗ bộ đậu (Fabales) là những cây chủ ưa thích của các loàiLinh Chi Ở Việt Nam, thường gặp Linh Chi trên các cây Lim (nấm Lim),phượng vĩ (Delonix regia), cây so đũa (Sesbania grandiflora) v.v Ngoài ra
Trang 8còn gặp trên nhiều loài cây khác đã chết mục hoặc có cả trên cây sống:xoài, mít, mãng cầu, phi lao, dừa, liễu đuôi sóc những loài thoạt trôngnhư mọc từ đất, nhưng thực ra chúng phát triển hệ sợi theo các rễ câyngầm, rồi thể quả vượt lên trên mặt đất Ở miền Bắc dễ gặp từng nấm Lim,
ở rừng Lâm Đồng dưới tán rừng thông, cũng dễ gặp Linh Chi mọc từngđám
2.1.3 Chu kỳ sống của nấm Linh Chi
Bào tử đảm đơn bội trong điều kiện thuận lợi nảy mầm tạo nên hệsợi sơ cấp, trong thực nghiệm tỉ lệ nẩy mầm khá thấp ở nhiệt độ 28 - 300Cchỉ đạt 2-10% Hệ sợi sơ cấp đơn nhân, đơn bội mau chóng phát triển phốihợp với nhau tạo thành hệ sợi thứ cấp (tức hệ sợi song hạch), phát triển vàphân nhánh rất mạnh tràn ngập khắp giá thể
Lúc này thường có hiện tượng hình thành bào tử vô tính màng dày,chúng dễ dàng rụng ra và khi gặp điều kiện phù hợp sẽ nẩy mầm cho ra hệsợi song hạch tái sinh Hệ sợi thứ cấp sẽ phát triển mạnh đạt đến giai đoạncộng bào tức là các vách ngăn được hoà tan
Tiếp đó là giai đoạn sợi bện kết chuẩn bị cho sự hình thành mầmmống thể quả Đây chính là giai đoạn phân hoá hệ sợi từ hệ sợi nguyênthuỷ hình thành các sợi cứng màng dày, ít phân nhánh, bện kết lại thànhcác cấu trúc bó, được cấu kết bởi các sợi bện phân nhánh rất mạnh Từ đóhình thành các mầm nấm màu trắng mịn vươn dài thành các trụ tròn mập,phần đỉnh trụ bắt đầu xoè tán, trong lúc lớp vỏ đỏ cam xuất hiện Tán lớndần hình thành bào tầng và bắt đầu phát tán bào tử đảm liên tục cho đến khinấm già sẫm màu, khô tóp và lụi dần trong vòng 3 - 4 tháng
Trang 92.1.4 Đặc tính dược học của Linh Chi
2.1.4.1 Thành phần hoá dược cơ bản và đặc tính dược lý của nấm Linh Chi.
Với các phương pháp cổ điển trước đây người ta đã phân tích cácthành phần hoá dược tổng quát của Linh Chi như sau:
Trong số các hoạt chất, nhóm có bản chất protein nổi bật với Ling
Zhi - 8 do các nhà khoa học Nhật Bản tìm ra (Kino, K et al 1989, 1991 )
được chứng minh là một tác nhân chống dị ứng phổ rộng và điều hoà miễndịch rất hữu hiệu, đồng thời duy trì tạo kháng thể chống các kháng nguyênviêm gan B
Trang 10Nhóm Steroide khá phong phú ở các nấm Linh Chi với tác dụng chủđạo ức chế sinh tổng hợp cholesterol.
Bảng 1: Thành phần hoạt chất cơ bản ở nấm Linh Chi
Cyclooct asulsus Ức chế giải phóng nhóm Histamine
Adenosine Nuceotide Ức chế kết dính tiểu cầu, thư giãn
cơ, giảm đau
Dẫn xuất Proteine Chống dị ứng phổ rộng, điều hoà
miễn dịch
Ganodosterone Steroide Giải độc gan
Lanosporeric acid A Steroide Ức chế sinh tổng hợp
Lanosterol Steroide Choesterol
II, III, IV, V Steroide Choesterol
Ganoderans A, B, C Polysaccharide Hạ đường huyết
Beta - D-Glucan Polysacc Chống ung thư, tăng tính miễn dịch
BN- 3B: 1, 2, 3, 4 Polysacc
D-6 Polysacc Tăng tổng hợp Protein, tăng chuyển
hoá acid nucleic
Ganoderic acid R, S Tritepenoide Ức chế giải phóng histamine
Ganoderic acid B, D,
F,H, K, Y
Triterpen Hạ huyết áp, ức chế ACE
Ganoderic acids Triterpen Ức chế sinh tổng hợp chol
Ganodermadiol Triterpen Hạ huyết áp, ức chế ACE
Ganodermic acids Mf Triterpen Ức chế sinh tổng hợp chol
Ganodermic acids T.O Triterpen Ức chế sinh tổng hợp chol
Lucidone A Triterpen Bảo vệ gan
Ganosporelacton A Triterpen Chống khối u
Ganosporelacton B Triterpen Chống khối u
Oleic acid dẫn xuất Acid béo Ức chế giải phóng histamine
Trang 11(Theo Medline,1993; Kino và CTV 1989)
Nhóm các ester với acid béo không no linoleic ghi nhận vào 1991
có hoạt tính chống ung thư với công trình của Lin, C, N et al, đồng thời
các tác giả còn tìm ra một Lanostaroid và một Steroid mới cũng có tácdụng ức chế các tế bào ung thư [10]
Hikino,H et al từ 1985 - 1989 chứng minh hoạt lực hạ đường huyết
của nhiều polysaccharid đó là các heteroglycan có cả hoạt tính chống ungthư [10]
Các nghiên cứu về polysaccharid không tan trong nước của các tác
giả Nhật Bản (Sone, H H et al, 1985; Takashi, M et al 1985 và Trung Quốc (Cheng, H H et al 1982, Liu G T et al, 1998 ) chứng tỏ hiệu lực
chống khối u rất rõ, thậm chí làm tan khối u với các loài G applanatum và
G lucidum [10], [16]
Trong các nhóm hoạt chất của nấm Linh Chi có tác dụng dược lýmạnh nhất là Saponine - Triterpenoids - các acid ganoderic Trong đó cóGanoderic acid B Chúng thể hiện hoạt lực ức chế giải phóng histamine, ứcchế Angiotensine Conversion enzyme (ACE) ức chế sinh tổng hợpcholesterol và hạ huyết áp [10], [16]
2.1.4.2 Tác dụng trị liệu cơ bản của nấm Linh Chi
Trên thực tế, có thể coi Linh Chi không có độc tính Quá trình kiểmtra đã được thực hiện ở Việt Nam, tại một số cơ sở sau (Theo GS Bùi Chí
Hiếu et al 1993).
+ Phân nghiệm kiểm viện dược phẩm - Bộ y tế
+ Trung tâm nghiên cứu và đào tạo y dược học dân tộc
Trang 12+ Viện dược liệu, Hà Nội (Đàm Nhận 1994 - 1995).
Kết quả cho thấy dùng liều cao (gấp 50 - 150 lần liều dùng thôngthường cho người) cũng không gây nhiễm độc cấp tính, hay trường diễn[5]
Bệnh gan và tiết niệu cũng được điều trị khả quan bằng chế phẩm từLinh Chi Bệnh viện ở Sơn Đông - Trung Quốc dùng một loại "súp" LinhChi để giải độc và bổ gan có kết quả tốt (> 90%) cho 70.000 ca (Lui Xing
Ja 1994) [5]
Theo kết quả thí nghiệm của Nguyễn Thị Chính (1999) trên chuộtnhắt trắng có trọng lượng 18-22 gam với liều cho chuột uống 160g/kg trọnglượng Liều sử dụng của chuột như vậy là gấp 800 lần so với liều sử dụngcho người 0,2 gam/kg trọng lượng Với liều cao như trên, chuột uống trongmột tuần nhưng không chết chứng tỏ nấm không có độc tố của latoxin và
an toàn đối với người sử dụng [8] Công trình của GS Zhi bin Lin et al(1994) về tác dụng chống ung thư của các chế phẩm từ Linh Chi chứng tỏphổ tác dụng rộng Nguyên lý hiệu dụng là tăng khôi phục hệ miễn dịch đãthử nghiệm lâm sàng trên hàng chục bệnh nhân tại bệnh viện Xanh pôn, HàNội cũng cho kết quả tương tự
Trong tình hình nhiễm HIV càng gia tăng, Linh Chi đã được đưavào chữa cho các bệnh nhân nhiễm HIV tại bệnh viện Quan Yin Chine ởFransico và đã có những kết quả tốt (1987) Được cơ quan quản lý thựcphẩm và dược phẩm (FDA) của Hoa Kỳ cho phép sử dụng trong khi chờcác loại thuốc công hiệu hơn ra đời [10]
Theo kết quả nghiên cứu của Kim B K (1996), trong quả thể của
G lucidum có một số hoạt chất như Methanol, Hexane, Ethyl acetate vànhững chất cơ bản khác có tác dụng kìm hãm quá trình phát triển của virucHIV [17] Các chế phẩm từ Linh Chi có khả năng hạn chế và loại trừ những
Trang 13tổn thương do phóng xạ ở mô và tế bào bởi Linh Chi có khả năng đào thảiphóng xạ [1].
2.1.5 Các công nghệ nuôi trồng nấm Linh Chi trong nước và trên thế giới
Hiện nay có hai công nghệ chính được áp dụng phổ biến: Trồngtrên gỗ khúc và trồng trên cơ chất hỗn hợp
Tuỳ điều kiện từng nước và từng vùng khí hậu mà người ta chọncách trồng phù hợp Ở Việt Nam hoàn toàn trồng bằng mùn cưa cao su.Các thí nghiệm trồng trên gỗ khúc và trên các mùn cưa khác đã được tiếnhành ở một số trại nấm cho thấy có thể trồng ra được nhưng không thể sảnxuất lớn và khó khăn về nguồn nguyên liệu phục vụ trong xử lý cơ chất vàđất nền
Biện pháp phủ đất cũng thường được khuyến cáo Ngoài ra côngnghệ nuôi cấy chìm hệ sợi thu sinh khối cũng được thử nghiệm ở nhiều nơi,song chất lượng vẫn chưa được thuyết phục
Việc nuôi trồng quy mô lớn hiện đại có thể coi như bắt đầu từ 1936với công trình của GS Dật Kiến Vũ Hưng Cho đến nay, ở Nhật Bản người
ta vẫn ưa trồng trên gỗ vùi dưới đất và cho rằng quả thể lớn và chất lượnghơn Tuy vậy công nghệ này dẫn đến tình trạng suy kiệt nguồn gỗ, nhất là ởĐài Loan, Nhật Bản, Trung Quốc
Công nghệ tận thu các phế thải Nông - Lâm nghiệp tỏ ra thích hợphơn vì giúp cho xử lý các phế thải gây ô nhiễm môi trường như các loạimùn cưa, vỏ bào, cành cây, rơm rạ, trấu, bã mía, vỏ cà phê, vỏ lạc đều cóthể trở thành giá thể tốt cho nuôi trồng nấm Linh Chi
2.1.5.1 Quy trình nuôi trồng trên gỗ khúc
Trang 14Trong quy trình này, kỹ thuật vùi đất là rất cần thiết, rất tiếc là ởViệt Nam chưa được phổ biến lắm và cũng có ý kiến e ngại về nguồn gỗkhúc, trong tình trạng phá rừng hiện nay Theo kỹ thuật của Trung Quốccây gỗ chặt hạ bỏ cành nhánh, cưa thành khúc 80 - 120cm mặt cắt quét vôi,chất đống ủ khoảng 1 tháng sau đó tiến hành các bước sau:
- Cấy giống: Giống sản xuất thường là hỗn hợp mùn cưa, cám, bộtbánh dầu ít khi dùng giống hạt ngũ cốc vì dễ bị chuột mối mọt cắn phá,dùng búa hoặc khoan đục những hành lỗ so le đường kính 1 - 1,5cm dọctheo khúc gỗ, cách nhau 5cm, sâu 3 - 5cm Gieo meo giống cho đầy lỗ cấy,sau đó đậy lại bằng chính miếng gỗ đục từ lõi ra Dán giấy parafin hoặcnhỏ sáp lên bịt kín lỗ cấy Các thao tác làm kế tiếp nhau và nhanh để tránhnhiễm tạp
- Nuôi ủ gỗ: Sau khi gieo meo giống, gỗ được xếp đống quây vuônghoặc hình chữ nhật cao 50 - 80cm Phủ vải nhựa hoặc bạt lên trên, tránhbọc chặt vào các dầu của gỗ Độ ẩm trong đống ủ 75 - 80%, nhiệt độkhoảng 25 - 300C Sau khoảng 15 - 20 ngày kiểm tra sự lan toả của sợi nấm
và chuyển sang ủ trong đất + cát Gỗ cũng xếp đống chồng lên nhau và phủđất + cát đã khử trùng bằng Formalin kỹ Tưới phun ẩm trong khoảng 30 ngày
- Vùi đất: Các khúc gỗ được cưa thành đoạn 15 - 20cm Vùi cắmcác khúc gỗ xuống nền đã làm kỹ và khử trùng diệt mối, kọt, sâu bọ Bêntrên là mái vòm che mưa nắng và ánh sáng trực xạ Người ta vùi các khúc
gỗ để nhô lên cỡ 5 - 7cm, ở Nhật thì người ta dùng cát sạch + đất mịn phủkín lên dày trên lớp gỗ khoảng 2 -3 cm Tưới phun sương ẩm giữ độkhoảng 80 - 95% và thông thoáng Sau 15 - 20 ngày sẽ xuất hiện mầm quảthể Từ giai đoạn này nấm rất hay bị sâu, mối, sên ăn phá, cần chăm sóccẩn thận Tai nấm phát triển sau 50 - 69 ngày thì trưởng thành xuất hiệnbào tử và lớp vỏ láng lan sát mép tán nấm
Trang 15- Thu hoạch: Hái tán nấm chín, đem phơi, sấy ở nhiệt độ 40 - 450Ctrong 2 - 3 ngày Như vậy theo quy trình này, từ lúc gieo meo giống cho tớikhi thu hoạch đợt I có thể từ 4 - 5 tháng Nếu chăm sóc tốt khoảng 2 - 2,5tháng sẽ thu tiếp đợt sau và có thể thu hái trong vòng ba năm.
2.1.5.2 Quy trình nuôi trồng trên giá thể tổng hợp
Thường được áp dụng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới và đãđược áp dụng ở Việt Nam
- Phối trộn cơ chất: Tận dụng mùn cưa các loại, cần lưu ý tránh mùncưa mủn mốc Tỷ lệ mùn cưa nên đạt 30-60%, phần còn lại dùng rơm rạbăm nhỏ, trấu, bã trà khô, vỏ hạt bông, vỏ lạc, cành thân cây nhỏ xử lýhỗn hợp cơ chất này với nước vôi 1,5% trong một ngày
Nguồn dinh dưỡng bổ sung quan trọng là các loại cám ngũ cốc, tỷ
lệ nên phối trộn khoảng 15 - 20% Nên cho thêm (NH4)2 SO4 (0,5%),Superphosphate (1 - 1,5%) và MgSO4 7H2O (0,05%) Căn cứ vào hàmlượng Kali rất cao trong nấm nên cần bổ sung thêm Kali (KCl hoặc K2SO4),
độ ẩm sau cùng đạt 65 - 70%
- Khử trùng giá thể: Sau khi cơ chất hỗn hợp được nhồi vào bịch
PP hay chai PP với trọng lượng 0,5 - 1,5kg, việc tiếp theo hết sức quantrọng là hấp khử trùng Vì độ nhiễm tạp ban đầu của cơ chất hỗn hợp rấtlớn do vậy phải khử trùng kỹ hoặc 3 lần x 45 phút trong nồi Autoclave(1210C, 1atm) hoặc bằng lò hơi nước không áp suất cao (85 - 950C) trong 5
- 6 giờ , sau đó để nguội
- Cấy giống: Cấy giống vào giữa khối cơ chất (khoảng 3 - 5% khốilượng so với cơ chất), nuôi ủ trong phòng tối (25 - 300C), sau 25 - 35 ngày
hệ sợi sẽ lan hầu hết khắp giá thể
Trang 16- Tưới đĩn nấm: Hệ sợi bắt đầu bện kết sau 25 - 30 ngày, cầnchuyển bịch (chai) vào nhà trồng cĩ ánh sáng khuếch tán nhẹ, nhiệt độ hạthấp 21 30C cĩ thể vùi dưới đất hoặc treo, xếp trên giàn, kệ mở nút bịchcho mầm nấm vươn ra dễ dàng Độ ẩm phịng duy trì 80 - 90% Nên thơngthống phịng nuơi cho tán nấm xoè lớn, hình quạt chuẩn, ít bị dị dạng.
Sơ đồ quy trình trồng nấm Linh Chi:
Pha thu hái
(Theo Lê Duy Thắng, 1995)
Theo quy trình này tán nấm sẽ thành thục 35 - 45 ngày tức là 2 - 2,5tháng kể từ khi cấy giống Mỗi bịch (chai) thường cho một tán nấm lớnkhoảng 20g tươi (với 350 - 500g cơ chất tươi) như vậy hiệu suất đạt 4 - 9%.Nếu dùng cơ chất tới 1-1,5kg cĩ thể thu được 2 tán thường > 20g tươi songhiệu suất thu được lại nhỏ: 2,5-3,5% Thực tế các nước trong vùng cũng đạthiệu suất 5-8%
Trộn nhồi cơ chất
Cưa,đục lỗGiống gốc
ủ 262 0 C
Aïnh sáng khuếch tán nhẹ 350 lux
Nhiệt độ 22 20C
Trang 172.1.6 Tiềm năng của huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên- Huế với việc trồng nấm
2.1.6.1 Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa ly ï
Phú Vang là huyện đồng bằng ven biển, nằm về phía Đông Bắc củatỉnh Thừa Thiên Huế, có vị trí địa lý như sau:
+ Phía Bắc giáp biển Đông
+ Phía Nam giáp huyện Hương Thuỷ và Thành phố Huế
+ Phía Đông giáp huyện Phú Lộc
+ Phía Tây giáp huyện Hương Trà
Phú Vang được đánh giá là một trong những huyện có vị trí địa lýkhá thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Thừa Thiên Huế bởi tàinguyên phong phú, có biển và đồng bằng thích hợp để phát triển kinh tếtoàn diện và tổng hợp
Ranh giới của huyện được bao bọc bởi biển Đông, sông Hương, sôngNhư Ýï, sông LơÜi Nông và đầm Cầu Hai Ngoài ra còn nằm trên trụcđường giao thông quan trọng của vùng và của tỉnh như: Quốc lộ 49 A, B, tỉnh
lộ 10
Toàn huyện có một thị trấn ( Thuận An ) và 19 xã với tổng diện tích
tự nhiên là 280,32 km2 Dân số đến cuối năm 2005
Địa hình
Trang 18Huyện Phú Vang có dạng địa hình khá bằng phẳng, với độ dốc < 1%
và cao trình biến thiên từ 0 m đến 2,5 m so với mặt nước biển, phổ biến từ0,8 m đến 1,5 m Nhìn chung địa hình toàn huyện thấp dần từ Tây Bắc sangĐông Nam nhưng không lớn, tuy nhiên có những khu vực địa hình trũnghay gò cao hơn địa hình chung, có thể chia làm ba vùng chính như sau:
Vùng cồn cát ven biển: Đây là khu vực có địa hình cao nhất, đượchình thành do các cồn cát ven biển khá nổi bật so với các khu vực xungquanh, vùng đất này có dạng địa hình sống trâu được giới hạn bởi phíaĐông là Biển và phía Tây là phá Tam Giang nên rất thuận lợi cho phát triểnnông nghiệp
Vùng đồng bằng: Được hình thành bởi vùng đồng bằng ven sông vàđầm phá nên khá bằng phẳng rất thuận lợi cho phát triển sản xuất nôngnghiệp
Vùng đầm phá: Chủ yếu là phá Tam Giang được hình thành bởi đầmThuỷ Tú và đầm Thanh Lam
Khí hậu
Huyện Phú Vang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có haimùa mưa nắng rõ rệt Mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 năm trước và kết thúctháng 3 năm sau, mùa nắng từ tháng 4 đến tháng 8 Đồng thời, chịu ảnhhưởng trực tiếp hoạt động của hai loại gió mùa chính, đó là gió mùa ĐôngBắc và gió Tây Nam Gió Đông Bắc hoạt động bắt đầu từ tháng 10 và kếtthúc vào tháng 3 năm sau thường gây mưa, lụt vào tháng 10, 11 Gió TâyNam hoạt động từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 8, thường gây nóng và khôhạn Mặt khác, Huyện Phú Vang còn chịu ảnh hưởng gió lục địa và gió đạidương, thường xuyên hoạt động làm thay đổi đến chế độ nhiệt ẩm trong cácmùa
Trang 19Bảng 2 Số liệu thời tiết khí hậu trung bình 10 năm của
Trang 20NẮ NG (giờ)
Đồ thị 1: Đồ thị biểu diễn lượng mưa vă nhiệt độ
Từ thâng 11 đến thâng 3 năm sau nhiệt độ trung bình thấp, thấp nhấtvăo thâng 1, nhiệt độ trung bình câc thâng còn lại đạt trín 260C, cao nhất lăcâc thâng 6 vă 7 Nhiệt độ tối cao tuyệt đối lă 38,10C văo thâng7 vă tối thấptuyệt đối lă 15,80C văo thâng 1
Ẩm độ trung bình 10 năm qua câc thâng đều >77,3%, cao nhất văothâng 12 vă thấp nhất văo thâng 7
Lượng mưa trung bình 10 năm thấp ở câc thâng 2,3,4 vă lượng mưathường tập trung văo câc thâng 9, 10,11 Trong đó, lượng mưa đo được ởthâng cao nhất lă thâng 11 đạt 854,47mm, thấp nhất lă 59,5mm văo thâng 3
Số giờ nắng trung bình 10 năm qua câc thâng biểu hiện thấp nhất văothâng 12 (58,77giờ) vă cao nhất văo thâng 7 (234,5giờ)
Trang 21Khả năng bốc hơi trung bình năm lă 977 mm/ năm Lượng bốc hơinhiều nhất từ thâng 5 đến thâng 8 ( thâng 7 lă 138 mm ), thâng có lượngbốc hơi thấp nhất lă thâng 2 cũng đạt 39,6 mm.
Bảng 3 Diễn biến khí hậu thuỷ văn của huyện Phú Vang
(Nguồn: Trung tâm KTTV Thừa Thiên Huế, 2005-2006.)
Qua các số liệu về khí tượng ta thấy nhiệtđộ trung bình và ẩm độ trung bình thích hợp chonấm Linh Chi sinh trưởng và phát triển
Chế độ thuỷ văn
Trang 22Dòng chảy của sông ngòi trên địa bàn huyện làsản phẩm trực tiếp của mưa nên phân bố khôngđồng đều theo không gian và thời gian Vùng mưanhiều thì dòng chảy nhiều, dòng chảy chủ yếu tậptrung vào mùa lũ ( tháng 9, tháng 12 ) Tổng lượngdòng chảy lũ chiếm 80 - 85 %/ năm đối với năm nhiềunước đặc biệt, 65 - 70 %/ năm đối với năm trung bình,45-50%/ năm đối với năm ít nước.
Khu vực huyện Phú Vang chịu ảnh hưởng trựctiếp của chế độ thuỷ văn Sông Hương và có các chếđộ thuỷ văn như sau:
+ Diện tích lưu vực: 3.000 km2
+ Lưu lượng mùa lũ là 12.000 m3./s
+ Lưu lượng mùa kiệt là 1 m 3 / s
Thực tế cho thấy lưu lượng ngày tháng kiệtthường rơi vào tháng 4 hoặc tháng 8, đôi khi xuấthiện sớm hơn hoặc muộn hơn, dao động trong khoảng
1 tháng Theo kết quả tính sơ bộ lưu lượng kiệtnhất ngày trong năm của lưu vực sông Hương là 8 m3/
s Vì vậy, những biện pháp tích cực trong mùa mưađể điều tiết phục vụ dùng nước trong mùa khô làcần thiết
Ngoài ra con sông chính cấp nước cho vùng Namsông Hương đổ qua huyện Phú Vang là sông Lợi Nông-Đại Giang dài 27 km và một nhánh rẻ lớn khác củasông Hương là sông La Ỷ- Chợ Nọ, lưu vực của sôngnày bao gồm thị trấn Thuận An và Xã Phú Thanh
Trang 23Nhánh rẽ của sông Lợi Nông là sông Như Ý cóchiều dài 12 km Lưu vực của sông này bao gồm cácxã như: Phú Dương, Phú Thanh, Phú Mậu, Phú Tân,Phú An và Phú Mỹ Từ sông này có nhiều rạch nướcdẫn vào khu vực sản xuất như vùng Mộc Hàng, PhúKhê, Vinh Vệ, Cầu Lông và Xuân Lương Hồ.
2.1.6.2 Tình hình kinh tế- xê hội
Dđn số vă lao động
- Tổng số dđn đến năm 2004: 181.149 người, mật độ 647người/km2
- Tổng số lao động: 84.757 người, chiếm 46,78% dđn số củahuyện
Lao động đang lăm việc ngănh nông lđm nghiệp thuỷ sản có mức
độ thu hút đông nhất ,chiếm 89% Tuy nhiín phần lớn người dđn ở khu vựclăm nghề câ có trình độ văn hoâ thấp,tỷ lệ thất nghiệp cao vă đđy lă mộttrong những điểm khó khăn lăm cản trở quâ trình phât triển kinh tế xê hội Tình hình sản xuất vă cơ cấu cđy trồng trong nông nghiệp năm 2001- 2005
Bảng 4 Diện tích một số cđy trồng qua câc năm (ha)
10.2875.7044.5831021.453685
10.2935.6474.646821.188816
10.2545.5354.719821.100860
10.211 5.410 4.801 82 1.120 1.235
Trang 241.019437
1.100440
1.150 440
3 Cđy CN hăng năm
- Lạc:
- Vừng
424129
432174
450175
517175
530180
(Nguồn: Phòng NN & PTNT huyện Phú Vang, TT Huế 2001-2005)
Trang 25Bảng 5: Năng suất một số cây trồng chính 2001-2005( tạ/ha)
38,414135,2
44,5446,5542,1
47,0147,6046,32
44,0340,3348,22
(Nguồn: Phòng NN & PTNT huyện Phú Vang, TT Huế 2001-2005)
Bảng 6: Sản lượng một số cây trồng chính qua các năm ( Tấn )
39.52223.39316.129
45.84326.28719.556
48.20726.34921.858
44.96921.81923.150
Trang 262.1.6.3 Khái quát về đời sống văn hoá
Giáo dục, y tế
Trong lĩnh vực giáo dục qua số liệu thống kê cho thấy ở Phú Vangđến năm 2004 hầu hết các xã đều có trường mầm non, trường tiểu học, cótrường PTTH cơ sở, đảm bảo cho con em trên địa bàn dân cư được học tập,mặt bằng dân trí được nâng cao là cơ sở thuận lợi cho việc tiếp thu và ứngdụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp khi đượcchuyển giao
Trong lĩnh vực Y tế: 100% các xã đều có cơ sở y tế xã đáp ứngđược nhu cầu khám chữa bệnh thông thường và chăm sóc sức khoẻ chonhân dân, bệnh viện huyện đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân
là cơ sở quan trọng cho việc đảm bảo sức lao động cho sản xuất
Cơ sở hạ tầng Nông thôn
Qua kết quả điều tra, thống kê cho thấy 100% số xã có sử dụngđiện, 100% số xã có đường ô tô đến xã, 100% xã có trạm truyền thanh;100% xã có trường cấp I và trạm xá xã
Qua kết quả trên cho thấy điều kiện văn hoá nông thôn đang trênđường phát triển, bộ mặt nông thôn ngày càng thay đổi; Đời sống văn hoá,
xã hội được nâng lên rõ rệt, là cơ sở cho việc tiếp thu kiến thức về giảipháp công nghệ, kỹ thuật canh tác trong việc phát triển nông nghiệp nóiriêng, phát triển kinh tế xã hội tại các vung nông thôn nói chung và việccông nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn
2.1.6.4 Tiềm năng về nguồn nguyên liệu
- Mùn cưa: Thừa Thiên- Huế với nguồn tài nguyên về rừng rất dồidào, nếu được quản lý và khai thác hợp lý sẽ cho ra một khối lượng khôngnhỏ về mùn cưa, cành, lá trong quá trình khai thác gỗ
Trang 27Về diện tích cây cao su của Thừa Thiên- Huế theo số liệu điều tracủa Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn tỉnh Thừa Thiên- Huế hiện6.363,6 ha, hàng năm sẽ có hàng trăm ha do già cỗi, năng suất thấp đượcthanh lý, chế biến thành gỗ xuất khẩu, do đó sẽ cho một lượng mùn cưa khálớn.
Ngoài ra huyện Phú Vang còn có diện tích lạc là 530 ha (năm2005), hàng năm thu về sản phẩm chính là quả lạc còn có vỏ lạc Cây sắn làcây có diện tích khá lớn 1.235 ha hàng năm cho thu hoạch khoảng 7.875tấn củ đồng thời thân cây sắn cũng là nguyên liệu để làm giá thể cho nấm
Tất cả các loại phế thải này cộng với điều kiện khí hậu thích hợp thìviệc nuôi trồng nấm Linh Chi ở huyện Phú Vang, Thừa Thiên- Huế sẽ rấtthuận lợi
Trang 28PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG&PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Ba chủng giống nấm Linh Chi được tuyển chọn từ Viện Di TruyềnNông Nghiệp Hà Nội và chủng giống Giống Ganoderma lucidum nguồngốc Đà Lạt đã trồng nhiều năm ở địa phương được dùng làm đối chứng
- G1: Chủng giống Ganoderma lucidum L, nguồn gốc Trung Quốc
- G2: Chủng giống Ganoderma lucidum K, nguồn gốc Trung Quốc
- G3: Chủng giống Ganoderma lucidum DL, nguồn gốc Đà Lạt
- G4: Chủng giống Ganoderma lucidum X, nguồn gốc Trung Quốc
Cơ chất: Các nguồn phế thải như mùn cưa cao su, bã vỏ lạc lànguyên liệu chính để nuôi trồng Linh Chi Tỷ lệ phối trộn :
- N1: 96,5 % mùn cưa cao su + 2 %bột ngô + 1,5 % cám gạo
- N2: 67,6 % mùn cưa cao su + 28,9 % bã vỏ lạc + 2 %bột ngô + 1,5 %cám gạo
- N3: 57,9 % mùn cưa cao su + 38,6 % bã vỏ lạc + 2 %bột ngô + 1,5 %cám gạo
3.2 Nội dung nghiên cứu
Thực hiện việc nuôi trồng nấm Linh Chi trên các công thức phốitrộn cơ chất nền khác nhau để tìm ra các công thức trộn tốt nhất
Quan sát và theo dõi một số chỉ tiêu về sinh trưởng và phát triển củabốn chủng giống nấm Linh Chi để so sánh:
- Thời gian sinh trưởng của hệ sợi: (ngày)
Trang 29- Chiều dài cuống nấm: (cm).
3.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
3.3.1 Thời gian nghiên cứu
Đề tài bắt đầu từ tháng 8/2005 đến tháng 7/2006.
3.3.2 Địa điểm nghiên cứu
Thí nghiệm được thực hiện tại Hợp Tác Xã Nông nghiệp Phú Lương 1,
xã Phú Lương, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo sơ đồ khối đầy đủ ngẫu nhiên RCB, với
3 lần lặp lại Mỗi chủng giống gồm 10 bịch
Trang 303.4.2 Phương pháp theo dõi
- Thời gian sinh trưởng của hệ sợi: Khi hệ sợi lankín bịch thì chiếm khoảng thời gian bao nhiêu ngày(ngày)
- Đường kính tán nấm: Dùng thước đo tán nấm ởnơi rộng nhất (được tính theo đơn vị cm)
- Độ dày tán nấm: Dùng thước kẹp đo ở nơi dàynhất của tán nấm (cm)
Trang 31- Đường kính cuống nấm: dùng thước kẹp đo ở vịtrí giữa cuống nấm (cm).
- Chiều dài cuống nấm: Được đo từ nơi gốcnấm đến nơi phát sinh ra tán nấm (cm)
- Năng suất tươi (g/bịch): Được tính trọnglượng trung bình của nấm tươi trên một bịch cơchất khi thu hoạch
-Năng suất khô (g/bịch): Được tính trọng lượngtrung bình của nấm khô trên một bịch cơ chất khi thuhoạch
-Tỉ lệ bệnh hại: Là tỉ lệ giữa số bịch cơ chất
bị nhiễm trên tổng số bịch cơ chất được cấy
-Tỷ lệ khô/ tươi : là tỷ lệ giữa khối lượng nấmkhô/khối lượng nấm tươi
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu thu được được xử lý trên phầnmềm Excel kết hợp với phần mền SXW để lượnghoá từng vấn đề mà nội dung nghiên cứu đề ra
3.5 Cách làm môi trường của các cấp giống
Môi trường giống cấp I: Gồm dịch chiết khoai
tây, đường glucose và agar được làm theo cách sau:(với 200g khoai tây/1 lít dung dịch) khoai tây được gọtvỏ, cắt nhỏ thành từng miếng, đun sôi với 1,2 lítnước đun cạn đến khi còn 1 lít lọc bỏ xác khoai tâylấy dịch sau đó thêm vào 20g đường glucose cùng với
15 - 20g agar đun sôi khuấy đều trong 10 phút Dung
Trang 32dịch này sẽ được đổ vào ống nghiệm khoảng5ml/ống sau đó để nguội môi trường sẽ đông cứng,dùng bông không thấm nước nút ống nghiệm Cácống nghiệm sẽ được hấp khử trùng trong nồiAutoclave với thời gian 30 phút ở áp suất 1 atm Cácống nghiệm được lấy ra và đặt nghiêng sao cho môitrường trong ống cách nút bông khoảng 2cm (đặtnghiêng để diện tích của môi trường lớn nhất cho hệsợi của nấm phát triển) sau đó bọc giấy đầu ốngnghiệm.
Môi trường giống cấp II (Giống sơ cấp): Các
loại hạt ngũ cốc được sử dụng làm cơ chất đểnuôi cấy thường dùng là lúa hạt Lúa sẽ được vosạch vớt bỏ các hạt lép, sâu mọt Được nấu trongnồi áp suất với thời gian khoảng 45 phút sao cho hạtlúa vừa nứt vỏ trấu là tốt, lúa sẽ được vớt và chovào bình đựng giống (khoảng 1/2 bình) dùng bôngkhông thấm nước nút miệng bình, dùng giấy bọc ởđầu miệng bình, các bình sẽ được hấp khử trùngvới thời gian 60 phút, nhiệt độ 1270C với áp suất 1,5atm Lúa sẽ được để nguội và cấy giống cấp Ivào
Giống sản xuất: Các đoạn thân của cây sắn
được cưa khoảng 12cm mỗi đoạn chẻ ra làm 4 phầnđược ngâm trong nước vôi nồng độ 1,5% sau đó đểráo nước và cho vào bình đựng giống, nút bông, bịtgiấy Hấp khử trùng với áp suất 1,5 atm, nhiệt độ
1270C, 120 phút lấy ra để nguội cấy giống cấp II
Trang 33vào Sau khoảng 10 - 20 ngày ta có thể sử dụng làmgiống đưa ra sản xuất.
3.6.Giá thể thí nghiệm (bịch môi trường)
Cơ chất: Câc nguồn phế thải mùn cưa cao su, bê vỏ lạc lănguyín liệu chính để nuôi trồng Linh Chi Tỷ lệ phối trộn :
- N1: 96,5 % mùn cưa cao su + 2 %bột ngô + 1,5 % câm gạo
- N2: 67,6 % mùn cưa cao su + 28,9 % bê vỏ lạc + 2 %bột ngô + 1,5 %câm gạo
- N3: 57,9 % mùn cưa cao su + 38,6 % bê vỏ lạc + 2 %bột ngô + 1,5 %câm gạo
Ta phối trộn mùn cưa cao su ,vỏ lạc tỷ lệ như trín với nước vôi cónồng độ 1,5 % trộn đều với MgSO4 0,1 % Tiến hănh đảo đều sao cho độ ẩmcuối cùng đạt 65-70% vă ủ khoảng 7 ngăy
Sau đó đưa cơ chất đê ủ trộn đều với bột ngô (2%) vă câm gạo(1,5%) Tiếp đó, đưa cơ chất nền đê được trộn đều văo bịch vă nện nhẹđồng thời xoay tròn bịch để cơ chất được nĩn đều vừa đủ độ chặt, trânh nĩnchặt quâ sẽ lăm cho sợi nấm khó phât triển, mỗi bịch cơ chất có trọnglượng1kg Tiếp đến ta buộc cổ bịch, dùng que nhọn có đường kính 1-1,5
cm xuyín văo miệng bịch câch đây bịch khoảng 1 cm Với mục đích trongkhi hấp khí nóng sẽ toả đều trong bịch thông qua lỗ xuyín năy
Trước khi hấp khử trùng ta đậy nút bông sao cho không quâ lỏng văcũng đừng nín quâ chặt nó sẽ lăm cho bịch dễ nhiễm bệnh nếu quâ lỏng,gđy khó khăn trong thao tâc cấy giống nếu đậy quâ chặt
Trang 34Tiến hành xếp các bịch nấm vào nồi hấp thành từng lớp sao cho cácbịch nấm phía trên không đè lên miệng của các bịch nấm phía dưới, nhưvậy khí nóng dễ xâm nhập vào và lưu thông trong bịch nấm hơn, đồng thờicũng làm cho bịch nấm không bị biến dạng sau khi hấp Dụng cụ để hấp lànồi hấp không có áp suất, hấp với thời gian 10-12 giờ ở nhiệt độ 90-1000C.Bịch nấm sau khi được hấp khử trùng sẽ để nguội, lúc đó sẽ tiến hànhcấy giống nấm vào bịch.
3.7 Thao tác trong cấy giống
Các thao tác trong khi cấy nhân giống đều phải thực hiện trongphòng cấy vô trùng, còn cấy giống vào bịch yêu cầu không khắc khe lắm,chỉ cần nơi kín gió, sạch sẽ, bàn cấy phải được lau cồn
Các dụng cụ chuẩn bị: Que cấy, đèn cồn, cồn, muỗng, kẹp, khay
Inox Tất cả được sát trùng bằng lửa đèn cồn
Người cấy: sử dụng quần áo chuyên dùng, tay được xoa cồn, nênđeo khẩu trang
Cách làm: Dùng que cấy (nếu cấy giống cấp I sang giống cấp II)
dùng muỗng (nếu cấy giống cấp II sang giống sản xuất) dùng kẹp (nếu cấygiống cấp II sang giống sản xuất) dùng kẹp (nếu cấy giống sản xuất vàobịch) Tất cả các thao tác phải thao tác nhanh gọn sau khi đưa giống vàocác nút bông sẽ được hơ nhanh qua ngọn lửa đèn cồn trước khi nút bông.Trong khi cấy các miệng chai, bịch đều đặt sát ngọn đền cồn để đảm bảo vôtrùng, sau khi cấy xong phải ghi ngày cấy lên nơi đã cấy sang
PHẦN 4KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Nghiên cứu thời gian sinh trưởng, phát triển hệ sợi của các chủng giống nấm Linh Chi
4.1.1 Thời gian sinh trưởng hệ sợi từ khi nuôi cấy đến lan 1/2 bịch
Trang 35Trong thời gian đầu, từ sau khi nuôi cấy đến khi hệ sợi lan 1/2 bịch
có tốc độ sinh trưởng chậm Nhìn chung, thời gian để đạt tới giai đoạn này
ở tất cả các chủng giống nghiên cứu là chênh lệch nhau không đáng kể,ngoại trừ chủng giống G4 (bảng 8) Hệ sợi của các chủng giống còn lại đềumọc với tốc độ tương đương nhau Chứng tỏ trên các nền cơ chất nghiêncứu, hệ sợi có thể mọc tốt trong giai đoạn đầu
4.1.2 Thời gian sinh trưởng hệ sợi từ khi cấy đến giai đoạn lan kín bịch
Mặc dù trong giai đoạn đầu, chủng giống G4 có thời gian chậm hơn
so với các chủng giống còn lại nhưng trong giai đoạn này thời gian đạt đến
hệ sợ lan kín bịch ở tất cả các chủng giống đều xấp xỉ như nhau, vàokhoảng 31-32 ngày (bảng 8) Tuy nhiên, kết quả cũng cho thấy thời gian hệ
sợi lan kín bịch của chủng giống G3(Ganoderma lucidum DL nguồn gốc
Đà Lạt) phát triển trên cơ chất nền N1(96,5 % mùn cưa cao su + 2 %bộtngô + 1,5 % cám gạo) là ngắn nhất, trung bình chỉ khoảng 28,3ngày(Cv=14,1%)
Trang 36Bảng 8: Thời gian sinh trưởng hệ sợi từ khi nuôi cấy đến lan kín bịch
4.1.3 Thời gian sinh trưởng hệ sợi đến ngày tưới đón nấm
Đây là thời kỳ rất quan trọng, có tính chất quyết định đến sức sinhtrưởng, phát triển của quả thể và năng suất của nấm Linh Chi Nếu tướiđón nấm sớm hoặc chậm sẽ dẫn đến hiện tượng quả thể phát triển kém, ảnhhưởng đến tính chống chịu sâu, bệnh của các chủng giống nấm nghiên cứu.Căn cứ vào thời gian hệ sợi lan kín bịch và màu sắc của hệ sợi để để có kỹthuật tưới đón nấm thích hợp nhất, cơ sở làm tăng năng suất Quá trình theodõi và thực hiện kỹ thuật này được ghi nhận trong bảng 9
Do thời gian đạt đến hệ sợi lan kín bịch ở tất cả các chủng giốngxấp xỉ như nhau nên thời gian từ khi nuôi cấy đến lúc tưới đón nấm cũng ít