Xây dựng và phát triển KTTT ở Việt Nam. Lý luận, nhận thức và giải pháp thực hiện
Trang 1Lời mở đầu
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định: "Việt Nam đã chuyển đổi thànhcông từ một nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế thị trường Ngày nay, ViệtNam đã là một nền kinh tế thị trường, là thành viên của WTO và là thành viênnăng động, tích cực của cộng đồng quốc tế" Chúng ta có được kết quả nhưngày hôm nay là một sự nỗ lực với các biện pháp và chính sách của đảng vànhà nước trong việc tiến hành đổi mới các DNNN Chúng ta đã tiến hànhnhiều biện pháp đổi mới như chuyển đổi mô hình doanh nghiệp thành công ty
mẹ công ty con, tập đoàn kinh doanh, cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước.Nhưng ở đây tôi chỉ nghiên cứu về vấn đề cổ phần hoá doanh nghiệp nhànước Trong đó cổ phần hoá là việc chuyển đổi những doanh nghiệp mà nhànước không cần nắm giữ 100% vốn sang loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ
sở hữu qua đó huy động của các nhà đầu tư trong nước và ngoài nướcđể nângcao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong kinh tế thị trường Lộ trìnhhội nhập đang tạo áp lực mạnh mẽ đối với việc cổ phần hoá nói riêng vàchuyển đổi DNNN nói chung, do vậy chúng ta cần phải chuyển đổi một cáchmạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn Đây là yêu cầu bắt buộc theo luật chơi củaWTO
Trong quá trình nghiên cứu, do còn nhiều hạn chế về nhiều mặt nên khôngthể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong sự thông cảm của các thầy, cô giáo Xin chân thành cảm ơn đã trực tiếp hướng dẫn giúp tôi hoàn thành đề tàinày
Trang 2Nội dung
I Những vấn đề về cổ phần hoá (CPH) Doanh nghiệp nhà nước (DNNN).
1 Thực chất và vai trò CPH DNNN ở Việt Nam.
1.1 Thực chất:
Đổi mới doanh nghiệp nhà nước là vấn đề mang tính phổ biến của nhiềunước trên thế giới đặc biệt là các nước dang phát triển Việc đổi mới doanhnghiệp nhà nước được thực hiện bằng nhiều giải pháp, trong đó cổ phần hoáDNNN là một giải pháp quan trọng Ở nước ta, CPH DNNN đang là một chủtrương lớn của đảng và nhà nước Thực chất của CPH chính là việc chuyểnđổi những doanh nghiệp mà nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn sang loạihình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu qua đó huy động của các nhà đầu tưtrong nước và nước ngoài để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệptrong kinh tế thị trường CPH giúp đảm bảo hài hoà lợi ích của nhà nước,doanh nghiệp, các nhà đầu tư và của những người lao động trong doanhnghiệp Chúng ta tiến hành CPH là do:
1.2 Lý do cổ phần hoá:
Hiệu quả hoạt động, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước
giảm: Trong những năm 80, đối với các nước có nền kinh tế phát triển cũng
như đang phát triển, thì vai trò của doanh nghiệp nhà nước đã được khẳngđịnh và giữ vị trí chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân Nhìn về tổng thể thì cónhững doanh nghiệp nhà nước hoạt động tốt, hiệu quả kinh tế cao, nhưng cókhông ít các doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả Nhà nước phảidùng chính sách kinh tế vĩ mô để bảo hộ, như: Miễn giảm thuế, cấp vốn ưuđãi đầu tư, bù lỗ Theo Thông báo Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trungương Đảng khoá IX đã nhận định: Doanh nghiệp nhà nước còn những mặthạn chế, yếu kém, hiệu quả kinh doanh nhìn chung còn thấp, chưa tương xứngvới nguồn lực đã có và sự trợ giúp của Nhà nước; công nợ còn nhiều, chậmđổi mới công nghệ, lao động còn dôi dư lớn, chưa thực sự tự chủ trong kinh
Trang 3doanh, trình độ quản lý còn yếu kém, cơ cấu doanh nghiệp nhà nước cònnhiều bất hợp lý
Nhà nước giảm dần sự bảo hộ đối với doanh nghiệp nhà nước Các nước
phương tây đã phải dao động giữa thời kỳ vững chãi của những thành côngkhu vực kinh tế nhà nước và sự phát triển của khu vực phi nhà nước cũng nhưviệc mở rộng thị trường Mặt khác, tỷ lệ lạm phát và nợ của Nhà nước ngàycàng tăng đã làm cho nhiều chính phủ phải tự xem lại chính sách kinh tế củamình Trong bối cảnh toàn cầu hoá và khu vực hoá về thị trường sản phẩm vàthị trường vốn, hàng loạt các ngành công nghiệp đã trở nên càng ngày càngkhó khăn hơn và không còn giải pháp nào khác là hợp tác quốc tế để giảiquyết những khó khăn đó Đồng thời, việc phát triển các ngành công nghiệp,phát triển sản xuất và những vấn đề liên quan đến sản xuất của các doanhnghiệp nhà nước đều do Nhà nước quyết định hoặc lãnh đạo doanh nghiệpnhà nước quyết định đã phần nào gặp trở ngại trong môi trường mới đòi hỏi
phải có các quyết định nhanh và kịp thời trong nền kinh tế thị trường Nhà
nước giảm dần chức năng làm kinh tế Nhà nước không có tham vọng hành
chính hoá nền kinh tế, cũng như không thể thay thế được vai trò của thịtrường và các doanh nghiệp Tuy nhiên, xét trên nhiều phương diện, sự quản
lý, tác động của Nhà nước là điều kiện không thể thiếu được cho sự vận hànhhiệu quả của nền kinh tế thị trường Cho dù luật chơi của thị trường có hiệuquả đến đâu thì cũng không thể thả nổi hoàn toàn nền kinh tế cho quy luật tựđiều chỉnh của thị trường Sẽ là ảo tưởng nếu cho rằng thị trường tự nó sẽ tựđiều chỉnh, tự nó có đủ cơ chế để vận hành hiệu quả
Nhà nước điều tiết thị trường thông qua các quy phạm pháp luật và cơ chếchính sách Nhà nước cũng có thể can thiệp, điều tiết thị trường bằng việcthành lập các cơ quan được giao đặc trách việc điều tiết, quản lý kinh tế, vớiqui chế độc lập Việc Nhà nước hạn chế, giảm thiểu các biện pháp can thiệptrực tiếp vào nền kinh tế và làm thay các doanh nghiệp nhà nước dẫn đến haithay đổi đáng kể: Thứ nhất: tăng cường vai trò quản lý của các cơ quan nhànước thông qua việc ban hành các quy phạm pháp luật, tạo hành lang pháp lýchặt chẽ hơn cho sự vận hành của thị trường; thứ hai: tăng cường tính chủ
Trang 4động, trách nhiệm của doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanhtrước thị trường
Hiện nay, các khoản nợ, việc chiếm dụng vốn giữa các doanh nghiệp vớinhau rất lớn, Nhà nước lại phải đứng ra lo trả nợ để đảm bảo cho sự hoạt độngbình thường mặc dù không thu về được vốn Điều đó đã khiến các doanhnghiệp nhà nước đã trở thành gánh nặng cho ngân sách nhà nước Mức độ tổnthất do khu vực doanh nghiệp nhà nước gây ra cho ngân sách nhà nước đãlàm ảnh hưởng, thiếu lòng tin về khả năng, lợi ích của khu vực kinh tế này đốivới sự phát triển cân đối của nền kinh tế, đồng thời để lại những hậu quảnghiêm trọng về mặt xã hội như: Tệ tham nhũng, quan liêu, cửa quyền, ỷ lạivào nhà nước, thất nghiệp tăng Để giảm bớt những gánh nặng này, Nhànước đã từng bước tiến hành cổ phần hoá các doanh nghiệp của mình
1.3 Vai trò của cổ phần hoá:
Trong bối cảnh này, vị trí, vai trò của các doanh nghiệp nhà nước cũng cầnthay đổi cho phù hợp Các doanh nghiệp nhà nước muốn giải quyết vấn đềnày không thể tự mình quyết định mà phải qua nhiều thủ tục hành chính củacác cấp có thẩm quyền để chớp lấy thời cơ hội nhập và hợp tác quốc tế.Chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước sang các loại hình doanh nghiệp có nhiềuchủ sở hữu là một giải pháp hữu hiệu Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nướclàm thay đổi căn bản trên ba mặt đối với doanh nghiệp nhà nước:
Chuyển hoá từ đơn sở hữu sang đa sở hữu doanh nghiệp, đảm bảo quyềnlàm chủ thực sự của những người góp vốn và nâng cao hiệu quả sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp Đảm bảo hài hoà lợi ích của nhà nước, doanhnghiệp, các nhà đầu tư và của người lao động trong doanh nghiệp
Thay đổi căn bản về tổ chức các quan hệ quản lý nội bộ doanh nghiệp.Với cơ cấu tổ chức mới, có sự phân công, phân cấp và giám sát lẫn nhau chặtchẽ Giúp cho quá trình thực hiện công việc công khai minh bạch các vấn đềcủa doanh nghiệp theo nguyên tắc thị trường Gắn sự phát triển của doanhnghiệp với sự phát triển của thị trường chứng khoán
Thay đổi căn bản về quan hệ quản lý giữa Nhà nước và doanh nghiệp Từchỗ doanh nghiệp bị chi phối toàn diện trong quá trình sản xuất kinh doanh
Trang 5bởi Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu duy nhất, sang quyền tự chủ kinhdoanh được mở rộng và tính chịu trách nhiệm được đề cao.
2 Các mô hình CPH ở Việt Nam.
Quá trình chuyển đổi DNNN sang công ty cổ phần là rất phức tạp Nó dẫnđến hàng loạt những thay đổi trong doanh nghiệp như: cơ cấu tổ chức, cơ cấuvốn, hình thức sở hữu…Vì vậy, Nhà nước đã đề ra 3 mô hình CPH cơ bảnsau:
2.1 Giữ nguyên giá trị thuộc vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, pháthành thêm cổ phiếu nhằm huy động thêm vốn của xã hội để đầu tư vào sảnxuất kinh doanh Hình thức này áp dụng cho các doanh nghiệp mà nhà nướccần giữ một tỷ lệ cổ phần nhất định trong doanh nghiệp và doanh nghiệp đanghoạt động có hiệu quả, cần vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh
2.2 Bán bớt phần vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp cho người laođộng trong doanh nghiệp và các nhà đầu tư khác để chuyển thành công ty cổphần Hình thức này được áp dụng cho các doanh nghiệp chưa cần huy độngthêm vốn, mà chỉ cơ cấu lại quyền sở hữu về vốn và biện pháp quản lý doanhnghiệp
2.3 Bán toàn bộ phần vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, áp dụng chocác doanh nghiệp mà nhà nước không cần nắm giữ cổ phần chi phối
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện tuỳ từng hoàn cảnh của mỗi daonhnghiệp mà có thể áp dụng hình thức nào hoặc kết hợp linh hoạt giữa các hìnhthức trên Nhưng vấn đề quan trọng là làm sao để người lao động chiếm giữmột tỷ lệ cổ phần nhất định trong doanh nghiệp sau khi tiến hành cổ phần hoá,tạo động cơ để họ nâng cao hiệu quả sản xuất và kinh doanh Hiện nay ở nước
ta đang tiến hành hỗn hợp cả ba mô hình
Trang 6II Thực trạng tiến trình CPH DNNN ở Việt Nam.
Tiến trình CPH ở nước ta được tiến hành qua 4 gíai đoạn: tiến hành thí
điểm từ năm 1992 – 1996 gắn với NĐ 28/CP kết thúc giai đoạn này chúng taCPH được 5 DNNN Giai đoạn hai là giai đoạn mở rộng từ tháng 6/1996 –tháng 6/1998 gắn với NĐ 44/CP kết thúc giai đoạn này chúng ta CPH được 3DNNN Giai đoạn 3 là giai đoạn chủ động diễn ra từ tháng 7/1998 – tháng7/2002 gắn với NĐ 64/CP kết thúc giai đoạn này chúng ta CPH được 784doanh nghiệp Giai đoạn 4 là giai đoạn đẩy mạnh diễn ra từ tháng 7/2002 chođến nay gắn với NĐ 187/CP Ngày 26/6/2007 CP ban hành NĐ 109/CP để chỉđạo quá trình CPH doanh nghiệp nhà nước Và nội dung chủ yếu của CPH là:thứ nhất là đẩy nhanh tiến độ CPH, mở rộng diện các doanh nghiệp nhà nướccần phải CPH Tiến hành CPH các tổng công ty, DNNN quy mô lớn; thứ hai
là đối với các doanh nghiệp còn lại thì phải chuyển sang hoạt động công tytrách nhiệm hữu hạn 1 thành viên( những doanh nghiệp mà nhà nước nắm giữ100% vốn); thứ ba là cơ cấu lại các tổng công ty theo mô hình công ty mẹ -công ty con và xây dựng một số tập đoàn kinh tế mạnh; thứ tư là đổi mới vàlành mạnh hoá tài chính doanh nghiệp, từng bước hiện đại hoá công nghệ vàtrình độ quản trị trong các doanh nghiệp nhà nước Qua các giai đoạn và nộidung tiến hành CPH như vậy chúng ta đã:
1 Thành tựu đạt được:
1.1 Khắc phục được cơ bản tình trạng CPH khép kín Chúng ta đã quy địnhlượng cổ phần tối thiểu phải đấu giá bán công khai Việc định giá các doanhnghiệp phải do các cơ quan tổ chức có chức năng định giá tiến hành do cáccông ty tài chính, các ngân hàng đầu tư trong và ngoài nước từ đó góp phầntăng tính công khai minh bạch trong quá trình kế hoạch hoá cổ phần nhànước Khi bán cổ phần ra bên ngoài các doanh nghiệp đã chủ động lựa chọnđược các nhà đầu tư chiến lược Thông qua bán đấu giá các doanh nghiệp đềubán được mệnh giá cao hơn cổ phần Bộ chính trị cũng đã có chỉ thị 45, trong
đó nhấn mạnh đến việc chấm dứt trình trạng CPH khép kín Bởi vì chỉ khi nàocác cổ đông là nhà đầu tư chiến lược tham gia vào doanh nghiệp với tỉ lệ sởhữu cổ phần lớn, cơ cấu hội đồng quản trị, ban điều hành thay đổi thì cungcách, tư duy quản lý mới có thể thay đổi và chuyển biến được
Trang 71.2 Hầu hết các doanh nghiệp sau khi CPH thì hoạt động sản xuất kinhdoanh có hiệu quả hơn kết quả điều tra năm 2005 Trong 850 doanh nghiệpCPH thì cho thấy vốn điều lệ tăng 44%, lợi nhuận tăng 14% và thu nhập của 1lao động tăng 12% cổ tức bình quân trong các doanh nghiệp mà cổ phần hoánăm 2006 là 17% Quyền lợi của 1 lao động trong các doanh nghiệp CPH đãđược đảm bảo, lao động dôi dư được hương chính sách trợ cấp theo NĐ 41của CP Riêng năm 2005, chúng ta có 85500 lao động dôi dư và bình quânmỗi lao động thì hỗ trợ 32triệu đồng Cán bộ công nhân viên được mua cổphần ưu đãi với giá giảm 40% so với giá đấu bình quân thành công
Tính đến hết tháng 8/2006, cả nước đã sắp xếp được 4.447 doanh nghiệp,trong đó, CPH 3.360 doanh nghiệp Riêng từ năm 2001 đến nay đã sắp xếpđược 3.830 doanh nghiệp Nhà nước, bằng gần 68% số doanh nghiệp Nhànước đầu năm 2001 Sau quá trình thực hiện sắp xếp, số lượng doanh nghiệpNhà nước giảm nhưng vẫn tiếp tục giữ vai trò chi phối những ngành, lĩnh vựcthen chốt Khu vực doanh nghiệp Nhà nước vẫn đóng góp gần 40% GDP và50% tổng thu ngân sách Nhà nước Dựa trên báo cáo của các bộ, ngành, địaphương về kết quả hoạt động của 850 doanh nghiệp CPH đã hoạt động trên 1năm cho thấy, vốn điều lệ bình quân tăng 44%, doanh thu bình quân tăng23,6%, lợi nhuận thực hiện bình quân tăng 139,76% Đặc biệt, có tới trên90% số doanh nghiệp sau CPH hoạt động kinh doanh có lãi, nộp ngân sáchbình quân tăng 24,9%, thu nhập bình quân của người lao động tăng 12%, sốlao động tăng bình quân 6,6%, cổ tức bình quân đạt 17,11% Cùng với việcsắp xếp, CPH doanh nghiệp Nhà nước, từ năm 2001 đến nay, trên địa bàn cảnước đã tiến hành giải thể 5 tổng công ty không giữ được vai trò chi phối,đồng thời hỗ trợ các công ty thành viên sát nhập, hợp nhất 7 tổng công ty; tổchức lại tổng công ty rượu - bia - nước giải khát thành 2 tổng công ty; thànhlập thêm 17 tổng công ty Nhà nước, tổ chức lại 7 tổng công ty thành tập đoàn,đưa 1 tổng công ty 90 vào cơ cấu của tập đoàn Như vậy, đến hết tháng9/2006, cả nước đã có 105 tập đoàn và tổng công ty, cụ thể gồm 7 tập đoàn,
13 tổng công ty 91; 83 tổng công ty thuộc các bộ, ngành, địa phương và 2tổng công ty thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - khoáng sản Việt Nam.Theo
Trang 8số liệu tổng hợp từ các bộ, địa phương, đến nay, cả nước còn 2.176 doanhnghiệp 100% vốn Nhà nước với tổng số vốn Nhà nước gần 260 nghìn tỷđồng Trong đó, 1.546 doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh, 355doanh nghiệp quốc phòng an ninh và sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụcông ích và 295 nông, lâm trường quốc doanh.
Trang 9năm là, hầu hết các doanh nghiệp sau cổ phần hoá đều làm ăn có hiệu quả,vốn, doanh số, lợi nhuận, thu nhập của người lao động đều tăng Cổ tức bìnhquân đạt 17%/năm
2 Bên cạnh những thành tựu đạt được chúng ta vẫn còn những hạn chế
đó là:
2.1 Đối tượng các doanh nghiệp CPH còn hạn chế chưa đáp ứng được yêucầu về đẩy mạnh CPH Hầu hết các doanh nghiệp CPH cho đến nay là cácdoanh nghiệp địa phương có quy mô nhỏ Nhiều doanh nghiệp thì vẫn nétránh CPH bằng cách chuyển sang hoạt động mô hình công ty mẹ công ty conhoặc những mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên
2.2 Quyền sở hữu thực tế trong các doanh nghiệp đã CPH thì được chuyểnđổi rất ít cho đến hết năm 2005, tổng số vốn trong các doanh nghiệp đã CPHchỉ chiếm 12% tổng số vốn trong các DNNN Tuy nhiên trong số các doanhnghiệp đã CPH và nhà nước vẫn nắm giữ 38% vốn cổ phần, 1lao động trongdoanh nghiệp nắm 54%, các cổ đông bên ngoài chỉ nắm giữ 8% cổ phần hoáchưa làm rõ mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước, người lao động 2.3 Lộ trình CPH thì diễn ra hết sức chậm chạp đặc biệt khi chúng ta tiếnhành CPH các doanh nghiệp quy mô lớn, các doanh nghiệp trong lĩnh vực tàichính, ngân hàng Bên cạnh một số Bộ, địa phương triển khai tích cực, hoànthành kế hoạch thì còn những Bộ, ngành, địa phương chưa hoàn thành theo đề
án đã được phê duyệt Thậm chí có đơn vị như Tổng công ty Công nghiệp tàuthủy, kế hoạch cổ phần hóa 21 doanh nghiệp nhưng cả 2 năm 2004, 2005không thực hiện được doanh nghiệp nào Cổ phần hoá doanh nghiệp theo lĩnhvực và địa bàn cũng không đồng đều, tính chung đến cuối năm 2005, DNNNđược cổ phần hóa trong ngành công nghiệp, giao thông, xây dựng chiếm 66%;ngành thương mại, dịch vụ chiếm 27,6%; ngành nông, lâm, ngư nghiệp chỉchiếm 6,4%; doanh nghiệp nhà nước do tỉnh, thành phố trực thuộc trung ươngquản lý được cổ phần hóa chiếm 61,7%; các tổng công ty 91 chiếm 9,3% Sựchây ỳ diễn ra ở hầu hết các bộ, ngành, địa phương Do vừa làm vừa rút kinhnghiệm nên không tránh khỏi việc phải trả học phí Chẳng hạn chuyện cổ
Trang 10phần hóa khép kín, thực ra là chia cổ phần chứ không phải bán cổ phần.Trong định giá tài sản thì tài sản hữu hình tính không chính xác đã đành,trong khi tài sản vô hình gần như không tính được 2.4 Định giá doanh nghiệp: các tài sản hữu hình định giá không chính xác.Tài sản vô hình gần như không xác định được Chúng ta chưa có một cơ chế
để giám sát các tổ chức trung gian định giá khi CPH Một số tổ chức định giáchưa phù hợp với thực tế Một số phiên đáu giá cổ phần gần đây của cácdoanh nghiệp qua trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội đã có mức giákhởi điểm cao hơn so với kỳ vọng của các nhà đầu tư; do vậy đã không cónhà đầu tư trúng thầu Bên cạnh đó, các tổ chức tư vấn chưa gắn kết hoạtđộng xác định giá trị doanh nghiệp, tư vấn xây dựng phương án CPH, bán đấugiá cổ phần và niêm yết, đăng ký giao dịch trên thị trường chứng khoán vớinhau Hiện nay các tổ chức tư vấn chủ yếu chỉ thực hiện nghiệp vụ định giá,
tư vấn CPH, còn quá trình sau CPH thuộc về doanh nghiệp trong khi khả năngcủa doanh nghiệp lại rất hạn chế đối với quá trình này và bản thân lãnh đạocủa các doanh nghiệp cũng chưa được cập nhật kiến thức về thị trường chứngkhoán Mặt khác văn bản pháp lý về định giá còn chưa thống nhất Theo quyđịnh, tổ chức định giá thực hiện dịch vụ xác định giá trị doanh nghiệp để CPHphải có chức năng định giá trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặcgiấy phép đầu tư mà phần lớn các tổ chức định giá được lựa chọn và công bố
đủ tiêu chuẩn lại không đáp ứng được tiêu chuẩn về doanh nghiệp thẩm địnhgiá như quy định Tiếp đó là khó khăn của các công ty chứng khoán trongviệc triển khai hoạt động tư vấn bởi theo thông tư 126 thì: “Tổ chức định giáphải đảm bảo có chức năng định giá trong giấy chứng nhận đăng ký kinhdoanh hoặc giấy phép đầu tư” Tuy nhiên, trong giấy phép kinh doanh do uỷban Chứng khoán nhà nước cấp cho các công ty chứng khoán hiện tại chưa cóchức năng này Đây chính là bất cập lớn gây cản trở cho quá trình CPH.Nhưng bất cập lớn nhất hiện nay là vấn đề kinh phí Đây được coi là vấn đề
“muôn thuở” của các tổ chức, đơn vị làm tư vấn xác định giá trị doanh nghiệpbởi theo đại diện công ty cổ phần chứng khoán Sài Gòn, một khoản phí để chicho việc thẩm định giá đã phải “chia năm sẻ bảy” trong khi sự rủi ro trong
Trang 11khâu thẩm định giá lại rất cao Hơn nữa các đơn vị tư vấn về chứng khoán vàcác công ty kiểm toán chỉ có thể định giá về tái chính còn các tìa sản chuyêndụng như nhà cửa, vật thể kiến trúc, các vật tư ứ đọng chờ thanh lý đòi hỏiphải có các chuyên gia về thẩm định thì chính bản thân đơn vị tư vấn lạikhông có đủ điều kiện để thuê người định giá vì thế mà phải “cây nhà lávườn” dẫn đến dịch vụ tư vấn, xác định giá trị doanh nghiệp không cao,không sát với giá thị trường đưa đến kết quả hoặc giá trị tài sản của doanhnghiệp rất cao hoặc lại rất thấp so với thực tế nên đã không hấp dẫn các nhàđầu tư.
2.5 Vấn đề quản lý phần vốn nhà nước tại các doanh nghiệp sau khi CPHhiện cũng là vấn đề đang được thảo luận Chúng ta cần xác định rõ quyền lợitrách nhiệm quyền hạn của những người đại diện phần vốn của nhà nước tạicác doanh nghiệp CPH Trong những doanh nghiệp sau khi CPH nhà nướcvẫn còn nắm giữ quá nhiều vốn vì vậy các doanh nghiệp này chưa có nhữngthay đổi cơ bản về tổ chức, về quá trình theo mô hình của 1 công ty cổ phầnthực sự, nhiều cơ quan quản lý của nhà nước còn can thiệp quá sâu vào hoạtđộng của các doanh nghiệp sau khi CPH Đối với nhiều doanh nghiệp sau khiCPH bộ máy quản trị và tư duy điều hành vẫn như cũ Theo kết quả điều tratại các doanh nghiệp CPH: 86% giám đốc, 88% phó giám đốc, 90% kế toántrưởng vẫn giữ nguyên như cũ Điều này sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển trunghạn và dài hạn trong các doanh nghiệp CPH
2.6 Chính sách giải quyết cho lao động dôi dư theo NĐ41 đã kết thúc vàotháng 12/2005 vì vậy nó ảnh hưởng tới tốc độ CPH, hiện nay chúng ta chưa
có NĐ mới
2.7 Quy mô cổ phần hoá vẫn còn nhỏ, tốc độ vẫn còn chậm và còn nhiềubất cập Sau hơn 10 năm, chúng ta mới cổ phần hoá được khoảng 10% vốnnhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước Hầu hết các doanh nghiệp nhà nướcđược cổ phần hoá trong thời gian qua là các doanh nghiệp vừa và nhỏ Trong
số gần 3.000 doanh nghiệp đã được cổ phần hoá chỉ có khoảng 30% là có quy
mô vốn trên 5 tỷ đồng Như vậy rõ ràng là tình trạng độc quyền của nhà nước
Trang 12trong quản trị doanh nghiệp về cơ bản vẫn chưa được xoá bỏ Đây là nguyênnhân chính tiếp tục kìm hãm sức phát triển của nền kinh tế, làm giảm hiệu quảđầu tư như chúng ta đã nhiều lần đề cập Tiến trình cổ phần hoá ở hầu hết cáclĩnh vực then chốt, những Tổng Công ty “đỉnh” vẫn khá ì ạch Cổ phần hoáVietcombank - ngân hàng thương mại lớn nhất, mạnh nhất Việt Nam luônđược nhắc đến như một “bước đột phá” nhưng tiếc thay vẫn chưa bước rakhỏi giai đoạn chuẩn bị Kế hoạch cổ phần hoá của nhiều Công ty, Tổng Công
ty lớn cũng đang trong tình trạng tương tự, nghĩa là liên tiếp bị trì hoãn từnăm này qua năm khác với nhiều lý do khác nhau Bên cạnh đó, nếu chịu khóquan sát một chút sẽ thấy cổ phần hoá các Công ty “màu mỡ” hầu như vẫn làcuộc “độc diễn” của các đại gia, chưa có “đất” cho các nhà đầu tư đại chúng.Hay nói cách khác đi là có tình trạng cổ phần hoá “khép kín” ở một số đơn vị
mà báo giới đã không ít lần phản ảnh
2.8 Bộc lộ một số “vấn đề” ở một số doanh nghiệp hậu cổ phần hoá Một sốdoanh nghiệp sau cổ phần hoá vẫn nằm trong tình trạng “bình thì mới nhưngrượu vẫn cũ”, nghĩa là ít có sự thay đổi về cơ cấu và cơ chế quản lý, năng lựcđiều hành và tất nhiên là hiệu quả kinh doanh cũng không được cải thiện.Vẫn có tới gần 10% doanh nghiệp hậu cổ phần hoá tiếp tục nằm trong tìnhtrạng thua lỗ Khá hài hước nhưng không ngạc nhiên khi có Công ty cổ phầnquyết định chia cổ tức bằng chè, bằng nông sản Một phần do nhận thức củacác cổ đông nhỏ lẻ (cá nhân, cán bộ công nhân viên ) chưa cao nên có tìnhtrạng là họ hầu như không có thực quyền nào trong việc kiểm soát phần vốncủa mình cũng như thực thi đầy đủ các quyền cơ bản của cổ đông Do vậy, ởkhông ít Công ty cổ phần, thực quyền chi phối doanh nghiệp nằm trong taymột số ít người có trách nhiệm và nắm được thông tin Vì thế, hiện tượng lạmdụng quyền lực vì lợi ích cá nhân là không thể tránh khỏi Nhiều Công ty cổphần nhiều năm không tiến hành đại hội cổ đông, không công khai báo cáo tàichính Bi quan hơn, có một số doanh nghiệp nhà nước loại “vừa vừa” sau khiđược cổ phần hoá đang có nguy cơ bị “tư hữu hoá”.Mặt khác, tại nhiều doanhnghiệp nhà nước không cần nắm giữ cổ phần chi phối nhưng vẫn giữ tới hơn