1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

skkn con đường tôi luyện để trở thành 1 giáo viên chủ nhiệm giỏi

32 3,9K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 808,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

về công tác chủ nhiệm trong tôi dần được tích lũy theo năm tháng.GVCN là công việc kiêm nhiệm thú vị nhưng muôn vàn khó khăn.Nếu như GV bộ môn là người thầy giảng dạy, đứng lớp truyền lử

Trang 1

về công tác chủ nhiệm trong tôi dần được tích lũy theo năm tháng.

GVCN là công việc kiêm nhiệm thú vị nhưng muôn vàn khó khăn.Nếu như GV bộ môn là người thầy giảng dạy, đứng lớp truyền lửa trithức cho hs qua những bài học thì GVCN không chỉ là người thầy truyềnlửa ấy mà còn là người bạn lớn, người anh/chị, người cha/mẹ … của HS.Trong hơn 10 năm làm công tác chủ nhiệm tôi luôn cho rằng : giáo dục,định hướng giúp HS hoàn thiện và phát triển nhân cách là nhiệm vụ hàngđầu của người GVCN

Trang 2

Tôi luôn nung nấu mình sẽ viết một đề tài nghiên cứu về công tácchủ nhiệm Năm học 2012-2013 để tham gia hưởng ứng :

+ Cuộc vận động “Mỗi thầy, cô giáo là tấm gương tự học và sáng tạo”.+ Hội thi “GVCN giỏi DGPT và GDTX” chu kì 2012-2016 (theo Thông

tư 43/2013/TT- BGDĐT)

Tôi mạnh dạn viết SKKN tham dự hội thảo báo cáo khoa học cấptrường và gửi đi cấp tỉnh : Với đề tài “Con đường tôi luyện để trở thànhGVCN giỏi” ( Hay “Giáo dục, định hướng cho HS THPT trong quá trìnhhình thành và phát triển nhân cách”) Tôi hi vọng đây sẽ là một “thànhquả lao động đẹp đẽ” của mình trong quá trình tự học và sáng tạo

2 Mục đích và đối tượng của đề tài:

- Mục đích của đề tài là tìm tòi, phát hiện ra những biện pháp giáodục tối ưu cho hs trên con đường hình thành và phát triển nhân cách, phùhợp với yêu cầu và xu hướng thời đại của thế hệ hs 9X ( những hs sinhnăm 1990 đến 1999)

- Đối tượng nghiên cứu là HS trường THPT Như Thanh (đặc biệt làcác khóa tôi được phân công là GVCN)

Trang 3

+ Lớp B10 (khóa 2006-2009)

+ Lớp C9 (khóa 2007-2010)

+ Lớp C10 (khóa 2010-2013)

3 Đóng góp mới của đề tài :

Từ việc nghiên cứu thực nghiệm và quá trình áp dụng nhữngphương pháp giáo dục vào thực tiễn trong công tác chủ nhiệm, tôi hivọng SKKN này sẽ khẳng định thêm một hướng tiếp cận cho GVCN Từđấy, phục vụ công tác giáo dục định hướng hình thành và phát triển nhâncách cho HS Điểm mới nổi bật của đề tài là từ quá trình sử dụng mạng

xã hội của GVCN đến việc giáo dục lòng nhân ái cho HS khi mà “sự thờ

ơ vô cảm đang như một thứ axit ăn mòn xã hội”…

4 Phương pháp nghiên cứu :

Khi triển khai đề tài này, tôi sử dụng những phương pháp sau:

+ Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

+ Phương pháp khảo sát, thống kê

+ Phương pháp thực nghiệm sư phạm

+ Phương pháp giáo dục tích hợp

Trang 4

GVCN giỏi là người có những sáng tạo trong công việc, trong quátrình định hướng cho HS phát triển nhân cách…

1.2 HS THPT và quá trình hình thành và phát triển nhân cách :

( Theo tâm lí học)

Trang 5

Nhân cách : là tổ hợp những đặc điểm của cá nhân, nó qui địnhhành vi xã hội và giá trị xã hội của con người Sự hình thành và pháttriển nhân cách là quá trình cải biến 1 cách sâu sắc và toàn diện nhữngsức mạnh thể chất và tinh thần của con người diễn ra theo qui luật tíchlũy về lượng, biến đổi về chất nhằm chuyển hóa cá thể người thành 1 chủthể có ý thức trong xã hội.

Giáo dục giữ vai trò chủ đạo đối với sự hình thành và phát triểnnhân cách , điều đó thể hiện ở những mặt sau:

+ Giáo dục là sự tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch nhằmthực hiện hiệu quả các mục đích đã đề ra

+ Giáo dục có thể uốn nắm những phẩm chất tâm lí làm cho nó phát triểntheo chiều hướng mong muốn của xã hội

Thực tế giáo dục đã chứng minh rằng : sự phát triển nhân cách chỉdiễn ra tốt đẹp trong những điều kiện có giáo dục và định hướng…

HS THPT : là lứa tuổi 15-18, đây là giai đoạn quan trọng trong quátrình hình thành và phát triển nhân cách của mỗi cá nhân Là lứa tuổi cónhiều biến động về tâm sinh lí, lứa tuổi mà các em không còn là trẻ connhưng chưa phải là người lớn, lứa tuổi cái tôi cá nhân xuất hiện rõ nét

Trang 6

với những khám phá và nhận thức về cuộc sống Giai đoạn này rất cần sựđịnh hướng, bảo ban của gia đình và nhà trường, đặc biệt là thầy cô chủnhiệm

* Và GVCN giỏi là người làm tốt điều này, là người có quá trìnhgiáo dục, định hướng tốt cho HS trong quá trình phát triển và hình thànhnhân cách

2 Cơ sở thực tiễn :

2.1 Thực trang chung:

Seach google những cụm từ liên quan đến HS, sẽ cho ra những kếtquả thực sự đáng báo động, những con số làm cho những nhà giáo vànhững người làm công tác trong ngành giáo dục phải đau lòng:

+ HS THPT đánh nhau : 2.990.000 kết quả trong 0,30 giây

+ HS THPT nghiện game : 5.300.000 kết quả trong 0,16 giây

+ HS THPT đánh bài ăn tiền : 1.340.000 kết quả trong 0,17 giây

+ HS THPT nạo phá thai : 892.000 kết quả trong 0,13 giây

………

Bên cạnh bộ phận HS chăm ngoan, sống có lí tưởng, hoài bão…vẫn còn tồn tại bộ phận không nhỏ HS xuống cấp về nhân cách, lối sống

Trang 7

đạo đức Vì vậy, giáo dục nhân cách cho HS THPT thực sự trở thành vấn

đề cấp thiết hàng đầu

2.2 Thực trạng ở trương THPT Như Thanh :

Trường THPT Như Thanh : là một ngôi trường hiền hòa + Về GV : những GV được phân công công tác GVCN tuổi đời, tuổinghề của còn khá trẻ, phần đa họ đều là những thầy cô tận tụy, nhiệthuyết với nghề Tuy nhiên, vẫn còn một số GVCN do điều kiện hoàncảnh gia đình con nhỏ nên sự quan tâm đến HS còn hạn chế, kinhnghiệm về công tác chủ nhiệm còn non trẻ nên hiệu quả công việc chưacao

+ Về HS : nhìn chung HS ngoan ngoãn, lễ phép Bên canh đấy là bộphận không nhỏ HS cá biệt Năm học 2012-2013, hội đồng kỉ luật nhàtrường đã xử lí 58 trường hợp

( trong đó có HS đánh nhau, HS vi phạm nội qui nhà trường nhiều lần,

HS đánh bài ăn tiền…)

Làm công tác chủ nhiệm, người GV phải xác định rõ : GD nhâncách cho HS là nhiệm vụ quan trọng : Đối tượng HS chăm ngoan cần

Trang 8

định hướng, HS cá biệt cần giáo dục trong qua trình hình thành và pháttriển nhân cách.

Trở thành GVCN giỏi luôn là mục tiêu lớn trong quá trình làmcông tác chủ nhiệm của những GV yêu nghề, yêu trò Đấy thực sự là 1quá trình “tôi luyện” học hỏi không ngừng nghỉ Tôi xin mạnh dạn trìnhbày những biện pháp mà tôi đã sử dụng trong quá trình tôi luyện củamình

II Những biện pháp thực hiện :

Trang 9

Facebook được thành lập 28.10.2003 do Mark Zuckerberg và nhómbạn SV ĐH Harvard sáng lập nên Facebook có tốc độ phát triển chóngmặt : năm 2010, số lượng người truy cập vào Facebook vượt xa lượngngười truy cập và google…

Facebook – trang cá nhân, thực chất là 1 dạng nhật kí công khaisinh động, phong phú…Do tính chất đặc thù tự do ngôn luận và nhữngkiện tung nên Facebook bị cấm sử dụng ở Việt Nam và 1 số nước khác.Bắt đầu 2012, Facebook đã được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam SV và

HS THPT là đối tượng sử dụng nhiều nhất

HS trường THPT Như Thanh có số lượng lớn sử dụng mang xã hộinày Theo số liệu điều tra của cá nhân tôi : cứ 1 lớp trung bình 50 HS thì

có khoảng từ 15 – 20 HS sử dụng mạng xã hội này Tai các lớp chọn nhưC1, C2, C3…A1, A2, A3…số lượng HS sử dụng thường nhiều hơn.Ngoài trang cá nhân HS trường THPT Như Thanh còn lập những trangcộng đồng công khai như : Như Thanh Confessions, C2- forever, C3 –maimaimottinhyeu, A6-sieuquay.confessions…

Trang 10

Con số này ở các trường THPT đóng trên địa bàn thành phố ThanhHóa có lẽ sẽ nhiều hơn rất nhiều Các em có thể lên Facebook qua máytính, laptop, ipad hoặc điện thoại di động có kết nối mạng…

HS sử dụng Facebook như thế nào? Các em làm gì trên Facebook? Sau quá trình thường xuyên sử dụng Facebook, tôi đã vào thăm và đọctrang cá nhân của các em …Tôi tạm chia thành 2 nhóm:

Nhóm 1 (nhóm tích cực)

Nhóm 2 (nhóm tiêu cực)

Facebook là nơi các em thể hiện ước mơ,

khát vọng :

“Tôi sẽ đỗ đại học”

Facebook là nơi các em thể hiện tình yêu

gia đình : “Mẹ là người tuyệt vời nhất, cám

ơn mẹ đã sinh ra con”

Facebook là nơi các em thể hiện tình cảm

bạn bè : “Tôi lớn lên trong tình yêu mến

của các bạn ”

- Dẫn đường link đếnnhững trang web đen

- Chia sẻ những hìnhảnh mang tính chấtdung tục, phản cảm

- Thể hiện tâm trạngchán chường, bi quan,

bi lụy…

Trang 11

Facebook là nơi các em thể hiện tình yêu

với bạn khác giới: "Hôm nay em thế nào,

em thân yêu!"

Facebook là nơi các em thể hiện niềm tự

hào, tự tôn dân tộc, là nơi các em khẳng

định chủ quyền lãnh thổ : “Trường sa,

Hoàng sa là của Việt Nam”

Facebook là cầu nối truyền thông tin:

“Bạn…đang nhập viện, các bạn đến thăm”

Facebook là nơi các em chia sẻ những hình

ảnh đẹp, tin tức cảm động : …

- Nói xấu thầy cô, bạnbè…

- Thể hiện tình yêunam nữ thiếu văn minh

- Sử dụng ngôn từ thôtục, thiếu văn hóa…

Trên Facebook khi GV kết ban với HS thì tất cả những hoạt độngcủa HS sẽ xuất hiện trên bảng tin của GV Trên Facebook GV có thể biếtđược tất cả những vấn đề HS đang quan tâm, biết tất cả những điều màcác em đang suy nghĩ : về tình bạn, tình yêu, về gia đình, thầy cô và vềnhững vấn đề đang là hiện tượng xã hội nóng bỏng…

* Lắng nghe :

Trang 12

Facebook là cầu nối ngắn nhất để GVCN nắm bắt suy nghĩ của HS,biết HS đang nghĩ gì Khi đọc những status của HS, GVCN phải họccách biết lắng nghe… lắng nghe xem các em viết gì, nghĩ gì, làm gì, ứng

xử như thế nào? GV nên đặt mình vào vị trí 1 người bạn ( đúng nhưcách “kết bạn” trên Facebook ) để hiểu tâm tư tình cảm HS mình

* Thấu hiểu :

Trong cuộc sống đời thường, sẽ thực khó khăn để tất cả hs mởlòng, giãi bày tâm tư tình cảm của mình với GVCN Trên Facebook lạikhác, khi được GV quan tâm hỏi han, HS dễ mở lòng hơn

Để hiểu được HS, GVCN cần phải vượt qua sự cách biệt giữa cácthế hệ, phải trang bị cho mình những kiến thức, hiểu biết phong phú…vềtâm lí lứa tuổi, về những vấn đề HS quan tâm

* Sẻ chia- định hướng :

Nếu vấn đề HS đăng trên Facebook là những tình cảm, suy nghĩhay hình ảnh…mang tính tích cực, GV nhấn nút like và bình luận ngợikhen

Nếu vấn đề HS đăng trên Facebook là những tình cảm bi quan, chánnản… thì GV động viên, chia sẻ kinh nghiệm

Trang 13

Nếu vấn đề HS đăng trên Facebook là những hình ảnh phản cảm,dung tục hoặc nói xấu bạn bè, thầy cô…thì GV răn dạy, giáo dục…

Facebook là thế giới ảo nhưng là nơi thể hiện văn hóa của mỗi cánhân GVCN chuyển tải đến HS thông điệp : Cần cân nhắc trước khi viếtstatus thể hiện tâm trạng, cần bấm like và comment một cách văn hóa

Trên Facebook, vai trò của GVCN phải đa dạng :

+ Khi lắng nghe – GV là bạn bè…

+ Khi thấu hiểu – GV là người anh, người chị…

+ Khi sẻ chia – GV là người cha, người mẹ…

+ Khi định hướng – GV là người thầy, người chuyên gia …

Facebook chính là cầu nối tình cảm giữa GV và HS Bởi 1 lời độngviên đúng lúc của người thầy sẽ giúp HS vững vàng hơn, một lời sẻ chiachân thành của người thầy sẻ giúp HS tin yêu cuộc sống hơn, một lờikhuyên hữu ích của người thầy sẽ giúp HS sống có lí tưởng hơn…Vàquan trọng là trên Facebook GV động viên, khuyên bảo một HS thôngđiệp sẽ được gửi tới rất nhiều HS khác trên nhóm bạn bè của cả 2

Facebook là nơi giúp HS giải tỏa tâm lí, là trào lưu, xu hướng phát triển tất yếu của xã hội GVCN không thể cấm HS vào

Trang 14

Facebook và viết những gì, Chỉ có cách : GVCN tham gia Facebook

để làm người bạn lớn của HS là điều tốt nhất trong việc giúp các em dần trưởng thành trên con đường hình thành và phát triển nhân cách.

Kết quả thu được từ phương pháp này thật đáng khích lệ : Trướckhi GV kết bạn với HS trên Facebook số lượng nhóm 2 cao, nhưng saukhi GV kết bạn với HS trên Facebook số lượng nhóm 2 dần ít đi vàchuyển sang nhóm 1 Các em HS kết bạn với GV ý thức hơn với nhữnghình ảnh và bình luận của mình, và điều đáng mừng là tuyệt đối khôngcòn hiện tượng HS nói xấu GV và like những trang web đen, hình ảnhbẩn

2 Giáo dục lòng nhân ái cho HS qua những câu chuyện và việc làm

Trang 15

Tiết sinh hoạt lớp

Hoạt động ngoại khóa

Giáo dục lồng ghép qua các bài học bộ môn Ngữ văn,GDCD…

+ Hình thức sử dụng :

Kể

Thảo luận : hỏi- đáp, trao đổi – bàn luận

Ví dụ :

Trong tiết sinh hoạt tuần chẵn : sau khi tổng kết tuần n, triển khai

kế hoạch tuần n +1, GVCN dành 1 quĩ thời gian 5-10 phút để kể cho HSnghe những câu chuyện về tình yêu thương giữa con người với conngười trong cuộc sống, những câu chuyện về lòng nhân ái, sự bao dung

và về những điều tốt đẹp, kì diệu của cuộc sống…

Trang 16

Theo cách “mưa dầm thấm lâu” mỗi tuần GVCN kể 1 câu chuyện

mà mình sưu tầm, nắm vững Những câu chuyện từ trong sách vở đếnthực tế cuộc sống, đặc biệt là những câu chuyện cảm động bình dị đờithường ngay xung quanh các em

Câu chuyện về Nick Vujicic (người không tay, không chân) – nghịlực phi thường của 1 người có cơ thể khiếm khuyết

2.2 Việc làm cụ thể :

+ Tổ chức thăm hỏi, động viên những HS có hoàn cảnh đặc biệt khó

khăn trong trường trong lớp :

Thực tế ở trường THPT Như Thanh hàng năm cứ mỗi dịp tếtnguyên đán cổ truyền… BGH, Công đoàn, Đoàn thanh niên, GVCN vànhóm HS lớp đều tổ chức đoàn đi thăm hỏi động viên, chúc tết gia đìnhcác em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Đây là 1 hoạt động mang đậmtính nhân văn, có ý nghĩa giáo dục rất lớn về tinh thần tương thân tương

ái đối với CBGV và HS trong toàn trường Bản thân tôi, với tư cách làGVCN đã từng nhiều năm có mặt trong đoàn thăm hỏi, tôi và nhóm HStrong đoàn thực sự xúc động, cảm thương và khâm phục nghị lực vượt

Trang 17

khó trước những hoàn cảnh của HS mình : mồ côi, khuyết tật, đóinghèo…

Ví dụ như trường hợp em Trương Công Bốn B10 (khoá học 2009) ở Xuân Du- Như Thanh mồ côi cha năm 7 tuổi, mồ côi mẹ năm 17tuổi Năm lớp 11 chỉ còn mình em sống trong căn nhà tranh dột nátnhưng bằng ý chí, nghị lực của mình em đã vượt qua những nỗi buồnđau và hoàn thành khoá học Tôi và HS trong lớp B10 vô cùng khâmphục nghị lực của em Hay như trường hợp em Trần Đại Nghĩa C6 (khoáhọc 2010-2013) ở Hải Tiến- Hải Long- Như Thanh mặc dù mất bànchân, phải đi chân giả nhưng em vẫn ngày ngày cần mẫn đến trường…Các em thực sự đã trở thành biểu tượng về nghị lực, tinh thần vượt khócủa HS toàn trường

2006-+ GVCN tổ chức HS trong lớp chơi trò “Lắng nghe bạn tôi nói, chia sẻ

việc tôi làm” :

Trong tiết sinh hoạt tuần lẻ : GVCN tổ chức trò chơi cho HS

- Thể lệ trò chơi : tất cả HS trong lớp đều phải chia sẻ thật lòng mình vềvấn đề :

Trang 18

“Hoàn cảnh khó khăn nhất mà bạn gặp phải? bạn đã làm gì để vượtqua nó?”

“ Việc tốt mà bạn đã làm? Việc xấu mà bạn muốn quên?”…

- Hình thức trò chơi : lần lượt HS trong lớp chia sẻ câu chuyện thực củamình, GVCN và các bạn lắng nghe để chia sẻ, đồng cảm…

Tôi đã tổ chức trò chơi này tại lớp 12C10 và đã có rất nhiều nhữngtâm sự được các em thực lòng chia sẻ : từ việc tốt là các em giúp đỡngười hàng xóm gom thóc chạy mưa, giúp đỡ người già qua suối…đếnnhững việc chưa tốt như bẻ trộm ngô, mía trong ruộng nhà người khác,thờ ơ với người ăn mày nghèo đói…

Những câu chuyện các em chia sẽ, GVCN sẻ là người định hướng :việc tốt cần ngợi khen và khuyến khích, việc xấu cần nghiêm khắc sửachữa, khắc phục

+ GVCN tổ chức cho HS làm từ thiện từ qui mô nhỏ đến lớn :

Với tư cách GVCN tôi luôn nỗ lực trong quá trình tuyên truyềncông tác làm từ thiện cho HS Bản thân tôi xem đây là nhiệm vụ quantrọng của GVCN trong việc giáo dục HS : làm cho HS biết xúc động

Trang 19

trước những mảng đời bất hạnh, giáo dục cho các em biết yêu thươngnhiều hơn, biết sẻ chia đồng cảm trước nỗi đau của con người…

Năm học 2012- 2013 tôi đã tổ chức cho lớp chủ nhiệm 12C10 đithăm em Lê Trung Tuấn ( SN 1998) ở địa phương (khu phố 1- thị trấnBến Sung) Sau khi thăm em Tuấn về, HS thực sự xúc động (trong đó có

cả nhóm HS cá biệt) Các em thực sự trân trọng nghị lực sống của emTuấn và thương hoàn cảnh em HS đã chủ động quyên góp tiền giúp emTuấn chữa bệnh, số tiền nhỏ mà các em tiết kiệm được Tuy nhiên, đôikhi có 1 vài HS không hiểu hết ý nghĩa công tác từ thiện – các em chorằng “góp tiền là được” Và lúc này GVCN phải định hướng giúp HS

hiểu : “Làm từ thiện từ tâm”, tình yêu thương phải được biểu hiện 1 cách nhân văn nhất.

Tôi khuyên HS viết 1 bức thư gửi em Tuấn, các em đã viết vớinhững lời chúc, lời nhắn nhủ cảm động: “Anh tên là Quách Văn Thiết –

HS lớp 12C10 trường THPT Như Thanh- Anh chúc em mạnh khỏe,nhanh khỏi ốm” “Chị tên là Hà Thị Hương, chị mong em sớm khỏe đểnhanh trở lại mái trường”…

Ngày đăng: 01/08/2014, 20:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w