1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

KHI NÀO VIỆC TÍNH TOÁN GIÁ TRỊ HIỆN TẠI RÒNG (NPV) KHÔNG CÒN THÍCH HỢP ĐỂ RA QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ? pot

2 830 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 2
Dung lượng 637,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì xác suất giá tăng-giảm là 50-50 nên giá trị kỳ vọng hiện tại ròng của dự án tính ở thời điểm hiện tại t =0, sẽ là: Rõ ràng NPV2>NPV1, và công ty nên thực hiện chiến lược chờ để có th

Trang 1

Giả sử một công ty cần ra quyết định liên quan đến dự án

đầu tư xây dựng một nhà máy sản xuất ra một loại sản phẩm

nào đó Các thông tin liên quan đến dự án như sau:

- Chi phí đầu tư, có thể thực hiện ngay và khi đã đầu tư thì

không thể thu hoàn (ìrreversible), là I=1600$

- Giá đơn vị sản phẩm ở thời điểm hiện tại t=0 là P0

=200$ Tính không chắc chắn của dự án đầu tư này, duy

nhất là do sự biến động giá sản phẩm trong tương lai Ở

thời điểm kế tiếp (t=1), giá có thể tăng lên 300$ và cũng có

thể giảm xuống còn 100$ với xác suất 50-50 và sau đó thì

duy trì ở mức giá đã đạt được Sự biến động giá sản phẩm

không tương quan với những gì xảy ra cho toàn bộ nền kinh

tế, hay nói cách khác, rủi ro trong sự dao động giá cả là

hoàn toàn có thể đa dạng hóa (diversifiable) Như vậy, mức

giá kỳ vọng của sản phẩm trong tương lai vẫn là 200$=(0.5)

(300$)+(0.5).(100$) Giả sử mỗi năm, nhà máy chỉ sản xuất

một đơn vị sản phẩm

- Lãi suất ngân hàng (không rủi ro) là 10%

Công ty nên hay không nên thực hiện dự án đầu tư này?

- Nếu dự án được thực hiện ngay ở thời điểm hiện tại

(t=0) thì giá trị hiện tại ròng của dự án NPV sẽ là:

0

$ 600 2200 1600

1 1 1 1

1 200 1600 1

1

200 1600

0 1

NPV

Như vậy theo quy tắc thông thường, giá trị kỳ vọng hiện

tại ròng của dự án là số dương (dòng tiền thu về lớn hơn chi

phí đầu tư) nên công ty quyết định sẽ thực hiện dự án đầu

tư ngay

Tuy nhiên, công ty có thể thực hiện một chiến lược ra

quyết định khác, đó là chờ để có thêm thông tin về sự biến

động giá sản phẩm Ở thời điểm kế tiếp (t =1):

1/ Nếu giá sản phẩm tăng lên P1=300$, thì công ty quyết định đầu tư, khi đó giá trị hiện tại ròng ở thời điểm t

=1 sẽ là:

 

$ 1700 3300

1600 1.1

1 1

1 300 1600 1

1

300 1600

1

0

 ∑∞

t t t

NPV

Giá trị này quy về thời điểm hiện tại t =0 sẽ là:

  1545.45$

1 1

1700

0  

t NPV

2/ Nếu giá sản phẩm giảm xuống P1=100$, thì công

ty quyết định không thực hiện dự án, khi đó giá trị hiện tại ròng của dự án quy về thời điểm hiện tại là 0

Vì xác suất giá tăng-giảm là 50-50 nên giá trị kỳ vọng hiện tại ròng của dự án tính ở thời điểm hiện tại t =0, sẽ là:

Rõ ràng NPV2>NPV1, và công ty nên thực hiện chiến lược chờ để có thêm thông tin trước khi ra quyết định đầu

tư, hơn là thực hiện dự án đầu tư ngay ở thời điểm hiện tại Điều này cũng có nghĩa là việc ra quyết định đầu tư chỉ đơn thuần dựa vào tính toán NPV thông thường không còn thích hợp Sự khác biệt giữa hai giá trị NPV chính là chi phí

cơ hội đầu tư

Có ba yếu tố quan trọng khiến cho việc đưa chi phí cơ hội vào trong việc tính toán NPV trở nên cần thiết và có ý nghĩa, đó là:

1/ Tính không chắc chắn Trong tình huống trình bày ở trên, tính không chắc chắn liên quan đến sự biến động giá sản phẩm Khi chờ đợi để có thêm thông tin, có nghĩa là ta muốn giảm thiểu rủi ro liên quan đến tính không chắc chắn,

KHI NÀO VIỆC TÍNH TOÁN

GIÁ TRỊ HIỆN TẠI RÒNG (NPV)

KHÔNG CÒN THÍCH HỢP ĐỂ RA

QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ?

Tóm tắt: Bài viết minh họa tình huống theo đó việc quyết định thực hiện dự án đầu tư dựa trên

cơ sở tính toán giá trị hiện tại ròng NPV (Net Present Value) thông thường không còn là công cụ thích hợp Thay vào đó, giá trị hiện tại của dự án phải được bổ sung thêm chi phí cơ hội đầu tư Bài viết cũng trình bày khái niệm quyền chọn thực (real option), một khái niệm gần giống với khái niệm về quyền chọn (option) trên thị trường tài chính.

ThS Vũ Minh Châu (*)

Khoa học & Ứng dụng

Trang 2

do đó tạo ra chi phí cơ hội.

2/ Tính linh hoạt trong việc quyết định chọn thời điểm

đầu tư Nếu dự án đầu tư phải được quyết định thực hiện

ngay hoặc là không bao giờ thực hiện, thì phương pháp

tính NPV thông thường vẫn có hiệu lực Trong thí dụ ở trên,

công ty sẽ chọn phương án đầu tư ngay Nếu việc đầu tư có

thể thực hiện ở một thời điểm nào đó trong tương lai, thì

chính sự linh hoạt liên quan đến thời điểm quyết định đầu

tư tạo ra chi phí cơ hội

3/ Tính không thu hoàn được (irreversibility) của quyết

định đầu tư Nếu như chi phí đầu tư có thể thu hồi hoàn

toàn thì việc đầu tư ở vào thời điểm tương lai không còn

quan trọng Việc đầu tư có thể thực hiện ngay, và trong

tương lai khi diễn biến thị trường bất lợi, ta có thể dừng việc

đầu tư và thu hồi lại hoàn toàn vốn đầu tư Trong tình huống

như vậy không còn khái niệm về chi phí cơ hội đầu tư

Trong tình huống đặt ra ở trên, sự khác biệt giữa hai giá

trị NPV (NPV −2 NPV1=173$) chính là chi phí cơ hội đầu

tư, hay là cái giá mà công ty sẵn sàng bỏ ra để sở hữu một

cơ hội đầu tư linh hoạt hơn là cơ hội đầu tư chỉ cho phép

đầu tư ngay hoặc là không bao giờ Cơ hội đầu tư linh hoạt

cho công ty một cái quyền (chứ không bắt buộc) thực hiện

hay không thực hiện việc đầu tư và đầu tư ở thời điểm nào

Quyền này tương tự như quyền chọn (option) trên thị trường

chứng khoán, cho phép nhà đầu tư có hay không thực hiện

việc mua bán chứng khoán theo mức giá ấn định trước Nếu

xem cơ hội đầu tư linh hoạt ở trên như một quyền chọn thực

(real option), thì chi phí cơ hội đầu tư chính là giá trị của

quyền chọn thực, và trong thí dụ trên, chính là 173$

Những điểm tương đồng giữa quyền chọn thực của

một dự án đầu tư và hợp đồng quyền chọn trên thị

trường chứng khoán

- Cả hai quyền chọn thực và quyền chọn trong

chứng khoán đều cho nhà đầu tư quyền, chứ không bắt

buộc thực hiện

- Chi phí đầu tư của dự án có vai trò tương đương

với giá thực hiện trong hợp đồng chứng khoán

- Kỳ hạn trong hợp đồng chứng khoán là thời điểm

mà cơ hội đầu tư của dự án không còn tồn tại nữa

- Giá thực tế của chứng khoán trong hợp đồng

quyền chọn chính là dòng tiền vào của dự án

- Sự biến động giá của chứng khoán trong hợp

đồng quyền chọn tương đương với sự biến động về dòng

tiền của dự án đầu tư

- Giá trị của quyền chọn thực và quyền chọn trong

chứng khoán đều tăng theo mức độ không chắc chắn (rủi ro)

Những điểm phân biệt giữa quyền chọn thực của

một dự án đầu tư và quyền chọn trên thị trường

chứng khoán

- Quyền chọn thực tồn tại dựa vào những cơ hội

được tạo ra bởi những nhà đầu tư chiến lược trong công ty

- Các quyền chọn thực không được trao đổi mua

bán trên thị trường tiền tệ như là các hợp đồng chứng

khoán, và do đó tồn tại những thách thức liên quan đến việc

định giá duy nhất của các quyền chọn thực

- Kỳ hạn của các quyền chọn thực thường là không

giới hạn và không được xác định một cách rõ ràng

- Tính không chắc chắn liên quan với hợp đồng

quyền chọn chứng khoán (nghĩa là sự biến động giá chứng

khoán trong hợp đồng) có tính chất ngoại sinh (exogene),

nằm ngoài tầm kiểm soát của các nhà quản lý, trong khi quyền chọn thực chịu ảnh hưởng bởi các quyết định chủ động của các nhà quản lý trong việc khống chế mức độ những rủi ro có thể xảy ra hoặc là nâng cao hơn nữa hiệu quả của việc đầu tư

- Những dữ liệu liên quan đến hợp đồng quyền chọn chứng khoán có thể được thu thập và xử lý, khai thác với tần suất cao, trong khi đó, số liệu liên quan đến quyền chọn thực không phải lúc nào cũng có thể thâm nhập, có cùng kỳ hạn hay là liên quan đến những yếu tố giống nhau

- Thị trường tài chính của các hợp đồng quyền chọn chứng khoán phong phú, dày đặc hơn là thị trường quyền chọn thực

- Trong quyền chọn thực, một quyết định sáng suốt

sẽ tạo ra giá trị của quyền chọn (tương tự như việc quyết định đầu tư ngay hay là chờ)

- Trên thị trường tài chính, người ta có thể tái tạo mức độ rủi ro của một sản phẩm tài chính bằng cách sử dụng các công cụ trên thị trường (thí dụ một danh mục đầu

tư có giá trị tương đương với một loại chứng khoán nào đó), trong khi đối với môi trường đầu tư thực tế, không phải lúc nào cũng có thể thực hiện được

(*) Nghiên cứu sinh tại Canada TÀI LIỆU THAM KHẢO:

Dixit A and Pindyck R (1994), Investment under uncertainty, Princeton University Press, New Jersey.

Marcel B., Christoffersen P., Lasserre P et Pavlov A (2003),“Création

de valeur, gestion de risque et options réelles”, Rapport Bourgogne 2003RB-01, CIRANO, Montréal

Khoa học & Ứng dụng 59

Số 12 - 2010

Ngày đăng: 01/08/2014, 20:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w