Tìm hiểu tình hình nuôi cá bè tại huyện Tân Châu, tỉnh An Giang
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA THỦY SẢN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
TÌM HIỂU TÌNH HÌNH NUÔI CÁ BÈ TẠI
HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
NGÀNH: THỦY SẢN
KHÓA: 2000-2005
SINH VIÊN THỰC HIỆN: TRẦN BÍCH DUNG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THÁNG 03/2005
Trang 2TÌM HIỂU TÌNH HÌNH NUÔI CÁ BÈ TẠI HUYỆN TÂN
CHÂU, TỈNH ANG GIANG
Thực hiện bởi
Trần Bích Dung
Luận văn được đệ trình để hoàn tất yêu cầu cấp bằng Kỹ Sư Thủy Sản
Giáo viên hướng dẫn: Huỳnh Phạm Việt Huy
Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 3Tháng 3/2005
Trang 4I GIỚI THIỆU
1.1 Đặt Vấn Đề
Nuôi cá bè là một ngành nghề nuôi thủy sản truyền thống nhưng mang tính chất công nghiệp khá cao với mật độ nuôi dày, áp dụng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp, tận dụng thiên nhiên để đạt năng suất cao Nuôi cá bè đã tạo nên sự chủ động cho tiêu dùng và chế biến xuất khẩu (Phạm An Đô, 1994) Cho đến nay, nhờ sự cải tiến và bổ sung nên nuôi cá bè đã phát triển thành một nghề vững chắc, không những mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người nuôi mà còn đem lại nguồn ngoại tệ lớn cho đất nước thông qua việc chế biến xuất khẩu các loài cá nuôi bè
Tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, nuôi cá bè phân bố ở một nửa số tỉnh của vùng, nhưng tập trung nhất ở hai tỉnh An Giang và Đồng Tháp, chiếm tới 60% số bè nuôi Hai tỉnh này được xem như “trung tâm” nuôi cá bè ở đồng bằng sông Cửu Long với 62 – 75% sản lượng cá nuôi bè của khu vực, đặc biệt là tỉnh An Giang với sản lượng cá bè hàng năm khoảng 136 ngàn tấn (Phạm Văn Khánh, 2003)
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, nghề nuôi cá bè đã và đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thử thách, nhất là sự biến động về thị trường và giá cả trong những năm gần đây Song, với sự quyết tâm và nỗ lực của người dân cũng như của các cấp lãnh đạo, các khó khăn, trở ngại đang từng bước được khắc phục, nghề nuôi cá bè lâu đời trên dòng sông Cửu Long được giữ vững và đang có những hướng đi đúng đắn trong việc sản xuất và tiêu thụ
Nhằm tìm hiểu tình hình sản xuất cá bè của người dân, những triển vọng và phương hướng phát triển cho nghề nuôi cá bè trong giai đoạn hiện nay, được sự phân công của khoa Thủy sản trường Đại Học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, chúng
tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Tìm hiểu tình hình nuôi cá bè tại huyện Tân Châu, tỉnh An Giang”
1.2 Mục Tiêu Đề Tài
Tìm hiểu hiện trạng nghề nuôi cá bè tại huyện Tân Châu, tỉnh An Giang
Phân tích khái quát các yếu tố kinh tế, xã hội và kỹ thuật nuôi được người dân áp dụng tại địa phương
Tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn nhằm đánh giá tiềm năng phát triển cho nghề nuôi cá bè tại đây
Trang 5II TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Sơ Lược về Huyện Tân Châu, Tỉnh An Giang
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Tân Châu là một huyện vùng biên giới (có đường biên giới dài trên 7 km), nằm phía Bắc tỉnh An Giang, cách trung tâm thành phố Long Xuyên 50 km đường chim bay
Bắc giáp Campuchia
Nam giáp huyện Phú Tân
Đông giáp tỉnh Đồng Tháp
Tây giáp huyện An Phú và một phần thị xã Châu Đốc
Toàn huyện có 10 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm 9 xã: Phú Lộc, Vĩnh Xương, Vĩnh Hòa, Tân An, Long An, Long Phú, Châu Phong, Phú Vĩnh, Lê Chánh và thị trấn Tân Châu
Là huyện cù lao nằm giữa sông Tiền và một phần sông Hậu nên Tân Châu có
ưu thế về địa lý tự nhiên, tạo điều kiện thuận lợi cho huyện phát triển một nền kinh tế
đa dạng cả về sản xuất nông nghiệp, công nghiệp lẫn thương nghiệp dịch vụ
2.1.1.2 Đất đai – thổ nhưỡng
Tổng diện tích đất tự nhiên là 16.110 ha, trong đó:
- Đất nông nghiệp: 11.928 ha, chiếm 74,04% diện tích đất tự nhiên
- Đất chuyên dùng: 1.033 ha
- Đất ở: 1.205 ha
- Đất chưa sử dụng: 1.944 ha
Trang 6Tân Châu nằm giữa hai con sông lớn là sông Tiền và sông Hậu, đất đai được hình thành do phù sa của hai con sông này bồi đắp nên địa hình mang tính chất chung của vùng đồng bằng sông Cửu Long là tương đối bằng phẳng
Địa hình nghiêng dần từ phía sông Tiền đến phía sông Hậu, hai bên bờ sông cao hơn ở giữa nên có kiểu lòng máng, càng vào trong địa hình càng thấp dần, có những nơi vào mùa lũ bị ngập sâu khoảng 2m
2.1.1.3 Khí hậu – thủy văn
Khí hậu điều hòa chia thành hai mùa rõ rệt:
- Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11
- Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4
Nhiệt độ bình quân cả năm là 270C Số giờ nắng trung bình 6 – 7 giờ/ngày, vào mùa mưa số giờ nắng thấp hơn (khoảng 6 giờ/ngày) Chênh lệch nhiệt độ trung bình giữa các tháng trong năm không cao (2 – 30C) Do đó, điều kiện nhiệt độ, ánh sáng trên toàn huyện thích hợp cho sự sinh trưởng của nhiều loài vật nuôi, cây trồng và các loại sinh vật trong đất hoạt động
Do đặc trưng của địa hình nên huyện có cơ chế gió mùa thuần nhất, tốc độ gió trung bình 3 m/s , chịu ảnh hưởng nhiều của gió Đông Bắc (vào tháng 11 đến tháng 4) và gió Tây Nam (vào tháng 5 đến tháng 10) Trong những năm qua, bão hầu như không xuất hiện ở vùng này Lượng mưa trung bình 1.500 mm chia thành hai mùa rõ rệt (mùa mưa và mùa khô)
Mực nước trung bình trong năm chênh lệch khá lớn do ảnh hưởng lũ của sông Mêkông, vào tháng 4 đến tháng 6 mực nước trung bình từ 80 – 90 cm, nhưng từ tháng
9 đến tháng 11 mực nước trung bình từ 278 đến trên 400 cm; đỉnh lũ cao nhất vào tháng 9, 10, mùa mưa thường trùng với mùa lũ Mưa và lũ là những yếu tố lớn nhất chi phối đến khí hậu, thời tiết trong năm
2.1.2 Điều kiện kinh tế – xã hội
2.1.2.1 Dân số và lao động
a Dân số
Theo Niên giám thống kê huyện Tân Châu năm 2003, cơ cấu dân số như sau:
Trang 7Bảng 2.1 Cơ cấu dân số trên toàn huyện Tân Châu
Dân số trung bình của huyện là 159.719 người, trong đó nam là 77.561 người (chiếm 48,56%) Phân theo thành thị và nông thôn thì có 37.431 người ở thành thị (chiếm 23,44%), còn lại ở nông thôn
Toàn huyện có 34.010 hộ gia đình với phần lớn là hộ hai thế hệ (trong đó chủ hộ là nam giới chiếm 84,0%), trung bình có 4,69 người/hộ Mật độ dân số là 988 người/km2 Dân cư phân bố không đồng đều, tập trung đông tại thị trấn với mật độ bình quân 6.375 người/km2, trong khi đó ở các xã Phú Lộc, Vĩnh Hòa, Lê Chánh mật độ trung bình chỉ khoảng 297 – 571 người/km2 Phần lớn dân cư tập trung tại các trục lộ, ven sông, kênh rạch
b Lao động
Theo số liệu thống kê, toàn huyện có 94.878 người trong độ tuổi lao động (chiếm 59,40% dân số của huyện), trong đó lao động (LĐ) nam có 45.028 người, LĐ nữ là 49.850 người (chiếm 52,54%) Số LĐ làm việc trong các ngành kinh tế có 91.747 người, cụ thể như sau:
2003
% năm trước
so với năm báo cáo
1 Dân số trung bình
- Phân theo giới tính
3 Tổng số hộ
4 Số nhân khẩu bình quân/hộ
5 Mật độ dân số
người
người người
người người
người người hộ người/hộ người/km2
156.981
76.242 80.739
32.969 124.012 93.120 44.783 48.337 33.983 4,61 971,11
159.719
77.561 82.158
37.431 122.288 94.878 45.028 49.850 34.010 4,69 988,00
101,74
101,73 101,76
113.53 98,61 101,89 100,55 103,13 100,08 101,74 101,74
Trang 8Bảng 2.2 Cơ cấu lao động trên toàn huyện Tân Châu
(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Tân Châu, năm 2003)
Đa số LĐ phục vụ trong các hoạt động nông, lâm, thủy sản (chiếm 71,91 %), chủ yếu là nông nghiệp (chiếm đến 95,82%) cho thấy đời sống người dân địa phương phụ thuộc nhiều vào nghề nông Trong ngành thủy sản, số LĐ tăng từ 1.774 người năm 2002 lên 2.860 người năm 2003 (tăng 61,22%), trong đó số LĐ phục vụ cho nuôi trồng thủy sản là 1.695 người (chiếm 59,27%), còn lại là LĐ đánh bắt thủy sản, 1.165 người
2.1.2.2 Cơ sở hạ tầng và giao thông vận tải
a Cơ sở hạ tầng
Hiện nay, các cơ sở ủy ban huyện, xã, thị trấn, các trụ sở khối Đảng, Đoàn thể được quan tâm nâng cấp, tu sửa, xây mới Các tuyến đường nông thôn, trường học, bệnh viện, trạm xá cũng được dần dần đầu tư nâng cấp, nhưng với kinh phí còn eo hẹp nên tiến độ thực hiện chậm trễ và gặp không ít trở ngại Vấn đề điện khí hóa, nguồn nước sử dụng được quan tâm thực hiện từ rất sớm với 100% mạng lưới điện được truyền tải đến tận các thôn, ấp và nguồn nước sạch được đưa vào tận các xã vùng sâu, vùng xa của huyện
b Giao thông vận tải
Đường bộ: toàn huyện có một bến xe khách tại thị trấn với nhiều tuyến trên khắp địa bàn huyện, xã, các tỉnh và thành phố Tuy số tuyến đường được nâng cấp, sửa chữa vẫn còn hạn chế nhưng phần nào cũng đáp ứng đủ nhu cầu giao thông của người dân các huyện, xã, các ấp
1 Nông, lâm, thủy sản
- Nông nghiệp
- Lâm nghiệp
- Thủy sản
+ LĐ nuôi trồng thủy sản
+ LĐ đánh bắt thủy sản
2 Công nghiệp, xây dựng
782
992
6.699
5.135 1.564
13.419
68.734
65.865
9 2.860
1.695 1.165
7.281
5.576 1.705
15.732
98,16
96,52 112,50 161,22
216,75 117,44
108,69
108,59 109,02
117,24
Trang 9Đường thủy: có nhiều bến tàu, bến phà thông thương với các huyện, xã khác dọc theo sông Tiền và sông Hậu, đặc biệt là nối liền với tỉnh Đồng Tháp và Campuchia nên việc cung cấp các dịch vụ thức ăn và tiêu thụ cho ngành nghề nuôi cá bè nhìn chung khá thuận lợi
2.1.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp – thủy sản
2.1.3.1 Trồng trọt
Theo Niên giám thống kê huyện Tân Châu năm 2003, cơ cấu cây trồng trên toàn huyện như sau:
Bảng 2.3 Diện tích, năng suất và sản lượng các loại cây trồng
(ha)
Tỉ lệ (%)
Sản lượng (tấn)
Năng suất (tấn/ha)
0,03 0,25 1,97 0,26
137.754 14.794
351
4
170 1.342
61
5,72 7,27 6,75
2,00 2,50 2,53 8,84
Cây lương thực được xem là cây trồng chính tại huyện Tân Châu, trong đó cây lúa chiếm diện tích cao nhất 24.074 ha (chiếm đến 89,72% tổng diện tích đất trồng trọt) với năng suất đạt 5,72 tấn/ha nên sản lượng phụ phẩm cám, tấm rất lớn làm thức ăn cho cá Tra, cá Basa; góp phần hạ giá thành sản xuất cá bè
Cây công nghiệp hàng năm thì có đậu nành, chiếm 530 ha và năng suất đạt 2,53 tấn/ha Cây có năng suất cao nhất là cây mè với năng suất hàng năm đạt 8,84 tấn/ha nhưng diện tích gieo trồng chỉ có 69 ha (chiếm 0,26%) Một vấn đề bất cập là giá nông sản còn ở mức thấp và luôn biến động qua từng vụ mùa, chưa kể đến tình trạng người dân bị thương lái ép giá do thiếu thông tin giá cả cũng như thị trường tiêu thụ Vì thế, thu nhập người dân thường không cao nếu tính theo qui mô sản xuất so với các ngành khác tại địa phương
Trang 102.1.3.2 Chăn nuôi
Tổng đàn gia súc trong năm qua có 12.834 con Trong đó, heo chiếm đa số với 10.851 con (chiếm 84,54%), bò có 1.586 con, còn lại là số lượng trâu Sản lượng thịt hơi xuất chuồng là 1.508 tấn (trong đó thịt heo chiếm đến 1.287 tấn) Đàn gia cầm có 174.878.000 con gồm gà, vịt, bồ câu,…
Chăn nuôi tại huyện chủ yếu với hình thức thả rong, mang tính chất kinh tế gia đình, chưa thực sự được đầu tư sản xuất nên sản lượng và năng suất đạt được chưa cao
2.1.3.3 Thủy sản
Tổng sản lượng thủy sản của huyện năm 2003 là 15.037 tấn, trong đó chủ yếu là sản lượng nuôi trồng thủy sản (NTTS) với 13.872 tấn, chiếm 92,2% tổng sản lượng thủy sản
Bảng 2.4 Tình hình NTTS của huyện Tân Châu (quí 1/2004)
Nuôi ao, hầm Nuôi bè Nuôi con giống Đơn vị
Tổng số hộ nuôi Số ao, hầm Diện tích
(m2)
Số bè nuôi
Thể tích (m3)
Diện tích (m2)
Số con giống (1.000 con)
- 16.512
- 2.425
636.201 9.172 20.312 399.245 120.540 11.069 5.250 8.520 24.980 22.563 14.550
37.754
591 1.160 10.863 15.070
925 1.432
440 3.726 2.162 1.385
Theo số liệu điều tra của Phòng thống kê huyện Tân Châu vào tháng 4 năm
2004, tổng số hộ nuôi thủy sản trong huyện là 1.141 hộ, chiếm 3,36% tổng số hộ của huyện, hơi thấp so với các hoạt động sản xuất khác Số ao, hầm hiện có là 921 với tổng diện tích là 522.075 m2, số bè là 377 bè với tổng thể tích 97.183 m3 Diện tích ương nuôi con giống là 636.201 với số lượng con giống ương nuôi trong quí 1/2004 là 37.754.000 con, tăng 25% so với cùng kì năm ngoái
Sản lượng dự kiến của năm 2004 là:
Trang 11- Sản lượng cá nuôi ao, hầm: 1.778 tấn
- Sản lượng cá nuôi bè: 13.611 tấn
2.1.4 Các ngành kinh tế khác
2.1.4.1 Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp
Ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiêp chiếm tỷ trọng tương đối trong huyện và ngày càng phù hợp với xu hướng Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa nông thôn Tuy nhiên, các hoạt động ở đây vẫn còn ở mức thấp, chủ yếu sản xuất các loại sản phẩm thô, không trang bị nhiều thiết bị hiện đại, trình độ kỹ thuật phục vụ sản xuất còn lạc hậu Các ngành nghề truyền thống vẫn được khuyến khích phát triển như: dệt thổ cẩm, nhuộm, làm tơ,…
2.1.4.2 Thương mại – dịch vụ
Trong những năm qua, tỷ trọng ngành thương mại – dịch vụ chiếm khá lớn trong tổng cơ cấu kinh tế của toàn huyện Tuy nhiên, các ngành nghề trong lĩnh vực này chỉ dừng lại ở mức độ kinh doanh, dịch vụ buôn bán nhỏ, chưa thực sự khai thác hết tiềm năng kinh tế cũng như những lợi thế về điều kiện tự nhiên để phát huy hết khả năng của huyện
2.2 Tổng Quan về Nuôi Cá Bè tại Đồng Bằng Sông Cửu Long
Tại đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), nuôi cá bè trên sông là một kỹ thuật nuôi tăng sản mang tính chất công nghiệp Cá được nuôi trong bè đặt trên các dòng sông nước chảy liên tục, do đó luôn cung cấp đủ dưỡng khí cho nhu cầu sống và phát triển của cá nên có thể nuôi với mật độ cao và đạt năng suất nuôi cũng rất cao
Nghề nuôi cá bè tại đây đã có truyền thống lâu đời và đang từng bước khẳng định thế mạnh của mình qua việc tăng qui mô và sản lượng cá hàng năm
2.2.1 Sự ra đời và phát triển của nghề nuôi cá bè
2.2.1.1 Trên thế giới
Theo Schmittou và ctv (1993), nuôi cá bè được biết đến đầu tiên trên thế giới vào cuối thế kỷ 19 Sự ghi chép cổ xưa nhất về nghề nuôi cá bè bắt đầu từ Campuchia (Pantalu, 1979; trích bởi Beverridge, 1984), ở đây ngư dân vùng Biển Hồ đã nuôi cá họ Schilbeidae và các loài cá thương phẩm khác trong lồng bằng tre Lúc đầu, các ngư dân ở vùng Tonlesap (Campuchia) chỉ đóng các lồng nhỏ mang kèm
Trang 12bên hông tàu, dùng để dự trữ cá khi khai thác được nhiều và để ăn dần Hàng ngày người dân cho cá ăn thức ăn thừa và thấy cá vẫn lớn, từ đó họ đã nghĩ ra cách nuôi cá trong bè (Ling, 1977; Nguyễn Anh và Mai Thế Ứng, 1981; Lý Kế Huy, 1988; trích bởi Phạm An Đô, 1994)
Theo Trần Duy (1993; trích bởi Nguyễn Văn Chung, 2002), nghề nuôi cá lồng bè trên dòng sông Mêkông và các hồ nước lớn nhỏ ở Campuchia đã có từ gần một trăm năm nay Lúc đầu, ngư dân Campuchia chủ yếu dùng cọc gỗ, cành cây chắn ngang các đoạn sông nông, nhánh sông hẹp Về sau, người ta đã nuôi cá ngay những
vị trí này, những lồng cá bằng gỗ dần dần đã hình thành và ngày càng cải tiến hơn
Ngư dân Thái Lan cũng đã nuôi cá lồng bè khoảng 50 năm nay, Indonesia phát triển nuôi cá lồng bè từ năm 1945 Ở Nhật, cá chép nuôi trong lồng từ năm 1953, bang Alabana là nơi nuôi cá lồng đầu tiên ở Hoa Kỳ vào năm 1964 Những nước châu Âu có nghề nuôi cá lồng phát triển như: Đức, Anh, Pháp, Nauy và Hà Lan Ở Châu Phi, từ năm 1972 Tandania đã nuôi tăng sản cá rô phi trong lồng ở hồ Vachtoria, Nigieria cũng nuôi cá lồng bè ở hồ Kainhi (Trần Duy, 1993; trích bởi Nguyễn Văn Chung, 2002) Tuy nhiên, chỉ đầu những năm 1980 nuôi cá bè mới thực sự đóng góp đáng kể vào sản lượng nuôi trồng thủy sản (Schmittou và ctv, 1993)
Ngày nay, vị trí đặt lồng bè cá không chỉ giới hạn ở sông mà nó còn được đặt trong các hồ tự nhiên, hồ chứa nhân tạo của Nigieria, Nhật, Singapore và Mỹ, ở các hồ vùng núi cao của Chile, Colombia, các ao ở Mỹ, ở vùng đầm lầy Ấn Độ, các kênh mương thủy lợi ở Indonesia, trong các hồ chứa nước nóng của Bungari và cả ở biển Nguyên liệu làm lồng bè cá cũng thay đổi, ở các nước châu Á vẫn sử dụng lồng bè bằng tre hoặc gỗ, những nước có nền nông nghiệp phát triển như Đức, Nhật, lồng bè có dạng lưới được làm bằng sợi tổng hợp polyamid hoặc sử dụng những tấm kim loại để làm lồng nuôi cá như ở Mỹ (Trần Duy, 1993; trích bởi Nguyễn Văn Chung, 2002)
2.2.1.2 Tại đồng bằng sông Cửu Long
Theo, Phạm Văn Khánh (2003), nuôi cá bè ở ĐBSCL có từ những năm 60 của thế kỷ 20, do các kiều dân Việt Nam hồi hương từ Campuchia về áp dụng tại vùng Châu Đốc và Tân Châu (An Giang) Ban đầu, ngư dân nuôi cá trong các bè bện bằng tre, đồng thời bè không có mái che, số lượng rất khiêm tốn và chỉ bán làm khô cá tra phồng hoặc cá chợ để ăn
Nghề nuôi cá bè bắt đầu phát triển mạnh vào những năm đầu của thập niên
70, cá tra và basa lúc bấy giờ chủ yếu được tiêu thụ trong nước và xuất khẩu một phần sang các nước Hồng Kông, Đài Loan (Trung Quốc) và Singapore (Phillips và ctv, 2004) Sau năm 1975 số lượng bè bị sụt giảm mạnh do công việc làm ăn của người dân gặp nhiều khó khăn Đến năm 1980, khi tình hình chiến tranh biên giới
Trang 13Tây Nam kết thúc, số lượng bè cá nuôi tăng dần lên, nghề nuôi cá bè phát triển hưng thịnh
Những năm đầu của thập niên 90, nhất là từ năm 1994, khi Mỹ bãi bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam thì nhu cầu tiêu thụ sản phẩm thủy sản không ngừng tăng cao (nhất là cá tra và cá basa) Thị trường xuất khẩu được mở rộng sang Hoa Kỳ và các nước châu Âu, nhiều nhà máy chế biến đông lạnh thủy sản ra đời tại An Giang để kịp đáp ứng nhu cầu tiêu thụ cá tra và cá basa philê (Phillips và ctv, 2004) Để tiến theo kịp với nhu cầu chế biến, nghề nuôi thủy sản đã chuyển sang hình thức nuôi thâm canh nhằm tăng nhanh sản lượng và tăng vòng quay vốn sản xuất
Từ cuối thập niên 90 đến nay, tình hình nuôi cá bè không ngừng biến động do diễn biến của thị trường và giá cả Dù vậy, với sự nỗ lực và cố gắng từ nhiều phía, nghề nuôi cá bè đang có chiều hướng phát triển ổn định (Phạm Văn Khánh, 2003)
Sản lượng cá bè của toàn khu vực ĐBSCL năm 1996 khoảng 32.000 tấn (Phương, 1998; trích bởi Phạm Văn Khánh, 2003), trung bình từ 80 – 150 kg/m3(Griffiths và ctv, 2002)
2.2.2 Địa điểm nuôi
Tại ĐBSCL, khu vực nuôi cá bè nằm ở các tỉnh có dòng sông Cửu Long chảy qua, bao gồm tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Cần Thơ, Trà Vinh (Phillips và ctv, 2004) Đặc biệt, nuôi cá bè phát triển mạnh và tập trung nhiều nhất tại hai tỉnh
An Giang và Đồng Tháp do có nhiều lợi thế về chất lượng nước và dòng chảy (sông Tiền và sông Hậu), đồng thời có nhiều yếu tố thuận lợi về thức ăn cho cá, con giống,
cơ sở hạ tầng và nhất là có nhiều nhà máy chế biến đông lạnh thủy sản (Griffiths và ctv, 2002)
Theo Edwards và ctv (2004), các huyện có nghề nuôi cá bè phát triển gồm: Châu Đốc, An Phú, Châu Phú, Phú Tân, Tân Châu, Chợ Mới, Long Xuyên (An Giang) và Hồng Ngự, Thanh Bình, Cao Lãnh, Se Đéc (Đồng Tháp)
2.2.3 Đối tượng nuôi:
Đối tượng nuôi cá bè thường là các loài cá có giá trị kinh tế cao, bao gồm các
loài thuộc họ cá tra như cá tra (Pangasius hypophthalmus), cá basa (P bocourti), cá hú (P conchophilus), vồ đém (P larnaudii); họ cá chép như cá mè vinh (Barbodes
gonionotus), cá he vàng (B altus); các loài khác có bống tượng (Oxyeleotris marmoratus), lóc bông (Channa micropeltes), (Griffiths và ctv, 2002) Thông
thường, người ta chỉ nuôi một loài chính (tra, basa, bống tượng, ) nhưng có thể ghép với một tỉ lệ thấp các đối tượng khác để tận dụng thức ăn thừa (Ngô Trọng Lư và
Thái Bá Hồ, 2001)
Trang 142.2.4 Thức ăn sử dụng
Theo Phạm Văn Khánh (2003), nguồn nguyên liệu làm thức ăn cho cá rất phong phú do khu vực tứ giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười đất đai màu mỡ, thích hợp cho canh tác các loại nông sản để chế biến thức ăn cho cá nuôi bè (cám, tấm,
đậu, bắp, ) Hơn nữa, nguồn cá tạp dồi dào từ sông và biển như cá linh (Labeobarb
siamensis), cá trích (Clupea leiogaster), cá cơm (Stolephorus spp), cá mòi
(Clupanodon spp), cũng là nguyên liệu chế biến thức ăn phổ biến cung cấp cho các
loài cá nuôi bè (Edwards và ctv, 2004)
Thức ăn được người dân sử dụng đa phần là thức ăn chế biến (chiếm 90%), thức ăn công nghiệp chỉ chiếm 10% (Edwards và ctv, 2004) Trong đó, cám gạo chiếm đến 2/3 thành phần thức ăn tự chế biến (Griffiths và ctv, 2002)
2.2.5 Nguồn cá giống
Theo Phạm Văn Khánh (2003), nhiều năm trước đây và cả đến khi nuôi cá bè thịnh hành và phát triển, con giống cung cấp cho nuôi bè chủ yếu được vớt từ thiên nhiên trên sông Cửu Long Hàng năm vào mùa mưa, cá bột các loài được vớt trên sông và ương nuôi trong ao, hầm hoặc bè thành cá giống rồi cung cấp cho các bè nuôi Sản lượng cá bột và cá giống vớt được hàng năm tại Việt Nam là 200 – 800 triệu con và gần 165.000 triệu con ở Campuchia (Griffiths và ctv, 2002) Tuy nhiên, nghề vớt cá bột và cá giống hiện nay bị cấm ở cả hai nước Việt Nam và Campuchia
do hoạt động này ảnh hưởng tiêu cực đến nguồn lợi của nhiều loài cá tự nhiên khác
Từ năm 1999, các địa phương đã chủ động sản xuất giống nhân tạo các loài cá nuôi bè và từng bước cung cấp đủ nhu cầu nuôi ở các địa phương, nhất là đối tượng cá tra
2.2.6 Một số yếu tố về điều kiện thủy văn và chất lượng nước phù hợp cho nuôi cá bè tại khu vực ĐBSCL
Theo Phạm Văn Khánh (2003), lưu lượng nước khu vực sông Cửu Long giao động từ 18.800 m3/s đến 48.700 m3/s vào mùa mưa lũ (số liệu đo tại Phnôm Pênh – Campuchia, gấp 9 – 23 lần so với lưu lượng nước vào mùa khô) Vận tốc dòng chảy vào mùa lũ 0,5 – 0,6 m/s, ở mùa khô 0,1 – 0,2 m/s, đảm bảo cung cấp lượng oxy đầy đủ cho nuôi cá bè với mật độ cao
Nhiệt độ nước biến thiên không nhiều qua các mùa, cao nhất là 310C vào tháng 5 và tháng 10, thấp nhất là 260C vào tháng giêng Biên độ chênh lệnh trong ngày khoảng 1,50C, nhiệt độ trên tầng mặt cao hơn dưới đáy 2 – 30C (Lý Kế Huy, 1988; trích bởi Phạm Văn Khánh, 2003)
Trang 15Độ pH của nước thay đổi không nhiều theo mùa Vào mùa khô, pH trung bình khoảng 7,11 và mùa mưa từ 6,6 – 6,8 (Nguyễn Văn Thương và ctv, 1999) pH nước sông khá ổn định là đặc điểm rất có lợi cho đời sống của thủy sinh vật và cá
Các chất khí hòa tan trong nước ở sông Tiền và sông Hậu tương đối phù hợp, thoáng sạch, dưỡng khí đầy đủ (4,3 – 9,7 mg/L) Hàm lượng khí cacbonic thấp (1,7 – 5,2 mg/L), nằm dưới ngưỡng giới hạn có hại đối với cá và sinh vật dưới nước Ngoài
ra, không có các khí độc trong nước sông (Phạm Văn Khánh, 2003)
2.2.7 Vai trò của nghề nuôi cá bè đối với khu vực ĐBSCL
Theo Nguyễn Văn Chung (2002), nuôi cá bè được xem như là một giải pháp được lựa chọn để phát triển cá với những ưu việt về kỹ thuật, sinh thái, kinh tế và xã hội hơn hẳn so với đánh bắt tự nhiên và nuôi trong ao hồ:
- Kỹ thuật nuôi cá bè đáp ứng được mục tiêu cơ bản của Chính phủ về sản xuất thực phẩm có chất lượng cao
- Tạo ra việc làm mới, tăng thu nhập cho ngư dân
- Cân bằng thương mại và tăng sử dụng nguồn lực tự nhiên của khu vực
- Kỹ thuật nuôi không đơn giản nhưng có thể áp dụng ở mọi quy mô và phù hợp với người dân không có đất
- Hiệu quả kinh tế cao
Ngoài ra, nghề nuôi cá bè còn có vai trò quan trọng trong công nghiệp chế biến và xuất khẩu thủy sản của các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, nhất là An Giang Sản phẩm cá Tra, Basa chiếm trên 90% tỉ trọng kim ngạch xuất khẩu, giá trị xuất khẩu hàng năm từ 30 – 40 triệu USD, đem lại cho tỉnh một nguồn ngoại tệ lớn
Trang 16III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời Gian và Địa Điểm Thực Hiện Đề Tài
Đề tài được thực hiện từ ngày 31/9/2004 đến ngày 31/12/2004
Địa điểm: tại hai xã Long An, Châu Phong và thị trấn Tân Châu là những khu vực tập trung nhiều bè nuôi cá của huyện Tân Châu, tỉnh An Giang Ngoài ra, ba khu vực này đại diện cho ba thủy vực khác nhau ở huyện, đó là sông Tiền (xã Long An, thị trấn Tân Châu), sông Hậu (xã Châu Phong) và kênh Xáng (xã Long An)
3.2 Phương Pháp Thu Thập Số Liệu
3.2.1 Số liệu thứ cấp
Các thông tin, tài liệu chủ yếu được thu thập từ các cơ quan chức năng: Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn (NN & PTNT) tỉnh An Giang; Phòng Xây Dựng và Phát Triển Nông Thôn (XD & PTNT), phòng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn (NN & PTNT), phòng Thống Kê huyện Tân Châu, tỉnh An Giang Các thông tin, tài liệu gồm có:
- Điều kiện tự nhiên và bản đồ địa giới hành chính của huyện Tân Châu
- Điều kiện kinh tế – xã hội của huyện năm 2003
- Các báo cáo về kế hoạch và hoạt động thủy sản của tỉnh và của huyện qua các năm
3.2.2 Số liệu sơ cấp
3.2.2.1 Điều tra gián tiếp
Quan sát trực tiếp các mô hình nuôi, đồng thời thu thập thông tin, ý kiến cần thiết của người dân địa phương về đặc điểm địa hình và dòng chảy tại các khu vực điều tra để từ đó có những nhận xét đúng về: mật độ bè trên sông và độ sâu của sông, sự thuận lợi về đường sá, giao thông, các dịch vụ cung cấp thức ăn cho thủy sản,…
3.2.2.2 Điều tra trực tiếp
Phương pháp thu thập sốõ liệu sơ cấp được sử dụng là phương pháp điều tra chọn mẫu ngẫu nhiên 41 hộ gia đình nuôi cá bè tại hai xã Long An, Châu Phong và thị trấn Tân Châu, huyện Tân Châu, tỉnh An Giang
Trang 17Khu vực điều tra
Hình 3.1 Bản đồ khu vực điều tra
Các hộ nuôi cá bè được phỏng vấn trực tiếp theo mẫu điều tra in sẵn, sau đó đối chiếu giữa các hộ để đánh giá Nội dung điều tra bao gồm:
(1) Thông tin cơ bản:
- Họ tên chủ hộ nuôi
- Tuổi tác
- Trình độ văn hóa
Trang 18- Kinh nghiệm nuôi cá bè
- Số lao đông tham gia nuôi thủy sản trong hộ
(2) Chi tiết sản xuất:
- Về bè nuôi
- Nguồn giống thả nuôi
- Cách thức chăm sóc, quản lý và thu hoạch
- Phương pháp phòng và trị bệnh
(3) Các thông tin khác:
- Khó khăn trong quá trình sản xuất
- Nguồn nước tại vùng nuôi
- Các thông tin về kinh tế (giá cả, thuế, chi phí sản xuất,…)
3.3 Phương Pháp Phân Tích các Chỉ Tiêu Kinh Tế
Dựa vào các số liệu về đầu tư xây dựng, vật tư, thiết bị, thức ăn, con giống, sản lượng, thu nhập… phân tích hiệu quả kinh tế dựa trên các chỉ tiêu:
- Chi phí lưu động: bao gồm chi phí về thức ăn, thuốc thú y, hóa chất, nhiên liệu và vận chuyển, con giống, lao động và lãi vay phải trả qua một vụ nuôi
- Chi phí cố định: bao gồm các chi phí đầu tư ban đầu, bao gồm: bè, trang thiết
Hiệu quả kinh tế cho từng vụ sản xuất cá bè được tính toán như sau:
Trang 19- Tổng chi phí sản xuất: bao gồm khấu hao chi phí cố định, chi phí lưu động và chi phí cơ hội
Tổng chi phí = Khấu hao chi phí cố định + chi phí lưu động + chi phí cơ hội
- Doanh thu: là số tiền thu được sau khi bán sản phẩm và giá trị của sản phẩm còn lại
Doanh thu = Tổng sản lượng đơn giá
- Lợi nhuận thô: là số tiền còn lại sau khi trừ mọi khoản chi phí bỏ ra
Lợi nhuận thô = Doanh thu – tổng chi phí
- Lợi nhuận ròng: là lợi nhuận thu được sau khi trừ đi chi phí thuế
Lợi nhuận ròng = Lợi nhuận thô – thuế
- Thu nhập: thể hiện số tiền còn lại sau khi trừ đi khấu hao chi phí cố định và chi phí lưu động
Thu nhập = Doanh thu – khấu hao chi phí cố định – chi phí lưu động
Hay
Thu nhập = Lợi nhuận + chi phí cơ hội
- Hiệu quả vốn: là chỉ tiêu cho biết một đồng chi phí sản xuất bỏ ra thì thu được bao nhiêu đồng doanh thu
Hiệu quả vốn = Tổng doanh thu / Tổng chi phí sản xuất
3.4 Phương Pháp Phân Tích Số Liệu
Số liệu được tổng hợp và xử lý bằng chương trình Excel Thông qua các số liệu này, chúng tôi tiến hành phân tích, nhận xét về các yếu tố kinh tế, xã hội cũng như kỹ thuật nuôi và chăm sóc bè cá được áp dụng bởi người dân địa phương
Trang 20IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Tình Hình Nuôi Cá Bè trên toàn Huyện Tân Châu
4.1.1 Số lượng và quy mô bè nuôi
4.1.1.1 Số lượng bè nuôi
Bảng 4.1 Hiện trạng số bè nuôi cá ở huyện Tân Châu
ĐVT: cái Số bè nuôi cá thịt Số bè ương cá giống
STT Xã-Thị trấn
Tổng số bè nuôi
Số bè nuôi cá tra
Số bè nuôi cá basa
Số bè nuôi cá khác
Số bè ương cá Tra
Số bè ương cá Basa
Số bè ương cá khác
(Phòng XD & PTNT huyện Tân Châu, tháng 6 năm 2004)
Thời điểm tháng 6 năm 2004, toàn huyện có 377 bè ương và nuôi cá, trong đó số lượng bè ương nuôi cá tra và basa là 307 (chiếm 81,43% tổng số bè), còn lại là các bè ương nuôi các loài cá khác như cá hú, he, điêu hồng, rô phi,…
Qua bảng ta thấy rõ nghề nuôi bè cá tra chiếm ưu thế rất lớn Trong tổng số
377 bè thì số bè ương và nuôi cá tra gồm 260 bè (chiếm 69% tổng số bè) Sỡ dĩ người dân chọn nuôi đối tượng cá tra nhiều hơn các loại cá khác là do nuôi cá tra có chi phí sản xuất thấp hơn (thấp hơn cá basa từ 2.000 – 3.000 đồng/kg), cá tra lớn nhanh, một vụ sản xuất khoảng 6 – 10 tháng nên vòng quay vốn ngắn (cá basa từ 12 – 15 tháng, cá hú từ 8 – 10 tháng) nên so với các loài cá khác nuôi cá tra cho lợi nhuận cao hơn Bên cạnh đó, sản phẩm cá tra dễ tiêu thụ, có thị trường xuất khẩu ra nước ngoài ở dạng philê đông lạnh
Hai làng bè Long An và Châu Phong đứng đầu về số bè sản xuất cá tra thịt (154 bè, chiếm 85,56% tổng số bè nuôi cá tra của huyện) Do hai xã này có diện tích mặt nước lớn (Long An trải dài theo kênh Xáng và Châu Phong nằm dọc theo sông Hậu) nên số bè nuôi cá tập trung ở đây khá đông đảo (206 bè trên tổng số 377 bè của
Trang 21toàn huyện), chiếm ưu thế cao nhất Ngoài ra, các dịch vụ phục vụ cho nghề cá ở đây cũng tương đối thuận lợi với nhiều nhà máy xay xát cung cấp cám, tấm và nhiều ghe tàu chở cá biển nhỏ từ Rạch Giá (Kiên Giang) vào cung cấp nguyên liệu Đặc biệt xã Châu Phong với vị trí gần làng bè của thị xã Châu Đốc nên có nhiều thuận lợi trong mua bán và trao đổi các dịch vụ
Xã Vĩnh Xương có 72 bè ương và nuôi cá, trong đó riêng số bè ương giống là
53 bè, khẳng định lợi thế của một xã đầu nguồn sông Cửu Long
Lê Chánh và Phú Lộc có tổng cộng 34 bè nhưng chủ yếu là ương và nuôi các loài cá khác như: he, hú, rô phi,…
Thị trấn Tân Châu có 14 bè nhưng đa số là bè nhỏ (kích thước 4m8m3m) và chủ yếu dùng để nuôi cá thịt Các hộ nuôi cá bè tại thị trấn có lợi thế về giao thông, tuy nhiên môi trường nước ở đây bị ô nhiễm nhiều hơn các khu vực khác do rác và chất thải từ chợ và các khu dân cư
Tổng số bè nuôi cá basa thịt hiện chỉ còn 24 bè (bằng 1/8 số bè nuôi cá tra thịt) Trong những năm gần đây, số lượng và quy mô nuôi cá basa giảm dần do chi phí đầu tư cao, sản phẩm khó chế biến (bụng nhiều mỡ) mặc dù thịt cá basa trắng và rất ngon Năm 2004 được xem là năm huyện có số bè nuôi cá basa ở mức thấp nhất (giảm 67,12% so với năm 1998)
Do nhiều biến động về thị trường vá giá cá thương phẩm, số lượng bè nuôi cá trong huyện dao động nhiều qua từng năm, cụ thể như sau:
(Phòng NN & PTNT, huyện Tân Châu, năm 2004)
Đồ thị 4.1 Biến động số bè nuôi cá qua các năm
Trang 22Năm 2000, số lượng bè tăng từ 272 lên 356 cái (tăng 30,88% so với năm 1999) do tỉnh An Giang đã triển khai thực hiện “Đề án phát triển thủy sản tỉnh An Giang giai đoạn 2000-2005” nên tình hình nuôi cá bè tại huyện có những chuyển biến tích cực Sang năm 2001, do sản xuất vượt xa khả năng tiêu thụ nên số lượng bè lại giảm Năm 2002 thị trường tiêu thụ cá bè ổn định trở lại nên số bè nuôi lại tăng nhưng tiếp tục giảm vào năm 2003 do sản phẩm cá tra, basa của Việt Nam phải chịu mức thuế cao hơn trước sau quyết định ngày 17/6/2003 của Bộ Thương Mại Hoa Kỳ (DOC) về vụ kiện “Việt Nam bán phá giá ca tra, basa trên thị trường Mỹ” Năm
2004, số lượng bè có tăng nhưng không đáng kể
4.1.1.2 Quy mô bè nuôi
Tùy theo khả năng nguồn vốn mà mức độ đầu tư về qui mô nuôi của từng ngư dân khác nhau, nhưng nhìn chung các bè nuôi cá của huyện có kích thước thuộc loại trung bình, cụ thể như sau:
Bảng 4.2 Số lượng bè chia theo kích cỡ
ĐVT: cái Chia theo kích cỡ
STT Xã-Thị trấn
Tổng số bè nuôi
Dưới 483 (m)
483 đến 6124 (m)
6124 đến 8164,5 (m)
Trên 8164,5 (m)
(Phòng XD & PTNT huyện Tân Châu, tháng 6 năm 2004)
Phân loại theo kích cỡ thì số bè có kích cỡ dưới 4m8m3m có 131 bè (chiếm 34,75%), đây là những bè có kích thước nhỏ, chi phí đóng bè thấp, chi phí đầu tư cho mỗi vụ cũng thấp nhưng bù lại ít rủi ro, phù hợp với những hộ sản xuất có ít vốn, sản xuất nhỏ hoặc chưa có nhiều kinh nghiệm nuôi
Các bè có kích cỡ trung bình (từ 4m8m3m đến 8m16m4,5m) chiếm 48,54%, với chi phí đóng mỗi bè từ 100 – 250 triệu đồng thì quy mô sản xuất của nó là trung bình Năng suất và sản lượng của các bè này ở mức tương đôí nhưng rủi ro
Trang 23trong sản xuất cũng không phải nhỏ nếu thiếu kinh nghiệm trong quản lý và tiêu thụ sản phẩm
Các bè có kích cỡ lớn trên 8m16m4,5m có 60 cái (chiếm 16,71%) Đây là những bè lớn với chi phí đóng bè cao, thuộc những hộ có nhiều vốn, bất động sản và có nhiều kinh nghiệm sản xuất Số bè này tập trung nhiều ở Long An, Châu Phong là những nơi có diện tích mặt nước rộng thích hợp cho những vụ đầu tư lớn
Tuy nhiên, do đa số các bè nuôi cá của huyện đều thuộc sở hữu tư nhân nên mức độ đầu tư không cao So với thị xã Châu Đốc, nơi có đa số các bè lớn thuộc sở hữu của nhà nước, công ty hoặc tập thể thì quy mô về kích cỡ các bè của huyện Tân Châu vẫn còn khá khiêm tốn
4.1.2 Số lượng cá giống và sản lượng nuôi
Bảng 4.3 Số lượng cá giống sáu tháng đầu năm 2004
Số lượng cá giống (con) STT Xã-Thị trấn
Tổng số con giống (con)
Số lượng cá tra giống
Số lượng cá basa giống
Số lượng cá giống khác
3.000
0 4.000 1.479.000 328.000 20.000 752.000
0
0
0
0 197.000 56.200 5.500 95.500
0
0
0 11.000
0 52.200
0 64.000 76.000
(Phòng XD & PTNT huyện Tân Châu, tháng 6 năm 2004)
Trong sáu tháng đầu năm 2004, sản lượng con giống ương nuôi bè là 3.143.400 con các loại, trong đó nhiều nhất là cá tra 2.586.000 con (chiếm đến 82,27% tổng số lượng cá giống) Số lượng giống cá basa và các loại cá khác tuy không nhiều (557.400 con) nhưng cũng đủ cung cấp cho nhu cầu nuôi trong huyện Xã Long An có sản lượng cá giống cao nhất, kế đến là xã Vĩnh Xương với sản lượng lần lượt là1.676.000 con và 911.500 con (chiếm 53,32% và 30% tổng sản lượng cá giống) Các xã còn lại có sản lượng cá giống không nhiều, riêng xã Lê Chánh hoàn toàn không sản xuất giống Điều đáng nói là xã Long An tuy có số bè ương nuôi cá giống ít hơn xã Vĩnh Xương (ít hơn 27 bè) nhưng số lượng giống cung cấp lại cao hơn rất nhiều Lý do là vì các hộ ở Long An đầu tư ương giống trong những bè kích cỡ lớn, họ áp dụng kỹ thuật sinh sản nhân tạo để thu con giống chứ ít đánh bắt cá tự nhiên như ngư dân ở Vĩnh Xương
Trang 24Song, với nguồn giống phong phú từ tự nhiên, cộng với việc người dân áp dụng kỹ thuật sinh sản nhân tạo nên số lượng con giống cung cấp hàng năm tương đối cao (cả sản lượng cá giống ương nuôi trong ao, hầm và bè) Vì thế, số lượng con giống không những cung cấp đủ cho người dân nuôi cá trong huyện mà còn dư để bán cho các khu vực ngoài huyện như: Long Sơn (Phú Tân), Long Thuận (Đồng Tháp)…
Sản lượng cá nuôi bè cung ứng ra thị trường ước tính trong sáu tháng đầu năm
2004 là 5.090 tấn các loại, trong đó:
- Cá tra: 3.800 tấn
Hầu hết 85% số cá xuất bè được người dân bán cho các công ty chế biến đông lạnh xuất khẩu tại An Giang như: Agifish, Afiex, Nam Việt, một số bán cho các công
ty nhỏ hơn như Catexco, Vĩnh Hoàn, ABF… Các hộ phải bán cho các đại lí thu mua và thương lái tư nhân chủ yếu do cá chưa đủ tiêu chuẩn
4.2 Thông Tin Chung về các Hộ Điều Tra
4.2.1 Phân bố tuổi
Sự phân bố tuổi ở người dân nuôi cá bè phản ánh mức độ thu hút của ngành nghề này qua các độ tuổi Sự phân bố tuổi qua điều tra tại các hộ nuôi như sau:
Đồ thị 4.2 Phân bố tuổi của các chủ hộ nuôi bè tại khu vực điều tra
Trang 25Tuổi tác của các chủ hộ nuôi bè qua điều tra phân bố từ 29 đến 58 tuổi, trong đó độ tuổi từ 36 – 45 chiếm đa số với 51%, kế đến là độ tuổi từ 46 – 55 tuổi Như vậy, chủ sở hữu bè cá đa số là những người có thâm niên vì ngành nghề này đòi hỏi sự đầu tư cao và nhiều năm kinh nghiệm Vả lại, đây là ngành nghề truyền thống gia đình (thường thì cha mẹ là những người tham gia quản lí bè cá chứ không phải con
cái) nên sự phân bố tuổi như trên là hợp lý
4.2.2 Trình độ văn hóa
Bảng 4.4 Trình độ văn hóa của người nuôi tại khu vực điều tra
Với sự đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng cá nuôi bè thì trình độ văn hóa của người dân càng đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng vùng nuôi cá bè theo tiêu chuẩn quốc tế (SQF 1000), đồng thời nâng cao ý thức của người dân trong quá trình sản xuất
Qua điều tra, hầu hết các chủ hộ đều có trình độ văn hóa nhất định và không có hộ nào mù chữ Số người tốt nghiệp cấp hai là 30 người (chiếm 73,17%) nên họ có khả năng tiếp cận với những kỹ thuật mới, áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất Đây là một thuận lợi mà các cấp lãnh đạo cần quan tâm hơn nữa để nâng cao hơn trình độ học vấn của người dân, từ đó nâng cao ý thức của người dân trong việc chấp hành các yêu cầu kỹ thuật và vệ sinh trong nuôi cá bè Có như vậy các sản phẩm chế biến từ nước ta mới có nhiều cơ hội hơn để cạnh tranh và tìm kiếm thị trường mới
4.2.3 Kinh nghiệm nuôi
Bảng 4.5 Kinh nghiệm sản xuất của các chủ hộ nuôi bè
Kinh nghiệm nuôi được đúc kết qua quá trình sản xuất và tìm hiểu lâu dài của người dân Qua điều tra, người dân đa số có kinh nghiệm nuôi từ 5 – 10 năm (chiếm
Trang 2665,85% số người điều tra), số người có kinh nghiệm nuôi trên 10 năm cũng tương đối cao (chiếm 26,83%) Qua đó, ta thấy được các hộ nuôi đều bắt đầu sản xuất cá bè từ lâu, lâu nhất có hộ đã sản xuất được 22 năm Vì vậy, việc duy trì và củng cố cho sự phát triển ngành nghề truyền thống này là rất quan trọng
4.2.4 Tham gia khuyến ngư
Đồ thị 4.3 Tình hình tham gia khuyến ngư của người nuôi tại ba khu vực điều tra
Tổng số hộ có tham gia khuyến ngư tại cả ba địa bàn là 17 hộ, chỉ chiếm 41,46% tổng số hộ điều tra Xã Long An có 36,36% số hộ tham gia khuyến ngư, số liệu này là 53,85% ở xã Châu Phong và 33,33% ở thị trấn Tân Châu Nhìn chung công tác khuyến ngư chưa thật sự phát triển tại khu vực điều tra và sự phát triển này cũng không đồng đều ở các xã, thị trấn Các hộ nuôi ở xã Châu Phong quan tâm đến công tác khuyến ngư nhiều hơn, họ thường xuyên tham dự các buổi tập huấn, thảo luận và trao đổi kinh nghiệm với nhau về nuôi cá bè Trong khi đó, số hộ có tham gia khuyến ngư tại xã Long An và thị trấn Tân Châu vẫn còn hạn chế
4.3 Kỹ Thuật Nuôi và Chăm Sóc Bè Cá được Áp Dụng bởi Người Dân Địa Phương
4.3.1 Thiết kế xây dựng bè
Bè nuôi cá thường có dạng hộp chữ nhật, ngoại trừ một số bè cỡ nhỏ dùng cho ương cá giống thì có dạng hộp vuông Theo Phạm Văn Khánh (2003), người nuôi cá bè cho rằng dạng bè hộp chữ nhật dễ dàng trong chọn gỗ thiết kế và quản lí sử dụng Ngoài ra dạng này còn phù hợp cho việc làm nhà trên bè theo truyền thống và cũng là nơi chế biến thức ăn, nhà kho, chuồng chăn nuôi
0 10 20 30 40 50 60 70
Có Không
Trang 27Đầu tư đóng một bè nuôi cá khá tốn kém, vì vậy nguồn vốn là yếu tố quyết định cho việc đầu tư nuôi nhiều hay ít bè cá
Bảng 4.6 Quy mô bè nuôi tại khu vực điều tra
Quy mô bè Số
lượng
Tỷ lệ (%)
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Số lượng
Tỷ lệ (%) Tổng số hộ
- Hộ nuôi 1 bè
- Hộ nuôi 2 bè
- Hộ nuôi 3 bè
Bảng 4.6 cho thấy:
- Không có hộ nào chỉ nuôi một bè, đa số các hộ có từ hai bè trở lên Hộ nuôi
ba bè có 29 hộ (chiếm 70,73% tổng số 41 hộ điều tra) Đối với các hộ này, thường trong số hai hoặc ba bè có một bè lớn nhất phía trên dùng làm nhà ở, các bè còn lại là kho chứa thức ăn và cũng là nơi chế biến thức ăn
- Vật liệu làm bè: hầu hết các hộ sử dụng các loại gỗ tốt và chịu nước như: căm xe, cà chất, vên vên,… đặc biệt các hộ đều chọn lưới inox để đóng ở đầu bè nhằm tăng tuổi thọ sử dụng, chống gỉ sét và để tạo dòng nước tốt từ trước ra sau bè
Vì đây là việc đầu tư một lần để sử dụng nhiều năm, hơn nữa bè nuôi cá cũng là nơi
ở và sinh hoạt của người dân nên việc các chủ hộ sử dụng những vật liệu tốt, tuổi thọ cao là hoàn toàn hợp lý
- Về trang bị cho bè: đa số các chủ hộ nuôi đều trang bị đầy đủ các phương tiện cần thiết phục vụ cho nuôi cá bè, bao gồm: chảo, lò nấu thức ăn, thuyền hoặc ghe để vận chuyển thức ăn, mua nguyên liệu và hỗ trợ bơm nước, máy quạt nước (đối với hộ nuôi cá basa, một số hộ nuôi cá tra với mật độ cao cũng trang bị máy quạt nước) Điều đáng nói là phần lớn các hộ nuôi đều có trang bị máy cho ăn (xay, trộn, ép thức ăn), chiếm đến 85,37% số hộ điều tra, tiết kiệm được rất nhiều thời gian và giúp giảm đáng kể cường độ và nhân lực lao động (Phạm Văn Khánh, 2003)
Hiện nay, một số ý kiến đang đề xuất thử nghiệm sử dụng vật liệu mới bằng khung thép có phủ vật liệu composite với độ bền cao Tuy nhiên, chúng tôi chưa nhận thấy hộ nào ở khu vực điều tra sử dụng loại vật liệu mới này
Trang 284.3.2 Vị trí đặt bè
Vùng nuôi cá bè tại khu vực điều tra chia làm các khu vực neo đậu tập trung như sau:
- Khu vực xã Long An (kênh Xáng, sông Tiền)
- Khu vực xã Châu Phong (sông Hậu)
- Khu vực thị trấn Tân Châu (sông Tiền)
Hình 4.1 Bè nuôi cá tại khu vực xã Châu Phong
Qua khảo sát thực tế, chúng tôi nhận thấy, khu vực tập trung bè đông nhất thuộc hai ấp Long Hưng và Long Châu (ven sông Tiền, thuộc xã Long An), kế đến là khu vực dọc kênh Xáng và xã Châu Phong, khu vực sông Tiền thuộc thị trấn Tân Châu có mật độ bè thưa thớt nhất Để lý giải cho sự khác biệt về mật độ bè, chúng tôi xét các điều kiện cần thiết để chọn làm vị trí đặt bè như sau:
4.3.2.1 Điều kiện tự nhiên
Các khu vực điều tra có đoạn sông tương đối thẳng, dòng chảy đều
Trang 29Độ sâu trung bình của sông tại vùng đặt bè như sau:
Bảng 4.7 Độ sâu trung bình của sông Tiền, sông Hậu và kênh Xáng đoạn chảy qua huyện Tân Châu
4.3.2.2 Điều kiện kinh tế – xã hội
Nhìn chung, các dịch vụ cung cấp thức ăn, con giống, thuốc,… tại cả ba khu vực đều phát triển và thuận lợi Nếu xét về sự thuận tiện về mặt giao thông thì xã Long An và thị trấn Tân Châu có nhiều lợi thế hơn do đường sá nơi đây hầu hết đã được tráng nhựa, rất dễ dàng cho người dân vận chuyển thức ăn và con giống
Ngoài ra, các hộ nuôi còn đặt bè với khoảng cách từ bè đến bờ và khoảng cách giữa các bè được thể hiện ở bảng 4.8
Vị trí đặt bè gần hay xa bờ là tùy thuộc vào mực nước tại khu vực nuôi Ở ba khu vực điều tra, các hộ đều đặt bè tương đối gần bờ, thuận lợi cho việc đi lại, quản
lí, chăm sóc Khoảng cách trung bình giữa các bè nuôi qua điều tra đa số gần nhau, chỉ có 7,32% tổng số hộ nuôi đặt các bè cách xa nhau hơn 8m Theo Ngô Trọng Lư và Thái Bá Hồ (2001), mỗi bè phải cách nhau ít nhất 2m nhưng chúng tôi nhận thấy, để việc đi lại giữa các bè được thuận tiện hơn, đồng thời đảm bảo trao đổi nước giữa các bè được tốt, cung cấp đủ lượng oxy cần thiết cho cá thì khoảng cách này từ 5 – 8m là hợp lý, không nên đặt bè quá sát nhau