1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

NỒNG ĐỘ PROCALCITONIN MÁU TRONG VIÊM PHỔI TRẺ EM TỪ 2 THÁNG ĐẾN 5 TUỔI doc

19 787 9
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiệt độ lúc vào viện, tần số thở, tỷ lệ rút lõm lồng ngực và phập phồng cánh mũi, mức độ nặng của viêm phổi, nồng độ CRP huyết thanh, tỷ lệ thâm nhiễm phế nang trên X-quang gia tăng the

Trang 1

NỒNG ĐỘ PROCALCITONIN MÁU TRONG VIÊM PHỔI

TRẺ EM TỪ 2 THÁNG ĐẾN 5 TUỔI

TÓM TẮT

Mục tiêu: khảo sát nồng độ procalcitonin máu (PCT) (bằng test

BRAHMS PCT-Q) và tìm hiểu mối liên quan giữa PCT với một số biểu hiện lâm sàng và cận lâm sàng chính

Phương pháp: nghiên cứu cắt ngang mô tả

Kết quả: có đến 30% trẻ viêm phổi có PCT trong giới hạn bình

thường Nhiệt độ lúc vào viện, tần số thở, tỷ lệ rút lõm lồng ngực và phập phồng cánh mũi, mức độ nặng của viêm phổi, nồng độ CRP huyết thanh, tỷ

lệ thâm nhiễm phế nang trên X-quang gia tăng theo PCT Tỷ lệ ran ẩm, số lượng bạch cầu và tỷ lệ neutrophils máu ngoại vi gia tăng không có ý nghĩa theo mức độ tăng PCT

Kết luận: nồng độ PCT tăng cao ở những trẻ có sốt cao, tần số thở

nhanh, rút lõm lồng ngực, phập phồng cánh mũi, CRP huyết thanh cao, hình ảnh thâm nhiễm phế nang trên X-quang ngực

Từ khóa: procalcitonin, viêm phổi, trẻ em

Trang 2

ABSTRACT

SERUM PROCALCITONIN IN CHILDREN AGED FROM 2 MONTHS TO 5 YEARS ADMITTED

TO HOSPITAL WITH PNEUMONIA

Bui Binh Bao Son * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 11 – Supplement

of No 4 - 2007: 36 – 41

Objective: Evaluate serum procalcitonin levels (PCT) (by BRAHMS

PCT-Q test) and to determine the correlation with major clinical symptoms and white blood cell counts (WBC), CRP and chest X-ray

Methods: descriptive cross-sectional study

Results: 30% children with pneumonia had a normal serum PCT

level Mean body temperature, mean respiratory rate; rates of chest indrawing, flaring of the alae nasi and severity of pneumonia; mean serum CRP level and rate of alveolar infiltrates on chest X-ray increased in correlation with PCT levels No such correlation between coarse crackles,

WBC, neutrophils and PCT levels was found Conclusion: high PCT levels

were seen in children with high fever, fast breathing, chest indrawing, flaring of the alae nasi, high serum CRP levels and alveolar infiltrates on chest X-ray

Trang 3

Key words: procalcitonin, pneumonia, children

ĐẶT VẤN ĐỀ

* Bộ Môn Nhi, Trường Đại Học Y Dược Huế

Viêm phổi là bệnh lý thường gặp và là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong

ở trẻ em Cho đến nay, các xét nghiệm giúp xác định tác nhân gây bệnh vẫn

không thể tiến hành rộng rãi, kết quả thường chậm, không hữu ích cho việc

hướng dẫn sử dụng kháng sinh sớm và hợp lý ngay lúc vào viện Vì vậy, đã có

nhiều nghiên cứu thiết lập mối liên hệ giữa lâm sàng, X-quang ngực, số lượng và

công thức bạch cầu, CRP và đặc biệt procalcitonin (PCT) nhằm sớm định hướng

tác nhân gây bệnh PCT được tổng hợp qua trung gian, trực tiếp hay gián tiếp bởi

các cytokines Trong viêm phổi do vi khuẩn, PCT tăng nhanh và giảm nhanh nếu

được điều trị thích hợp PCT nhạy hơn hẳn các chỉ điểm viêm cấp khác, vốn bị

ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố và trở về bình thường chậm hơn dù đã hết phản ứng

viêm Ở trong nước, chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu nào về biến đổi của

PCT trong các bệnh lý nhiễm trùng nói chung và trong viêm phổi mắc phải tại

cộng đồng nói riêng Vì vậy chúng tôi nghiên cứu đề tài này nhằm hai mục tiêu:

Trang 4

- Khảo sát nồng độ procalcitonin máu ở trẻ từ 2 tháng đến 5 tuổi bị viêm phổi

- Tìm hiểu mối liên quan giữa nồng độ PCT máu với lâm sàng, mức

độ nặng của viêm phổi, CRP, công thức bạch cầu ngoại vi và X-quang ngực

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện tại Khoa Nhi, Bệnh Viện Trung Ương Huế từ tháng 4.2005 đến tháng 5.2006 Có 50 bệnh nhi được chọn vào nghiên cứu theo những tiêu chuẩn sau:

Tiêu chuẩn chọn: trẻ từ 2 tháng-5 tuổi, lâm sàng phù hợp với phân loại viêm phổi, viêm phổi nặng và viêm phổi rất nặng của WHO(1), X-quang

có hình ảnh viêm phổi

Tiêu chuẩn loại trừ: viêm phổi phối hợp các bệnh nhiễm trùng khác, bị bệnh tim bẩm sinh hoặc bệnh phổi mạn tính trước đó, có sử dụng kháng sinh trước khi nhập viện

Phương tiện nghiên cứu

X-quang ngực được chụp tại khoa Chẩn Đoán Hình Ảnh; công thức bạch cầu được thực hiện tại khoa Huyết Học; định lượng CRP và bán định lượng PCT được thực hiện tại khoa Hóa Sinh, Bệnh Viện Trung Ương Huế

Trang 5

Nồng độ PCT máu được đánh giá bằng test BRAHMS PCT-Q, với các khoảng giá trị < 0,5 ng/ml; 0,5-2 ng/ml và > 2 ng/ml

Tất cả xét nghiệm được làm cùng lúc trong ngày đầu tiên nhập viện

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu: cắt ngang mô tả

Tất cả trẻ nghiên cứu đều được hỏi bệnh sử, khám lâm sàng, phân loại viêm phổi, làm các xét nghiệm cận lâm sàng (công thức bạch cầu, CRP, PCT) và chụp X-quang ngực

Xác định mối liên quan giữa PCT với các biểu hiện lâm sàng và cận lâm sàng chính

Xử lý số liệu

Theo phương pháp thống kê y học thông thường

KẾT QUẢ

Phân bố nồng độ PCT máu ở nhóm nghiên cứu

Trang 6

Biểu đồ 1 Phân bố nồng độ PCT máu ở nhóm nghiên cứu

Nhận xét: Đa số trẻ viêm phổi nhập viện đều có PCT máu tăng từ

0,5-2 ng/ml (46%) Tỷ lệ trẻ có PCT > 0,5-2 ng/ml chiếm 0,5-24% và trẻ có PCT không tăng chiếm 30%

Liên quan giữa nồng độ PCT máu với nhiệt độ lúc vào viện và tần

số thở

Bảng 1 Mối liên quan giữa nồng độ PCT máu với nhiệt độ trung bình

lúc vào viện và tần số thở (TST) trung bình

Nồng

độ PCT

(ng/ml)

Nhiệt

độ TB lúc vào viện (oC)

TST trung bình (/phút)

< 0,5 38,4 ± 56,6 ±

Trang 7

0,6 7,7

0,5–2

39,5 ± 0,7

63,2 ± 8,8

> 2

39,7 ± 0,7

66,6 ± 14,0

p <

0,001

p <

0,05

Nhận xét: Nhiệt độ trung bình lúc vào viện và tần số thở trung bình

có xu hướng gia tăng theo nồng độ PCT máu với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,001 và p < 0,05)

Liên quan giữa nồng độ PCT máu với rút lõm lồng ngực, phập phồng cánh mũi, ran ẩm và phân loại viêm phổi

Bảng 2 Mối liên quan giữa nồng độ PCT máu với rút lõm lồng ngực,

phập phồng cánh mũi, ran ẩm và phân loại viêm phổi

Nồng độ PCT (ng/ml)

T ổng

p

Trang 8

% % %

6 ,7 5

6 5,2

7

5

2

5

R

út lõm

lồng

ngực

Kh ông 4

9 3,3

3 4,8

2

5

2

5

<0 ,01*

5 3,3 1

9 1,3 0

8 3,3

3

9

P

hập

phồng

cánh

mũi

Kh ông

4 6,7

8 ,7

1 6,7

1

1

<0 ,05*

4

9 3,3 8

7 8,3

7

5

4

1 R

an ẩm

Kh ông

6 ,7

2 1,7

2

5

9

>0 ,05*

P

hân

Th ường 2

5 7,1

2 8,6

1 4,3

2

1

<0 ,05*

Trang 9

ng

1

6

4

2

4

2

5

loại

viêm

phổi

Rấ

t nặng

0

2

5

7

5

4

* Hiệu chỉnh Yates

Nhận xét: Tỷ lệ rút lõm lồng ngực và phập phồng cánh mũi gia tăng

theo nồng độ PCT máu (p < 0,01 và < 0,05) Nồng độ PCT máu cũng tăng dần có ý nghĩa theo mức độ nặng của viêm phổi (p < 0,05) và không có liên quan với ran ẩm (p > 0,05)

Liên quan giữa nồng độ PCT máu với số lượng bạch cầu, tỷ lệ neutrophils máu ngoại vi và nồng độ CRP huyết thanh

Bảng 3 Mối liên quan giữa nồng độ PCT máu với số lượng bạch cầu,

tỷ lệ neutrophils máu ngoại vi và nồng độ CRP huyết thanh

Nồng

độ PCT

(ng/ml)

Số lượng bạch cầu

máu

Tỷ lệ neutrophils máu ngoại

vi TB (%)

Nồng

độ CRP

TB (mg/l)

Trang 10

ngoại vi

10 9 /l)

< 0,5

15,1

± 7,7

56,6

± 15,8

38,1

± 34,6

0,5-

2

14,7

± 6,7

57,8

± 15,3

94,7

± 68,8

> 2

16,7

± 5,9

60,8

± 15,3

99,4

± 75,6

p

>

0,05

>

0,05

<

0,05

Nhận xét: Số lượng bạch cầu và tỷ lệ neutrophils máu ngoại vi trung

bình gia tăng không có ý nghĩa theo mức độ tăng của PCT (p > 0,05) Nồng

độ CRP trung bình gia tăng theo nồng độ PCT máu với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05)

Liên quan giữa nồng độ PCT máu và hình ảnh viêm phổi trên X-quang

Trang 11

Bảng 4 Mối liên quan giữa nồng độ PCT máu và hình ảnh viêm phổi

trên X-quang

Nồng độ PCT (ng/ml)

nh ảnh

X-quang

Tổ

ng

p

Th

âm

nhiễm kẽ

9

6

0

2

8,

7

Th

âm

nhiễm

phế nang

6

4

0

2

1

9 1,3

1

2

1

00

39

Tổ

ng

1

5

1

00

2

3

1

00

1

2

1

00

50

<0,0

01*

* Hiệu chỉnh Yates

Trang 12

Nhận xét: Đa số trường hợp thâm nhiễm phế nang đều có nồng độ

PCT máu tăng trong khi nồng độ PCT máu không tăng trong hầu hết trường hợp thâm nhiễm kẽ (p < 0,001)

BÀN LUẬN

Phân bố nồng độ PCT máu ở nhóm nghiên cứu

Đa số trẻ nhập viện trong nghiên cứu này có nồng độ PCT máu tăng trong khoảng 0,5-2 ng/ml (46%) Tỷ lệ trẻ viêm phổi có nồng độ PCT máu >

2 ng/ml chiếm 24% và trẻ có nồng độ PCT máu < 0,5 ng/ml chiếm 30% Như vậy có đến 30% trường hợp viêm phổi trong nghiên cứu của chúng tôi khả năng là do virus

Các nghiên cứu của Moulin và cộng sự(5), Poyrazoglu và cộng sự(6), Toikka và cộng sự(9), Korppi và Remes(4) đều chứng minh rằng nồng độ PCT máu tăng rõ trong viêm phổi do vi khuẩn so với viêm phổi do virus; và ngưỡng PCT máu ≥ 0,5 ng/ml gợi ý viêm phổi do vi khuẩn, trong khi ngưỡng PCT máu > 1 ng/ml và nhất là > 2 ng/ml có độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương tính và âm tính rất cao trong phân biệt viêm phổi do

vi khuẩn với viêm phổi do virus

Liên quan giữa nồng độ PCT máu với nhiệt độ lúc vào viện và tần

số thở

Trang 13

Trong nghiên cứu này, nhiệt độ trung bình lúc vào viện có xu hướng gia tăng theo nồng độ PCT máu với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,001) Nhiệt độ trung bình lúc vào viện ở nhóm trẻ có nồng độ PCT máu < 0,5 ng/ml là 38,4 ± 0,6oC, trong khi ở nhóm trẻ có nồng độ PCT máu từ 0,5-

2 ng/ml là 39,5 ± 0,7oC và ở nhóm trẻ có nồng độ PCT máu > 2 ng/ml là 39,7 ± 0,7oC Chúng tôi chưa tìm được nghiên cứu nào đề cập đến mối tương quan giữa nồng độ PCT máu và nhiệt độ lúc vào viện

Tần số thở trung bình của nhóm trẻ viêm phổi có nồng độ PCT máu >

2 ng/ml (66,6 ± 14,0 lần/phút) cao hơn có ý nghĩa so với nhóm viêm phổi có nồng độ PCT máu < 0,5 ng/ml (56,6 ± 7,7 lần/phút) và nhóm có nồng độ PCT máu 0,5-2 ng/ml (63,2 ± 8,8 lần/phút) (p < 0,05) Như vậy, tần số thở trung bình có xu hướng gia tăng theo nồng độ PCT máu và nếu tần số thở của trẻ < 60 lần/phút thì viêm phổi khả năng là do virus

Liên quan giữa nồng độ PCT máu với rút lõm lồng ngực, phập phồng cánh mũi, ran ẩm và phân loại viêm phổi

Tỷ lệ rút lõm lồng ngực và phập phồng cánh mũi gia tăng theo nồng

độ PCT máu (p < 0,01 và < 0,05) Chỉ có 6,7% trẻ viêm phổi có nồng độ PCT máu < 0,5 ng/ml có dấu hiệu rút lõm lồng ngực trong khi tỷ lệ này ở nhóm viêm phổi có nồng độ PCT máu từ 0,5-2 ng/ml là 65,2% và ở nhóm có nồng độ PCT máu > 2 ng/ml lên đến 75% Tương tự, có 53,3% trẻ ở nhóm

Trang 14

viêm phổi có nồng độ PCT máu < 0,5 ng/ml có dấu hiệu phập phồng cánh mũi trong khi tỷ lệ này ở nhóm có nồng độ PCT máu từ 0,5-2 ng/ml là 91,3% và ở nhóm có nồng độ PCT máu > 2 ng/ml là 83,3% Như vậy, dấu hiệu rút lõm lồng ngực và phập phồng cánh mũi thường gặp hơn ở những trẻ

bị viêm phổi khả năng do vi khuẩn

Tỷ lệ phát hiện ran ẩm khác biệt không có ý nghĩa thống kê theo nồng

độ PCT máu ở các nhóm trẻ viêm phổi (p > 0,05) Có 93,3% trẻ ở nhóm viêm phổi có nồng độ PCT máu < 0,5 ng/ml nghe được ran ẩm trong khi tỷ

lệ này ở nhóm có nồng độ PCT máu từ 0,5-2 ng/ml là 78,3% và ở nhóm có nồng độ PCT máu ≥ 2 ng/ml là 75% Do đó, không thể dựa vào dấu hiệu ran

ẩm để dự đoán khả năng viêm phổi là do vi khuẩn hay virus

Trong nghiên cứu này, nồng độ PCT máu tăng dần theo mức độ nặng của viêm phổi với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) 57,1% trẻ viêm phổi có nồng độ PCT máu < 0,5 ng/ml, trong khi 64% trẻ viêm phổi nặng có nồng độ PCT tăng từ 0,5-2 ng/ml, và đến 75% trẻ viêm phổi rất nặng có nồng độ PCT máu > 2 ng/ml Các nghiên cứu của Reinhart và cộng

sự(8), Hedlund và cộng sự(3) đều chứng minh rằng ở những bệnh nhân viêm phổi nhập viện, nồng độ PCT máu có liên quan chặt chẽ với mức độ nặng của bệnh

Trang 15

Liên quan giữa nồng độ PCT máu với số lượng bạch cầu, tỷ lệ neutrophils máu ngoại vi và nồng độ CRP huyết thanh

Trong nghiên cứu này, số lượng bạch cầu máu ngoại vi không tăng theo mức độ gia tăng nồng độ PCT máu với sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Số lượng bạch cầu máu ngoại vi trung bình ở nhóm trẻ viêm phổi có nồng độ PCT máu < 0,5 ng/ml, từ 0,5 - 2 ng/ml và > 2 ng/ml lần lượt là 15,1 ± 7,7; 14,7 ± 6,7 và 16,7 ± 5,9 (x 109/l) (p > 0,05)

Nghiên cứu của Korppi và cộng sự(4) cũng cho thấy số lượng bạch cầu máu ngoại vi không tương quan với nồng độ PCT máu và không có giá trị phân biệt viêm phổi do vi khuẩn với viêm phổi do virus

Tỷ lệ bạch cầu neutrophils trung bình máu ngoại vi ở nhóm trẻ viêm phổi có nồng độ PCT máu < 0,5 ng/ml, từ 0,5 - 2 ng/ml và > 2 ng/ml lần lượt

là 56,6 ± 15,8%; 57,8 ± 15,3% và 60,8 ± 15,3% (p > 0,05) Như vậy, tỷ lệ bạch cầu neutrophils trung bình máu ngoại vi không khác biệt có ý nghĩa thống kê theo mức độ gia tăng nồng độ PCT máu

Nghiên cứu của Cherian cho thấy không có sự khác biệt về tỷ lệ bạch cầu neutrophils máu ngoại vi giữa viêm phổi do vi khuẩn với viêm phổi do virus(2)

Trang 16

Nồng độ CRP máu trung bình của nhóm trẻ viêm phổi có nồng độ PCT máu > 2 ng/ml (99,4 ± 75,6 mg/l) cao hơn có ý nghĩa so với nồng độ CRP máu trung bình của nhóm trẻ viêm phổi có nồng độ PCT máu < 0,5 ng/ml (38,1 ± 34,6 mg/l) và nhóm có nồng độ PCT máu 0,5 - 2 ng/ml (94,7

± 68,8 mg/l) Như vậy, nồng độ CRP máu trung bình có xu hướng gia tăng theo nồng độ PCT máu (p < 0,05)

Các nghiên cứu của Korppi và cộng sự(4), Moulin và cộng sự(5), Raz(7) chứng minh nồng độ PCT máu có liên quan với nồng độ CRP máu trong chẩn đoán các bệnh lý nhiễm trùng nói chung và viêm phổi nói riêng Nồng

độ CRP máu có xu hướng gia tăng theo nồng độ PCT máu Sự kết hợp giữa nồng độ PCT và CRP sẽ hữu ích hơn là sử dụng đơn thuần trong chẩn đoán bệnh

Liên quan giữa nồng độ PCT máu và hình ảnh viêm phổi trên X-quang

60% trẻ ở nhóm có nồng độ PCT máu < 0,5 ng/ml có hình ảnh thâm nhiễm kẽ trên phim X-quang ngực, trong khi hình ảnh thâm nhiễm phế nang gặp ở 100% trẻ có nồng độ PCT máu > 2 ng/ml và 91,3% trẻ có nồng độ PCT máu từ 0,5-2 ng/ml Như vậy, đa số trường hợp thâm nhiễm phế nang đều có nồng độ PCT máu tăng trong khi nồng độ PCT máu không tăng trong hầu hết trường hợp thâm nhiễm kẽ (p < 0,001)

Trang 17

Nghiên cứu của Korppi và cộng sự cho thấy nồng độ PCT máu ở nhóm viêm phổi có hình ảnh thâm nhiễm phế nang (0,22-1,2 ng/ml, trung bình 0,45 ng/ml) cao hơn nhóm viêm phổi có hình ảnh thâm nhiễm kẽ (0,11-0,71 ng/ml, trung bình 0,28 ng/ml)(4)

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu nồng độ procalcitonin máu ở 50 trẻ viêm phổi từ 2 tháng đến 5 tuổi tại Khoa Nhi, Bệnh Viện Trung Ương Huế, chúng tôi có được một số kết luận sau:

Nồng độ procalcitonin máu ở nhóm nghiên cứu

46% trẻ viêm phổi nhập viện có nồng độ PCT máu tăng mức độ trung bình (0,5-2 ng/ml), 24% trẻ có nồng độ PCT máu tăng cao trên 2 ng/ml và 30% trẻ có nồng độ PCT máu trong giới hạn bình thường

Mối liên quan giữa nồng độ procalcitonin máu với một số biểu hiện lâm sàng và cận lâm sàng chính

Nhiệt độ trung bình gia tăng thuận chiều theo nồng độ PCT máu: lần lượt 38,4 ± 0,6; 39,5 ± 0,7 và 39,7 ± 0,7oC ở nhóm PCT máu < 0,5; 0,5-2 và

> 2 ng/ml (p < 0,001)

Ngày đăng: 01/08/2014, 19:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Mối liên quan giữa nồng độ PCT máu với nhiệt độ trung bình - NỒNG ĐỘ PROCALCITONIN MÁU TRONG VIÊM PHỔI TRẺ EM TỪ 2 THÁNG ĐẾN 5 TUỔI doc
Bảng 1. Mối liên quan giữa nồng độ PCT máu với nhiệt độ trung bình (Trang 6)
Bảng 2. Mối liên quan giữa nồng độ PCT máu với rút lõm lồng ngực, - NỒNG ĐỘ PROCALCITONIN MÁU TRONG VIÊM PHỔI TRẺ EM TỪ 2 THÁNG ĐẾN 5 TUỔI doc
Bảng 2. Mối liên quan giữa nồng độ PCT máu với rút lõm lồng ngực, (Trang 7)
Bảng 3. Mối liên quan giữa nồng độ PCT máu với số lượng bạch cầu, - NỒNG ĐỘ PROCALCITONIN MÁU TRONG VIÊM PHỔI TRẺ EM TỪ 2 THÁNG ĐẾN 5 TUỔI doc
Bảng 3. Mối liên quan giữa nồng độ PCT máu với số lượng bạch cầu, (Trang 9)
Bảng 4. Mối liên quan giữa nồng độ PCT máu và hình ảnh viêm phổi - NỒNG ĐỘ PROCALCITONIN MÁU TRONG VIÊM PHỔI TRẺ EM TỪ 2 THÁNG ĐẾN 5 TUỔI doc
Bảng 4. Mối liên quan giữa nồng độ PCT máu và hình ảnh viêm phổi (Trang 11)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w