MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA AFB, X-QUANG VÀ IDR TRONG CHẨN ĐOÁN LAO PHỔI MỚI TÓM TẮT Mục tiêu: Xác định mối tương quan giữa IDR, X-quang phổi và AFB trong chẩn đoán bệnh lao phổi mới.. Kết lu
Trang 1MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA AFB, X-QUANG VÀ IDR
TRONG CHẨN ĐOÁN LAO PHỔI MỚI
TÓM TẮT
Mục tiêu: Xác định mối tương quan giữa IDR, X-quang phổi và AFB
trong chẩn đoán bệnh lao phổi mới
Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu cắt ngang Phân tích tất cả
bệnh nhân từ 16 tuổi trở lên được chẩn đoán lao phổi mới từ 10/2004 – 08/2006
Kết quả: có 98 bệnh nhân lao phổi mới (44 nam và 54 nữ) trong
nghiên cứu, thường gặp ở lứa tuổi từ 20 – 40 (92%) AFB/đàm dương tính chiếm tỉ lệ 52% Sang thương trên X-quang phổi ở mức độ II và III thì có tỉ
lệ AFB/đàm dương tính càng cao Tỉ lệ IDR dương tính chiếm 83% Sang thương trên X-quang phổi càng nặng thì IDR dương tính càng mạnh Tuy nhiên giữa AFB/đàm và IDR chưa thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
Kết luận: nghiên cứu của chúng tôi đã phần nào cho thấy có mối liên
quan giữa IDR, X-quang phổi và AFB trong chẩn đoán bệnh lao phổi mới
ABSTRACT
Trang 2Objective: to determine relation of AFB, chest X-rays and IDR to the
diagnosis of active pulmonary tuberculosis
Methods: Cross-sectional study To analyse all of over 16 year old
patients diagnosed active pulmonary tuberculosis from 10/2004 to 08/2005
Results: There were 98 cases (44 male and 54 female patients) Most
of them were in the age range from 20 – 40 (92%) Positive sputum AFB was 52% Level II and III lesions on chest x-rays had positive sputum AFB increasingly Positive PPD skin test was 83% The severe degree of lesions
on chest x-rays was , the strong degree of positive PPD skin test was However, relation of sputum AFB to PPD skin test hasn’t been significantly different in the statistatic yet
Conclusion: Our study partly showed that relation of AFB, chest
X-rays and IDR to the diagnosis of active pulmonary tuberculosis
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh lao hiện nay đang có xu hướng gia tăng do số người nhiễm HIV ngày một tăng cao Lao và đại dịch HIV / AIDS là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 2 trên thế giới (WHO)(Error! Bookmark not defined.)(12) Phổi là nơi cư trú thường gặp nhất của vi trùng lao, chiếm khoảng 80-90% ca bệnh lao, trong
Trang 3đó có 60% tìm được AFB dương tính qua soi đàm trực tiếp và đây chính là
nguồn lây chủ yếu trong cộng đồng
* Bộ môn Lao và Bệnh Phổi – Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh
Ở Việt Nam, qua báo cáo tổng kết hàng năm tại bệnh viện Phạm Ngọc
Thạch (2001-2002) trong đó khoảng 78.000 người có AFB dương tính qua
soi đàm trực tiếp (chiếm 60%) Chương trình chống lao quốc gia cùng phối
hợp với TCYTTG phân tích và ước tính nguy cơ nhiễm lao hàng năm ở Việt
Nam là 1,7%(1) Do sự phát hiện AFB dương tính trong đàm còn rất thấp so
với thực tế, khoảng 40% trường hợp không thể chẩn đoán xác định qua soi
tìm AFB dương tính trong đàm Trong khi đó, những bệnh nhân nhiễm lao
tiềm ẩn này sẽ biểu hiện với nhiều triệu chứng lâm sàng đặc trưng hay
không Đồng thời với sự tiến bộ của chụp phim phổi kỹ thuật số và CT scan ,
người ta đã lạm dụng chẩn đoán lao qua hình ảnh X quang phổi mà bỏ qua
xét nghiệm vi trùng và IDR trong chẩn đoán lao phổi mới(4)
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sẽ đặt ra vấn đề chẩn đoán lao qua
các xét nghiệm cận lâm sàng cần thiết như tìm AFB trực tiếp trong đàm,
Trang 4X-quang phổi và IDR Dựa vào những xét nghiệm này, chúng tôi sẽ phân tích
và đánh giá mối tương quan của chúng
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Loại hình nghiên cứu
Phân tích cắt ngang
Đối tượng nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, chúng tôi chọn đối tượng là những bệnh nhân
có triệu chứng lâm sàng của nhiễm lao chung: sốt về chiều, mệt mỏi, ho khạc kéo dài và có dùng thuốc kháng sinh thường 1 hoặc 2 tuần lễ mà triệu chứng vẫn chưa cải thiện
Phương pháp nghiên cứu
Tiêu chuẩn chọn mẫu
Tất cả các bệnh nhân từ 16 tuổi trở lên, được chẩn đoán xác định lao phổi mới từ tháng 10/2004 đến tháng 10/2006 tại Phòng khám Phổi Bệnh viện Đại Học Y Dược và Phòng khám Lao Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch
Tiêu chuẩn loại trừ
- Bệnh nhân có tiểu đường
- Bệnh nhân có tiền căn lao và đã từng điều trị lao
Trang 5- Bệnh nhân có Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
- Bệnh nhân có suy giảm miễn dịch HIV(+), sử dụng heroin, dùng corticoids kéo dài
Tiêu chuẩn chẩn đoán xác định lao phổi mới
Lao phổi AFB(+)
· Có triệu chứng lâm sàng gợi ý đến lao
· Có bất thường trên X-quang phổi gợi ý đến nguyên nhân do trực khuẩn lao
· 1 mẫu đàm có AFB dương tính
· Chưa điều trị bằng thuốc kháng lao hoặc chỉ mới điều trị dưới 1 tháng
Lao phổi AFB(-):
· Có triệu chứng lâm sàng gợi ý đến lao
· Có bất thường trên X-quang phổi gợi ý đến nguyên nhân do trực khuẩn lao
· 6 mẫu đàm có AFB âm tính
· Không đáp ứng với điều trị bằng kháng sinh thường sau 2 tuần
Trang 6· Chưa điều trị bằng thuốc kháng lao hoặc chỉ mới điều trị dưới 1 tháng
· Có đáp ứng về triệu chứng lâm sàng và X-quang phổi với điều trị bằng thuốc kháng lao
Thống kê và xử lý số liệu
Mã hoá và nhập số liệu bằng chương trình Make View và Enter Data, phân tích số liệu bằng chương trình Analyze Data của phần mềm Epi Info
2000 version 1.1.2 Các biến số định tính được biểu diễn theo tần suất và được kiểm định theo phép kiểm l2 Các biến số định lượng sẽ được biểu diễn theo trung bình và độ lệch chuẩn và được kiểm định theo phép kiểm Student hoặc Fisher Trị số P < 0,05 được xem là có ý nghĩa thống kê
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trong nghiên cứu của chúng tôi, 98 trường hợp lao phổi phát hiện tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch và Bệnh viện Đại Học Y Dược được tiến hành khảo sát các đặc điểm dịch tễ học, lâm sàng và cận lâm sàng như sau:
Tuổi
Bảng 1: phân bố của các nhóm tuổi
Trang 7Tuổi Số
trường hợp
Phần trăm
Tổng
cộng
Nhóm tuổi từ 21 đến 30 chiếm tỉ lệ cao nhất trong nhóm nghiên cứu Nhóm tuổi từ 21 đến 50 chiếm tới 92% trong nghiên cứu này
Tuổi trung bình là 34,5 ± 10,9 (trung bình ± độ lệch chuẩn), nhỏ nhất là 17 tuổi và lớn nhất là 59 tuổi
Giới
Bảng 2: phân bố của giới
Trang 8Giới Số
trường
hợp
Phần trăm
Tỉ lệ nam/nữ = 0,8
Tỉ lệ nam và nữ không có sự chênh lệch nhiều
Mối tương quan giữa IDR và AFB/đàm Bảng 3: tương quan giữa IDR và AFB/đàm
AFB/đàm
tính
Am tính
(52,4%)
39 (47,6%)
<10mm 8
(50%)
8 (50%)
Trang 9Nhóm IDR ≥ 10 mm có tỉ lệ AFB/đàm dương tính cao hơn nhóm IDR <
10 mm (52,4% so với 50%) Nhưng sự khác biệt này là không có ý nghĩa thống
kê (P= 0,86; c2 = 0,0316) Như vậy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa IDR dương tính và âm tính đối với loại lao phổi AFB(+) hay AFB(-)
Những bệnh nhân AFB/đàm (+) có 43 ca có IDR ≥ 10mm, chiếm tỉ lệ 84,3% Tương tự như vậy, những bệnh nhân AFB/đàm (-) có 39 ca có IDR ≥
10 mm, chiếm tỉ lệ cũng rất cao là 83%
Mối tương quan giữa mức độ tổn thương X-quang phổi và AFB/đàm
Bảng 4: tương quan giữa 3 mức độ tổn thương và AFB/đàm
AFB/đàm
tính
Âm tính
Mức
độ I
19 (41,3%)
27 (58,7%)
Mức
độ II
20 (57,1%)
15 (42,9%)
Trang 10AFB/đàm
tính
Âm tính
Mức
độ III
12 (70,6%)
5 (29,4%)
Tổn thương trên X-quang càng rộng thì tỉ lệ dương tính của AFB trong đàm càng cao Tuy nhiên, với P= 0,09 (c2 = 4,8327), chúng ta thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa mức độ tổn thương trên X-quang phổi đối với loại lao phổi AFB(+) hay AFB(-)
Mối tương quan giữa X-quang phổi và IDR
Bảng 5: tương quan giữa X-quang phổi và IDR
IDR
X-QUANG
≥10mm <10mm
Mức
độ I
38 (82,6%)
8 (17,4%)
Trang 11độ II (82,9%) (17,1%)
Mức
độ III
15 (88,2%)
2 (11,8%)
Giữa 3 mức độ tổn thương trên X-quang phổi cho thấy tổn thương càng nặng thì số lượng bệnh nhân có IDR (+) càng cao Nhưng sự khác biệt không
có ý nghĩa thống kê (P= 0,85; c2 = 0,3142)
BÀN LUẬN
Về dịch tễ học
Trong bảng phân nhóm chúng tôi thấy có 44 trường hợp nam và 54 trường hợp nữ, tỉ lệ nam và nữ bằng 0,8 Cho thấy sự chênh lệch giữa nam
và nữ không đáng kể
Theo đánh giá của đại diện Tổ chức y tế thế giới tại Việt Nam thì việc chênh lệch về giới tính trong chẩn đoán và phát hiện bệnh lao là không được rõ ràng Nhưng trong các nghiên cứu lớn gần đây lại ghi nhận tỉ lệ nữ dao động từ 26-29% Điều này có thể lý giải do nam giới đóng vai trò chính lao động trong gia đình, đồng thời nam giới cũng có nhiều nguy cơ hơn nữ giới (lao động quá, hút thuốc lá, uống rượu ) làm suy giảm sức đề kháng dẫn đến thúc đẩy nhanh tiến trình của bệnh lao(3,4,7,10,11)
Trang 12Một khảo sát của bệnh viện Phạm Ngọc Thạch năm 2000 cho thấy tỉ lệ bệnh nhân có AFB (+) mới theo giới là: giữa nam và nữ khoảng 3/1, điều này
có thể do tác động của HIV lên dịch tễ lao(4,10)
Ngược lại trong nghiên cứu của chúng tôi tỉ lệ chênh lệch giữa nam và
nữ không đáng kể, điều này có thể do sự lựa chọn mẫu tập trung ở hai trung tâm lớn là Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch và Phòng khám phổi Bệnh viện Đại học Y Dược cơ sở 1 tại Thành Phố Hồ Chí Minh Đa số bệnh nhân cư ngụ tại thành phố Hồ chí Minh và phải có đầy đủ tiêu chuẩn lâm sàng như: bệnh nhân có triệu chứng gợi ý đến lao (ho khạc kéo dài trên hai tuần đôi khi ho
ra máu, có thể sốt không đều hoặc sốt về chiều, mệt mõi, sụt cân), có các cận lâm sàng cần thiết phù hợp lao: X-quang phổi có tổn thương bất thường, hình ảnh nốt rời rạc hoặc tập trung thành đám, có thể tạo hang, AFB(+) hoặc AFB(-) trong đàm, kết quả IDR dương tính
Việc nữ có tỉ lệ cao hơn nam trong nghiên cứu này có thể do tại các Thành Phố lớn, nữ có ý thức khám bệnh cao hơn là nam Sự khác biệt này so với các nghiên cứu khác cần phải có thêm các nghiên cứu khác về nhận thức của các đối tượng bệnh nhân khác nhau về bệnh lao
Về mối tương quan giữa các xét nghiệm trong chẩn đoán lao phổi mới
Trang 13Mối tương quan giữa IDR và AFB
Ở Việt nam, là nơi có nguy cơ nhiễm lao cao do đó chúng tôi xem IDR là một xét nghiệm khá quan trọng để chẩn đoán bệnh lao vì nó là biểu hiện đầu tiên (trừ một số trường hợp ngoại lệ)
IDR dương tính là một xét nghiệm có giá trị gợi ý nhiễm lao nói chung và lao ngoài phổi nói riêng, phù hợp vời thống kê của Bùi Xuân Tám(5) và cộng sự (IDR dương tính: 83%), của Nguyễn An Ninh năm 1995 (IDR dương tính: 89%)
Trong bảng nghiên cứu của chúng tôi những bệnh nhân AFB (+) trong đàm có IDR (+) là 43 bệnh nhân trên tổng số 51 bệnh nhân chiếm tỉ lệ 84,3
% và ở bệnh nhân có AFB (-) trong đàm có IDR(+) là 39 bệnh nhân trên tổng số 47 bệnh nhân chiếm tỉ lệ 83% Điều này cho thấy trong số 98 bệnh nhân dù AFB(+) hoặc AFB(-) trong đàm đều có tỉ lệ IDR(+) rất cao
Nhóm IDR ≥ 10 mm có tỉ lệ AFB/đàm dương tính cao hơn nhóm IDR
< 10 mm (52,4% so với 50%) Nhưng sự khác biệt này là không có ý nghĩa thống kê (P= 0,86) Điều này cũng phù hợp với ý nghĩa của IDR trong bệnh lao IDR sẽ dương tính khi bệnh nhân mắc bệnh lao dù AFB trong đàm là dương tính hay âm tính(1)(2)(5)(6)(7)(12)
Trang 14Mối tương quan giữa mức độ tổn thương trên X-quang phổi và AFB/đàm:
Trong bảng nghiên cứu của chúng tôi, chúng tôi phân loại mức độ tổn thương từ độ I đến độ III dựa theo Chương Trình Chống Lao Quốc Gia và Hiệp Hội Chống Lao Quốc Tế, chủ yếu là theo phân loại tổn thương lao của Hiệp Hội Lồng Ngực Hoa Kỳ(1)(13)(14) (ATS 1990) cho thấy 98 bệnh nhân nghiên cứu của chúng tôi có:
Mức I: 46 bệnh nhân với:
· AFB (+) trong đàm: 19 trường hợp
· AFB (-) trong đàm: 27 trường hợp Mức II: 35 bệnh nhân với:
· AFB (+) trong đàm: 20 trường hợp
· AFB (-) trong đàm: 15 trường hợp
Mức III: 17 bệnh nhân với:
· AFB (+) trong đàm: 12 trường hợp
· AFB (-) trong đàm: 5 trường hợp Kết quả cho thấy ở mức I có 19 bệnh nhân AFB(+) trong tổng số 46 bệnh nhân (chiếm 41,3%), ở mức II có 20 bệnh nhân AFB(+) trong tổng số
Trang 1535 bệnh nhân (chiếm 57,1%) và mức III có 12 bệnh nhân AFB (+) trong tổng số 17 bệnh nhân (chiếm 70,6%) Như vậy mức độ tổn thương phổi càng nặng thì AFB (+) trong đàm càng cao
Xu hướng phát hiện bệnh lao năm 1996-2000 (tỉ lệ /100.000 dân):
AFB+
mới
Trong bệnh lao tình trạng bệnh phụ thuộc vào số lượng vi khuẩn lao Kết quả soi AFB(+) trực tiếp cũng có thể giúp ta đánh giá bệnh nặng hay nhẹ(1,2,7)
Mối tương quan giữa X-quang phổi và IDR:
Trong bảng nghiên cứu này chúng tôi nhận thấy số lượng bệnh nhân IDR(+) tăng dần theo mức độ tổn thương của X-quang phổi
- Ở mức độ I có 38 bệnh nhân có IDR(+) trong tổng số 46 bệnh nhân, chiếm tỉ lệ 82,6%
- Ở mức độ II có 29 bệnh nhân có IDR(+) trong tổng số 35 bệnh nhân chiếm tỉ lệ 82,9%
Trang 16- Ở mức độ III có 15 bệnh nhân có IDR (+) trong tổng số 17 bệnh nhân, chiếm tỉ lệ 88,2%
Điều này chứng tỏ rằng, trong bệnh lao phổi, việc đáp ứng miễn dịch vẫn xảy ra dù mức độ tổn thương trên X-quang có lan rộng đi chăng nữa(1,8,9) Như vậy IDR(+) có giá trị góp phần trong chẩn đoán bệnh lao phổi dù mức độ tổn thương trên X-quang phổi còn tối thiểu hay đã lan rộng
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu 98 bệnh nhân lao phổi mới, chúng tôi rút ra được những kết luận sau:
Bệnh lao phổi thường xảy ra nhiều nhất ở lứa tuổi từ 20 đến 40, nằm trong độ tuổi lao động chiếm tỉ lệ 90% Lao phổi AFB(+) chiếm 52%
Về mối tương quan giữa IDR và AFB trong chẩn đoán lao phổi mới:
- Bệnh nhân lao phổi AFB(+) có tỉ lệ IDR (+) cao hơn so với những bệnh nhân lao phổi AFB(-), dù sự khác biệt này là không có ý nghĩa thống
kê
- Những bệnh nhân có mức độ tổn thương trên X-quang phổi càng rộng thì khả năng AFB(+) trong đàm càng cao.Tổn thương phổi ở mức độ I (46,9%) chiếm tỉ lệ cao hơn so với mức độ II (35%)và mức độ III(17,4%)