SO SÁNH VIỆC ĐÁNH GIÁ THỂ LỰC BẰNG XE ĐẠP LỰC KẾ VÀ HÔ HẤP KÝ CỦA THANH NIÊN VIỆT NAM Tóm tắt Mục tiêu: - Trong nghiên cứu này, chúng tôi đánh giá thể lực 454 thanh niên Việt Nam bằn
Trang 1SO SÁNH VIỆC ĐÁNH GIÁ THỂ LỰC BẰNG XE ĐẠP LỰC
KẾ VÀ HÔ HẤP KÝ CỦA THANH NIÊN VIỆT NAM
Tóm tắt
Mục tiêu: - Trong nghiên cứu này, chúng tôi đánh giá thể lực 454
thanh niên Việt Nam bằng phương pháp chức năng với xe đạp lực kế, hô hấp
kí và so sánh với phương pháp của Bộ Y tế Việt Nam
Kết quả: - Kết quả cho thấy PWC 75 HR bình quân ở nam giới là 98
± 26 Kwatts và ở nữ là 66 ± 23 Kwatts.Khi so sánh giữa khả năng vận động
ở mức 75% nhịp tim tối đa PWC 75 HR max và cách phân loại thể lực của
Bộ Y tế dùng cho học sinh, sinh viên chúng tôi cũng thấy có sự phù hợp Khi so sánh PWC 75% HR với Dung tích sống kết quả cũng phù hợp Trong loại thể lực tốt xác định với lượng oxy hấp thu tối đa VO2 max, nam chiếm đến 90,9% Kết quả này khá phù hợp với cách chia của Bộ Y Tế Trong loại này nữ cũng chiếm đến 85,6%, tốt hơn cách chia của Bộ Y Tế Khi so sánh
VO2 max với dung tích sống kết quả cũng phù hơp
Kết luận: - Đánh giá tình trạng thể lực thanh niên bằng phương pháp
chức năng với hai chỉ số PWC 75% HR và VO2 max được đánh giá cao hơn
Trang 2dung tích sống Có thể đánh giá thể lực bàng phương pháp của Bộ Y tế nếu như không có khả năng đánh giá bằng phương pháp chức năng
ABSTRACT
Objective: In this research, we have assessed physical strength of 454
Vietnamese adults by the function with exercise bicycle, spirometry and compared them with the method of Vietnam’s Ministry of health
Results: - Average value of PWC 75 HR in man is 98 ± 26 Kwatts,
woman is 66 ± 23 Kwatts When we compare PWC 75% HR with classification of physical strength of Vietnam ‘s Ministry of health used for students, we find they are all suitable.when we compared PWC 75 HR with
VC, they are suitable too The men who have good heath with VO2 max are about 90,9%, it is suitable with method of Vietnam‘s Ministryof Health In this case, the women are about 85,6% This method is better than that of Vietnam’s Ministry of Health When we compared VO2 max with VC, they are suiable too
Conclusion: - To assess physical strength by function methods with
PWC 75% HR values and VO2 max value is better than VC value We can assess physical strength by Vietnam’s Ministry of Health’s method if we can’t assess by function method
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ
Thể lực thanh niên là một chỉ số sinh học chịu sự biến đổi theo thời gian, điều kiện kinh tế, môi trường Vì vậy đánh giá thể lực ít nhất 10 năm một lần là cần thiết
Năm 2004, Nguyễn Trường An đã có nghiên cứu về “Đánh giá về mặt nhân trắc học tình trạng dinh dưỡng và sự phát triển người miền Trung từ 16 tuổi trở lên”(12)
Đánh giá thể lực bằng phương pháp chức năng luôn luôn được đánh giá cao hơn phương pháp hình thái Đánh giá thể lực trực tiếp nhất là công thực hiện được ở nhịp tim tối đa (PWC max) hoặc 75% nhịp tim tối đa (PWC 75% HR max) và lượng oxy hấp thu tối đa trong một phút (VO2max)
Theo hướng này, năm 1997 Lê Thị Tuyết Lan và cộng sự đã nghiên cứu về đề tài “Đánh giá thể lực người Việt Nam trưởng thành bằng phương pháp xe đạp lực kế” Tuy nhiên, số liệu còn nhỏ và chưa so sánh với phương pháp hô hấp ký và của Bộ Y tế Việt Nam
Vì vậy, để cập nhật hoá các thông tin về thể lực thanh niênViệt Nam,
sử dụng các phương pháp đánh giá thể lực bằng chức năng (xe đạp lực kế,
hô hấp ký) để bổ sung và so sánh với phương pháp đánh giá thể lực bằng hình thái của Bộ Y tế, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này
Trang 4Mục tiêu nghiên cứu
1 Đánh giá và phân loại thể lực thanh niên Việt Nam ở TP Hồ Chí Minh bằng các:
* Chỉ số hình thái: Phân loại thể lực theo Bộ Y tế
* Chỉ số chức năng: Khả năng vận động ở mức 75% nhịp tim tối đa (PWC 75% HR max), lượng oxy hấp thu tối đa (VO2 max) và dung tích sống (VC)
2 Phân loại thể lực theo các tiêu chuẩn của Bộ Y tế và dung tích sống
3 So sánh sự phù hợp giữa kết quả dựa trên tiêu chuẩn hình thái với các tiêu chuẩn chức năng
Đối tượng - phương pháp nghiên cứu
Đối tượng
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 8 đến tháng 12 năm 2005
Đối tượng gồm 457 thanh niên, hồ sơ đủ điều kiện nghiên cứu là 454, gồm 215 nam và 239 nữ Các thanh niên này là sinh viên các trường Đại học
Y khoa, Bách khoa và công nhân ngành may
Tuổi từ 17 đến 26, trung bình là 20,5 ± 2,2
Trang 5Về tình trạng hút thuốc lá thì chỉ có 16 người hút, số gói – năm từ 0,05 đến 6,5; tỉ lệ hút là 3,5%
Phương pháp nghiên cứu
1 Cỡ mẫu được tính theo công thức: n ≥
Trong đó C= 1,96 với khoảng tin cậy 95% và e = 0,05 với sai số ước lượng là 5% Tính ra n ≥ 384
Như vậy chúng tôi chọn mẫu gồm 454 đối tượng là đáp ứng yêu cầu
cỡ mẫu của nghiên cứu
2 Các đối tượng được khám tổng quát, đặc biệt chú ý đến hệ hô hấp, tuần hoàn, xương khớp
Phương pháp hô hấp ký
- Hô hấp ký được thực hiện bằng máy KoKo Ferrais Hoa Kì theo tiêu chuẩn quốc tế cho các đối tượng thỏa các điều kiện
Nghiệm pháp vận động, theo tiêu chuẩn của WHO
- Nghiệm pháp được thực hiện bằng máy Bombi của Nhật Bản, theo tiêu chuẩn của Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO)
Trang 6Nghiệm pháp được tiến hành vào buổi sáng, cách bửa ăn ít nhất là 2giờ, đối tượng không vận động trước đó 30 phút và nghỉ ngơi hoàn toàn 5 phút trước đo
Tuỳ vào đối tượng, máy tự quyết định tải trọng ban đầu Có tín hiệu
âm thanh để bắt đầu đạp Cứ mỗi 3 phút, tải trọng lại tự động tăng lên một bậc, mức gia tăng tải trọng tuỳ vào độ tăng của nhịp tim Tổng cộng có ba bậc tải trọng, vận tốc đạp được qui định trong khoảng 45 – 55 vòng/ phút Vận tốc này được ghi lên máy và báo để điều chỉnh nếu ra khỏi giới hạn
Thời gian vận động là 9 phút, cuối cùng là 1 phút hồi tĩnh, trong thời gian này đối tượng vẫn đạp liên tục và tải trọng giảm dần Đo huyết áp ngay sau khi vận động Máy sẽ ngưng test nếu nhịp tim trong lúc vận động vượt quá mức vượt quá mức 75% nhịp tim tối đa(HR max), vốn được qui định theo công thức
HR max (nữ) : 205 – 0,75 tuổi (năm)
HR max (nam) : 209 – 0,69 tuổi (năm)
Các trị số thu được nhập liệu vào máy vi tính và xử lý thống kê bằng SPSS
Kết quả nghiên cứu
Trang 7Đánh giá phân loại thể lực thanh niên Việt Nam ở Tp HCM bằng :
% theo giới
83,7% 48,5% 65,2%
1
% tổng số
39,6% 25,6% 65,2%
2
Trang 8theo
giới
% tổng số
11,2% 19,2% 15,4%
% Tổng
cộng
% theo
giới
3
% tổng số
4
% theo
giới
Trang 9% tổng số
% theo giới
5
% tổng số
% theo giới
Tổng
cộng
% tổng số
47,4% 52,6% 100%
Theo phân loại theo bộ Y tế :
Loại rất khỏe có 83,7% nam thanh niên
Loại rất khỏe có 48,5 % nữ thanh niên
Trang 10Loại rất yếu có 0,5% nam
% theo giới
90,9% 85,6% 88,1%
> 25
mml/phút/kg
% tổng số
Trang 11giới
% tổng số
% theo giới
<15
mml/phút/kg
% tổng số
Trang 12% tổng số
2,85–
3,4
2,5 2,85
2,15 -2,35
2,15-2
<
2
Bảng 4 : So sánh khả năng vận động ở 75% nhịp tim tối đa (PWC)
lượng oxy hấp thu tối đa VO2max, dung tích sống gắng sức DGTICHSG
Trang 13Giới
Nghề nghiệp
Vo2max mml/phút/ kg
Dung tích sống
Trung bình
Sinh viên
Độ lệch chuẩn
Trung bình
Công nhân
Độ lệch chuẩn
Trung bình
Nam
Tổng cộng
Trang 14Giới
Nghề nghiệp
Vo2max mml/phút/ kg
Dung tích sống
lệch chuẩn
Trung bình
Sinh viên
Độ lệch chuẩn
Trung bình
Công nhân
Độ lệch chuẩn
Trang 15Giới
Nghề nghiệp
Vo2max mml/phút/ kg
Dung tích sống
Độ lệch chuẩn
Trung bình
Sinh viên
Độ lệch chuẩn
Trung bình
Công nhân
Độ lệch chuẩn
Trang 16Giới
Nghề nghiệp
Vo2max mml/phút/ kg
Dung tích sống
bình
Độ lệch chuẩn
Phân loại thể lực
Biểu đồ 1: Công thực hiện ở 75% nhịp tim tối đa (PWC 75 HR max)
với các mức thể lực phân theo Combi
Trang 17- Biểu đồ 2: Lượng oxy hấp thu tối đa phân theo mức thể lực của Combi
Nhóm thanh niên ở nhóm thể lực Rất khỏe có VO2 max tối đa là 61ml/phút/kg, VO2 max tối thiểu là 30,83ml/phút/kg
- VO2 max tỷ lệ thuận với thể lực xếp theo PWC 75% HR
Bảng 5: Phân loại theo lượng oxy hấp thụ tối đa ở nam nữ thanh niên
> 25
mml/phút/kg
Trang 18theo giới
% tổng số
43,2% 44,9% 88,1%
% theo giới
15-25
mml/phút/kg
% tổng số
% theo giới
<15
mml/phút/kg
% tổng số
Trang 19n 164 181 345
% theo giới
Tổng
cộng
% tổng số
47,5% 52,5% 100%
VO2max ở Sinh viên là 35,9 ± 9,3 ml/phút/kg
VO2max ở Công nhân là 34,6 ± 8,2 ml/phút/kg
So sánh sự phù hợp
Biểu đồ 3: Công thực hiện
ở 75% nhịp tim tối đa ở các mức thể lực phân theo tiêu chuẩn phân loại của
Bộ Y Tế dùng cho học sinh sinh viên
Trang 20Các chỉ số hình thái được một ưu điểm là dễ thực hiện vì không đòi dụng cụ phức tạp Tuy nhiên, các chỉ số chức năng vẫn được đánh giá cao hơn vì liên quan trực tiếp đến khả năng vận động như lượng oxy hấp thu tối
đa (VO2 max) hoặc thể hiện cụ thể mức công thực hiện được (physical work capacity, PWC)
2 Tiến hành việc đo dung tích sống, chúng tôi cũng phân theo 5 bậc
từ rất khoẻ đến rất yếu Theo cách phân loại như trên, nghĩa là chỉ phân 2
Trang 21giới nam nữ chứ không phân biệt sinh viên và công nhân may Kết quả thể lực dựa trên Bộ Y Tế khác với cách dựa trên dung tích sống cụ thể là nhóm rất tốt của nam chỉ chiếm 47,9% thay vì 83,7% như trong cách phân loại của
Bộ Y Tế, nhóm yếu, rất yếu ở nam cũng như Bộ Y Tế: chỉ có 0,5%
3 3 Chúng tôi sử dụng cách phân loại của Hội Lồng Ngực Hoa Kỳ (1991) Trong loại tốt với VO2 max (ml/phút/kg) > 25 được xem như có khả năng lao động bình thường, nam chiếm đến 90,9% (Bảng 5) Như vậy kết quả này khá phù hợp với cách chia của Bộ Y Tế
Trong loại này nữ cũng chiếm đến 85,6%, tốt hơn cách chia của Bộ Y
Tế Loại trung bình với VO2 max trong khoảng 24,9 đến 15, tức là chỉ lao động nhẹ, nam chiếm 8,5%, nữ chiếm 13,8%.(Bảng 5) Tuy nhiên, vẫn còn 0,6% nam và 0,6% nữ có VO2 max < 15, được đánh giá là không đủ sức lao động (Bảng 5)
Trang 22theo thứ tự của Bộ Y tế cho thống nhất đánh giá theo PWC 75 HR max thì chỉ có 44,9% thanh niên đạt nhóm rất khỏe, so với 65,2% của Bộ Y tế
Để so sánh các cách phân loại thể lực dựa trên hình thái và các cách phân loại dựa trên chức năng, chúng tôi chọn khả năng vận động thể lực tối
đa ở mức 75% nhịp tim tối đa (PWC 75% HR max) và lượng oxy hấp thu tối
đa (VO2 max) làm chuẩn Đây là hai chỉ số được dùng phổ biến nhất trong đánh giá thể lực vì cung cấp các trị số cụ thể và trực tiếp nhất.:
- Khi so sánh giữa PWC 75% HR max và dung tích sống trừ nhóm rất khỏe thì cũng tương đối phù hợp PWC 75% HR max giảm dần theo mức thể lực yếu dần xếp loại bằng dung tích sống (Bảng 4)
- Khi so sánh giữa PWC 75 HR max và cách phân loại thể lực của Bộ
Y tế dùng cho học sinh, sinh viên, dùng chung cho 2 giới thì chúng tôi cũng thấy có sự phù hợp PWC 75 HR max giảm theo mức độ phân loại yếu dần của Bộ Y tế, tuy nhiên khi chia theo giới thì cũng ở nhóm yếu, nam, xếp theo Bộ Y tế, thì có PWC rất cao Tuy nhiên nhóm này chỉ có 2 thanh niên nên kết luận này chưa có tính đại diện (Biểu 3)
- Chỉ số thứ hai về chức năng phản ánh thể lực cũng được sử dụng phổ biến là thể tích oxy hấp thu tối đa/kg cân nặng (VO2 max - L/phút/kg) So sánh VO2 max với cách phân loại thể lực theo Combi, chúng tôi thấy có sự phù hợp
Trang 23hoàn toàn Điều này là đương nhiên vì trong nghiên cứu này VO2 max được suy đoán từ PWC 75 HR max (Biểu 2)
Khi so sánh VO2 max và dung tích sống, kết quả cũng tương tự như khi so sánh PWC 75 HR max và dung tích sống (Bảng 4)
Công trình này chỉ là một phần trong việc đánh giá toàn diện về sức khỏe của thanh niên Việt Nam, các yếu tố khác về mặt bệnh lý, tâm thần kinh cũng phải được kết hợp để có một cách đánh giá toàn diện
Kết luận
1 Việc đánh giá thể lực bằng phương pháp chức năng luôn chính xác hơn các phương pháp hình thái Trong đó hai chỉ số khả năng vận động thể lực ở mức 75% nhịp tim tối đa (PWC 75% HR max) và lượng oxy hấp thu tối đa (VO2 max) được đánh giá cao hơn dung tích sống Tuy nhiên việc sử dụng xe đạp lực kế luôn phức tạp
2 Trong nghiên cứu này, chúng ta thấy phân loại của Bộ Y tế cho kết quả phù hợp với hai chỉ số chức năng : PWC 75 HR max và VO2 max Đây cũng là phương đánh giá thể lực bằng hình thái có thể được đề nghị thay thế nếu như không đủ điều kiện đánh giá bằng phương pháp chức năng