Trong những năm gần đây, nhờ tiến bộ kỹ thuật của phòng xét nghiệm mà các tác nhân vi sinh vật gây tiêu chảy được phát hiện ngày càng nhiều, đó là các nhóm vi khuẩn E.. Trong đề tài này,
Trang 2CÁC VI KHUẨN GÂY TIÊU CHẢY
Kết quả: Phân lập được 49 chủng vi khuẩn từ 200 bệnh phẩm của bệnh nhân trong lô nghiên cứu (24,50%) Tỉ lệ các loại vi khuẩn định danh được: Shigella sp - 24,49%, E coli nhóm EPEC và Vibrio parahaemolyticus
- 22,45 cho mỗi loại, Salmonella sp - 20,41% và S aureus – 10,20% Có sự
Trang 3khác biệt về mức độ kháng thuốc giữa các nhóm vi khuẩn Các vi khuẩn đường ruột đều kháng cao với trimethoprim/sulfamethoxazole trong khi Vibrio parahaemolyticus và S aureus còn nhạy cảm tới 100% Vi khuẩn kháng các kháng sinh khác với tỉ lệ thấp hơn và thay đổi theo từng nhóm
Kết luận: cần sử dụng kháng sinh hợp lý trong điều trị tiêu chảy cấp vì
vi khuẩn còn nhạy cảm với nhiều kháng sinh thông dụng
ABSTRACT
Background: Acute diarrheal diseases are an actual problem of the World’s Medicine, especially in the developping countries due to high morbidity and mortality rates
Purpose: To investigate bacterial agents in the acute infectious diarrheal diseases in adults and its antibiotic resistance
Method: Retrospective, descriptive and cross-sectional methods were used Data of bacterial indentification and antibiogramm results were collected and analysed at HCMC Institute of Hygiene and Public Health from March to September 2005
Results: 49 strains wered isolated from the 200 studied patients (24.35%) The most frequent isolated bacteria was Shigella sp – 24.49%,
Trang 4followed by E coli group EPEC and Vibrio parahaemolyticus - 22.45% for each species; Salmonella sp – 20.41% and S aureus – 10.20%
There was a difference in antibiotic resistance between different
trimethoprim/sulfamethoxazole while Vibrio parahaemolyticus and S aureus were still susceptible to this antibiotic (in level 100%) The bacteria were resistant to other antibiotics with less ratio and were varied by group
Conclusion: A reasonable antibiotic use is needed in treatment of acute infectious diarrheal diseases
Trang 5với 951.000 ca/năm(1,2,3,4,5,6,8) Tại Việt nam, tỉ lệ người nhập viện do tiêu chảy là 170.000 ca (năm 1996), tần suất mắc bệnh từ 2 – 3 lần trên mỗi trẻ trong một năm(2,3,5,6,8) Nguyên nhân gây bệnh rất đa dạng và phong phú, chỉ riêng tiêu chảy nhiễm trùng, các nguyên nhân đã thay đổi từ vi khuẩn, ký sinh trùng cho đến virus Trước những năm 70 của thế kỷ trước, người ta mới chỉ biết được khoảng 25% tác nhân gây tiêu chảy do vi sinh vật, chủ yếu là do Shigella sp., Salmonella sp., V cholerae và E histolytica Trong những năm gần đây, nhờ tiến bộ kỹ thuật của phòng xét nghiệm mà các tác nhân vi sinh vật gây tiêu chảy được phát hiện ngày càng nhiều, đó là các nhóm vi khuẩn E coli gây tiêu chảy (EPEC, ETEC, ), Campylobacter jejuni, Yersinia enterocolitica, Clostridium perfringens, Ơ Việt nam, đã có những nghiên cứu về bệnh tiêu chảy cấp trên những phương diện khác nhau(3,4,5,6,8) Trong đề tài này, chúng tôi tiến hành khảo sát các tác nhân
vi khuẩn gây tiêu chảy cấp ở người lớn với những mục tiêu như sau:
- Xác định tỉ lệ bệnh nhân bị tiêu chảy cấp do vi khuẩn
- Định danh các vi khuẩn gây tiêu chảy cấp
- Đánh giá mức độ đề kháng kháng sinh của các vi khuẩn phân lập được
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trang 6Đây là loại hình nghiên cứu mô tả hồi cứu – thiết kế cắt ngang Đối tượng nghiên cứu là các bệnh nhân người lớn bị tiêu chảy cấp tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới TP HCM từ tháng 3/2005 đến tháng 9/2005
Phương pháp nghiên cứu
Tiêu chuẩn chọn mẫu
Các bệnh nhân tiêu chảy cấp theo thời gian và địa điểm nêu trên được cấy phân, có kết quả kháng sinh đồ và đầy đủ các thông tin cần thiết về người bệnh
Tiêu chuẩn loại trừ:
các mẫu phân không có bạch cầu khi soi tươi ở vật kính 40 hoặc định danh được vi khuẩn gây bệnh nhưng không có kết quả kháng sinh đồ hoặc không có đủ thông tin cần thiết về người bệnh
Phương pháp nghiên cứu
- Phân lập và định danh vi khuẩn gây bệnh từ mẫu phân đạt tiêu chuẩn (có bạch cầu khi soi tươi ở vật kính 40) theo thường qui của Trung tâm kiểm soát bệnh tật Hoa kỳ (CDC) để phát hiện 08 loại vi khuẩn gây tiêu chảy cấp như Shigella sp., Salmonella sp., E coli nhóm EPEC, Vibrio parahaemolyticus, Vibrio cholerae, S aureus, Bacillus cereus và Clostridium perfringens
Trang 7- Xác định mức độ kháng kháng sinh bằng phương pháp Kirby - Bauer
- Thu thập dữ liệu nghiên cứu theo mẫu phiếu lâm sàng và cận lâm sàng cho từng loại vi khuẩn
- Xử lý kết quả bằng phương pháp thống kê y học
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Về đặc tính mẫu
Trong thời gian nghiên cứu, từ tháng 3 đến tháng 9/2005, chúng tôi thu thập được 200 mẫu phân của các bệnh nhân bị tiêu chảy cấp từ BV Bệnh Nhiệt đới gởi tới Viện Vệ sinh Y tế Công cộng Các bệnh nhân có lứa tuổi từ 19 – 81 Tỉ lệ giới nam là 46,00% và giới nữ 54,00% (Bảng 1)
Bảng 1 Đặc điểm giới, tuổi của mẫu khảo sát (N = 200)
Giới
Tần suất
Tỉ lệ %
Nam
Trang 9200
49
24,50
Kết quả cấy vi khuẩn
Từ 200 bệnh phẩm, chúng tôi phân lập được 49 chủng vi khuẩn, trong
đó có 4 bệnh nhân nhiễm 2 loại vi khuẩn
Bảng 3 Các loại vi khuẩn phân lập được
Trang 12Khảo sát mức độ đề kháng kháng sinh của các vi khuẩn phân lập được
Từ bảng 4 đến bảng 8 thể hiện tỉ lệ kháng kháng sinh của các vi khuẩn phân lập được trong nghiên cứu này
Bảng 4 Tỉ lệ kháng kháng sinh của vi khuẩn Shigella (n = 12)
Trang 230,00
Có 1 chủng vi khuẩn kháng đồng thời 3 loại kháng sinh (Am, Ci và Bt), 1 chủng vi khuẩn kháng 2 loại kháng sinh (Am, Ci) và có mức trung gian với 1 kháng sinh (Cl), 1 chủng vi khuẩn kháng 1 loại kháng sinh (Bt) Ngoài ra, chúng tôi còn ghi nhận được 1 chủng vi khuẩn kháng ở mức trung gian với 1 loại kháng sinh (Ac)
Bảng 6 Tỉ lệ kháng kháng sinh của vi khuẩn E coli nhóm EPEC (N = 11)
Trang 34Bảng 8 Tỉ lệ kháng kháng sinh của vi khuẩn S aureus (n = 5)
Trang 39Về đặc tính mẫu nghiên cứu (bảng 1):
Lứa tuổi: bệnh nhân trong lô nghiên cứu thuộc lứa lứa tuổi từ 19 đến
81
Giới nữ chiếm tỉ lệ cao hơn giới nam (54,00% so với 46,00%) Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05)
Trang 40Về kết quả nuôi cấy vi khuẩn
Có 49 trường hợp phân lập được vi khuẩn gây tiêu chảy, chiếm tỉ lệ 24,45% (Bảng 2) Trong số này, có 4 trường hợp phân lập được 02 vi khuẩn trên một bệnh nhân
Chúng tôi tiến hành phân lập định danh 08 loại vi khuẩn gây tiêu chảy, có 03 loại vi khuẩn không xuất hiện trong nghiên cứu này, đó là Vibrio cholerae, Bacillus cereus và Clostridium perfringens Hiện nay, với việc đẩy mạnh công tác phòng chống dịch, trình độ và mức sống của người dân ngày một nâng cao, bệnh tả do vi khuẩn V cholerae gây ra ngày càng ít xuất hiện,
do đó chúng ta khó phân lập được vi khuẩn V cholerae như một tác nhân gây tiêu chảy Vi khuẩn Bacillus cereus là một tác nhân gây ngộ độc thức ăn
có thời gian ủ bệnh ngắn, từ 1 – 6 giờ và bệnh thường không kéo dài quá 12 giờ(1,2,5,6), do đó những bệnh nhân này có thể chưa cần phải nhập viện và chúng ta cũng ít có cơ hội phân lập được chúng Clostridium perfringens là
vi khuẩn kỵ khí gây tiêu chảy, bệnh thường tự khỏi, hiếm khi kéo dài quá 24 giờ(1,2,5,6) Yếu tố “kỵ khí” cũng là một trở ngại cho quá trình phân lập định danh khiến chúng ta khó “bắt gặp” được vi khuẩn này trong các nghiên cứu
Trong số các vi khuẩn phân lập được từ nghiên cứu này (bảng 3), nếu
so sánh với nghiên cứu của Hoàng Tiến Mỹ, 1997(4) thì tỉ lệ vi khuẩn
Trang 41Shigella sp Trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn hẳn, sự khác biệt này
có ý nghĩa thống kê (5,00% so với 0,73%, p<0,05) Trước đây, Salmonella
sp được xem là một tác nhân chính gây tiêu chảy cấp Với tỉ lệ phân lập 0,73% trong nghiên cứu của Hoàng Tiến Mỹ, Salmonella đã đứng ở vị trí cuối cùng so với các vi khuẩn khác Đến nay, nghiên cứu của chúng tôi cho thấy Salmonella lại có vai trò quan trọng trong bệnh lý này - chiếm 5,00%
So sánh với một nghiên cứu khác của chúng tôi vào cùng thời gian trên đối tượng bệnh nhi bị tiêu chảy cấp(3), tỉ lệ vi khuẩn Salmonella phân lập được cũng giống như tỉ lệ này ở người lớn – 5,00%
Vi khuẩn E coli là vi khuẩn đường ruột thường trú ở ruột người và động vật Đã có những nghiên cứu về lâm sàng và dịch tễ chứng minh rằng
có một số type huyết thanh E coli thường gây tiêu chảy cho trẻ nhũ nhi và
sơ sinh cũng như gây các vụ dịch đường ruột ở người lớn(1,5) Tuy có vai trò như một tác nhân gây tiêu chảy cấp nhưng tại nhiều phòng xét nghiệm vi sinh tại Việt nam, E coli chưa được chú ý phát hiện như một tác nhân gây tiêu chảy(3,4) Trong nghiên cứu này, chúng tôi xác định được tỉ lệ E coli gây tiêu chảy thuộc nhóm EPEC là 5,5% So sánh với số liệu của Hoàng Tiến Mỹ, 1997(4) thì tỉ lệ vi khuẩn E coli của chúng tôi thấp hơn hẳn (5,5%
so với 28,94%, p<0,05)
Trang 42Vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus là tác nhân gây ngộ độc thức ăn từ hải sản, gây triệu chứng tiêu chảy nặng, mất nhiều nước, nhiều khi có máu trong phân(1,5) Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ Vibrio parahaemolyticus là 5,5% trong tổng số trường hợp bị tiêu chảy thấp hơn số liệu của Hoàng Tiến Mỹ nhưng sự khác biệt chưa có ý nghĩa thống kê (5,5%
so với 6,03%, p>0,05)
Vi khuẩn S aureus cũng là một tác nhân gây các vụ ngộ độc thức ăn
do tiết độc tố ruột (enterotoxin) Đa số các trường hợp ngộ độc thức ăn do S aureus được gây nên từ người lành mang vi khuẩn(1,5) Trong các phòng xét nghiệm vi sinh lâm sàng, tác nhân này chưa được phân lập định danh như một tác nhân gây tiêu chảy cấp(3,4) Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho tỉ
lệ vi khuẩn S aureus trong số các trường hợp tiêu chảy cấp là 2,5% (bảng 3) Nếu có thể, chúng ta cần tiến hành các thử nghiệm xác định các loại độc tố ruột của vi khuẩn S aureus
Đánh giá mức độ kháng kháng sinh của các vi khuẩn phân lập được Đánh giá mức độ kháng kháng sinh của vi khuẩn Shigella sp (bảng 4)
trimethoprim/sulfamethoxazole - tới 91,67%, tương tự như số liệu của Hoàng Tiến Mỹ(3) (92,17%) Đối với các kháng sinh còn lại, tỉ lệ kháng ở mức thấp hơn hẳn: gentamicin (50,00%), ampicillin (33,33%), amikacin
Trang 43(25,00%), Nói cách khác, vi khuẩn Shigella sp trong nghiên cứu của chúng tôi còn nhạy cảm với nhiều kháng sinh thông dụng Kết quả này cũng phù hợp với mức đề kháng kháng sinh của vi khuẩn Shigella theo số liệu của Cao Minh Nga trên đối tượng trẻ em(3)
Bảng 5 cho thấy vi khuẩn Salmonella sp kháng trimethoprim / sulfamethoxazole với tỉ lệ cao hơn cả - 30,00%, tiếp theo là ciprofloxacine (20,00%) và ampicilline (20,00%), các kháng sinh còn lại, ngay cả những kháng sinh đã xuất hiện từ lâu và đã có tỉ lệ kháng thuốc có ý nghĩa như gentamicin, amikacin (6) đều còn rất nhạy cảm với vi khuẩn Salmonella sp - 100%
Vi khuẩn E coli nhóm EPEC trong nghiên cứu này (Bảng 6) cho tỉ lệ
trimethoprim/sulfamethoxazole (đều là 45,5%), kế đó là kháng sinh ciprofloxacin (27,27%) Kết quả này cũng phù hợp với mức đề kháng kháng sinh trong nghiên cứu của Cao minh Nga trên đối tượng bệnh nhi(2) Các tỉ
lệ kháng thuốc này đều thấp hơn hẳn so với số liệu của Hoàng Tiến Mỹ(4)
chloramphenicol – 71,33%) Ngoài các kháng sinh mới, các kháng sinh thông dụng, đã xuất hiện từ lâu vẫn còn cho tỉ lệ nhạy cảm cao với vi khuẩn
Trang 44E coli nhóm EPEC: colistin và amikacin – 100%, gentamicin và amoxcilline/clavulanic acid – 90,9%,
Vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus (Bảng 7) chỉ đề kháng cao với colistin (45,45%), ampicillin và cefuroxime (27,27%) Điều đặc biệt là vi
trimethoprim/sulfamethoxazole, nhạy cảm cao với nhiều kháng sinh khác
Vi khuẩn S aureus trong nghiên cứu này kháng với nhiều loại kháng sinh (Bảng 8) Tỉ lệ kháng cao nhất là 100,00% với penicillin, tiếp theo là clindamycin và amoxcilline/clavulanic acid – 80,00%, gentamicin – 40,00%, Điều đặc biệt là trimethoprim/sulfamethoxazole còn nhạy cảm tới 100% với vi khuẩn S aureus trong nghiên cứu này Các kháng sinh chuyên biệt cho cầu khuẩn như oxacillin và vancomycin đều cho tỉ lệ nhạy cảm tuyệt đối
Trang 45- Từ bệnh phẩm phân lập được 49 chủng vi khuẩn gây bệnh (24,50%), định danh được 5 loại vi khuẩn gây tiêu chảy cấp
- Tỉ lệ các loại vi khuẩn định danh được: đứng hàng đầu là Shigella
sp (6,00%), tiếp theo là salmonella sp (5,00%), các vi khuẩn E coli nhóm EPEC, Vibrio parahaemolyticus cho tỉ lệ – 5,50%, và S aureus - 2,50%
3 Mức độ kháng thuốc của vi khuẩn phân lập được
Có sự khác biệt giữa các nhóm vi khuẩn trong lô nghiên cứu Các vi khuẩn đường ruột (Shigella, Salmonella và E coli nhóm EPEC) đều có mức
độ đề kháng cao với trimethoprim/sulfamethoxazol; điều đặc biệt là các vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus và S aureus còn nhạy cảm tới 100% với trimethoprim/sulfamethoxazol Vi khuẩn kháng các kháng sinh khác với tỉ lệ thấp hơn và thay đổi theo từng nhóm
* Đề xuất: cần sử dụng kháng sinh hợp lý trong điều trị tiêu chảy cấp
vì vi khuẩn còn nhạy cảm với nhiều kháng sinh thông dụng