Phương pháp: Dùng laser CO2 để kích thích một diện tích nhỏ trên da của người lành khoẻ mạnh để tạo điện thế gợi đáp ứng với dây C.. ĐẶT VẤN ĐỀ Đo vận tốc dẫn truyền VTDT của dây Aβ dây
Trang 1ĐO VẬN TỐC DẪN TRUYỀN DÂY C Ở CHI
DƯỚI TRÊN NGƯỜI
TÓM TẮT
Mục tiêu: Đo vận tốc dẫn truyền dây (VTDT) C của dây thần kinh
ngoại biên của chi dưới ở người
Phương pháp: Dùng laser CO2 để kích thích một diện tích nhỏ trên
da của người lành khoẻ mạnh để tạo điện thế gợi đáp ứng với dây C Để kích thích một vùng nhỏ trên da, chúng tôi dùng một tấm nhôm mỏng có khoan nhiều lỗ nhỏ như một màng chắn, đặt ngay trên da vùng sẽ được kích thích Tia laser với đường kính 2 mm sẽ xuyên qua từ 1 đến 4 lỗ nhỏ của màng chắn nhôm này để đến da và kích thích các đầu tận cùng của dây
C Tiến hành ước lượng VTDT bằng công thức Vận tốc = Quãng đường/Thời gian
Kết quả: Vận tốc trung bình đo được là 1,1 m/s
Trang 2Kết luận: Kết quả này chứng tỏ phương pháp đo VTDT dây C không
xâm lấn này có thể ứng dụng trong các nghiên cứu lâm sàng và thực nghiệm
để tìm hiểu các chức năng sinh lý và sinh lý bệnh của dây C
ABSTRACT
Objective: to measure the conduction velocity of C fibers in lower
limb in humans
Methods: We used CO2 laser stimulation of a tiny skin surface area
to elicit C evoked potentials To stimulate C fibers, we used a thin aluminum plate with many tiny holes as a filter and placed on the skin at the stimulation site The array of holes allowed the 2 mm laser beam to pass through 1 to 4 holes to reach the skin We then estimated the conduction velocity using the formular Velocity = Distance/Time
Result: The value obtained was 1.1 m/s
Conclusion: The finding demonstrated that this noninvasive
method is useful for experimental and clinical exploration of the physiological function and pathophysiological role of C-fibers
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ
Đo vận tốc dẫn truyền (VTDT) của dây Aβ (dây cảm giác được myeline hoá có đường kính lớn) và dây Aδ (dây được myeline hoá có đường kính nhỏ) của dây thần kinh ngoại biên có thể thực hiện dễ dàng bằng phương pháp cổ điển dùng kích thích điện đối với dây Aβ và kích thích laser đối với dây Aδ Tuy nhiên, đo VTDT của dây C (dây không được myeline hoá có đường kính rất nhỏ) thì thật khó khăn, vì rất khó kích thích được dây C một cách chọn lọc(2,3) Để kích hoạt dây C, một vài phương pháp đã được đề nghị Nhưng đều khó thực hiện hoặc gây khó chịu cho đối tượng được đo, và do đó không được áp dụng rộng rãi Gần đây, nhóm nghiên cứu của Plaghki(1,4) đề ra phương pháp kích thích diện tích nhỏ trên da bằng cách điều chỉnh đường kính của tia laser phát ra Dựa trên đặc tính sinh lý của các đầu tận cùng của dây C là có mật độ cao hơn và ngưỡng kích thích thấp hơn Aδ, chúng tôi đã cải tiến và sử dụng màng nhôm mỏng với nhiều lỗ nhỏ có tác dụng như một màng lọc để tia laser chỉ chạm vào một vùng da nhỏ, đồng thời dùng tia laser với cường độ yếu để kích thích dây C một cách chọn lọc Phương pháp này đã được ứng dụng để
đo vận tốc dẫn truyền của chi trên(5), nay chúng tôi triển khai áp dụng cho chi dưới
Trang 4ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Có 13 người tình nguyện khoẻ mạnh tham gia (10 nam, 3 nữ) Tuổi từ
28 đến 42 (trung bình ± độ lệch chuẩn = 33.4 ± 4.1) Chiều cao từ 156-180
cm (169.8 ± 6.8) Tất cả các đối tượng đều ký giấy đồng ý và hiểu rõ mục đích nghiên cứu Nghiên cứu này được uỷ ban y đức của viện khoa học sinh
lý quốc gia Nhật Bản (Okazaki, Nhật Bản) chấp thuận
Phương pháp kích thích
Chúng tôi dùng máy kích thích laser CO2 của Nippon Infrared Industries (Kawasaki, Nhật Bản) và tấm nhôm mỏng với nhiều lỗ nhỏ (dày 0,1 mm, chiều dài 60 mm và chiều rộng 40 mm) đặt ngay trên vùng da sẽ được kích thích Cường độ tia là 7-10 mJ/mm2, thời gian kích thích là 20 ms Tần số kích thích là 0,1-0,3 Hz Đối tượng được kích thích ở 2 vị trí, một ở
mu bàn chân quanh đầu xương bàn ngón 1, 2 và 3, và một ở vùng da quanh đầu xương chày khỏang 5-15 cm phía dưới bờ dưới của xương bánh chè Đối tượng chỉ được kích thích ở chân trái Ở mỗi vị trí sẽ có 2 lần ghi, mỗi lần ghi gồm 10 kích thích có đáp ứng không nhiễu Vị trí kích thích là ngẫu nhiên và cân đối giữa các đối tượng Đối tượng có khoảng 5 phút nghĩ ngơi
Trang 5sau mỗi lần ghi Nhiệt độ phòng thí nghiệm là 24°C Đối tượng ở trạng thái thư giãn, tỉnh táo, mắt mở và đeo kính để bảo vệ mắt nhằm tránh tổn thương mắt có thể xảy ra do tia laser Về chi tiết của phương pháp xin tham khảo thêm bài của Trần Diệp Tuấn và cs (5)
Phương pháp ghi đáp ứng điện thế vỏ não
Điện cực ghi đáp ứng điện thế vỏ não được đặt tại Cz theo hệ thống quốc tế 10-20 Điện trở được duy trì dưới 5 kΩ Điện cực tham chiếu đặt tại dái tai trái (A1), và điện cực nối với mặt đất được đặt tại trán Điện nhãn đồ được ghi cùng lúc để loại bỏ các sóng nhiễu Tần số khuếch đại đáp ứng là 0,1-50 Hz, độ nhạy cảm là 10 µV/cm Thời gian ghi đáp ứng cho mỗi kích thích là 2048 ms, và tần số ghi là 512 Hz
Phương pháp đo VTDT
Sau khi xác định tính lập lại của đáp ứng, tất cả sóng đáp ứng của các lần ghi sẽ được cộng trung bình Sóng đáp ứng dương tính đầu tiên được gọi
là P1 Thời gian tiềm tàng của sóng P1 thu được từ kích thích tại bàn chân
và cẳng chân sẽ được đo, từ đó tính được sự chênh lệch về thời gian tiềm tàng giữa 2 vị trí kích thích Khoảng cách giữa vị trí kích thích tại bàn chân
Trang 6và cẳng chân cũng sẽ được đo ở mỗi đối tượng Qua đó, xác định VTDT của dây C bằng công thức tính vận tốc (vận tốc = quãng đường / thời gian)
KẾT QUẢ
Hình 1 Điện thế kích hoạt vỏ não đáp ứng với tia laser CO2 kích thích vùng da với diện tích nhỏ ở bàn chân và cẳng chân của một đối tượng Các sóng thể hiện là sóng đáp ứng với 2 lần ghi khác nhau được xếp chồng lên nhau Thời gian tiềm tàng của đỉnh sóng P1 là 1380 ms cho bàn chân và 1054 ms cho cẳng chân lấy từ sóng trung bình của cả 2 lần ghi Khoảng cách giữa vị trí kích thích tại bàn chân và cẳng chân là 38 cm Vận tốc dẫn truyền tính được là 1,17 m/s
Sóng dương tính P1 đáp ứng với kích thích được ghi nhận rõ ràng trên tất cả các đối tượng (Hình 1) Thời gian tiềm tàng trung bình của sóng P1 ở bàn chân là 1381 ms và ở cẳng chân là 1041 ms Giá trị trung bình (TB), độ lệch chuẩn (ĐLC) và khoảng giá trị của thời gian tiềm tàng sóng
Trang 7P1, khoảng cách giữa bàn chân và cẳng chân, và VTDT ước lượng được của dây C ở chi dưới được trình bày trong Bảng 1 Giá trị trung bình VTDT của dây C ghi nhận được là 1,1 ± 0,1 m/s
Bảng 1 Kết quả đạt được từ sóng P1 sau kích thích tại bàn chân và
cẳng chân, và VTDT đo được của dây C
TB ± ĐLC Khoảng giá trị
Thời gian tiềm tàng của đỉnh
sóng P1 (ms)
Kích thích bàn chân 1381 ± 98
1160 - 1476
Kích thích cẳng chân 1041 ± 86
910 - 1160
Khoảng cách từ
Bàn chân đến cẳng chân (cm)
37,5 ± 5,4 30 - 47
Trang 8Vận tốc dẫn truyền (m/s)
C-fibers 1,1 ± 0,1 0,9 – 1,3
BÀN LUẬN
Đo VTDT của dây thần kinh ngoại biên là một trong những thủ thuật quan trọng trong việc lượng giá bệnh nhân bị bệnh lý thần kinh ngoại biên Tuy nhiên, với các phương pháp thông thường dùng tia laser để kích thích thì thường ghi được đáp ứng của Aδ còn đáp ứng của dây C sẽ bị ức chế
Do vậy, để có thể ghi được đáp ứng điện thế kích hoạt vỏ não của dây C, nhất thiết phải tránh việc đồng thời kích hoạt dây Aδ Một vài phương pháp kích thích chọn lọc dây C đã được đề nghị nhưng đều không được áp dụng rộng rãi và không phải lúc nào cũng cho kết quả đáng tin cậy Gần đây, chúng tôi đã cải biên phương pháp của nhóm Plaghki (1,4) và đo thành công VTDT của dây C ở chi trên (5) Nay chúng tôi lại tiếp tục thành công trong việc đo VTDT dây C ở chi dưới
Bằng phương pháp mới này, chúng tôi đã ghi được đáp ứng điện thế kích hoạt vỏ não P1 với thời gian tiềm tàng dài tương ứng với đáp ứng của dây C Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành đo VTDT dây C ở chi dưới và kết quả là từ 0,9-1,3 m/s Kết quả thu được chứng tỏ rằng, phương
Trang 9pháp mới này không chỉ có thể kích thích dây C một cách chọn lọc, mà còn
có thể áp dụng ở các vùng da khác nhau nên sẽ hữu dụng cho các nghiên cứu lâm sàng và thực nghiệm
KẾT LUẬN
Chúng tôi đã đo được VTDT của dây C của dây thần kinh ngoại biên bằng cách sử dụng tấm màng nhôm với nhiều lỗ nhỏ có tác dụng như một màng chắn để kích thích một vùng nhỏ của da Giá trị trung bình của VTDT của dây C của chi dưới ở người bình thường là 1,1 m/s Chúng tôi tin rằng, đây là phương pháp không xâm lấn sẽ rất hữu dụng không chỉ trong các nghiên cứu thực nghiệm mà còn có thể sử dụng dễ dàng trong lâm sàng