1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

THAY ĐỔI NỒNG ĐỘ FLUOR TRONG NƯỚC MÁY TRÊN TÌNH TRẠNG SÂU RĂNG TÓM TẮT Mở pot

19 824 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 5,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả: Nghiên cứu đã tìm thấy một sự khác biệt đáng kể về mặt thống kê về tỷ lệ và mức độ trầm trọng sâu răng của trẻ 3 tuổi sống giữa vùng có và không có fluor của thành phố Hồ Chí M

Trang 1

THAY ĐỔI NỒNG ĐỘ FLUOR TRONG NƯỚC MÁY TRÊN

TÌNH TRẠNG SÂU RĂNG

TÓM TẮT

Mở đầu: Chương trình fluor hóa nước máy của thành phố Hồ Chí

Minh được thực hiện vào tháng 1/1990 với nồng độ 0,7±0,1ppm F, tuy nhiện nồng độ này đã được điều chỉnh xuống 0,5±0,1ppm F vào tháng 6/2000

Mục tiêu của nghiên cứu này là so sánh hiệu quả của việc thay đổi

nồng độ fluor này lên tình trạng sâu răng sữa của trẻ 3 tuổi ở 2 vùng có và không có fluor hoá nứơc tại Tp.HCM Một nghiên cứu cắt ngang phân tích

đã được tiến hành theo kỹ thuật chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên trên các đối tượng là trẻ 3 tuổi sinh ra tại Tp.HCM vào năm 1990 và 2001 590 trẻ 3 tuổi (420 ở vùng fluor hoá và 170 ở vùng không fluor hóa) đã được khám và ghi nhận tình trạng sâu răng vào tháng 9 năm 1993; 604 trẻ cùng tuổi (328 ở vùng fluor hoá và 276 ở vùng không fluor hóa) đã được điều tra vào năm

2004 Dữ liệu về tình trạng sâu răng của trẻ (P%, smt-r và SiC) được ghi

Trang 2

nhận theo tiêu chí của WHO bởi các điều tra viên đã được chuẩn hóa Kiểm định 2 và phân tích ANOVA kết hợp với phương pháp Tukey được sử dụng để so sánh tỷ lệ sâu răng, số trung bình smt-r và SiC giữa các vùng và giữa các điều tra

Kết quả: Nghiên cứu đã tìm thấy một sự khác biệt đáng kể về mặt

thống kê về tỷ lệ và mức độ trầm trọng sâu răng của trẻ 3 tuổi sống giữa vùng có và không có fluor của thành phố Hồ Chí Minh trong cả 2 điều tra

Kết luận: Việc thay đổi nồng độ fluor trong nước máy tại thành phố

HCM từ 0,7 xuống 0,5 ppm F đã không ảnh hưởng đến hiệu quả giàm sâu răng cho trẻ 3 tuổi, nhưng trẻ sống ở vùng fluor hóa nước máy của thành phố

có tỷ lệ và mức độ trầm trọng sâu răng thấp hơn đáng kể so với trẻ sống ở vùng không fluor hóa nước

ABSTRACT

THE EFFECT OF DECREASED CONCENTRATION OF FLUORIDE IN TAP WATER ON THE DENTAL CARIES STATUS OF 3-YEAR-OLD CHILDREN IN HCM CITY

Nguyen Thi Thanh Tam, Hoang Trong Hung, Dao Thi Hong Quan

Trang 3

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 11 – Supplement of No 2 - 2007:

128 - 135

* Khoa RHM – Đại Học Y Dược TP HCM

Background: The water fluoridation program in Ho Chi Minh city,

Vietnam was started in January 1990 with a concentration of 0.7 0.1 ppm

then was adjusted to 0.5 0.1 ppm in June, 2000

The objective of this study was to compare the effect of the change in

fluoride concentrations on dental caries prevalence in 3 year-old children in

fluoridated and non-fluoridated area

Method: This cross-sectional study was conducted on children born

in 1990 and 2001 selected by multi-stratified random sampling 590

three-year-old children (420 in the fluoridated area and 170 in a non-fluoridated

area) were examined in September 1993 and 604 (328 in the fluoridated area

and 276 in a non-fluoridated area) were examined in March 2004 The

prevalence of caries, dmft index and SiC Index (Significant Caries Index)

Trang 4

were scored by calibrated examiners according to WHO criteria Chi-square test was used to compare caries prevalence and t-test for dmft and SiC between the two examinations

Result: A statistically significant difference could be found between

the fluoridated and non-fluoridated area in the 2 examinations

Conclusion: The change in water fluoridation concentration from 0.7

to 0.5 ppm did not affect the caries experience of three-year-old children meanwhile, children living in fluoridated area have lower caries experience when comparing with those living in non-fluoridated area

ĐẶT VẤN ĐỀ

Fluor ngăn ngừa sâu răng và fluor hóa nước là một trong những hình thức sử dụng fluor phổ biến để dự phòng sâu răng hữu hiệu nhất cho cộng đồng Vì thế, gần đây Trung Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật Hoa Kỳ (CDC)

đã liệt kê chương trình fluor hóa nước vào một trong muời chương y tế quan trọng nhất của thế kỷ thứ 20

Tại Tp.HCM, chương trình fluor hóa nước được áp dụng từ năm 1990 với nồng độ 0,7ppm 0,1ppm, sau đó được điều chỉnh xuống 0,5 0,1ppm

từ tháng 6 năm 2000

Trang 5

Số liệu từ nghiên cứu đầu tiên về hiệu quả giảm sâu răng sữa sau 3 năm fluor hoá nước với nồng độ 0,7ppm tại thành phố Hồ Chí Minh, đã được Đào Thị Hồng Quân và cộng sự công bố năm 1995 Kết quả cho thấy, fluor hóa nước với nồng độ 0,7ppm đã làm giảm 56,4% sâu răng sữa cho trẻ nhỏ sống trong vùng fluor hóa nước của thành phố trong thời điểm đó Thế nhưng, hiệu quả giảm sâu răng sữa thực sự của chương trình fluor hóa nước với nồng độ mới vẫn chưa có nghiên cứu nào xem xét

Năm 2004 là thời điểm thích hợp để đánh giá hiệu quả giảm sâu răng sữa của chương trình trên trẻ 3 tuổi ở nồng độ mới, và đây cũng là thời điểm thích hợp để so sánh hiệu quả giảm sâu răng sữa của nồng độ 0,5 ppm so với nồng độ 0,7 ppm trước đây

Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định hiệu quả giảm sâu răng sữa ở trẻ em thành phố Hồ Chí Minh sau 3 năm điều chỉnh nồng độ fluor trong nước uống

- So sánh hiệu quả của việc thay đổi nồng độ fluor trong nước trên tình trạng sâu răng của trẻ 3 tuổi sống ở 2 vùng có và không có fluor nước máy tại TP Hồ Chí Minh

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Trang 6

Đây là một nghiên cứu dịch tễ học sâu răng được thiết kế theo phương pháp cắt ngang phân tích trên trẻ 3 tuổi (32-38 tháng tuổi) sinh ra và lớn lên tại thành phố Hồ Chí Minh vào năm 1993 và 2001 Dữ liệu sâu răng của trẻ trong nghiên cứu được ghi nhận vào hai thời điểm: tháng 9 năm 1993 (sau 3 năm fluor hóa nước với nồng độ 0,7 ppm) và tháng 3 năm 2004 (sau 3 năm điều chỉnh nồng độ fluor trong nước máy ở mức 0,5 ppm)

Mẫu nghiên cứu ở cả 2 thời điểm là trẻ 3 tuổi đang học tại các trường Mẫu giáo và Mầm Non ở vùng có và không có fluor hóa nước tại thành phố

Hồ Chí Minh Các tiêu chí như sau: (1) Trẻ sinh ra và lớn lên tại địa điểm nghiên cứu; (2) Trong thời kỳ mang thai trẻ, mẹ đã sống liên tục tại địa chỉ trẻ đang sống; (3) trẻ phải có độ tuổi từ 32 đến 38 tháng tuổi vào thời điểm thu thập dữ liệu, đã được áp dụng như những tiêu chí chọn mẫu cho cả 2 điều tra 590 trẻ 3 tuổi (420 trẻ ở vùng fluor hóa nước và 170 ở vùng không fluor hoá nước) và 604 trẻ 3 tuổi (328 trẻ ở vùng fluor hóa nước và 276 ở vùng không fluor hoá nước) trong điều tra năm 2004 đã được chọn vào mẫu nghiên cứu theo kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng nhiều bậc

Dữ liệu về tình trạng sâu răng của trẻ trong 2 điều tra đã được thu thập ngay tại trường học, theo tiêu chí ghi nhận tình trạng sâu răng sữa của WHO

Trang 7

và việc ghi nhận này đã được thực hiện bởi các điều tra viên đã được chuẩn hóa (chỉ số Kappa > 0,80)

Các chỉ số smt-r (số trung bình răng sữa sâu, mất và trám); SiC (chỉ số sâu răng đáng kể, chỉ số này được tính toán dựa trên trung bình 1/3 dân số có smt-r cao nhất) đã được sử dụng như là các thước đo mức độ sâu răng của trẻ trong các điều tra Ngoài ra, tỷ lệ % sâu răng của trẻ được tính toán dựa trên tỷ lệ % trẻ có smt-r 1

Trong suốt quá trình thu thập dữ liệu, 10% trẻ ở cả 2 điều tra được khám lập lại lần 2 để kiểm soát và điều chỉnh sai lệch thông tin của các điều tra viên

Dữ liệu trong nghiên cứu đã nhập và xử lý bằng phần mềm SPSS, phiên bản 10.05 Các phép thống kê mô tả như tỷ lệ % sâu răng, số trung bình smt-r và SiC được sử dụng để mô tả mức độ sâu răng của trẻ 3 tuổi trong cả hai điều tra Bên cạnh đó phép kiểm 2 đã được sử dụng để so sánh

sự khác biệt về tỷ lệ % sâu răng của trẻ 3 tuổi giữa 2 quận có và không có fluor hóa nước trong từng thời điểm và giữa các thời điểm với nhau Phân tích ANOVA một yếu tố (có kết hợp với phương pháp Tukey) cũng được áp dụng để so sánh sự khác biệt về số trung bình smt-r và SiC của trẻ 3 tuổi trong các điều tra 1993, 2004 và giữa các điều tra này

Trang 8

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

Mẫu và vùng nghiên cứu

Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố đầu tiên trong cả nước có chương trình fluor hóa nước máy, tuy nhiên hệ thống phân phối nước máy của thành phố không đủ nước để cung cấp cho tất cả các quận/huyện trên toàn thành phố Do đó, bản đồ fluor hóa nước của thành phố được chia thành

2 vùng khá rõ rệt: có và không có fluor hóa nước, đứng về mặt dịch tễ học

sự phân chia này khá lý tưởng cho những theo dõi, giám sát và đánh giá hiệu quả của một chương trình fluor hóa nước lần đầu được áp dụng tại một quốc gia Vì thế, việc chọn mẫu nghiên cứu cho điều tra này nói riêng và hầu hết các điều tra liên quan đến chương trình fluor hóa nước tại Tp.HCM nói chung cũng phải căn cứ trên cơ sở của sự phân tầng về nồng độ fluor trong nước

9 trường mẫu giáo và mầm non (5 trường ở vùng fluor hóa nước và 4

ở vùng không fluor hoá) đã được chọn vào trong mẫu nghiên cứu ở cả 2 điều tra, trong đó 590 trẻ 3 tuổi (420 trẻ ở vùng fluor hóa nước và 170 ở vùng không fluor hoá nước) và 604 trẻ 3 tuổi (328 trẻ ở vùng fluor hóa nước và

276 ở vùng không fluor hoá nước) trong điều tra năm 2004 Hai điều tra này,

độ chính xác của mẫu là 5% và năng lực mẫu 80%

Trang 9

Số lượng trẻ cho mỗi vùng có và không có fluor hóa nước ở từng thời điểm được tính toán dựa trên tỷ lệ phân bố dân số trẻ 3 tuổi ở hai vùng này vào thời điểm nghiên cứu Tuy nhiên, việc chọn trẻ vào mẫu nghiên cứu cũng phải tuân theo các tiêu chí chọn mẫu và kỹ thuật chọn mẫu nêu trên trong cả hai điều tra, điều này đã làm cơ sở đảm bảo cho độ chính xác của các phép so sánh thống kê sau này giữa các thời điểm fluor hoá nước tại thành phố Hồ Chí Minh với nồng độ fluor trong nước khác nhau

Hiệu quả giảm sâu răng ở trẻ 3 tuổi sau 3 năm điều chỉnh nồng độ fluor trong nước máy tại thành phố Hồ Chí Minh ở mức 0,5±0,1 ppm F

Bảng 1: So sánh tỉ lệ bệnh toàn bộ sâu răng của trẻ 3 tuổi ở hai vùng

có và không có fluor hóa nước vào năm 2004

Vùng

Số trẻ khám

Tỉ lệ

% sâu răng

Fluor

hóa nước

Trang 10

Không

fluor hóa nước

*Kiểm định 2, p<0,00

Bảng 2: Phân bố chỉ số sâu răng (sr), mất răng (mr), trám răng (tr),

trung bình smt-r của trẻ 3 tuổi ở hai vùng có và không có fluor hóa nước

Vùng

Số trẻ khám

Vùng

F+

328

1,59 0,15

0,01 0,00

0,00 0,00

1,60 0,15

Vùng

F

-276

3,38 0,25

0,02 0,01

0,01 0,01

3,41 0,25

*Kiểm định student cho 2 mẫu độc lập, TB SE

Trang 11

Bảng 3: Phân bố chỉ số SiC của trẻ 3 tuổi ở hai vùng có và không có

fluor hoá

Quận

Số trẻ khám

Chỉ

số SiC

(TB SE)

TB khác biệt

KTC 95% khác biệt

Vùng

F+

328

4,6 0,3

Vùng

F

-276

8,2 0,4

- 3,5

-4,5 – -2,6

*Kiểm định student cho hai mẫu độc lập, p= 0,000

Sự khác biệt đáng kể (p<0,001) về tỷ lệ % sâu răng, số trung bình smt-r và trung bình SiC (bảng 1, 2 và 3) giữa trẻ 3 tuổi sống ở vùng có và không có fluor hóa nước với nồng độ 0,5 ppm, đã chứng minh rằng trẻ sống

ở vùng fluor hóa nước vào năm 2004 có tỉ lệ sâu răng thấp hơn những trẻ

ở vùng không fluor hóa nước

Trang 12

Hơn nữa, nếu so sánh tỷ lệ và mức độ trầm trọng sâu răng trong điều tra năm 2004 này với những dữ liệu ghi nhận được trước khi có chương trình fluor hóa nước tại thành phố (biểu đồ 1 và 2), cho thấy trẻ sống ở vùng fluor hoá nước với nồng độ 0,5 ppm F đã giảm 48,2% sâu răng và 3,4 răng sâu-mất-trám so với thời điểm trước fluor hoá Việc giảm sâu răng này cũng phù hợp với các báo cáo của WHO (2003) về việc giảm tỷ lệ sâu răng ( 45%)

và số xoang sâu ở hệ răng sữa ( 2,2 smt-r), do chương trình F+ nước mang lại

Biểu đồ 1: Thay đổi tỷ lệ % sâu răng so với thời điểm trước fluor hóa

(1990)

Trang 13

Biểu đồ 2: Thay đổi smt-r so với thời điểm trước fluor hóa (1990)

Tuy nhiên, ở vùng không có fluor hóa nước (biểu đồ 1 và 2), tỷ lệ và mức độ trầm trọng sâu răng cũng có giảm so với thời điểm trước fluor hóa Điều này có thể được giải thích dựa trên 2 khía cạnh như sau: (1) trẻ 3 tuổi sống ở vùng không fluor hóa nước đang được bảo vệ bởi một nguồn fluor khác, nguồn fluor này có thể từ những thức ăn hay uống được sản xuất từ vùng fluor hoá của thành phố, thậm chí là cả nước uống có fluor, và nguồn fluor này có thể bảo vệ sâu răng cho những trẻ sống ở vùng không có fluor

hoá nước Hiện tượng này được gọi là ảnh hưởng “hào quang” (Lewis & Banting, 1994) hay “khuyếch tán”(Griffin SO, 2001) của chương trình fluor

hóa nước; (2) So với thời điểm trước fluor hóa, hiện nay kiến thức và thói quen chăm sóc răng miệng cho trẻ của các bà mẹ đã tăng đáng kể so với một thập niên trước đây, sự quan tâm đến sức khỏe răng miệng của trẻ nhỏ trong

Trang 14

các gia đình hiện nay cũng đã góp phần đáng kể cho việc cải thiện sức khỏe răng miệng cho trẻ em không chỉ ở vùng không fluor hoá mà còn ở cả vùng fluor hóa nước của thành phố Phân tích này cũng phù hợp với những báo cáo của P.E Petersen (1994), Hoàng Trọng Hùng (1998), Ngô Thị Bích Liên & Hoàng Trọng Hùng (2004) về mối liên quan chặt chẽ giữa kiến thức cũng như thói quen chăm sóc răng miệng của các bà mẹ và tình trạng sức khỏe răng miệng của con em họ

Tóm lại, tỷ lệ và mức độ trầm trọng của tình trạng sâu răng sữa ở trẻ 3 tuổi trong năm 2004 khác nhau đáng kể giữa 2 vùng có và không có fluor hóa nước, phản ánh sự khác biệt về nồng độ fluor trong nước uống giữa 2 vùng này Kết quả này cũng đã chứng minh rằng nồng độ fluor mới được điều chỉnh trong nước máy của thành phố Hồ Chí Minh đã có hiệu quả giảm sâu răng đáng kể cho trẻ 3 tuổi sống ở vùng có fluor hoá nước của thành phố Tuy nhiên, hiệu quả thực sự của nồng độ này phải được theo dõi và đánh giá liên tục sau 5 năm, 12 năm để có những bằng chứng đáng tin cậy hơn về hiệu quả của chương trình ở nồng độ fluor mới này

So sánh hiệu quả giảm sâu răng trên trẻ 3 tuổi của 2 nồng độ fluor hóa nước khác nhau tại Tp HCM

Trên biểu đồ 3, 4 và 5 cho thấy có một sự tương đồng (p>0,05) về tỷ lệ % sâu răng, số trung bình smt-r và SiC của trẻ 3 tuổi sống ở vùng fluor hóa nước

Trang 15

trong điều tra dịch tể học 1993 so với 2004 Điều này có nghĩa là không có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ cũng như mức độ trầm trọng của tình trạng sâu răng giữa những trẻ 3 tuổi được hưởng chương trình fluor hoá nước với nồng độ 0,7 ppm F và 0,5 ppm F

Fluor hóa nước với nồng độ 0,5 ppm F tại thành phố Hồ Chí Minh cũng cho hiệu quả giảm sâu răng sữa tương tự như nồng độ 0,7 ppm F Những phát hiện của nghiên cứu này cũng phù hợp với các kinh nghiệm của một số nước trên thế giới và cũng phù hợp với các khuyến cáo của WHO về nồng độ fluor trong nước cho những vùng khí hậu nhiệt đới như thành phố

Hồ Chí Minh

Đây là một trong những nghiên cứu đầu tiên trong tiến trình theo dõi hiệu quả của chương trình fluor hóa nước máy tại thành phố Hồ Chí Minh ở nồng độ 0,5 ppm, kết quả ban đầu này đã chứng minh hiệu quả giảm sâu răng sữa khá khả quan của nồng độ 0,5 ppm f trong nước như nồng độ 0,7 ppm F trước đây Tuy nhiên, như đã bàn luận ở trên, chúng ta còn phải chờ những đánh giá sau 5 năm, 12 năm để biết hiệu quả thực sự của nồng độ mới này trong việc cải thiện tình trạng sâu răng cũng như việc giảm đáng kể tình trạng răng nhiễm fluor cho trẻ em thành phố Hồ Chí Minh so với nồng độ 0,7 ppm

Ngày đăng: 01/08/2014, 18:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: So sánh tỉ lệ bệnh toàn bộ sâu răng của trẻ 3 tuổi ở hai vùng - THAY ĐỔI NỒNG ĐỘ FLUOR TRONG NƯỚC MÁY TRÊN TÌNH TRẠNG SÂU RĂNG TÓM TẮT Mở pot
Bảng 1 So sánh tỉ lệ bệnh toàn bộ sâu răng của trẻ 3 tuổi ở hai vùng (Trang 9)
Bảng  2:  Phân  bố  chỉ  số  sâu  răng  (sr),  mất  răng  (mr),  trám  răng  (tr), - THAY ĐỔI NỒNG ĐỘ FLUOR TRONG NƯỚC MÁY TRÊN TÌNH TRẠNG SÂU RĂNG TÓM TẮT Mở pot
ng 2: Phân bố chỉ số sâu răng (sr), mất răng (mr), trám răng (tr), (Trang 10)
Bảng 3: Phân bố chỉ số SiC của trẻ 3 tuổi ở hai vùng có và không có - THAY ĐỔI NỒNG ĐỘ FLUOR TRONG NƯỚC MÁY TRÊN TÌNH TRẠNG SÂU RĂNG TÓM TẮT Mở pot
Bảng 3 Phân bố chỉ số SiC của trẻ 3 tuổi ở hai vùng có và không có (Trang 11)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w