1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

SỰ PHÁT TRIỂN HÌNH THÁI ĐẦU MẶT CỦA TRẺ VIỆT NAM TỪ 12-15 TUỔI ppt

135 504 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 301,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SỰ PHÁT TRIỂN HÌNH THÁI ĐẦU MẶT CỦA TRẺ VIỆT NAM TỪ 12-15 TUỔI TÓM TắT Mục tiêu cơ bản của công trình nghiên cứu là: Xác định mẫu hình thái và mẫu tăng trưởng của các đặc điểm nghiên c

Trang 1

SỰ PHÁT TRIỂN HÌNH

THÁI ĐẦU MẶT CỦA TRẺ VIỆT NAM TỪ 12-15 TUỔI

Trang 2

SỰ PHÁT TRIỂN HÌNH THÁI ĐẦU MẶT CỦA TRẺ VIỆT

NAM TỪ 12-15 TUỔI

TÓM TắT

Mục tiêu cơ bản của công trình nghiên cứu là: Xác định mẫu hình thái

và mẫu tăng trưởng của các đặc điểm nghiên cứu đầu mặt của trẻ từ 12-15 tuổi

Phương pháp: Nghiên cứu dọc này được thực hiện trên mẫu gồm 140 trẻ (77 nam, 63 nữ) từ 12 đến 15 tuổi Bốn số đo vùng đầu (eu-eu; g-op; tr-n; vòng đầu), 8 số đo vùng mặt (zy-zy; go-go; tr-gn; n-sn; n-pr; n-gn; po-pr; po-n) được thu thập qua 4 năm, số liệu được xử lý bằng chương trình SPSS

Kết quả cho thấy: Về mẫu hình thái, các kích thước của nam đều lớn hơn nữ với ý nghĩa thống kê cao (p<0,001), đầu luôn thuộc loại ngắn; mặt trẻ trong nghiên cứu thuộc loại ngắn ở cả hai giới, nữ có mặt ngắn hơn nam cùng tuổi; thuộc loại không vẩu Về mẫu tăng trưởng, tính chung từ 12-15 tuổi, tất cả các kích thước vùng đầu và mặt đều tăng có ý nghĩa ở cả hai giới, mức tăng vùng đầu- mặt giảm dần

Trang 3

Kết luận: từ 12 đến 15 tuổi dạng đầu trẻ Việt Nam rất ít thay đổi trong lứa tuổi nghiên cứu (CS đầu dao động dưới 1 đơn vị chỉ số), mặt trẻ có khuynh hướng dài dần (CS mặt tăng dần) nhưng vẫn trong giới hạn mặt ngắn, độ vẩu không đổi ở cả hai giới (CS vẩu không đổi)

ABSTRACT

THE MORPHOLOGY AND GROWTH PATTERN OF THE HEAD AND FACE CHARACTERISTICS OF 12 TO 15 YEARS OLD CHILDREN

Le Duc Lanh * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 11 – Supplement of

No 2 - 2007: 68 – 78

Objectives: The purposes of the study are: to determine the morphology and growth pattern of the head and face characteristics of 12 to

15 years old children

Method: The sample of this longitudinal study included 77 males and

63 females Four head dimensions (eu-eu; g-op; tr-n; head circumference) and eight face dimensions (zy-zy; go-go; tr-gn; n-sn; n-pr; n-gn; po-pr; po-n) were measured within 4 years SPSS program was used for data processing

Trang 4

The results showed that all dimensions of the head and face are significantly larger in male than in female (p<0.001); an analysis of cranio-facial indices pointed to brachycephaly (short head) and euryprosopy (short face), the face being shorter in female than in male

Conclusion: From 12 to 15 years old, all head and face dimensions showed a continuous increase During this period of time, the head showed

no change in shape, while the face was lengthened but no showed change in protrusion

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nhân trắc học đã góp phần nghiên cứu sự phát triển cơ thể nói chung

và đầu mặt nói riêng của con người theo từng thời kỳ Thông qua nghiên cứu

về nhân trắc, người ta có thể so sánh, đánh giá về hình thái và sự tăng trưởng bình thường hay bất thường của mỗi người

Vùng đầu mặt có nhiều cơ quan nhận cảm và nhạy cảm nhất của con người; cũng là vùng chứa đự ng những bộ phận quan trọng có tính chất sinh mạng Từ gần hai thế kỷ qua nhiều tác giả trên thế giới cố gắng tìm hiểu những qui luật phát triển của vùng vốn được coi là phức tạp nhất về mặt giải

Trang 5

phẫu và phôi thai học này Goldstein (1936), Farkas (1971), Nguyễn Quang Quyền (1970), Hoàng Tử Hùng (1978) đã khẳng định đặc điểm hình thái

và tăng trưởng vùng đầu mặt có sự khác nhau giữa các chủng tộc, dân tộc, giữa nam và nữ theo tuổi và thời gian Enlow và Hans cho rằng sự tăng trưởng có ảnh hưởng đến hình thái và chức năng vùng đầu mặt, nhất là các giai đoạn tăng trưởng nhanh Trong quá trình thay đổi hình thái diễn ra suốt đời người, hai giai đoạn tăng trưởng sau khi sinh rất có ý nghĩa là giai đoạn

từ mới sinh đến 3 tuổi – có mức tăng trưởng nhanh và cao nhất; Giai đoạn từ

11 đến 15 tuổi hay gọi là giai đoạn thiếu niên (tuổi dậy thì), là mốc thời gian quan trọng vì đánh dấu sự thay đổi từ một đứa trẻ thành “người lớn” Các nghiên cứu của nhiều tác giả trên thiếu niên người Âu cho thấy vùng đầu và tầng mặt trên tăng trưởng vào thời kỳ trước 10 tuổi; tầng mặt giữa và dưới tăng trưởng ra trước và xuống dưới ở tuổi trước và trong dậy thì

Tại Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Quang Quyền (1974), Vũ Khoái (1978), Hoàng Tử Hùng (1991) … đã có những kết luận về các đặc điểm mô tả, hình thái từ những nghiên cứu cắt ngang trên người trưởng thành Gần đây có nghiên cứu của Trần Thúy Nga (2000) trên phim sọ nghiêng, Ngô Thị Quỳnh Lan (2000) đo trực tiếp trên trẻ 3-5,5 tuổi, đã xác định mẫu hình thái học phát triển vùng đầu mặt Cho đến nay, ở lứa tuổi từ

12 đến 15, vấn đề vẫn còn bỏ ngỏ

Trang 6

Từ 1996, Khoa Răng Hàm Mặt, Trường Đại Học Y Dược Thành Phố

Hồ Chí Minh thực hiện một nghiên cứu dọc về hình thái Đầu Mặt Răng do

Bộ Y Tế quản lý với thời gian dự kiến từ 1996 đến 2010 Chúng tôi tiến hành thu thập dữ liệu để đánh giá được sự tăng trưởng đầu mặt của lứa tuổi 12-15 tuổi, lứa tuổi có nhiều biến động, theo mô thức nghiên cứu dọc nhằm các mục tiêu sau đây:

- Xác định mẫu hình thái (gồm các thông số thống kê cơ bản) của các đặc điểm nghiên cứu về Đầu Mặt của trẻ từ 12-15 tuổi

- Xác lập mẫu tăng trưởng của Đầu Mặt, bằng so sánh dọc các kết quả

ở lứa tuổi từ 12 đến 15 tuổi

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Gồm 140 học sinh (77 nam, 63 nữ), sinh năm 1984, được chọn từ 213 học sinh trường Phổ thông cơ sở Nguyễn Du tại Thành phố Hồ Chí Minh Đây là những trẻ em đã được phụ huynh cam kết đồng ý tham gia chương trình chăm sóc sức khoẻ răng miệng đặc biệt (một phần trong chương trình kéo dài 15 năm từ 1996 đến 2010 thuộc nghiên cứu Khoa Học-Công nghệ do

Trang 7

Bộ Y Tế quản lý) thực hiện tại Khoa Răng Hàm Mặt, Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh

Tiêu chuẩn chọn mẫu

Có cha mẹ, ông bà nội ngoại là người Việt Nam, dân tộc Việt (Kinh) Tổng trạng sức khoẻ bình thường Không có dị tật bẩm sinh và dị hình Không mắc bệnh ảnh hưởng đến sự phát triển của cơ thể và đầu mặt răng Không bị chấn thương

Phương pháp nghiên cứu

Thu thập số liệu

Số liệu được thu thập 6 tháng một lần, để trách nhầm lẫn, mỗi đối tượng nghiên cứu có một mã số cố định cho bốn lần thu thập số liệu (thời gian nghiên cứu dọc), các đặc điểm nghiên cứu được ghi nhận thống nhất theo một mẫu

Dụng cụ

Bộ dụng cụ nhân trắc chuẩn gồm có: thước trượt điện tử, compa đo bề dày, thước dây

Các điểm mốc đo

Trang 8

Nhằm đánh giá sự tăng trưởng vùng đầu mặt của trẻ em và so sánh với những kích thước tương ứng ở người lớn đã được nghiên cứu ở trong nước, chúng tôi chọn và xác định các điểm mốc (dựa theo nghiên cứu của Nguyễn Quang Quyền, 1974 và Hoàng Tử Hùng, 1991) Vùng đầu: Glabella (g), Opisthocranion (op), Eurion (eu), Trichion (tr) Vùng mặt: Zygion (zy), Gonion (go), Gnathion (gn), Prosthion (pr), Vùng mũi: Nasion (n), Subnasale (sn) Vùng tai: Porion (po)

Từ các điểm mốc trên, các số đo vùng đầu mặt được đo đạc, gồm 4 số

đo vùng đầu, 7 số đo vùng mặt, 1 số đo vùng mũi (trong đó có 2 số đo để đánh giá độ vẩu - độ hô); tổng cộng có 12 đặc điểm nghiên cứu

Chỉ số đầu mặt:

Các chỉ số đầu mặt được tính toán từ các số đo trên, gồm 3 chỉ số thuộc loại kinh điển và đã được nghiên cứu trước đây tại Việt Nam là: CS đầu, CS mặt, và CS vẩu

Xử lý số liệu

Đánh giá dạng phân phối của các đặc điểm nghiên cứu

Trang 9

Test K (Kolmogorov Smirnov) dùng để kiểm định đặc tính phân phối của một đặc điểm nghiên cứu khi không biết trung bình và phương sai của

nó trong dân số Kết quả kiểm định bằng test K cho thấy các đặc điểm nghiên cứu đều tuân theo luật phân phối chuẩn tại mỗi thời điểm thu thập số liệu Sau đây là kết quả dạng phân phối của một số đặc điểm tiêu biểu trong nghiên cứu của chúng tôi

Hình 1: Dạng phân phối của zy-zy

Hình 2: Dạng phân phối của tr-gn

Thống kê mô tả:

Tính số trung bình, độ lệch chuẩn của mỗi đặc điểm nghiên cứu từng lứa tuổi cho nam và nữ

Thống kê suy lý

* So sánh ngang: Kiểm định bằng t-test để xác định sự khác biệt nếu

có giữa các đặc tính nghiên cứu của: Nam và nữ Việt Nam ở từng thời điểm

12 tuổi, 13 tuổi, 14 tuổi và 15 tuổi Nam và nữ Việt Nam với các nhóm trẻ tương ứng của các nghiên cứu khác ở từng thời điểm 12 tuổi, 13 tuổi, 14 tuổi

và 15 tuổi

Trang 10

* So sánh dọc: test F (one way ANOVA): Dùng kiểm định F (kiểm định ANOVA) để đánh giá mức tăng trưởng toàn thể giai đoạn từ 12-15 tuổi,

từ giá trị F, xác định được giá trị p Nếu p > 0,05: Chấp nhận giả thuyết Ho, nghĩa là sự tăng trưởng của kích thước đó từ 12 tuổi đến 15 tuổi không có ý nghĩa Nếu p < 0,05: Loại bỏ giả thuyết Ho, nghĩa là sự tăng trưởng của kích thước đó từ 12 tuổi đến 15 tuổi có ý nghĩa

Tukey test: Khi kiểm định ANOVA cho kết quả có ý nghĩa trong giai đoạn từ 12 đến 15 tuổi thì Tukey test giúp phát hiện sự tăng trưởng thực sự xảy ra có ý nghĩa vào thời gian nào trong giai đoạn nghiên cứu Tukey test là

tổ hợp các phép kiểm định t test từng cặp tại các thời điểm thu thập số liệu (12; 13; 14 và 15 tuổi)

Trang 11

Bảng 1: Đặc điểm hình thái vùng đầu trẻ từ 12 đến 15 tuổi (mm); so sánh giữa nam và nữ

Trang 23

***

***

(***: khác biệt giữa nam và nữ có ý nghĩa thống kê với p<0,001)

Về mẫu hình thái vùng đầu, nhận thấy tất cả các kích thước vùng đầu được nghiên cứu của nam đều lớn hơn nữ với mức ý ngĩa thống kê cao (p<0,001) Điều này chứng tỏ đầu của nam lớn hơn nữ theo chiều ngang cũng như theo chiều dài

Mẫu tăng trưởng

Đánh giá mức tăng trưởng của 4 đặc điểm nghiên cứu vùng đầu bằng cách xác định mức chênh lệch (D); SE là sai số chuẩn và P mức ý nghĩa thống kê của sự chênh lệch của các đặc điểm nghiên cứu bằng cách so sánh

D của 12 tuổi đến 13 tuổi; 13 tuổi đến 14 tuổi; 14 tuổi đến 15 tuổi và 12 tuổi đến 15 tuổi

Trang 24

Bảng 2: Mẫu tăng trưởng vùng đầu của nam (n=77) và nữ (n=63); so sánh theo tuổi trên mỗi giới

Trang 38

Trong giai đoạn 12-15 tuổi, tất cả các kích thước vùng đầu đều tăng

có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa cao (p<0,001) Xét riêng từng giai đoạn thì mức tăng trưởng của các kích thước này chậm dần cả về giá trị tuyệt đối lẫn mức ý nghĩa thống kê

Bàn luận mẫu hình thái học phát triển

Trang 39

vùng đầu

Trong từng kích thước, chúng tôi tiến hành so sánh giữa nam và nữ trong nhóm về mức độ và khuynh hướng tăng trưởng (thông qua D và đường biểu diễn tăng trưởng); so sánh giữa nhóm trẻ Việt Nam 12-15 tuổi trong nghiên cứu này với nhóm trẻ Việt Nam từ 3-5,5 tuổi (nghiên cứu của Ngô Thị Quỳnh Lan-2000) và với nhóm trẻ Bắc Mỹ 12-15 tuổi (nghiên cứu của Farkas-1981)

Bảng 3: Mức tăng trưởng của các kích thước vùng đầu theo các tác giả (mm)

Trang 49

Chiều rộng đầu (eu-eu)

Hình 3: Đường tăng trưởng chiều rộng đầu (eu-eu)

Từ 12-15 tuổi, so sánh giữa nam và nữ, nhận thấy cả hai cùng tăng chiều rộng đầu nhanh từ 12-13 tuổi, sau đó tăng chậm lại, khuynh hướng tăng trưởng giữa nam và nữ như nhau thể hiện qua đường tăng trưởng của nam và nữ gần song song nhau

Trang 50

Trong nghiên cứu trên trẻ 3-5,5 tuổi, mức tăng toàn thể (trong 2,5 năm) của nam là 5,9mm; của nữ là 5,2mm Từ 12-15 tuổi (trong 3 năm), chiều rộng đầu tăng 4,6mm đối với nam và 3,9mm đối với nữ Như vậy, so với giai đoạn 3-5,5 tuổi thì giai đoạn 12-15 tuổi chiều rộng đầu tăng ít hơn

So với nghiên cứu của Farkas (1981) trong giai đoạn từ 12-15 tuổi, các kích thước rộng đầu của trẻ nam Bắc Mỹ tăng nhiều hơn trẻ nam Việt Nam, nhưng trẻ nữ Bắc Mỹ gia tăng rất ít so với trẻ nữ Việt Nam

Chiều dài đầu (g-op)

Hình 4: Đường tăng trưởng chiều dài đầu (g-op)

Trong toàn giai đoạn từ 12-15 tuổi, chiều dài đầu của nam tăng nhiều hơn nữ, nhất là giai đoạn từ 14-15 tuổi So với nghiên cứu trên trẻ 3-5,5 tuổi, chiều dài đầu của nam và nữ có mức tăng toàn thể trong giai đoạn 3-5,5 tuổi lần lượt là 6,8mm và 7,0mm, lớn hơn mức tăng trong giai đoạn 12-15 tuổi (6,3mm và 3,5mm) So sánh với trẻ Bắc Mỹ (Farkas-1981) trong giai đoạn

từ 12-15 tuổi, kích thước dài đầu của trẻ Việt Nam lớn hơn trẻ Bắc Mỹ ở cả hai giới

Chiều cao trán (tr-n)

Trang 51

So sánh giữa nam và nữ, nhận thấy chiều cao trán có giai đoạn tăng nhanh ở nam từ 12-14 tuổi, ở nữ tăng nhanh từ 12-13 tuổi và sau đó cả nam lẫn nữ cùng tăng chậm lại So với nghiên cứu trên trẻ 3-5,5 tuổi, mức tăng trưởng của chiều cao trán trong giai đoạn 12-15 tuổi (nam:6,4mm; nữ: 5,7mm) thấp hơn mức tăng trưởng trong giai đoạn 3-5,5 tuổi (nam:7,5mm; nữ:7,4mm)

Nghiên cứu của Farkas cho thấy từ 12-15 tuổi chiều cao trán trẻ Bắc

Mỹ tăng rất ít (hoặc giảm), trẻ Việt Nam có sự gia tăng kích thước chiều cao trán trong tuổi dậy thì cao hơn nhiều so với trẻ Bắc Mỹ (nhất là nữ)

Hình 5: Đường tăng trưởng chiều cao trán (tr-n).Vòng đầu

Hình 6: Đường tăng trưởng vòng đầu

Giai đoạn gia tăng có ý nghĩa thống kê nhất của vòng đầu nam lẫn nữ

là từ 12-13 tuổi, hai giai đoạn sau sự gia tăng không có ý nghĩa thống kê (p

>0,05)

Để đánh giá về hình thái đầu trẻ Việt Nam ở lứa tuổi này chúng tôi tính chỉ số đầu:

Trang 52

Chỉ số đầu thể hiện mối tương quan giữa chiều rộng và chiều dài đầu, kết quả về chỉ số đầu cho thấy không có sự khác biệt giữa nam và nữ từ 12-

Trang 56

4,2

NS

Theo cách phân loại về chỉ số đầu thường dùng (R Martin):

- Đầu rất dài (Hyper-dolichocéphalie) < 71;

- Đầu dài (Dolichocéphalie) 71 – 76;

- Đầu trung bình (Mésocephalie) 76 – 81; - Đầu ngắn (Brachycephalie) 81 – 86; - Đầu rất ngắn (Hyper-brachycephalie)> 86

Như vậy chỉ số đầu ở trẻ nam và nữ trong nghiên cứu của chúng tôi cho thấy hình dáng đầu luôn thuộc loại ngắn trong giai đoạn từ 12 đến 15 tuổi, với diễn biến là nam có xu hướng bớt ngắn hơn nữ

Vùng mặt

Mẫu hình thái

Các đặc điểm hình thái vùng mặt của nhóm trẻ nghiên cứu (77 nam và

63 nữ) được phân tích và đánh giá qua giá trị trung bình, độ lệch chuẩn của 8

Trang 57

số đo, gồm 2 số đo theo chiều ngang là zy-zy; go-go; 4 số đo theo chiều đứng dọc là tr-gn; n-sn; n-pr; n-gn; và 2 số đo theo chiều trước sau là po-pr; po-n; Kết hợp so sánh sự khác biệt giữa nam và nữ tại từng lứa tuổi

Bảng 5: Đặc điểm hình thái vùng mặt trẻ từ 12 đến 15 tuổi (mm); so sánh giữa nam và nữ

Trang 77

(***: khác biệt giữa nam và nữ có ý nghĩa thống kê với p<0,001)

Tất cả các kích thước vùng mặt, theo chiều đứng dọc lẫn chiều ngang, của nam đều lớn hơn nữ đồng tuổi có ý nghĩa (p<0,001) trong giai đoạn 12-

15 tuổi, nghĩa là trong giai đoạn này, mặt nam cũng lớn hơn mặt nữ

Mẫu tăng trưởng

Bảng 6: Mẫu tăng trưởng vùng mặt của nam (n=77) và nữ (n=63); so sánh theo tuổi trên mỗi giới

S TT

Đặc điểm nghiên cứu

(mm)

12 – 13 tuổi

Trang 97

Tính toàn giai đoạn từ 12-15 tuổi, tất cả các kích thước vùng mặt của

cả nam lẫn nữ đều tăng có ý nghĩa thống kê cao (p<0,001) Tính riêng từng năm, giai đoạn mà các kích thước vùng mặt tăng nhiều nhất là giai đoạn từ 12-13 tuổi, và mức ý nghĩa thống kê giảm dần, giai đoạn 14-15 tuổi mức tăng trưởng của tất cả các kích thước không có ý nghĩa thống kê

Bàn luận về mẫu hình thái học phát triển của vùng mặt

Ngày đăng: 01/08/2014, 18:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bjork A. (1955), “Cranial base development”, Am. J. Orthod., 41, pp. 198 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cranial base development
Tác giả: Bjork A
Năm: 1955
2. Brodie A.G. (1946), “Facial patterns, a theme on variation ”, Angle Orthod., 16, pp. 75 – 87 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Facial patterns, a theme on variation
Tác giả: Brodie A.G
Năm: 1946
4. Enlow D.H, Hans M.C. (1996), “Prenatal facial Growth and Development”, Essentials of facial Growth, W.B. Saunders company, pp.220 – 232 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prenatal facial Growth and Development
Tác giả: Enlow D.H, Hans M.C
Năm: 1996
5. Farkas L.G. (1981), “ Asymmetry of the Head and Face”, Anthropometry of the Head and Face, Raven Press Ltd., pp. 103 - 112 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Asymmetry of the Head and Face
Tác giả: Farkas L.G
Năm: 1981
6. Farkas L.G. (1994), “Sources of error in Anthropometry and Anthroposcopy”, Anthropometry of the Head and Face, Raven Press Ltd., pp. 57-69 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sources of error in Anthropometry and Anthroposcopy
Tác giả: Farkas L.G
Năm: 1994
7. Goldstein M.S. (1936), “Changes in dimensions and form of the face and head with age”, 22(1), pp. 37 – 89 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Changes in dimensions and form of the face and head with age
Tác giả: Goldstein M.S
Năm: 1936
8. Goldstein M.S. (1938), “Measurement of height of head in the living”, American Journal of physical anthropology, (23), pp. 341 – 354 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Measurement of height of head in the living
Tác giả: Goldstein M.S
Năm: 1938
9. Hoàng Tử Hùng (1991), “Một số đặc điểm hình thái nhân chủng ở đầu, mặt và răng người Êđê”, Tập san hình thái học, 1(2), tr. 24-29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm hình thái nhân chủng ở đầu, mặt và răng người Êđê
Tác giả: Hoàng Tử Hùng
Năm: 1991
12. Kolar J.C., Munro I.R., Farlas L.G. (1988), “Patterns of dysmorphology in Crouzon syndrome: an anthropometric study”, Cleft Palate J., 25, pp. 235 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Patterns of dysmorphology in Crouzon syndrome: an anthropometric study
Tác giả: Kolar J.C., Munro I.R., Farlas L.G
Năm: 1988
13. Kolar J.C., Salter E.M (1997), “Surgical planning”, Craniofacial Anthropometry practical Mesurement of the Head and Face for clinical, Surgical and Research, Use, Charles C Thomas Pub. Ltd., pp. 259 - 283 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Surgical planning
Tác giả: Kolar J.C., Salter E.M
Năm: 1997
14. Lê Đức Lánh (2000), “Đặc điểm phát triển hình thái nhân học đầu mặt người Việt từ 12 đến 14 tuổi”, Tập san hình thái học, 10(2), tr. 32 - 38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm phát triển hình thái nhân học đầu mặt người Việt từ 12 đến 14 tuổi
Tác giả: Lê Đức Lánh
Năm: 2000
15. Lê Đức Lánh, Trần Phương Thảo, Phạm Thị Thanh Loan (2000), “Nghiên cứu so sánh đặc điểm hình thái đầu mặt 12 tuổi và trưởng thành”, Tập san hình thái học, 10(2), tr. 39-46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu so sánh đặc điểm hình thái đầu mặt 12 tuổi và trưởng thành
Tác giả: Lê Đức Lánh, Trần Phương Thảo, Phạm Thị Thanh Loan
Năm: 2000
16. Lê Gia Vinh, Lê Việt Vùng (2000), “ Nghiên cứu các đặc điểm nhân trắc đầu-mặt, ứng dụng trong nhận dạng người”, Tập san hình thái học, 10, tr.63-67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các đặc điểm nhân trắc đầu-mặt, ứng dụng trong nhận dạng người
Tác giả: Lê Gia Vinh, Lê Việt Vùng
Năm: 2000
17. Lundstrưm A., Woodside D.G. (1983), “Longitudinal changes in facial type in cases with vertical and horizontal mandibular directions”, Eur. J. Orthod., 5, pp. 259 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Longitudinal changes in facial type in cases with vertical and horizontal mandibular directions
Tác giả: Lundstrưm A., Woodside D.G
Năm: 1983
18. Meredith H.V. (1953), “Growth in head widths during the fist twelve years of life”, Pediatrics, 12, PP 441 – 429 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Growth in head widths during the fist twelve years of life
Tác giả: Meredith H.V
Năm: 1953
19. Meredith H.V. (1954), “Growth in bizygomatic face breadth during childhood”, Growth, 18, pp. 111 – 134 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Growth in bizygomatic face breadth during childhood
Tác giả: Meredith H.V
Năm: 1954
22. Nguyễn Quang Quyền, Đỗ Như Cương (1969), “Nghiên cứu so sánh hình thái các dân tộc Việt, Tày, Mường, Thái ở miền Bắc Việt Nam”, Tập san hình thái học, 2(1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu so sánh hình thái các dân tộc Việt, Tày, Mường, Thái ở miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Quang Quyền, Đỗ Như Cương
Năm: 1969
3. Đặng Văn Giáp (1997), Phân tích dữ liệu khoa học bằng chương trình MS-EXCEL, NXB Giáo Dục Khác
10. Hrdlicka A. (1920), Anthropometry, Wistar Institute, Philadelphia Khác
11. Hrdlicka A. (1939), Practical Anthropometry, Wistar Institute, Philadelphia Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w