RỐI LOẠN THÁI DƯƠNG HÀM Ở NGƯỜI LỚN 18-54 TUỔI TÓM TẮT Mục tiêu: Để xác định tỷ lệ rối loạn thái dương hàm RLTDH ở cư dân thành phố Hồ Chí Minh và tìm hiểu mối liên quan của một số y
Trang 1RỐI LOẠN THÁI DƯƠNG HÀM Ở NGƯỜI LỚN (18-
54 TUỔI)
Trang 2RỐI LOẠN THÁI DƯƠNG HÀM Ở NGƯỜI LỚN
(18-54 TUỔI)
TÓM TẮT
Mục tiêu: Để xác định tỷ lệ rối loạn thái dương hàm (RLTDH) ở cư
dân thành phố Hồ Chí Minh và tìm hiểu mối liên quan của một số yếu tố nguy cơ đối với RLTDH,
Phương pháp: chúng tôi tiến hành một nghiên cứu cắt ngang mô tả trên một mẫu gồm 780 người từ 18-54 tuổi theo phương pháp chọn mẫu cụm nhiều bậc Các đối tượng được phỏng vấn về sự hiện diện của các triệu chứng (TC) của RLTDH và một số yếu tố nguy cơ có liên quan Sau đó, đối tượng được khám để đánh giá các dấu chứng (DC) của RLTDH, gồm đánh giá biên độ vận động hàm, đường há-ngậm miệng, nghe tiếng kêu khớp, khám cơ, khớp bằng phương pháp sờ
Kết quả cho thấy có 64,87% người có RLTDH, trong đó có TC là
35,26%, có DC là 56,15% Đa số các rối loạn ở mức độ nhẹ, các TC thường gặp là tiếng kêu khớp (25,77%) và mỏi hàm (18,72%), DC thường gặp là
Trang 3tiếng kêu khớp (25%) Các mối liên quan sau đây có ý nghĩa: nữ, sức khỏe tổng quát xấu, đau các khớp khác với đau cơ và đau khớp; đau các khớp khác liên quan với nhiều TC, DC nhất; stress, nghiến R, chấn thương, ngồi hay đứng làm việc lâu với đau cơ; siết chặt R với đau khớp; nhai một bên với tiếng kêu khớp; chấn thương, nghiến răng và đau các khớp khác liên quan với há hạn chế
Kết luận: Tỷ lệ nhu cầu điều trị không tương xứng với tỷ lệ RLTDH,
chiếm18,84%, ngoài ra 45,90% cần tự theo dõi và kiểm soát bệnh
ABSTRACT
Objective: To estimate the prevalence of temporomandibular
disorders (TMDs) in people in Ho Chi Minh city, and its relationship with some risk factors,
Method: we processed a cross-sectional study on a sample of 780
people aged 18 to 54, with a multi stage cluster sampling method The participants were interviewed with a questionnaire concerning subjective symptoms and various risk factors related to TMDs Then they were examined to find the signs of TMDs, which included: measuring the ranges
of jaw movements; observing the mouth opening-closing pattern; finding
Trang 4temporomandibular joint noise(TMJ); digitally palpating the jaw muscles and TMJs
The results showed that 64.87% suffered from TMDs, in which,
35.26% people had symptoms and 56,15% had signs Most of the cases had light dysfunction, the most common symptoms were TMJ noise (25.77%) and jaw muscle fatigue (18.72%), the most common sign was TMJ noise (25%) Some significant associations were noted as follows: female, poor general health, pain in other joints with muscle and TMJ pain; pain in other joints had a correlation with most of the symptoms and signs; stress, bruxism, trauma, prolonged sitting/standing with muscle pain; clenching with TMJ pain; unilateral chewing with joint noise; trauma, bruxism and pain in other joints with limited mouth opening
Conclusion: The prevalence of the treatment need was18.84%, which
was not proportional with the prevalence of TMDs, in addition, 45.90% people needed selfcare and control of their condition
MỞ ĐẦU
Rối loạn thái dương hàm (RLTDH) là một thuật ngữ chung, chỉ các tình trạng lâm sàng ảnh hưởng lên khớp thái dương hàm (TDH) và/hoặc các
Trang 5cơ nhai, và được xếp vào phân nhóm rối loạn cơ-xương (thuộc phân loại đau miệng-mặt của Bell) Các tình trạng này tuy khác nhau về nguyên nhân và
cơ chế, nhưng có các triệu chứng (TC), dấu chứng (DC) tương tự nhau, chủ yếu là đau và loạn năng ở cơ, khớp TDH
RLTDH là một tình trạng khá thường gặp ở người lớn(20) Một tổng quan về các nghiên cứu dịch tễ RLTDH trên thế giới từ năm 1974 đến 1992 cho thấy tỷ lệ người có ít nhất một TC thay đổi từ 0 đến 93%, có ít nhất một
DC là 6 đến 93% Tuy nhiên, đau và loạn năng cơ, khớp TDH thường có mức độ nhẹ hay trung bình và không tiến triển Một số diễn tiến nặng, dai dẳng, gây trở ngại cho bệnh nhân trong việc ăn nhai, làm việc, giao tiếp xã hội, có khi gây tình trạng suy nhược trầm trọng Nhiều công trình nghiên cứu về dịch tễ học RLTDH ở các nước thuộc châu Âu, châu Mỹ, và châu Á
đã được tiến hành
Ở Việt nam, nghiên cứu về lĩnh vực này còn rất ít và được thực hiện trên những mẫu thuận tiện, chưa đại diện cho quần thể của một vùng Chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm xác định tình trạng RLTDH ở cư dân thành phố Hồ Chí Minh và tìm hiểu mối liên quan của một số yếu tố nguy cơ đối với RLTDH Nghiên cứu này được thực hiện với hy vọng đóng góp một phần vào nguồn dữ liệu về tình trạng RLTDH ở người Việt Nam, đồng thời
Trang 6cung cấp những thông tin tổng quát giúp cho việc chẩn đoán và điều trị RLTDH trên người Việt Nam
Mục tiêu nghiên cứu
Xác định tỷ lệ và mức độ trầm trọng của tình trạng RLTDH ở cư dân thành phố Hồ Chí Minh từ 18 đến 54 tuổi
Xác định tỷ lệ các triệu chứng và dấu chứng của RLTDH
Xác định mối liên quan giữa RLTDH với tuổi, giới, nghề nghiệp và trình độ văn hóa
Xác định mối liên quan giữa các triệu chứng, dấu chứng của RLTDH với các yếu tố nguy cơ
Xác định nhu cầu điều trị RLTDH
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Cắt ngang mô tả
Đối tượng nghiên cứu
Trang 7Mẫu nghiên cứu gồm 780 người từ 18 đến 54 tuổi, đang sống tại 6 quận, huyện thuộc TP Hồ Chí MInh trong thời gian nghiên cứu (từ tháng 11/2004-03/2005), được chọn theo phương pháp chọn mẫu cụm nhiều bậc
Đối tượng loại trừ: không thể có mặt trong thời gian điều tra; không
có khả năng trả lời được phỏng vấn hoặc không muốn hợp tác; đang có sưng, đau do nhiễm trùng, chấn thương hay khối u ở vùng miệng- mặt; mất các răng cửa và không có răng giả thay thế
Phương tiện nghiên cứu
Phương tiện phỏng vấn: bảng câu hỏi phỏng vấn
Phương tiện khám: bút lông dầu đầu nhỏ để đánh dấu, thước thẳng dẹp, chia vạch mm, ống nghe, lực kế để ước lượng lực sờ cơ, khớp, phiếu khám
Phương pháp nghiên cứu
Phỏng vấn: sử dụng bảng câu hỏi để phỏng vấn trực tiếp, bao gồm:
- Các thông tin tổng quát về đối tượng: tuổi, giới, nghề nghiệp, và trình độ văn hóa
Trang 8- Phần câu hỏi: thu thập thông tin về các TC của RLTDH hiện nay hay trong 6 tháng trước; nếu có TC của RLTDH thì đã hay chưa điều trị và các yếu tố nguy cơ Đối tượng sau đó sẽ được xếp loại điểm số loạn năng qua khai thác bệnh sử của Helkimo(3) bao gồm TO (không có TC): không có TC đau hay loạn năng của hệ thống nhai; T1 (TC nhẹ): có một hay nhiều TC nhẹ: nghe tiếng kêu khớp, mỏi hàm, cứng hàm khi thức dậy buổi sáng; T2 (TC trung bình và nặng): có ít nhất một TC nặng: kẹt hàm, há hạn chế, đau ở vùng hàm-mặt
Khám lâm sàng: nhằm phát hiện các DC của RLTDH, bao gồm: (1)
Đo biên độ các vận động hàm, (2) Đánh giá đường há-ngậm miệng, (3) Nghe tiếng kêu ở khớp, (4) Sờ khớp TDH và (5) Sờ cơ nhai Các DC sau khi được thu thập xong sẽ được xếp loại điểm số loạn năng qua khám lâm sàng của Helkimo(4) gồm: D0 (không có loạn năng), D1 (loạn năng nhẹ), D2 (loạn năng trung bình) và D3 (loạn năng nặng)
Sáu điều tra viên (ĐTV) đều là cán bộ giảng phân môn cắn khớp học,
Bộ môn Nha Khoa Cơ Sở, Khoa Răng Hàm Mặt, Đại Học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh Các ĐTV không biết kết quả phỏng vấn các đối tượng và đều qua tập huấn định chuẩn về khám và ghi nhận các DC của RLTDH
Phân tích số liệu
Trang 9Mẫu nghiên cứu gồm 780 người, trong đó có 359 nam (46,03%) và
421 nữ (53,97%) Phân bố mẫu theo tuổi và giới được trình bày ở bảng 1
Bảng 1: Phân bố mẫu nghiên cứu theo tuổi và giới
Nam Nữ Tổng hàng Tu
Trang 10Nam Nữ Tổng hàng Tu
Trang 11Nam Nữ Tổng hàng Tu
42
1
(53,97)
78
0
(100)
Tình trạng rối loạn thái dương hàm
Tỷ lệ rối loạn thái dương hàm và các mức độ trầm trọng
Trong nghiên cứu này, 64,87% dân số mẫu có TC hay DC của RLTDH Tương tự nhiều nghiên cứu khác, số người nhận biết có TC ít hơn
số người có DC được phát hiện qua khám lâm sàng, tỷ lệ tương ứng là 35,26% và 56,15% Kết quả này phù hợp với Pullinger (39% và 59%), Salonen (30% và 54%), H.T.N Linh (20,4% và 50,8),…
Tỷ lệ người có TC, DC hơi nhiều hơn so với nghiên cứu của Shiau (16,6% và 42,9%) và De Kanter (21,5% và 44,4%); nhưng thấp hơn nghiên
Trang 12cứu của Helkimo(3) (57% và 88%) Sự biến thiên nhiều trong tỷ lệ RLTDH xuất phát từ cách chọn mẫu và phương pháp nghiên cứu khác nhau (có đầy
đủ hay không các nội dung khám lâm sàng và bảng câu hỏi) Mặc dù RLTDH khá phổ biến trong cộng đồng, đa số các TC, DC ở mức độ nhẹ:
Triệu chứng nhẹ (T1): 22,18%, trung bình đến nặng (T2): 13,08%;
Dấu chứng nhẹ (D1): 48,85%, trung bình (D2): 5,26%, nặng (D3): 2,05%
Nhận xét này cũng tương tự nhiều nghiên cứu khác có sử dụng điểm
số Helkimo để phân loại mức độ RLTDH
Tỷ lệ các triệu chứng của rối loạn thái dương hàm
Kết quả ở biểu đồ 1 cho thấy tiếng kêu khớp là TC thường gặp nhất qua khai thác bệnh sử, chiếm 25,77%, kế đến là mỏi hàm 18,72% Tỷ lệ tiếng kêu khớp theo Schiffman là 44%, của Matsuka là 24% Tỷ lệ mỏi hàm theo Schiffman là 32% và Helkimo(3) là 27,4%
Đau ở mặt hay hàm ít gặp hơn, thường thấy là đau khi vận động hàm, chiếm 9,62%; đau khi hàm nghỉ rất ít gặp, chỉ 1,79% (biểu đồ 1) Nhận xét này phù hợp với kết quả khảo sát trên bệnh nhân RLTDH đến điều trị tại
Trang 13Khoa Răng Hàm Mặt, ĐHYD TP.HCM, tỷ lệ tương ứng là 75% và 20% Tỷ
lệ đau ở mặt hay hàm theo Matsuka là 11%, Helkimo(3) là 12,8% và
H.T.N.Linh(9) là 3,5%
Đa số người RLTDH cĩ một đến hai TC, chiếm 26,79% Như vậy, đa
số cĩ ít TC và các TC thường ở mức độ nhẹ (tiếng kêu khớp hay mỏi hàm),
các TC loạn năng nặng như đau, kẹt hàm và há hạn chế ít gặp hơn
%
Triệu chứng
Trang 14Biểu đồ 1: Phân bố tỷ lệ % các triệu chứng của RLTDH (trong mẫu
nghiên cứu, N=780)
Tỷ lệ các dấu chứng của rối loạn thái dương hàm
Kết quả ở biểu đồ 2 cho thấy một phần tư dân số trong mẫu nghiên cứu có tiếng kêu khớp qua khám lâm sàng Đây là DC chiếm tỷ lệ cao nhất,
đa số là tiếng kêu lục cục, chiếm 24,62% và lạo xạo là 0,38% Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của H.T.N Linh và V.Đ Tuyến, với tiếng lục cục tương ứng là 36,9% và 70%, lạo xạo là 2,2% và 5,0% Ngoài ra, tiếng kêu khớp thường gặp ở một bên (14,74%) hơn là cả hai bên
DC thường gặp kế đến là vận động hàm hạn chế và lệch đường há ngậm (biểu đồ 2) Mức độ hạn chế hầu hết là nhẹ, chủ yếu là ra trước và sang bên hạn chế (4-6mm) Một số người có thể không quen đưa hàm ra trước và sang bên mặc dù đã được luyện tập trước khi đo, đây cũng là mặt hạn chế của việc xác định RLTDH chỉ dựa vào sự hiện diện của một TC hay
DC Lệch hàm >2mm được xem là bất thường, chiếm 12,18% (biểu đồ 2), với lệch một bên: 4,49% và lệch zig-zag: 7,69%
%
Trang 15Biểu đồ 2 Phân bố tỷ lệ % các dấu chứng của RLTDH (trong mẫu
nghiên cứu, N=780)
Đau cơ thường gặp hơn đau khớp, tỷ lệ tương ứng là 13,85% và
8,85% (biểu đồ 2) Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Shiau (16,4%
và 3,9%), Matsuka (21% và 6%),… Trong nghiên cứu của H.T.N Linh, tỷ
lệ đau cơ chỉ chiếm 1,2% và chỉ có một trường hợp đau khớp
Đau khớp thường gặp ở một bên (6,41%) và ở mặt ngoài (8,72%)
Tương tự, đau cơ thường ở một bên (7,95%), trong đó cơ cắn bó nông và bó
sâu, cơ thái dương trước và giữa là những cơ thường bị đau nhất Đa số đối
tượng có từ một đến hai DC, chiếm 47,57%
Trang 16Mối liên quan giữa rối loạn thái dương hàm và các yếu tố nguy cơ Liên quan giữa RLTDH và các yếu tố tổng quát
Liên quan giữa RLTDH với tuổi và giới
Giới tính được xem là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thích nghi của cơ thể đối với các tác nhân có hại Trong nghiên cứu này, không có khác biệt có ý nghĩa giữa nam và nữ về tình trạng RLTDH Tuy nhiên, nữ có biểu hiện nhiều hơn nam đối với các TC hay DC mỏi hàm (OR=2,23), đau cơ khi sờ (OR=2,59) và đau khớp khi sờ (OR=2,70) (bảng
2, 3, 5, 7) Kết quả này tương tự Matsuka, Huang,… Ngược lại, theo Helkimo(3) và H.T.N.Linh, không có khác biệt giữa nam và nữ về tỷ lệ các
TC và DC
Để giải thích cho tỷ lệ trội hơn ở nữ, nhiều giả thuyết đã được đặt ra: vị trí lồi cầu ở nữ có xu hướng lui sau hơn nam, có thể làm yếu chỗ bám của các dây chằng đĩa khớp, đưa đến di lệch đĩa ra trước; một số tình trạng dãn khớp hệ thống
có liên quan với nồng độ cao estrogen trong cơ thể; nữ thường xuyên bị stress trong cuộc sống nhiều hơn nam; khả năng ứng phó với stress ở nữ kém hơn; nữ nhạy cảm với các kích thích gây đau nhiều hơn
Bảng 2: Phân bố tỷ lệ % các TC của RLTDH theo giới
Trang 17Nam Nữ Triệu
Trang 18Nam Nữ Triệu
Trang 19Bảng 3: Phân bố tỷ lệ % các DC của RLTDH
theo giới
Nam Nữ Dấu
chứng
n % n %
p *
Trang 20Nam Nữ Dấu
chứng
n % n %
p *
Trang 21Nam Nữ Dấu
chứng
n % n %
p *
Trang 22Không có khác biệt có ý nghĩa về tỷ lệ RLTDH giữa các đối tượng có
mức kinh tế, trình độ văn hóa và nghề nghiệp khác nhau
Liên quan giữa các triệu chứng và dấu chứng của RLTDH và các
yếu tố nguy cơ
Bảng 4: So sánh tỷ lệ % các yếu tố nguy cơ giữa nhóm có và không
có TC hay DC: tiếng kêu khớp; mỏi hàm; và há hạn chế
Trang 24Bảng 5: Mối liên quan giữa tiếng kêu khớp, mỏi hàm, há hạn chế với
các yếu tố nguy cơ qua phân tích hồi quy logistic
Yếu tố nguy cơ
Tiếng Kêu Khớp OR (95%CI)
Mỏi hàm
OR (95%CI)
Há hạn chế
OR (95%CI)
Trang 25Yếu tố nguy cơ
Tiếng Kêu Khớp OR (95%CI)
(0,99-3,72 7,35)***
(1,88-Siết chặt răng 1,00 (0,58-1,72)
1,33 2,51)
(0,70-2,21 5,05)
(0,97-Nhai một bên
(1,13-2,03)**
1,41 2,08)
(0,96-1,43 2,67)
2,85 5,38)***
(1,51-4,17 9,67)***
(1,80-Ngồi/đứng lâu 0,93 (0,69-1,26)
1,70 2,50)**
(1,16-0,74 1,41)
Trang 26(1,02-Yếu tố nguy cơ
Tiếng Kêu Khớp OR (95%CI)
(1,15-0,92 2,00)
(0,42-Sức khỏe tổng
quát (xấu)
0,92 (0,47-1,77)
1,70 ( 3,56)
0,81-0,62 2,43)
2,23 3,37)***
(1,48-1,85 3,58)
(0,96-*: p<0,05,*(0,96-*: p≤0,01,**(0,96-*: p≤0,001 Các yếu tố nguy cơ trên đã được
hiệu chỉnh với các yếu tố nguy cơ khác trong từng nhóm tuổi
Bảng 6: So sánh tỷ lệ % các yếu tố nguy cơ giữa nhóm có và không
có TC hay DC đau khớp khi sờ; đau cơ khi sờ; đau khi vận động hàm
Trang 27p Có (111)
Không (669)
p (97)
Trang 28Bảng 7: Mối liên quan giữa đau khớp khi sờ, đau cơ khi sờ, đau khi
vận động hàm với các yếu tố nguy cơ qua phân tích hồi quy logistic
Trang 29Yếu tố nguy cơ
OR (95% CI)
Trang 302,24 (1,15-4,37) *
1,25 (0,79-1,98)
1,76 (0,82-3,74)
1,71 (1,08- 2,69)*
1,86 (1,16-2,97)**
1,84 (1,10-3,09) *
3,34 (1,60-7,00) ***
1,17 (0,73-1,89)
Trang 31*: p<0,05,**: p≤0,01,***: p≤0,001 Các yếu tố nguy cơ trên đã được hiệu chỉnh với các yếu tố nguy cơ khác trong từng nhóm tuổi
- Chấn thương và rối loạn thái dương hàm: nhiều nghiên cứu cho thấy có mối liên quan giữa rối loạn ở khớp và cơ với chấn thương Trong nghiên cứu này, rối loạn ở cơ lẫn khớp đều có liên quan với chấn thương Người có TC hay
DC mỏi hàm, há hạn chế, đau cơ khi sờ, đau khớp khi sờ có tiền sử chấn thương vùng hàm mặt nhiều gấp 2 đến 3 lần so với người không có TC, DC (bảng 4 và 6) Phân tích hồi quy logistic cho thấy có mối liên quan giữa mỏi hàm, đau cơ khi sờ và há hạn chế với chấn thương (OR tương ứng: 2,85, p=0,001; 2,16, p<0,05; 4,17, p=0,001) (bảng 3, 5)
- Stress và rối loạn thái dương hàm: tỷ lệ stress nhiều hay rất nhiều ở người có TC hay DC mỏi hàm, đau cơ khi sờ, đau khớp khi sờ và đau khi vận động hàm nhiều gấp đôi hoặc hơn so với người không có TC, DC trên (bảng 4, 6) Phân tích hồi quy logistic cho thấy stress có xu hướng gây mỏi hàm (OR=1,81, p=0,01), đau cơ khi sờ (OR=1,72, p<0,05) và đau khi vận động hàm (OR=1,84, p<0,05) (bảng 5, 7) Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu khác như Heloe(6), Shiau(19),…
- Nghiến răng, siết chặt răng và rối loạn thái dương hàm