Tại Việt Nam, nghiên cứu của Đặng Hoàng Sơn ở trẻ từ 6 tháng đến 10 tuổi tại 2 xã của huyện Củ Chi, TP.HCM là 7,1%2, và nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hoài An ở trẻ từ 1 – 14 tuổi tại
Trang 1DỊCH TỄ HỌC BỆNH VIÊM TAI GIỮA TIẾT DỊCH Ở TRẺ 4-6 TUỔI
Trang 2DỊCH TỄ HỌC BỆNH VIÊM TAI GIỮA TIẾT
Kết quả: tần suất mắc bệnh VTGTD là 5,79% (120/2072) Tần suất bệnh giảm khi tuổi tăng Cơ sở vật chất trường học chật hẹp, sĩ số lớp học quá đông, cha
mẹ hút thuốc lá, trình độ học vấn mẹ thấp, sử dụng chung khăn lau mặt, nhiễm trùng đường hô hấp trên, gia đình hoặc bản thân có tiền căn viêm tai giữa đều làm tăng nguy cơ bệnh VTGTD Ngược lại, những yếu tố như: có trẻ khác sống chung,
có sử dụng máy điều hòa, số lần viêm mũi họng trong năm thì ít liên quan đến bệnh
Kết luận: Cần quan tâm đến bệnh VTGTD ở trẻ em mẫu giáo
ABSTRACT
Trang 3Objectives: to assess the prevalence and risk factors for otitis media with effusion (OME) in preschool children
Study design: the cross-sectional study
Methos: data were analysed from 2072 children aged between 4 and 6 years
at kindergartens, the district 8 in Ho Chi Minh city by pneumatic otoscopy and tympanometry
Results: OME prevalence was 5,79% (120/2072) The prevalence of OME decreased with age Staying at below standard kindergarten; great number of children at the class; smoking parents; below mother's education; towel together; active upper respiratory tract infection; parent’s and sibling’s previous otitis media; positive past history of otitis media were found to be the risk factors for OME Whereas having other child living in the home; air-conditioned bedroom; upper respiratory tract frequent infections are less correlated to OME
Conclusion: otitis media with effution should be gotten more interest in kindergartener
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh viêm tai giữa tiết dịch (VTGTD) là tình trạng viêm tai giữa mà trong
Trang 4kèm.(7, 10, 15) Dịch tiết tai giữa có thể là thanh dịch, dịch nhầy, dịch mủ hoặc dạng kết hợp ứ lại trong khoang tai giữa Bệnh VTGTD là một trong những bệnh phổ biến nhất ở trẻ nhỏ Điều quan trọng của bệnh VTGTD đối với sức khỏe cộng đồng là bệnh diễn tiến âm thầm và để lại những biến chứng, di chứng nặng nề như giảm nghe, túi co lõm màng nhĩ, xơ nhĩ, viêm tai giữa dính, viêm tai giữa mạn có hoặc không có cholesteatoma Để ngăn ngừa những biến chứng này, cần phải phòng ngừa và phát hiện bệnh sớm Trên thế giới, đã có nhiều nghiên cứu bệnh VTGTD tại cộng đồng, song việc xác định chính xác tần suất mắc bệnh là rất khó Các số liệu mà các tác giả đưa ra là khá khác nhau, dao động từ 2 – 15% Tại Việt Nam, nghiên cứu của Đặng Hoàng Sơn ở trẻ từ 6 tháng đến 10 tuổi tại 2 xã của huyện Củ Chi, TP.HCM là 7,1%(2), và nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hoài
An ở trẻ từ 1 – 14 tuổi tại các trường mẫu giáo, tiểu học trong 1 xã tại Hà Nội là 8,9%.(1)Do bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ, bệnh không biểu hiện rõ triệu chứng, dễ
bỏ sót và để lại biến chứng nặng nề, đồng thời chưa được nghiên cứu nhiều tại Việt Nam, nên chúng tôi thực hiện nghiên cứu này với 2 mục tiêu sau đây:
- Xác định tần suất hiện mắc bệnh VTGTD ở trẻ 4-6 tuổi tại các trường mầm non thuộc quận 8, TP HCM
- Phân tích mối liên quan giữa bệnh VTGTD với một số yếu tố nguy cơ ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chúng tôi thực hiện nghiên cứu dịch tễ mô tả cắt ngang ở trẻ 4-6 tuổi đang học mẫu giáo bán trú tại các trường mầm non của quận 8, TP.HCM Chúng tôi
Trang 5chọn ngẫu nhiên 8 cụm trong 20 cụm của 16 trường trong quận, mỗi cụm có khoảng từ 250-350 học sinh Thông thường mỗi trường tương ứng 1 cụm, riêng những trường quá đông thì phân thành nhiều cụm và tiến hành khám cho tất cả các trẻ trong 8 cụm đã được chọn Tiến hành khám từ ngày 15/3/2006 đến 15/5/2006, chúng tôi khám mũi họng và soi tai bằng đèn soi tai có bơm hơi thu thập những dấu hiệu bất thường vùng mũi họng và màng nhĩ, sau đó tiến hành đo nhĩ lượng ghi nhận các giá trị của nhĩ lượng đồ Các trường hợp bị ráy tai, phải lấy ráy tai sạch sẽ trước khi khám, các trường hợp ráy tai khó lấy do cứng và nhiều được nhỏ thuốc làm mềm và tiến hành lấy ráy tai sau 1 tuần, sau đó tiến hành khám lại theo đúng qui trình trong vòng 2 tuần Các trường hợp vắng học chúng tôi cũng tiến hành khám lại trong vòng 2 tuần
Dùng máy đo nhĩ lượng cầm tay MT10 của Đan Mạch, đo nhĩ lượng cho tất
cả các trường hợp, ngoại trừ các trường hợp thủng nhĩ hoặc chảy dịch tai, hoặc có ráy tai chưa lấy được Đo nhĩ lượng bằng cách sử dụng máy MT10 phát ra 1 âm thanh ở tần số 226Hz và áp lực từ +300 dapa đến -600 dapa Nhĩ lượng đồ có các dạng như sau: dạng A: độ thông thuận c³0,2ml và áp lực 50 dapa>p>-100 dapa; dạng B: không có đỉnh hoặc có đỉnh thấp (c<0,2ml); dạng C1: c³0,2ml và -100dapa³p³ -200dapa; dạng C2: c³0,2ml và p<-200dapa
Các dấu hiệu bất thường phát hiện được khi soi tai: màu sắc màng nhĩ: có
Trang 6hoặc bóng khí phía sau màng nhĩ; tính di động của màng nhĩ giảm hoặc mất, đây
là dấu hiệu quan trọng và thường gặp trong ứ dịch tai giữa
Tiêu chuẩn chẩn đoán viêm tai giữa tiết dịch: nhĩ đồ dạng B và không có dấu hiệu VTGC (không có đau tai và sốt) Các trường hợp không có nhĩ đồ dạng B nhưng soi tai thấy có dịch phía sau màng nhĩ (dấu hiệu mực khí dịch hoặc bóng khí dịch) cũng được chẩn đoán
Để phân tích mối liên quan giữa bệnh VTGTD với một số yếu tố nguy cơ, chúng tôi tiến hành thu thập giá trị biến số qua việc khám tai mũi họng cho trẻ và bảng trả lời các câu hỏi phỏng vấn từ phụ huynh của trẻ
Mỗi học sinh được quy định bởi 1 mã ID duy nhất, các dữ liệu được nhập bằng Epidata và xử lý thống kê bằng phần mềm Stata 8.0, dùng phép kiểm chi bình phương với p<0,05 là có ý nghĩa thống kê Trong giai đoạn phân tích dữ liệu, những yếu tố gây nhiễu có thể kiểm soát bằng phân tích phân tầng hoặc hồi quy logistic
KẾT QUẢ
Số trẻ được khám (trong bảng 1) là 2072 trẻ, nam là 1107 trẻ (53,4%) và nữ
là 965 trẻ (46,6%), tỷ lệ nam và nữ trong mỗi lứa tuổi gần bằng nhau Trong nghiên cứu của chúng tôi phát hiện có 120 trẻ bị VTGTD (5,79%), trong số đó có
63 trẻ bị cả 2 tai (52,6%), có 35 trẻ chỉ bị 1 bên tai phải (29,1%), và có 22 trẻ chỉ
bị 1 bên tai trái (18,3%)
Trang 7Bảng 1: Đối tượng khám phân bố theo tuổi và giới Giới tính
Trang 9Tỷ lệ bệnh phân bố theo cơ sở vật chất của trường và sĩ số lớp
Nếu chúng tôi xét độc lập yếu tố cơ sở vật chất trường hoặc sĩ số lớp thì không thấy sự liên quan giữa VTGTD với chuẩn trường và sĩ số lớp Nhưng khi sử dụng phương pháp phân tích phân tầng để kiểm soát yếu tố sĩ số lớp, hoặc yếu tố chuẩn trường, chúng tôi có kết quả như sau: nhóm trẻ học tại trường đạt chuẩn và
sĩ số lớp thấp có tỷ lệ bệnh thấp (3,3%), trong khi đó nhóm trẻ học tại lớp có sĩ số cao hoặc trường không đạt chuẩn đều có tỷ lệ bệnh cao hơn (lần lượt là 6,5% và 6,8%), sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê
Tỷ lệ bệnh phân theo các yếu tố liên quan khác
Bảng 2: Tỷ lệ bệnh phân theo các yếu tố liên quan khácChỉ số
Viêm tai giữa tiết dịch
p-value
OR
Trang 10
6 tuổi
Trang 281,34
0,9 – 2,1 Dịch mũi mủ
Trang 33Tỷ lệ VTGTD ở bé trai (6,50%) nhiều hơn ở bé gái (4,97%), nhưng sự khác biệt này chưa có ý nghĩa thống kế với OR = 1,33 và P >0,05
Nhóm trẻ có mẹ trình độ học vấn càng cao thì tỷ lệ VTGTD càng thấp và ngược lại, sự liên quan này có ý nghĩa thống kế (p <0,05) Nhóm trẻ có mẹ trình
độ học vấn từ lớp 6 đến lớp 11 (1355 trẻ) và từ lớp 5 trở xuống (268 trẻ) có tỷ lệ mắc bệnh lần lược là 6,27% và 6,34%, cao hơn tỷ lệ mắc bệnh của nhóm trẻ có mẹ học vấn cao từ lớp 12 trở lên là 3,63% và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,05 Nhưng giữa 2 nhóm trẻ có mẹ học vấn từ lớp 5 trở xuống và nhóm có mẹ học từ lớp 6 đến lớp 11 có tỷ lệ mắc bệnh như nhau Đặc biệt nếu không có mẹ (cha mẹ ly hôn hoặc mẹ chết) thì nguy cơ VTGTD ở trẻ tăng rất cao (OR = 8,85)
so với nhóm có mẹ học vấn cao, tuy nhiên do nhóm này rất ít vì vậy khoảng ước lượng OR rất lớn
Tỷ lệ bệnh càng tăng khi cha mẹ của trẻ hút thuốc lá càng nhiều Nhóm trẻ
có cha mẹ mỗi ngày hút dưới 1 gói thuốc (20 điếu) có tỷ lệ bệnh cao hơn so nhóm trẻ có cha mẹ không hút thuốc lá với OR=1,3 Nhưng nếu cha mẹ hút trên 1 gói thuốc lá trong 1 ngày thì tỷ lệ bệnh VTGTD của trẻ tăng lên rất cao, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với OR = 5; p<0,001
Nhóm trẻ không có trẻ khác sống chung trong nhà có tỷ lệ VTGTD là 5,8% tương đương nhóm trẻ có trẻ khác sống chung Yếu tố này không liên quan đến tỷ
Trang 34Nhóm trẻ sống trong những gia đình có sử dụng máy điều hòa, có tỷ lệ VTGTD (7,3%) cao hơn so nhóm trẻ sống trong nhà không có sử dụng máy điều hòa (5,5%) Nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với OR = 1,4 và p
>0,05
Nhóm trẻ ở nhà có dùng khăn chung dễ bị VTGTD hơn nhóm trẻ ở nhà không có dùng khăn chung (8,7% so với 5,1%) Sự khác biệt này có ý nghĩa thống
kê với OR = 1,8; p <0,01
Trong gia đình (cha, mẹ, anh, chị, em ruột) có người bị viêm tai giữa trước
đó thì bé có nguy cơ VTGTD cao gấp 2 lần so trẻ khác Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p <0,05
Những trẻ có tiền căn viêm tai giữa có nguy cơ VTGTD tăng gấp 3,6 lần so với những trẻ khác, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kế với OR=3,6 và p
<0,0001
Trong quá trình khám chúng tôi phát hiện có 1.342 trẻ bị viêm mũi họng, chiếm 64,77% Nhóm trẻ này có tỷ lệ mắc bệnh VTGTD cao hơn so nhóm trẻ không có bệnh viêm mũi họng kèm theo (6,3% so với 4,8%), nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p>0,05
Trong số những trẻ viêm mũi họng phát hiện có 130 trẻ bị bội nhiễm vi trùng nên có dịch mũi mủ, nhóm trẻ này có tỷ lệ mắc bệnh VTGTD là 11,5% cao hơn nhiều so với nhóm trẻ không có dịch mũi mủ là 5,4% và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê p <0,05
Trang 35Qua bảng câu hỏi phụ huynh tự trả lời, chúng tôi phát hiện có 294 trẻ có số lần chảy mũi trong năm cao từ 12 lần trở lên Nhóm trẻ này có tỷ lệ mắc bệnh VTGTD cao hơn nhóm trẻ có số lần chảy mũi trong năm dưới 12 lần (7,5% so với 5,5%) Nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p>0,05 Đồng thời chúng tôi phát hiện có 227 trẻ có thời gian chảy mũi mỗi đợt thường kéo dài trên 7 ngày Nhóm trẻ này có tỷ lệ mắc bệnh VTGTD cao hơn nhóm trẻ có thời gian chảy mũi mỗi đợt ngắn dưới 7 ngày (10,6% so với 5,2%) và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với OR=2,15; p<0,001
BÀN LUẬN VÀ KẾT LUẬN
Tần suất mắc bệnh VTGTD
Trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ trẻ được khám ở từng lứa tuổi tỷ
lệ thuận với số học sinh đang theo học tại mỗi cấp lớp và tỷ lệ nam/nữ ở từng lứa tuổi gần bằng nhau, điều này hạn chế được sai lệch về tần suất mắc bệnh Chúng tôi nhận thấy (trong bảng 3) tần suất hiện mắc bệnh VTGTD thay đổi nhiều theo các quốc gia, nó tùy thuộc vào phương pháp nghiên cứu, và đặc tính dân số nghiên cứu Kết quả nghiên cứu của tôi có tần suất mắc bệnh là 5,79% gần bằng với kết quả nghiên cứu của Hy Lạp (1998) và Trung Quốc (2003), thấp hơn của Malaysia (1997) và Ý (1998), nhưng cao hơn so với Jamaica (1998)
Trang 40Việt Nam
2.072
4 - 6 tuổi
5,79%
So sánh với kết quả nghiên cứu của tác giả Đặng Hoàng Sơn (1998) ở TP
Hồ Chí Minh và tác giả Nguyễn Thị Hoài An (2003) ở Hà Nội, nhận thấy tần suất mắc bệnh VTGTD trong nghiên cứu của tôi thấp hơn, có thể do thời điểm khám (tháng 3 – tháng 5 năm 2006) tại TP.HCM có khí hậu khô, nóng không thuận lợi cho mầm bệnh phát triển Mặt khác, đối tượng trong nghiên cứu của chúng tôi là trẻ từ 4 tuổi đến 6 tuổi, trong khi đó đối tượng nghiên cứu của tác giả Đặng Hoàng Sơn là trẻ từ 6 tháng đến 10 tuổi, và của tác giả Nguyễn Thị Hoài An là trẻ từ 1 tuổi đến 14 tuổi, chính vì đối tượng nghiên cứu khác nhau nên sẽ ảnh hưởng đến tần suất mắc bệnh chung
Bảng 4: Tỷ lệ bệnh VTGTD phân theo tuổi so sánh với tác giả khác
Tuổi
Trang 41Tỷ lệ bệnh trong nghiên cứu này
Tỷ lệ bệnh trong nghiên cứu của Đ.H.Sơn
Trang 4316 (3,7%)
Tần suất hiện mắc VTGTD phân bố theo tuổi như sau: trẻ 4 tuổi là 7%; trẻ
5 tuổi là 6% và trẻ 6 tuổi là 4,7% Tỷ lệ bệnh VTGTD ở trẻ 6 tuổi thấp hơn nhóm trẻ 4 và 5 tuổi Kết quả nghiên cứu này phù hợp với kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả khác.(2,8) Nhìn chung tỷ lệ bệnh liên quan nghịch với tuổi của trẻ, trẻ càng nhỏ khả năng mắc bệnh càng cao Điều này có thể giải thích do sự chưa hoàn thiện cấu trúc giải phẫu, chức năng của vòi nhĩ và hệ thống miễn dịch ở cơ thể trẻ nhỏ
So sánh với nghiên cứu của Đặng Hoàng Sơn, tỷ lệ bệnh VTGTD ở từng lứa tuổi trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn do đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là các học sinh mẫu giáo, nguy cơ tiếp xúc mầm bệnh nhiều hơn,(16) trong khi đó đối tượng nghiên cứu của tác giả Đặng Hoàng Sơn là trẻ ở cộng đồng
Bệnh gặp nhiều ở bé trai hơn bé gái (6,5% so với 4,97%), nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa về mặt thống kê Kết quả này phù hợp với nhiều nghiên cứu của các tác giả khác.(4,14,18) Hiện nay, các nhà khoa học chưa giải thích được lý do vì sao bé trai bị nhiều hơn bé gái
Trong nghiên cứu của chúng tôi phát hiện mẹ có trình độ học vấn càng cao, con ít bị VTGTD hơn, phù hợp với kết quả nghiên cứu của tác giả
Trang 44gia đình có môi trường sống tốt hơn, trẻ ít có nguy cơ tiếp xúc mầm bệnh, phòng ngừa bệnh hiệu quả hơn
Các trường có cơ sở vật chất đạt chuẩn thường mới được xây dựng một vài năm gần đây, có diện tích rộng, có sân chơi, lớp học thoáng mát nhưng nếu trẻ học trong một lớp quá đông nguy cơ lây bệnh qua lại giữa các trẻ rất dễ nên tỷ lệ bệnh trong nhóm này vẫn cao Ngược lại, nhóm trẻ học tại các trường không đạt chuẩn thì sĩ số lớp dù đông hay ít đều có tỷ lệ bệnh cao hơn nhóm trẻ học tại các trường đạt chuẩn với lớp sĩ số thấp, vì những trường không đạt chuẩn thường là những ngôi nhà phố chật hẹp, không có sân chơi, không thoáng mát, các bé thường học
và chơi tại lớp, nên rất dễ nhiễm bệnh Vì vậy học trường không đạt chuẩn, dù lớp đông hay ít đều có nguy cơ bệnh cao hơn những trẻ học tại những trường đạt chuẩn với sĩ số đảm bảo dưới 40 học sinh Trong những nghiên cứu của các tác giả khác cũng cho thấy nhà trẻ, trường mẫu giáo và sĩ số lớp đều là yếu tố nguy cơ của bệnh viêm tai giữa tiết dịch(5,14,16)
Trong nghiên cứu của chúng tôi chỉ xét yếu tố hút thuốc lá của cha mẹ Kết quả cho thấy nhóm trẻ có cha mẹ hút thuốc lá có tỷ lệ mắc bệnh VTGTD cao hơn nhóm trẻ không có cha mẹ hút thuốc lá (6,92% so với 4,78%), sự khác biệt này có
ý nghĩa thống kê với OR=1,48 và p<0,05 Kết quả này phù hợp với nhiều nghiên cứu đã được thông báo trước đây, hít khói thuốc lá thụ động làm tăng nguy cơ VTGTD(1,11,12) Etzel và cộng sự cũng đã chứng minh nồng độ cotinine trong máu cao có liên quan đến sự tăng nguy cơ bệnh VTGTD và thời gian ứ dịch ở tai
Trang 45giữa(9) Trong nghiên cứu của chúng tôi mức độ hút thuốc của cha mẹ cũng liên quan đến tỷ lệ bệnh VTGTD, nếu cha mẹ hút ít hơn 1 gói ngày, thì nguy cơ tăng khoảng 1,5 lần nhưng nếu cha mẹ hút trên 1 gói thì nguy cơ tăng gấp 5 lần (OR=5)
so nhóm trẻ có cha mẹ không hút thuốc lá, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p <0,001
Ngoài ra trong nghiên cứu của chúng tôi cũng phát hiện nhóm trẻ có người nhà đã bị viêm tai giữa thì tần suất mắc bệnh VTGTD cao hơn so nhóm trẻ không
có người nhà bị VTG trước đó Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của nhiều tác giả khác(20,21) Nguyên nhân sự khác biệt này có thể do yếu tố di truyền và môi trường sống của gia đình
Riêng những trẻ có tiền sử viêm tai giữa sẽ có nguy cơ VTGTD tăng gấp 3,6 lần so những trẻ không có tiền sử này, kết quả này phù hợp với những kết quả nghiên cứu của các tác giả khác(3,19) Theo Alho và cộng sự đã chứng minh tiền căn VTG cấp là yếu tố nguy cơ lớn gây viêm tai giữa cấp và VTGTD, đặc biệt đối trẻ tại các nhà trẻ, mẫu giáo Đối những trẻ này tác giả khuyên nên chăm sóc trẻ tại nhà tốt hơn vì môi trường nhà trẻ sẽ làm tăng thêm nguy cơ bệnh tái phát ở trẻ(3)
Chúng ta thấy nhóm trẻ bị viêm mũi họng có tỷ lệ VTGTD cao hơn nhóm trẻ không bị viêm mũi họng (6,33% so với 4,79%), nhưng sự khác biệt này chưa
có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Đồng thời kết quả cho thấy nhóm trẻ có số lần viêm