1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

[Triết Học] Học Thuyết Chủ Nghĩa Karl Marx - Marx Engels tập 16 phần 3 ppt

49 340 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 545,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

cuộc đấu tranh giữa tư bản và lao động và những kết quả của nó 1 Tôi đã chỉ ra rằng sự phản kháng có tính chất chu kỳ của công nhân chống lại việc giảm tiền công và những cố gắng có tí

Trang 1

196 c.mác Tiền công, giá cả và lợi nhuận 197

Nhưng sự thay đổi cũng có thể diễn ra theo hướng ngược lại Do

năng suất lao động tăng lên, cùng một lượng tư liệu sinh hoạt mà

trung bình người công nhân tiêu dùng hàng ngày, có thể hạ từ 3

xuống 2s., nói một cách khác chỉ cần 4 giờ của một ngày lao động,

chứ không phải 6 giờ, để sản xuất ra vật ngang giá với giá trị

những tư liệu sinh hoạt tiêu dùng hàng ngày ấy Giờ đây, với 2s.,

người công nhân có thể mua được một số lượng tư liệu sinh hoạt

nhiều bằng số lượng tư liệu sinh hoạt mà trước kia anh ta phải

dùng 3s để mua Giá trị của lao động quả thật đã giảm xuống,

nhưng với cái giá trị đã giảm xuống đó của lao động người công

nhân vẫn mua được một số lượng hàng hóa như trước kia Trong

trường hợp đó, lợi nhuận sẽ tăng từ 3 lên đến 4s và tỷ suất lợi

nhuận sẽ tăng từ 100% đến 200% Mặc dầu mức sống tuyệt đối

của công nhân vẫn như cũ, nhưng tiền công tương đối của anh ta,

và do đó địa vị xã hội tương đối của anh ta so với nhà tư bản, sẽ

tụt xuống thấp hơn Khi chống lại việc giảm tiền công tương đối

đó, người công nhân chỉ đòi được nhận một phần nào đó trong cái

mà sức sản xuất đã tăng lên của lao động của anh ta đã đem lại

và chỉ cố duy trì địa vị tương đối trước kia của anh ta trên cái

thang xã hội mà thôi Ví dụ, sau khi những đạo luật về lúa mì bị

bãi bỏ, bọn chủ xưởng Anh vi phạm trắng trợn những lời hứa hẹn

long trọng mà họ đã đưa ra trong thời gian cổ động chống những

đạo luật ấy, nói chung đã giảm tiền công xuống 10% Lúc đầu, sự

phản kháng của công nhân tỏ ra là không có kết quả, nhưng, sau

đó, do những hoàn cảnh mà tôi không thể nói đến ở đây, 10% đã

mất đi ấy lại giành được

2) Giá trị của những tư liệu sinh hoạt và do đó cả giá trị của

lao động, có thể vẫn giữ nguyên như cũ, nhưng giá cả bằng tiền

của chúng có thể thay đổi do giá trị của tiền trước đó đã thay đổi

Nhờ phát hiện ra những mỏ giàu hơn, v.v., nên có thể là việc

sản xuất ra 2 ôn-xơ vàng chẳng hạn, sẽ không đòi hỏi nhiều lao

động hơn việc sản xuất ra 1 ôn-xơ vàng trước kia Trong trường

hợp đó, giá trị của vàng sẽ giảm xuống một nửa hay 50% Giờ đây

giống như giá trị của tất cả mọi hàng hóa khác, giá trị của lao

động sẽ biểu hiện bằng những giá cả bằng tiền gấp đôi trước kia

Mười hai giờ lao động trước kia được biểu hiện bằng 6s., thì bây giờ sẽ được biểu hiện bằng 12 si-linh Nếu tiền công của công nhân vẫn là 3s như trước kia, chứ không tăng lên thành 6s., thì

giá cả bằng tiền của lao động của anh ta giờ đây chỉ bằng một nửa

giá trị của lao động của anh ta, và mức sống của anh ta sụt xuống

ghê gớm Điều đó cũng xảy ra với một mức độ nhiều hay ít trong trường hợp tiền công của anh ta tăng lên, nhưng lại không tăng theo tỷ lệ sụt xuống của giá trị của vàng Trong ví dụ mà chúng ta

đang xét đến, không có gì thay đổi cả trong sức sản xuất của lao

động, cũng như trong cung và cầu, và trong các giá trị của hàng hóa Không có gì thay đổi, trừ những tên gọi tiền tệ của những giá trị đó Nói rằng trong trường hợp như thế người công nhân không nên đòi tăng tiền công một cách tương ứng, thì có nghĩa là bảo người công nhân phải tự bằng lòng với việc anh ta được trả bằng những tên gọi chứ không phải bằng vật Toàn bộ lịch sử trước đây

đều chứng minh rằng cứ mỗi lần tiền bị mất giá như thế thì các nhà tư bản vội vàng lợi dụng cơ hội thuận lợi đó để lừa gạt công nhân Một trường phái rất đông các nhà kinh tế học khẳng định rằng do phát hiện những mỏ vàng mới, do khai thác tốt hơn những mỏ bạc và do cung cấp thuỷ ngân với giá rẻ hơn, nên giá trị của những kim loại quý lại giảm xuống Điều đó sẽ có thể giải thích được yêu cầu, có tính chất phổ biến và nảy sinh cùng một lúc trên lục địa, đòi tăng tiền công

3) Cho tới nay, chúng ta đã giả định rằng ngày lao động có

những giới hạn nhất định Nhưng tự bản thân nó ngày lao động không có những giới hạn bất biến Xu hướng thường xuyên của tư bản là kéo dài ngày lao động cho tới cái độ dài cùng cực, mà thế lực có thể chịu đựng được, bởi vì độ dài của ngày lao động càng tăng lên bao nhiêu thì lao động thặng dư và do đó, lợi nhuận do lao động thặng dư tạo ra, cũng tăng lên bấy nhiêu Tư bản càng kéo dài được ngày lao động bao nhiêu thì số lượng lao động mà

nó chiếm hữu được của người khác lại càng nhiều hơn bấy

Trang 2

198 c.mác Tiền công, giá cả và lợi nhuận 199

nhiêu Trong thế kỷ XVII và ngay trong hai phần ba đầu của thế

kỷ XVIII, ngày lao động mười giờ là ngày lao động bình thường ở

khắp nước Anh Trong chiến tranh chống phái Gia-cô-banh132,

trên thực tế là một cuộc chiến tranh của các nam tước Anh chống

quần chúng lao động, tư bản đã mở tiệc ăn mừng và đã kéo dài

ngày lao động từ 10 đến 12, 14 và 18 giờ Man-tút một người mà

dầu sao cũng không ai có thể nghi ngờ là có tình cảm sướt mướt

được, đã tuyên bố trong một quyển sách xuất bản vào khoảng năm

1815 rằng nếu tình hình cứ như thế mãi thì đời sống của đất nước

sẽ bị phá hoại đến tận gốc rễ133 Vài năm trước khi áp dụng một

cách phổ biến những máy móc mới được phát minh, vào khoảng

năm 1765, một quyển sách xuất hiện ở Anh dưới nhan đề là: "Thử

bàn về công nghiệp"134 Tác giả khuyết danh, một kẻ thù không

đội trời chung của giai cấp công nhân, nói ba hoa về việc cần phải

mở rộng giới hạn của ngày lao động Để đạt mục đích ấy, ngoài

những thủ đoạn khác, hắn còn đề nghị lập những nhà lao động mà

theo lời hắn thì phải là "những ngôi nhà khủng khiếp" Và ngày

lao động mà hắn đề nghị cho "những ngôi nhà khủng khiếp" đó

phải dài bao nhiêu? Mười hai giờ, đúng cái độ dài của ngày lao

động mà năm 1872 các nhà tư bản, các nhà kinh tế học và các bộ

trưởng đã tuyên bố rằng đó là thời gian lao động không những đã

thực tế tồn tại, mà còn là thời gian lao động cần thiết cho trẻ em

dưới mười hai tuổi nữa135

Khi bán sức lao động của mình - và dưới chế độ hiện nay, người

công nhân buộc phải bán như vậy, - người công nhân để cho nhà

tư bản tiêu dùng sức lao động ấy, nhưng trong những giới hạn

hợp lý nào đó Anh ta bán sức lao động của mình là để duy trì nó,

- ở đây chúng ta không kể đến sự hao mòn tự nhiên của sức lao

động, - chứ không phải để huỷ hoại nó Khi người công nhân bán

sức lao động của mình theo giá trị hàng ngày hay hàng tuần của

nó, là có bao hàm tiền đề rằng không được bắt sức lao động ấy

trong một ngày hay trong một tuần phải bị tiêu dùng, phải bị hao

mòn như trong hai ngày hay trong hai tuần Chúng ta hãy lấy một

cái máy trị giá 1 000 p.xt làm ví dụ Nếu nó phục vụ trong 10

năm thì mỗi năm nó sẽ cộng thêm 100 p.xt vào giá trị những hàng hóa mà nó dự phần sản xuất ra Nếu nó phục vụ trong 5 năm thì nó sẽ cộng thêm vào giá trị của những hàng hóa đó 200 p.xt mỗi năm Nói một cách khác, giá trị sự hao mòn hàng năm của nó tỷ lệ nghịch với thời gian mà nó bị tiêu dùng hết Nhưng người công nhân khác với cái máy chính là về mặt này Máy hao mòn không hoàn toàn ăn khớp với việc tiêu dùng nó; ngược lại, con người bị huỷ hoại theo một mức độ lớn hơn nhiều so với mức mà chỉ căn cứ vào những số lượng về việc kéo dài lao động của người

đó riêng thôi người ta cũng có thể thấy được

Khi công nhân đấu tranh để đưa ngày lao động trở về với những quy mô hợp lý trước kia của nó, hay - ở nơi mà họ không thể buộc được pháp luật quy định ngày lao động bình thường - cố ngăn chặn lao động quá mức bằng cách đòi tăng tiền công lên, tăng không những theo tỷ lệ với thời gian tăng thêm bòn rút

được của họ, mà còn tăng theo một tỷ lệ cao hơn, thì họ chỉ làm một nghĩa vụ đối với bản thân họ và đối với dòng giống của họ mà thôi Họ chỉ đặt giới hạn cho sự chiếm đoạt bạo ngược của tư bản Thời gian là không gian cho sự phát triển của con người Một người không có một phút rỗi rãi nào, một người mà toàn bộ cuộc

đời - không kể những lúc nghỉ do những nhu cầu thuần tuý về thể xác quyết định như để ngủ, ăn, v.v., - bị lao động cho nhà tư bản ngốn hết, - một người như thế bị dồn vào tình trạng còn kém hơn một súc vật để thồ Bị kiệt sức về mặt thể xác và trở nên thô

lỗ về mặt tinh thần , người đó chỉ là một cái máy để sản xuất

ra của cải cho kẻ khác Thế mà toàn bộ lịch sử công nghiệp hiện

đại chỉ ra rằng nếu không bị ngăn cản thì tư bản sẽ ra sức dồn toàn bộ giai cấp công nhân xuống cái tình trạng thoái hoá cực độ

ấy, một cách tàn nhẫn, không thương xót gì cả

Khi kéo dài ngày lao động ra, nhà tư bản có thể trả tiền công cao

hơn, nhưng lại trả thấp đi cho giá trị của lao động Điều đó diễn ra

trong trường hợp việc tăng tiền công không tương xứng với mức tăng khối lượng lao động bòn rút được của công nhân và với sự huỷ

Trang 3

200 c.mác Tiền công, giá cả và lợi nhuận 201

hoại nhanh hơn của sức lao động, do sự bòn rút ấy gây ra Nhà tư

bản cũng có thể đạt được điều đó bằng một phương thức khác Ví dụ

các nhà thống kê tư sản người Anh sẽ nói với các bạn rằng tiền công

trung bình của những gia đình lao động làm việc trong các công

xưởng ở Lan-kê-sia đã tăng lên Họ quên rằng hiện nay ngoài người

đàn ông, người chủ gia đình, thì vợ anh ta và có thể là ba hay bốn

đứa con của anh ta đều bị ném xuống dưới bánh xe thần

Gia-ghéc-nô136 của tư bản, rằng sự tăng lên của tổng số tiền công của gia

đình hoàn toàn không tương xứng với sự tăng lên của tổng số lao

động thặng dư bòn rút được của gia đình công nhân ấy

Ngay với những giới hạn nhất định của ngày lao động, như

những giới hạn hiện có trong tất cả những ngành công nghiệp

phải tuân theo đạo luật công xưởng, thì việc tăng tiền công vẫn

có thể trở nên cần thiết, dù chỉ là để giữ tiền trả cho giá trị lao

động ở mức độ cũ của nó Khi tăng cường độ lao động, một người

trong một giờ có thể buộc phải tiêu phí một số sức lực bằng số

trước kia người ấy tiêu phí chung trong 2 giờ Trong những

ngành công nghiệp đặt dưới đạo luật công xưởng, điều đó đã được

thực hiện tới mức độ nào đó bằng cách tăng tốc độ của máy và tăng

số máy công tác do một người trông coi Nếu việc tăng cường độ

lao động, hay tăng khối lượng lao động tiêu phí trong một giờ,

tương ứng một cách thoả đáng với việc rút ngắn ngày lao động,

thì người công nhân vẫn được lợi Còn giới hạn ấy bị vi phạm thì

người công nhân được đằng này lại mất đằng khác và 10 giờ lao

đ ộng có thể h uỷ hoại s ức lực nh ư 12 giờ l ao đ ộn g trước ki a

Khi chống lại khuynh hướng đó của tư bản bằng cách đấu tranh

để tăng tiền công cho tương xứng với việc tăng cường độ lao động,

thì người công nhân chỉ chống lại việc giảm giá trị lao động của

mình và việc làm suy yếu dòng giống của mình

4) Tất cả các bạn đều biết rằng vì những lý do mà tôi không

cần phải giải thích ở đây, nền sản xuất tư bản chủ nghĩa vận

động qua những chu kỳ nhất định Nó lần lượt trải qua giai đoạn

yên tĩnh, náo nhiệt, phồn vinh, sản xuất thừa, khủng hoảng và

đình trệ Giá cả thị trường của hàng hóa và tỷ suất thị trường của lợi nhuận đều đi theo những giai đoạn đó, khi thì sụt xuống dưới mức trung bình của nó, khi thì vượt lên trên mức ấy Xét toàn bộ chu kỳ, các bạn sẽ thấy rằng một sự chênh lệch này của giá cả thị trường được bù bằng sự chênh lệch khác, rằng cứ lấy mức trung bình trong toàn bộ chu kỳ thì giá cả thị trường của hàng hóa được điều tiết bởi giá trị của chúng Trong giai đoạn giá cả thị trường hạ thấp và trong các giai đoạn khủng hoảng và

đình trệ, nếu người công nhân không mất việc làm thì chắc chắn

là anh ta sẽ nhận được một tiền công bị hạ thấp Để khỏi bị lường gạt thì ngay trong trường hợp giá cả thị trường hạ thấp như thế, anh ta vẫn phải đấu tranh với nhà tư bản để chống lại việc giảm tiền công quá mức Trong giai đoạn phồn vinh, khi các nhà tư bản thu được một lợi nhuận đặc biệt cao, nếu anh ta không đấu tranh

đòi tăng tiền công, thì trung bình trong suốt cả chu kỳ công

nghiệp, anh ta cũng sẽ không nhận được ngay cả tiền công trung

bình của mình, hay giá trị lao động của mình Thật là hết sức ngu

ngốc, nếu đòi hỏi người công nhân - mà tiền công không tránh khỏi bị hạ thấp trong những giai đoạn không thuận lợi của chu

kỳ - phải từ chối việc bù lại những tổn thất của mình trong những

giai đoạn phồn vinh Nói chung, giá trị của tất cả các hàng hóa

chỉ được thực hiện bằng sự san bằng những giá cả thị trường luôn luôn thay đổi, sự san bằng này do những biến động không ngừng của cung và cầu gây ra Trên cơ sở chế độ hiện nay, lao động chỉ

là một hàng hóa như tất cả mọi hàng hóa khác Vì vậy nó cũng phải trải qua những biến động như thế và chỉ có qua những biến động ấy mới có thể đạt tới một giá cả trung bình tương ứng với giá trị của nó Sẽ thật là vô lý nếu một mặt coi lao động là hàng hóa, và mặt khác lại đặt nó ra ngoài vòng ảnh hưởng của những quy luật điều tiết giá cả của hàng hóa Người nô lệ nhận một lượng tư liệu sinh hoạt thường xuyên và cố định, người công nhân làm thuê thì không thế Anh ta phải đòi tăng tiền công trong một trường hợp, dù chỉ là để bù lại sự giảm tiền công trong một trường hợp khác Nếu người công nhân chịu chấp nhận ý muốn và mệnh lệnh của nhà tư bản như là một đạo luật kinh tế tối cao, thì

Trang 4

202 c.mác Tiền công, giá cả và lợi nhuận 203

người đó sẽ phải chịu tất cả những nỗi đau khổ của tình cảnh

người nô lệ nhưng thậm chí lại không được bảo đảm đời sống như

người nô lệ

5) Trong tất cả những trường hợp mà tôi đã xét đến, - mà đó là

99% các trường hợp, - chúng ta đã thấy rằng cuộc đấu tranh đòi

tăng tiền công chỉ đi theo sau những biến động đã xảy ra trước đó,

rằng nó là kết quả tất yếu của những biến động xảy ra trước đó

trong quy mô sản xuất, trong sức sản xuất của lao động, trong giá

trị của lao động, trong giá trị của tiền, trong độ dài hay cường độ

của lao động bị bòn rút, trong những sự lên xuống của giá cả thị

trường, do những biến động của cung và cầu quyết định và tương

ứng với những giai đoạn khác nhau của chu kỳ công nghiệp; nói

tóm lại, cuộc đấu tranh đó là sự phản kháng của lao động chống

lại hành động diễn ra trước đó của tư bản Khi xét cuộc đấu tranh

đòi tăng tiền công một cách độc lập với tất cả những tình hình đó,

khi chỉ chú ý đến những sự thay đổi của tiền công và bỏ qua tất cả

những thay đổi khác đã gây ra những thay đổi đó của tiền công,

thì như thế là các bạn xuất phát từ một tiền đề sai lầm để đi tới

những kết luận sai lầm

14 cuộc đấu tranh giữa tư bản và lao động

và những kết quả của nó

1) Tôi đã chỉ ra rằng sự phản kháng có tính chất chu kỳ của

công nhân chống lại việc giảm tiền công và những cố gắng có

tính chất chu kỳ của họ nhằm tăng tiền công, đều gắn liền không

thể tách rời với chế độ lao động làm thuê và chúng đều nảy sinh

từ chính cái sự kiện là lao động được coi là hàng hóa và do đó

cũng phải phục tùng những quy luật điều tiết sự vận động chung

của giá cả; tiếp đó tôi đã chỉ ra rằng tiền công tăng lên một cách

phổ biến làm cho tỷ suất phổ biến của lợi nhuận giảm xuống,

nhưng không ảnh hưởng gì đến giá cả trung bình của hàng hóa

hay đến giá trị của hàng hóa; giờ đây, cuối cùng, một câu hỏi được

đặt ra là: trong cuộc đấu tranh liên tục này giữa tư bản và lao

động, lao động có thể đạt tới thắng lợi đến mức nào?

Tôi có thể trả lời bằng một sự khái quát hoá và nói rằng trong

một khoảng thời gian dài, giá cả thị trường của lao động, cũng như của tất cả các hàng hóa khác, sẽ phù hợp với giá trị của nó;

rằng do đó, mặc dầu tất cả mọi sự tăng và giảm và mặc dầu người công nhân hành động như thế nào đi nữa, thì tính trung bình, anh

ta cũng sẽ chỉ nhận được giá trị lao động của anh ta, giá trị này quy lại là giá trị của sức lao động do giá trị của những tư liệu sinh hoạt cần thiết để duy trì và tái sản xuất ra sức lao động ấy quyết

định; còn giá trị của những tư liệu sinh hoạt ấy, đến lượt nó, lại

do số lượng lao động cần thiết để sản xuất ra chúng quyết định

Nhưng có vài đặc điểm phân biệt giá trị của sức lao động, hay

giá trị của lao động, với giá trị của tất cả các hàng hóa khác Giá

trị của sức lao động là do hai yếu tố hợp thành - một yếu tố chỉ thuần tuý có tính chất thể xác, còn yếu tố kia thì thuần tuý có

tính chất lịch sử hay xã hội Giới hạn thấp nhất của giá trị sức lao động là do yếu tố thể xác quyết định Điều đó có nghĩa là, để

duy trì và tái sản xuất ra bản thân, để cho sự tồn tại thể xác của mình kéo dài mãi mãi, giai cấp công nhân phải nhận được những tư liệu sinh hoạt tuyệt đối cần thiết để sống và để sinh sôi nảy nở Cho nên, giá trị của những tư liệu sinh hoạt cần thiết

đó là giới hạn thấp nhất của giá trị lao động Mặt khác, độ dài

của ngày lao động cũng có những giới hạn tột cùng của nó, mặc dầu rất co dãn Giới hạn cao nhất của nó là do thể lực của người công nhân quyết định Nếu sự suy mòn hàng ngày về sinh lực của công nhân vượt quá những giới hạn nhất định thì một sự căng thẳng như thế sẽ không thể lặp lại từ ngày này qua ngày khác

được Tuy nhiên, như tôi đã nói, giới hạn ấy rất co dãn Với sự thay thế nhau nhanh chóng của những thế hệ ốm yếu và có đời sống ngắn ngủi, thị trường lao động cũng có thể được đảm bảo không khác gì khi có một loạt những thế hệ mạnh khoẻ và sống lâu kế tiếp nhau

Ngoài yếu tố thuần tuý thể xác đó ra thì giá trị của lao động

Trang 5

204 c.mác Tiền công, giá cả và lợi nhuận 205

trong mỗi một nước được quyết định bởi mức sống truyền thống

Mức sống không chỉ giả định phải thoả mãn những nhu cầu của

đời sống thể xác, mà còn phải thoả mãn một số nhu cầu nhất định,

do những hoàn cảnh xã hội trong đó người ta sinh sống và học

hành quyết định Mức sống của người Anh có thể rút xuống bằng

mức sống của người Ai-rơ-len, mức sống của một nông dân Đức có

thể rút xuống bằng mức sống của một nông dân Líp-phơ-lan-đi-a

Về mặt ấy, những truyền thống lịch sử và những tập quán xã hội

giữ vai trò quan trọng như thế nào, thì các bạn có thể đọc thấy

trong tác phẩm "Nạn nhân khẩu thừa"137 của ông Toóc-nơ-tơn

Trong cuốn sách ấy, ông ta chỉ ra rằng, hiện nay, tiền công trung

bình trong những vùng nông nghiệp khác nhau ở Anh vẫn ít nhiều

khác nhau tuỳ theo những vùng ấy đã thoát khỏi chế độ nông nô

trong những điều kiện thuận lợi nhiều hay ít

Cái yếu tố lịch sử hay xã hội đi vào giá trị của lao động đó có

thể phình ra hay co lại, hoặc thậm chí có thể hoàn toàn biến mất,

thành thử chỉ còn lại có cái giới hạn thể xác mà thôi Trong thời

gian cuộc chiến tranh chống phái Gia-cô-banh - như lão Gioóc-giơ

Rô-dơ, một kẻ bất trị chuyên ngốn thuê và thích các chức vụ béo

bở, thường thích nói - để giữ cho những lợi ích của tôn giáo

thiêng liêng của chúng ta khỏi bị những người Pháp ngoại đạo

tấn công, thì những phéc-mi-ê tốt bụng người Anh, mà chúng ta

đã nói đến một cách hết sức khoan dung tại một trong những

phiên họp trước đây của chúng ta, đã hạ thấp tiền công của công

nhân nông nghiệp xuống thậm chí dưới mức tối thiểu thuần tuý

thể xác ấy, còn số thiếu hụt về những tư liệu sinh hoạt cần thiết

để duy trì người công nhân về mặt thể xác và tiếp tục dòng giống

của họ thì được họ bù đắp bằng cách lấy ở các quỹ cứu trợ trên cơ

sở các đạo luật về người nghèo138 Đó là một phương thức tuyệt

diệu để biến người công nhân làm thuê thành những người nô lệ

và biến người nông dân tự do kiêu hãnh của Sếch-xpia thành một

kẻ khốn cùng

Nếu các bạn so sánh mức tiền công, hay giá trị lao động, trong

những nước khác nhau hoặc trong những thời đại lịch sử khác nhau của cùng một nước, thì các bạn sẽ thấy rằng bản thân giá trị lao động không phải là một đại lượng cố định mà là một đại lượng khả biến, khả biến ngay cả trong điều kiện giá trị của tất cả hàng hóa khác vẫn không thay đổi

Một sự so sánh giống như vậy cũng sẽ chứng tỏ rằng không

những tỷ suất thị trường của lợi nhuận thay đổi mà cả tỷ suất

trung bình của lợi nhuận cũng thay đổi

Nhưng, đối với lợi nhuận thì không có quy luật nào quy định

mức tối thiểu của nó cả Chúng ta không thể nói giới hạn cuối

cùng mà lợi nhuận sẽ hạ thấp xuống là giới hạn nào Vậy tại sao chúng ta không thể xác định được giới hạn đó? Tại vì tuy chúng

ta có thể xác định mức tiền công tối thiểu, nhưng không thể xác

định mức tiền công tối đa Chúng ta chỉ có thể nói rằng nếu giới hạn của ngày lao động đã cho sẵn thì mức tối đa của lợi nhuận tương ứng với mức tối thiểu về thể xác của tiền công; còn nếu tiền công đã cho sẵn thì mức tối đa của lợi nhuận tương ứng với sự

kéo dài ngày lao động tới mức thể lực của công nhân còn cho phép Vậy, mức tối đa của lợi nhuận bị giới hạn bởi mức tối thiểu

về thể xác của tiền công và mức tối đa về thể xác của ngày lao

động Rõ ràng là giữa hai giới hạn ấy của tỷ suất tối đa của lợi

nhuận có thể có vô số biến thể Mức thực tế của nó chỉ được xác

lập bởi cuộc đấu tranh không ngừng giữa tư bản và lao động: nhà tư bản không ngừng tìm cách hạ thấp tiền công tới mức tối thiểu về thể xác và kéo dài ngày lao động tới mức tối đa về thể xác, còn công nhân thì không ngừng gây sức ép theo hướng ngược lại Vấn đề này rút lại là vấn đề so sánh lực lượng giữa các bên đấu tranh với nhau

2) Còn về việc giới hạn ngày lao động ở Anh, cũng như ở tất cả

các nước khác, thì sự giới hạn đó không bao giờ được quy định

bằng một cách nào khác ngoài sự can thiệp của luật pháp, mà

không có sức ép thường xuyên của công nhân thì không bao giờ có

Trang 6

206 c.mác Tiền công, giá cả và lợi nhuận 207

sự can thiệp ấy Dầu sao, việc giới hạn ngày lao động cũng không

bao giờ có thể đạt được bằng con đường thoả thuận riêng giữa

công nhân và các nhà tư bản Chính sự cần thiết phải có một hành

động chính trị chung ấy chứng tỏ rằng trong những hành động

thuần tuý kinh tế của mình, tư bản là phía mạnh hơn

Còn về giới hạn của giá trị lao động thì sự xác định thực tế

những giới hạn ấy bao giờ cũng phụ thuộc vào cung và cầu Tôi

muốn nói đến cầu của tư bản về lao động và cung của công nhân

về lao động Trong các nước thuộc địa, quy luật cung cầu là có lợi

cho công nhân Điều đó giải thích mức tiền công tương đối cao ở

Mỹ ở đó, tư bản dầu có cố gắng đến đâu chăng nữa thì nó vẫn

không thể ngăn cản thị trường lao động thường xuyên vắng người,

bởi vì những công nhân làm thuê luôn luôn biến thành những

nông dân độc lập tự mình canh tác ruộng đất của mình Đối với

một bộ phận rất lớn trong nhân dân Mỹ, địa vị của công nhân làm

thuê chỉ là một trạng thái tạm thời mà họ tin chắc rằng sớm hay

muộn rồi cũng sẽ rời bỏ được Để sửa chữa tình trạng đó ở các

thuộc địa, Chính phủ Anh, cái chính phủ ân cần như một người

cha, cách đây không lâu đã theo cái mà người ta gọi là lý luận

hiện đại về việc thực dân hoá chủ trương nâng vọt một cách giả

tạo giá cả đất đai ở các thuộc địa nhằm ngăn cản công nhân làm

thuê biến thành nông dân độc lập một cách quá nhanh chóng

Nhưng chúng ta hãy xét đến các nước văn minh lâu đời, ở đó

tư bản thống trị toàn bộ quá trình sản xuất Hãy lấy việc tăng

tiền công của công nhân nông nghiệp ở Anh từ năm 1849 đến năm

1859 làm ví dụ Hậu quả của việc tăng tiền công đó như thế nào?

Những phéc-mi-ê đã không thể như ông bạn Oét-xtơn của chúng

ta khuyên họ, nâng cao giá trị của lúa mì và thậm chí cũng không

thể nâng giá cả thị trường của lúa mì lên được Trái lại, họ phải

đành chịu sự giảm giá trị và giá cả ấy Nhưng trong 11 năm ấy, họ

đã dùng những máy móc đủ các loại, bắt đầu áp dụng những

phương pháp khoa học hơn, biến một phần đất cày cấy được thành

cánh đồng cỏ, tăng quy mô các trang trại, và đồng thời cũng tăng cả quy mô sản xuất; và khi giảm số cầu về lao động nhờ những biện pháp ấy, cũng như nhờ những biện pháp khác làm tăng sức sản xuất của lao động, họ lại làm cho nhân khẩu nông nghiệp trở nên thừa một cách tương đối Nói chung, đó là phương pháp mà tư bản ở trong những nước có dân cư đến ở từ lâu rồi, dùng để phản ứng lại một cách nhanh hay chậm đối với sự tăng lên của tiền công Ri-các-đô nhận xét một cách đúng đắn rằng máy móc luôn luôn cạnh tranh với lao động, và thường chỉ được dùng khi giá cả của lao động đã lên cao tới một mức độ nào đó139; nhưng việc dùng máy móc chỉ là một trong nhiều phương pháp để tăng sức sản xuất của lao động Cùng một quá trình phát triển ấy, một mặt, tạo

ra tình trạng thừa tương đối về lao động đơn giản, và mặt khác, lại đơn giản hoá lao động có chuyên môn cao và do đó làm cho nó giảm giá trị đi

Cũng quy luật ấy lại được thực hiện dưới một hình thức khác Cùng với sự phát triển của sức sản xuất của lao động, tích luỹ tư bản được đẩy nhanh, bất chấp cả mức tiền công tương đối cao Từ

đó, có thể kết luận - như A.Xmít đã làm, vào thời kỳ của ông nền công nghiệp hiện đại còn đang ở trong thời kỳ rất non trẻ, - rằng

sự tích luỹ nhanh chóng của tư bản phải làm nghiêng cán cân về phía công nhân, vì nó đảm bảo một lượng cầu ngày càng tăng về lao động của họ Tán đồng quan điểm ấy, nhiều tác giả hiện đại lấy làm ngạc nhiên khi thấy rằng, mặc dù trong 20 năm vừa qua tư bản Anh đã tăng lên nhanh hơn nhiều so với mức tăng nhân khẩu ở Anh, nhưng tiền công đã tăng lên không nhiều đến như vậy Nhưng cùng một lúc với sự tiến bộ của tích luỹ thì cũng

diễn ra một sự thay đổi ngày càng tăng trong cơ cấu của tư bản

Phần của tổng tư bản gồm có tư bản bất biến - máy móc, nguyên liệu, đủ mọi thứ tư liệu sản xuất, - ngày càng tăng lên nhiều hơn

so với phần kia của tư bản dùng để trả tiền công hay để mua lao

động Quy luật đó đã được Bác-tơn, Ri-các-đô, Xi-xmôn-đi, giáo sư Ri-sớt Giôn-xơ, giáo sư Ram-xây Séc-buy-li-ê và nhiều người khác xác lập ít nhiều chính xác

Trang 7

208 c.mác Tiền công, giá cả và lợi nhuận 209

Nếu tỷ lệ ban đầu giữa hai bộ phận cấu thành ấy của tư bản là

1:1, thì trong quá trình phát triển sau đó của công nghiệp, nó sẽ

trở thành 5:1, v.v Nếu trong tổng tư bản là 600, 300 được bỏ vào

công cụ, nguyên liệu, v.v., và 300 vào tiền công, muốn tạo ra một

lượng cầu là 600 công nhân, chứ không phải là 300, thì chỉ cần

tăng gấp đôi tổng số tư bản là được Nhưng nếu về sau trong một

tư bản là 600, 500 được bỏ vào máy móc, vật liệu, v.v., thì chỉ có

100 là được bỏ vào tiền công, thì sẽ phải tăng tư bản đó từ 600 lên

đến 3 600 mới tạo ra được một lượng cầu là 600 công nhân, chứ

không phải là 300 Vì vậy, trong tiến trình phát triển của công

nghiệp, lượng cầu về lao động không đi đôi với tích luỹ tư bản

Thật ra, lượng cầu đó sẽ tăng lên, nhưng theo một tỷ lệ luôn luôn

giảm xuống so với sự tăng lên của tổng tư bản

Một vài điều nhận xét ấy cũng đủ để chứng tỏ rằng chính sự

phát triển của công nghiệp hiện đại tất phải làm cho cán cân

ngày càng nghiêng về phía tư bản, có hại cho công nhân, rằng do

đó, khuynh hướng chung của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa

không phải là nâng cao mức trung bình của tiền công lên, mà là

hạ thấp mức ấy xuống, nghĩa là trên một mức độ nhiều hay ít hạ

thấp giá trị lao động xuống tới giới hạn tối thiểu Nhưng nếu tình

hình thực tế trong chế độ ấy có khuynh hướng như vậy, thế thì

phải chăng điều đó có nghĩa rằng giai cấp công nhân phải từ bỏ

cuộc đấu tranh chống lại những sự xâm phạm có tính chất ăn cướp

của tư bản và chấm dứt những ý định lợi dụng những cơ hội có

được để cải thiện tạm thời tình cảnh của mình? Nếu họ làm như thế

thì họ đã thoái hoá thành rặt một đám đông những kẻ đói khổ hư

hỏng, không phương cứu chữa Tôi thiết nghĩ là tôi đã chứng minh

rằng cuộc đấu tranh của công nhân để đòi mức tiền công là gắn liền

với toàn bộ chế độ lao động làm thuê, rằng 99 trong 100 trường hợp,

những cố gắng của họ nhằm tăng tiền công chỉ là những cố gắng để

duy trì số tiền hiện trả cho giá trị của lao động, rằng sự cần thiết

phải đấu tranh với các nhà tư bản về giá cả của lao động nằm ở

trong tình cảnh của công nhân, tình cảnh buộc họ phải tự bán mình

như một hàng hóa Nếu công nhân rút lui một cách hèn nhát trong những cuộc xung đột hàng ngày với tư bản thì chắc chắn là họ sẽ mất khả năng mở đầu một phong trào rộng lớn hơn nào đó

Đồng thời, - ngay cả khi hoàn toàn không nói đến sự nô dịch của công nhân một cách phổ biến, gắn liền với chế độ lao động làm thuê, - giai cấp công nhân cũng không nên thổi phồng những kết quả cuối cùng của cuộc đấu tranh hàng ngày ấy Họ không được quên rằng trong cuộc đấu tranh hàng ngày ấy, họ chỉ đấu tranh chống những hậu quả chứ không phải chống những nguyên nhân

đẻ ra những hậu quả đó; rằng họ chỉ kìm hãm sự vận động đi xuống, chứ không thay đổi chiều hướng của sự vận động đó, rằng

họ chỉ dùng những phương thuốc chữa tạm thời, chứ không phải trị khỏi bệnh Vì vậy, họ không được chỉ tự giới hạn trong những cuộc xung đột du kích không tránh được đó, những cuộc xung đột này không ngừng nảy sinh do những sự tấn công không bao giờ ngừng của tư bản hay những sự thay đổi của thị trường Họ phải hiểu rằng với tất cả cái cảnh cùng khổ mà chế độ hiện tại mang

theo nó, chế độ ấy đồng thời cũng tạo ra những điều kiện vật chất

và những hình thái xã hội cần thiết cho sự xây dựng lại xã hội về mặt kinh tế Thay cho khẩu hiệu bảo thủ "Tiền công công bằng

cho một ngày lao động công bằng!", họ phải viết lên lá cờ của

mình khẩu hiệu cách mạng: "Xoá bỏ chế độ lao động làm thuê!"

Sau bản trình bày rất dài và, tôi e rằng rất mệt óc này, mà

Trang 8

210 c.mác 211

tôi buộc phải tiến hành để làm sáng tỏ vấn đề cơ bản đang thảo

luận, tôi xin kết thúc bản báo cáo của mình bằng đề nghị thông

qua nghị quyết sau đây:

1) Việc tăng lên một cách phổ biến của mức tiền công sẽ làm

cho tỷ suất phổ biến của lợi nhuận hạ xuống, nhưng nói chung,

không ảnh hưởng đến giá cả các hàng hóa

2) Xu hướng chung của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa không

phải là nâng cao mà là hạ thấp mức trung bình của tiền công

3) Các hội công liên hoạt động một cách có kết quả với tư cách

là những trung tâm chống lại sự tấn công của tư bản Họ thất bại

một phần là do sử dụng không đúng sức mạnh của mình Còn nói

chung họ thất bại là vì tự hạn chế trong một cuộc chiến đấu du

kích chống những hậu quả của chế độ hiện có, chứ không đồng

thời tìm cách làm thay đổi chế độ ấy, không dùng những lực lượng

có tổ chức của mình làm một đòn bẩy để giải phóng hẳn giai cấp

công nhân, nghĩa là để xoá bỏ hẳn chế độ lao động làm thuê

Ph.Ăng-ghen Giai cấp công nhân có liên quan gì

I Gửi ông tổng biên tập báo "commonwealth"Thưa Ngài,

ở khắp tất cả những nơi nào mà giai cấp công nhân tham gia một cách độc lập vào các phong trào chính trị, thì chính sách đối ngoại của họ ngay từ đầu đã được biểu hiện trong mấy chữ: phục hồi lại nước Ba Lan Tình hình là như vậy đối với phong trào Hiến chương trong suốt thời gian nó tồn tại; tình hình là như vậy đối với công nhân Pháp rất lâu trước năm 1849 và trong năm 1848

đáng ghi nhớ, khi mà ngày 15 tháng Năm họ kéo đến Quốc hội lập hiến với tiếng hô "Vive la Pologne!" - Ba Lan muôn năm!141 Tình hình là như vậy ngay cả ở Đức, nơi mà trong năm 1848 và 1849 các cơ quan báo chí của giai cấp công nhân đòi phải tiến hành chiến tranh với nước Nga để phục hồi lại Ba Lan142 Hiện nay tình hình cũng như vậy, chỉ trừ một ngoại lệ mà dưới đây chúng tôi sẽ nói đến tỉ mỉ hơn Công nhân châu Âu nhất trí tuyên bố việc phục hồi Ba Lan là một bộ phận không thể thiếu được của bản cương lĩnh chính trị của họ, là một yêu sách biểu hiện một cách nổi bật nhất chính sách đối ngoại của họ Giai cấp tư sản thật ra cũng đã và vẫn còn có "cảm tình" với người Ba Lan; nhưng mối cảm tình ấy đ ã kh ông ngăn cản nó bỏ rơi Ba Lan tron g cơn

Trang 9

212 ph.ăng-ghen Giai cấp công nhân có liên quan gì tới ba lan?-I 213

hoạn nạn trong những năm 1831, 1846 và 1863, hơn nữa, đã

không ngăn cản nó, trên lời nói thì bênh vực lợi ích của Ba Lan,

nhưng lại để cho những kẻ thù độc ác nhất của Ba Lan, những con

người thuộc loại như huân tước Pan-mớc-xtơn, trên thực tế là

những kẻ đồng loã của Nga, được tự do hành động Nhưng thái độ

của giai cấp công nhân thì khác Họ muốn sự can thiệp, chứ không

phải sự không can thiệp; họ muốn chiến tranh với Nga vì nước

Nga can thiệp vào công việc của Ba Lan; và họ đã chứng minh

điều đó mỗi lần người Ba Lan đứng lên chống lại những kẻ áp bức

mình Chỉ mới đây thôi, Hội liên hiệp công nhân quốc tế còn biểu

lộ đầy đủ hơn nữa cái tình cảm phổ biến có tính chất bản năng

của giai cấp mà hội là người đại diện, khi ghi lên trên ngọn cờ của

mình: "Chống lại sự đe doạ của Nga đối với châu Âu - phục hồi lại

Ba Lan!"143

Cương lĩnh chính sách đối ngoại ấy của công nhân Tây Âu và

Trung Âu đã được sự nhất trí tán thành của giai cấp mà bản

cương lĩnh ấy đã được gửi đến, trừ một ngoại lệ như đã nói

Trong công nhân Pháp có một thiểu số nhỏ những người theo

trường phái của P.Gi.Pru-đông quá cố Trường phái này in toto1*

khác biệt với đa số công nhân tiên tiến và có suy nghĩ; nó tuyên

bố những công nhân này là những người ngu ngốc dốt nát và

trong phần lớn các vấn đề nó giữ những ý kiến hoàn toàn trái

ngược với ý kiến của họ Đối với chính sách đối ngoại của họ nó

cũng có thái độ như thế Đóng vai các quan toà xử nước Ba Lan

bị áp bức, phái Pru-đông đã tuyên án đất nước này giống như các

viên bồi thẩm ở Xtê-li-brít-giơ: "Thật là đáng đời!" Họ thán phục

Nga là đất nước vĩ đại của tương lai, là cường quốc tiên tiến nhất

trên trái đất, bên cạnh nó một nước không đáng kể như Hợp

chúng quốc thật không đáng được nhắc tới Họ đã buộc tội Hội

đồng Hội liên hiệp công nhân quốc tế là đã vồ lấy nguyên tắc dân

tộc của Bô-na-pác-tơ và tuyên bố nhân dân Nga độ lượng là

đứng ở ngoài ranh giới của châu Âu văn minh, - mà đó là một tội

nặng chống lại các nguyên tắc của nền dân chủ và tình hữu nghị

trên toàn thế giới của tất cả các dân tộc Đó là những lời buộc tội của họ144 Nếu vứt bỏ những câu nói dân chủ của họ đi, thì có thể thấy ngay là họ nhắc lại đúng từng lời từng chữ những gì mà phái bảo thủ cực đoan ở tất cả các nước đã nói về Ba Lan và Nga Những lời buộc tội loại ấy không đáng để bác bỏ; nhưng vì chúng xuất phát từ một bộ phận của giai cấp công nhân, dù đó là một bộ phận nhỏ nhất, cho nên cũng cần phải nghiên cứu vấn đề Ba Lan

- Nga một lần nữa và luận chứng cho cái mà từ nay có thể gọi là chính sách đối ngoại của các công nhân liên hiệp ở châu Âu Nhưng tại sao khi nói đến Ba Lan bao giờ chúng ta cũng chỉ nhắc đến một mình nước Nga? Chẳng lẽ hai cường quốc ở Đức -

nước áo và nước Phổ - đã không tham gia vào việc cướp bóc Ba Lan,

hay sao? Chẳng lẽ họ cũng không kìm giữ một phần của Ba Lan dưới ách nô dịch và không cùng với nước Nga tham gia vào việc đàn

áp mọi phong trào dân tộc Ba Lan, hay sao?

Mọi người đều biết rõ là áo đã kiên trì đòi đứng ngoài vấn đề Ba Lan như thế nào và nó đã chống lại những kế hoạch chia cắt của Nga và Phổ trong một thời gian lâu như thế nào Ba Lan là một bạn

đồng minh tự nhiên của áo chống lại Nga Kể từ khi nước Nga trở thành một lực lượng đáng sợ, thì thật không có gì đáp ứng lợi ích của

áo hơn là việc duy trì Ba Lan nguyên vẹn giữa áo và cái đế chế mới

đang mạnh lên đó Và chỉ đến khi áo thấy rằng số phận của Ba Lan

đã được quyết định rồi, rằng cả hai cường quốc khác,với sự tham gia của nó hay không có sự tham gia của nó, cũng đã quyết định tiêu diệt

Ba Lan, thì chỉ đến lúc đó, vì tinh thần tự vệ, áo mới liên kết với họ

để không bị mất phần trong việc phân chia lãnh thổ Nhưng ngay năm 1815, áo đã ủng hộ việc phục hồi lại nước Ba Lan độc lập; năm

1831 và 1863, áo đã sẵn sàng chiến đấu cho việc đó và từ chối phần của mình ở Ba Lan, với điều kiện là Anh và Pháp đồng ý ủng

hộ mình Trong thời gian cuộc Chiến tranh Crưm tình hình cũng như vậy Tất cả những điều đó được nói lên không phải để biện

Trang 10

214 ph.ăng-ghen Giai cấp công nhân có liên quan gì tới ba lan?-II 215

hộ cho chính sách chung của Chính phủ áo áo thường hay chứng

minh rằng việc áp bức những dân tộc yếu hơn là một thói quen

của các vua chúa áo Nhưng trong vấn đề Ba Lan thì bản năng tự

bảo tồn tỏ ra mạnh hơn lòng thèm khát những đất đai mới hoặc

các thói quen của các vua chúa Vì vậy hiện nay không nên nói

đến nước áo

Còn về nước Phổ thì phần Ba Lan thuộc Phổ quá bé nhỏ để có

thể có một tầm quan trọng lớn Người bạn và người đồng minh

của nó, nước Nga, đã khéo tìm được cách gạt nó ra khỏi chín

phần mười đất đai mà nó đã nhận được trong ba lần phân chia

Nhưng phần ít ỏi còn lại trong tay nó cũng đang đè nặng lên nó

như một cơn ác mộng Phần đó đã buộc Phổ vào chiếc xe chiến

thắng của Nga; vì nó mà Chính phủ Phổ ngay cả trong những

năm 1863 và 1864 đã có thể vi phạm pháp luật mà không bị trở

ngại gì, nó đã có thể xúc phạm đến tự do cá nhân, đến quyền hội

họp và quyền tự do báo chí ở Ba Lan thuộc Phổ, rồi sau đó là ở

tất cả những vùng khác của đất nước; nó đã làm hỏng hoàn toàn

phong trào tự do của giai cấp tư sản, giai cấp vì sợ mất mảnh đất

rộng một vài dặm vuông ở biên giới phía đông mà đã cho phép

chính phủ đặt người Ba Lan ra ngoài vòng pháp luật Công nhân

không những chỉ riêng ở Phổ mà cả ở toàn Đức, hơn tất cả công

nhân một nước nào khác, đã quan tâm đến việc phục hồi Ba Lan

và trong tất cả mọi phong trào cách mạng họ đã chứng tỏ rằng họ

có ý thức về việc đó Phục hồi lại Ba Lan đối với họ có nghĩa là

giải phóng đất nước của chính họ khỏi tình trạng chư hầu lệ

thuộc vào Nga Do đó, chúng tôi cho rằng Phổ cũng không phải là

bị cáo chủ yếu Khi giai cấp công nhân Nga (nếu như ở nước này

có một giai cấp công nhân như thế, theo ý nghĩa mà người ta

hiểu nó ở Tây Âu) sẽ đưa ra một cương lĩnh chính trị và trong

cương lĩnh đó có yêu cầu giải phóng Ba Lan - thì khi đó, và chỉ

khi đó, nước Nga với tư cách là một dân tộc mới không bị chúng

ta nhắc tới nữa, và sẽ chỉ còn có Chính phủ Nga hoàng là bị buộc

tội mà thôi

II Gửi ông tổng biên tập báo "commonwealth" Người ta nói rằng đòi độc lập cho Ba Lan có nghĩa là thừa nhận

"nguyên tắc dân tộc", và nguyên tắc dân tộc là một điều phát minh của Bô-na-pác-tơ được nặn ra để ủng hộ chế độ chuyên chế của Na-pô-lê-ông ở Pháp Vậy thì "nguyên tắc dân tộc" ấy là gì?

Do những hiệp ước năm 1815 biên giới của các nước châu Âu khác nhau chỉ được xác lập theo những đòi hỏi của giới ngoại giao,

và chủ yếu là theo những đòi hỏi của cường quốc mạnh nhất hồi

đó trên lục địa - nước Nga Người ta đã không hề chú ý đến nguyện vọng, lợi ích, cũng như sự khác biệt về dân tộc của dân cư Bằng cách đó, Ba Lan đã bị phân chia, Đức đã bị phân chia, I-ta-li-a

đã bị phân chia, ấy là hoàn toàn chưa kể đến rất nhiều dân tộc nhỏ hơn, sống ở Đông Nam châu Âu mà hồi bấy giờ ít người biết

đến Vì thế, đối với Ba Lan, Đức và I-ta-li-a bước đầu tiên nhất của mọi phong trào chính trị là cố gắng khôi phục lại sự thống nhất dân tộc mà nếu không có thì đời sống dân tộc chỉ là một cái bóng Và khi các nhà hoạt động chính trị cấp tiến - sau cuộc đàn

áp những mưu toan cách mạng ở I-ta-li-a và Tây Ban Nha trong những năm 1821 - 1823 và một lần nữa sau cuộc Cách mạng tháng Bảy năm 1830 ở Pháp - ở phần lớn châu Âu văn minh liên lạc với nhau và cố gắng thảo ra một loại cương lĩnh chung, thì khẩu hiệu chung của họ là giải phóng và thống nhất các dân tộc bị

áp bức và bị chia cắt145 Tình hình cũng như vậy trong năm 1848, khi con số các dân tộc bị áp bức lại tăng thêm một dân tộc nữa, cụ thể là Hung-ga-ri Dĩ nhiên là không thể có hai ý kiến về quyền của mỗi tổ chức quốc gia trong những tổ chức quốc gia lớn ở châu Âu được định đoạt vận mệnh của mình trong tất cả các công việc nội bộ, một cách độc lập với các nước láng giềng của mình, chừng nào việc đó không vi phạm nền tự do của các nước khác Quyền đó quả thực là một trong những điều kiện cơ bản

củ a nền tự do cho tất cả mọi người ở trong nước Liệu nước

Đức, chẳng hạn, có thể vươn tới tự do và thống nhất được chăng nếu như cũng trong thời gian đó nó lại giúp cho áo trực tiếp hoặc

Trang 11

216 ph.ăng-ghen Giai cấp công nhân có liên quan gì tới ba lan?-II 217

thông qua các nước chư hầu của nó, kìm hãm nước I-ta-li-a trong

vòng nô lệ? Vì rằng sự sụp đổ của nền quân chủ áo là điều kiện

đầu tiên của sự thống nhất nước Đức!

Cái quyền được độc lập về chính trị đó của các tổ chức quốc gia

lớn ở châu Âu đã được giới dân chủ châu Âu thừa nhận, lẽ tất

nhiên không thể không nhận được một sự thừa nhận giống như

thế, đặc biệt là của giai cấp công nhân Trên thực tế điều đó chỉ có

nghĩa là thừa nhận rằng các dân tộc lớn khác, rõ ràng là có sức

sống, cũng có đúng những quyền tồn tại độc lập về mặt dân tộc mà

công nhân của mỗi nước riêng biệt đã đòi cho mình Nhưng sự

thừa nhận ấy và mối cảm tình đối với những khát vọng dân tộc chỉ

có đối với các dân tộc lớn và được lịch sử xác định rõ ràng ở châu

Âu; đó là I-ta-li-a, Ba Lan, Đức và Hung-ga-ri, Pháp, Tây Ban

Nha, Anh, các nước ở Xcăng-đi-na-vơ không bị chia cắt mà cũng

không nằm dưới sự thống trị của nước ngoài - chỉ quan tâm đến

vấn đề này một cách gián tiếp; còn về nước Nga thì người ta chỉ

có thể nhắc đến như là người chủ của một số lượng to lớn những

tài sản đã đánh cắp được mà nó sẽ phải trả lại trong ngày thanh

toán

Sau coup d' état1* năm 1851, Lu-i Na-pô-lê-ông, vị hoàng đế

trị vì "nhờ ơn chúa và ý nguyện của nhân dân", buộc phải phát

minh ra một cái tên rất kêu mang vẻ dân chủ và dân gian cho

chính sách đối ngoại của hắn Còn có gì có thể tốt hơn là viết

"nguyên tắc dân tộc" lên trên ngọn cờ của mình? Mỗi dân tộc nhỏ

phải là người chủ của vận mệnh riêng của mình; mỗi bộ phận

biệt lập của một dân tộc nào đó đều được phép nhập vào tổ quốc

lớn của mình - còn gì có thể tự do hơn? Nhưng, xin hãy chú ý, -

giờ đây vấn đề không còn là vấn đề các dân tộc nữa, mà là vấn đề

Đức; và chắc hẳn trong tương lai tình hình đó cũng vẫn còn Một kết quả tự nhiên của sự phát triển lịch sử phức tạp và chậm chạp

mà châu Âu đã trải qua trong thiên niên kỷ gần đây là hầu như mỗi dân tộc lớn đều phải từ giã một vài bộ phận bên ngoài của cơ thể mình đã tách khỏi cuộc sống dân tộc và phần lớn nhập vào cuộc sống dân tộc của một nhân dân khác và không muốn hợp nhất trở lại với cái gốc chính của họ nữa Người Đức ở Thụy Sĩ và An-da-xơ không muốn sáp nhập vào nước Đức, cũng như người Pháp ở Bỉ và Thụy Sĩ không muốn sáp nhập vào nước Pháp về mặt chính trị Và, cuối cùng, việc trong phần lớn các trường hợp, các dân tộc khác nhau, đã hình thành về mặt chính trị, đều thu nhận một số thành phần ngoại lai nào đó, có một điều lợi không nhỏ: những thành phần này hình thành nên cái khâu nối liền với những người láng giềng của họ và đem lại sự đa dạng và tính chất

đồng nhất quá đơn điệu của tính cách dân tộc

Như vậy là ở đây chúng ta thấy sự khác biệt giữa "nguyên tắc

dân tộc" và cái luận điểm lâu đời của giới dân chủ và của giai

cấp công nhân về quyền của các dân tộc lớn ở châu Âu được tồn

tại riêng rẽ và độc lập "Nguyên tắc dân tộc" hoàn toàn không đả

động gì đến vấn đề lớn về quyền tồn tại dân tộc của các dân tộc trong lịch sử ở châu Âu và nếu có đả động đến thì cũng chỉ là để làm cho vấn đề rối rắm thêm Nguyên tắc dân tộc đề ra hai loại vấn đề: một là, các vấn đề về ranh giới giữa những dân tộc lớn này trong lịch sử, và hai là, các vấn đề quyền tồn tại dân

Trang 12

218 ph.ăng-ghen Giai cấp công nhân có liên quan gì tới ba lan?-II 219

tộc độc lập của rất nhiều tàn dư nhỏ của những tộc đã có mặt một

thời gian dài hay ngắn trên vũ đài lịch sử, nhưng sau đó lại biến

thành một bộ phận cấu thành của dân tộc này hay dân tộc khác

mạnh hơn, do có sức sống lớn hơn mà có thể vượt được những trở

ngại lớn hơn ý nghĩa châu Âu của một nhân dân, sức sống của nó,

không là cái gì cả nếu xét theo quan điểm nguyên tắc dân tộc; đối

với nguyên tắc này thì Ru-ma-ni ở Va-la-khi, - những người chưa

bao giờ có một lịch sử, cũng như chưa bao giờ có nghị lực cần thiết

để tạo ra lịch sử đó, - cũng có ý nghĩa giống như người I-ta-li-a

với lịch sử hai nghìn năm của họ và với sức sống dân tộc bền vững

của họ; người Van-li-xi và người dân đảo Mên, nếu họ muốn thì

cũng có quyền tồn tại độc lập về chính trị giống như người Anh,

mặc dù điều đó có phi lý đến đâu chăng nữa146 Tất cả những cái

đó là một điều hết sức phi lý, được khoác cho một bộ áo quần dân

gian để đánh lừa những người cả tin, là một câu nói thuận tiện

mà người ta có thể sử dụng hoặc vứt bỏ đi một khi hoàn cảnh đòi

hỏi

Mặc dầu phát minh ấy có trống rỗng đến đâu chăng nữa, nhưng

muốn nghĩ ra nó thì cũng cần phải có một bộ óc thông minh hơn

bộ óc của Lu-i Na-pô-lê-ông Nguyên tắc dân tộc hoàn toàn không

phải là một phát minh của Bô-na-pác-tơ để phục hồi Ba lan, mà

chỉ là một phát minh của Nga, được bịa ra để thủ tiêu Ba Lan

Như sau này chúng ta sẽ thấy, nước Nga đã nuốt chửng phần lớn

nước Ba Lan cũ với cái lý do là tuân theo nguyên tắc dân tộc Tư

tưởng ấy đã có trên trăm năm nay, và hiện nay Nga thường xuyên

sử dụng nó Chủ nghĩa Đại Xla-vơ là cái gì ngoài việc Nga vận

dụng nguyên tắc dân tộc vì lợi ích của nó, đối với người Xéc-bi,

người Crô-a-xi, người Ru-xin147, người Xlô-va-ki, người Séc - và

những tàn dư khác của các dân tộc Xla-vơ trước đây ở Thổ Nhĩ Kỳ,

Hung-ga-ri và Đức Ngay cả hiện nay Chính phủ Nga cũng đang

phái tay sai đi đến đám người La-plan-đơ ở miền bắc Na Uy và

Thụy Điển để cổ động cho tư tưởng "dân tộc Phần Lan vĩ đại"

trong những người dân du mục man rợ này, dân tộc ấy phải được

phục hồi lại ở miền cực bắc châu Âu - dĩ nhiên là dưới sự bảo

hộ của Nga Tiếng "gào thét tuyệt vọng" của những người dân La-plan-đơ bị áp bức vang lên rất to trên báo chí Nga, nhưng nó không phát ra từ những người du mục bị áp bức, mà là từ những

kẻ tay sai của Nga Thật vậy, bắt những người La-plan-đơ khốn khổ này phải học ngôn ngữ văn minh Na Uy hay Thụy Điển, chứ không tự giới hạn trong thứ ngôn ngữ của e-xki-mô man rợ của

họ, thì đó quả thật là một sự áp bức khủng khiếp Nguyên tắc dân tộc chỉ có thể được phát minh ra thực sự ở Đông Âu, nơi mà những đợt sóng xâm lăng từ châu á, trong suốt một ngàn năm, hết đợt này đến đợt khác, đã để lại trên bờ những đống mảnh vụn hỗn hợp của các dân tộc mà ngay cả hiện nay nhà dân tộc học cũng hầu như không thể phân biệt được, và nơi mà người Thổ Nhĩ Kỳ, người Ma-gi-a Phần Lan, người Ru-ma-ni, người Do Thái và gần một tá bộ tộc Xla-vơ đã pha tạp với nhau một cách hết sức lộn xộn Đó là mảnh đất để đề xuất nguyên tắc dân tộc,

và nước Nga đã đề xuất nó như thế nào thì chúng ta sẽ thấy ngay qua thí dụ Ba Lan

III Học thuyết dân tộc vận dụng vào ba lan

Ba Lan, giống như hầu hết các nước khác ở châu Âu, được cư trú bởi những người thuộc các dân tộc khác nhau Rõ ràng là người Ba Lan chính cống, nói tiếng Ba Lan, hình thành khối đông trong dân cư, hạt nhân chủ yếu của nó Nhưng ngay từ năm 1390, nước Ba Lan chính cống đã bị hợp nhất với đại công quốc Lít-va148; trước lần chia cắt cuối cùng năm 1794, công quốc này là một bộ phận không thể tách rời của nước cộng hoà Ba Lan Đại công quốc Lít-va này được cư trú bởi một số lớn những bộ tộc khác nhau Các tỉnh phía bắc vùng duyên hải Ban-tích thuộc về bản thân những

người Lít-va, một dân tộc nói một thứ tiếng khác với thứ tiếng

Trang 13

220 ph.ăng-ghen Giai cấp công nhân có liên quan gì tới ba lan?-III 221

của người Xla-vơ láng giềng Những người Lít-va ấy phần lớn bị

những người dân di cư Đức chinh phục; những người này đến lượt

mình khó khăn lắm mới tự bảo vệ được mình chống lại các đại

công tước Lít-va Hơn nữa ở miền Nam và miền Đông của Vương

quốc Ba Lan hiện nay là người Bạch Nga, nói một thứ tiếng trung

gian giữa tiếng Ba Lan và tiếng Nga, nhưng gần với tiếng Nga

hơn; và cuối cùng, các tỉnh miền Nam được cư trú bởi những người

gọi là Tiểu Nga, mà ngôn ngữ hiện nay được đa số những học giả

có uy tín coi là hoàn toàn khác với ngôn ngữ Đại Nga (mà chúng

ta thường gọi là tiếng Nga) Vì vậy, khi có những người nói rằng

đòi phục hồi Ba Lan có nghĩa là kêu gọi đến nguyên tắc dân tộc,

thì điều đó chỉ chứng minh rằng họ không biết họ nói gì, bởi vì

phục hồi lại Ba Lan có nghĩa là phục hồi một quốc gia bao gồm ít

nhất là bốn dân tộc khác nhau

Nhưng vào thời kỳ quốc gia Ba Lan cổ được thành lập bằng cách

hợp nhất với Lít-va, thì nước Nga ra sao? Lúc ấy nước Nga đang

nằm dưới gót chân của quân Mông Cổ xâm lược mà 150 năm trước

đó người Ba Lan và người Đức, bằng những nỗ lực chung, đã đuổi

lùi về phía đông, bên kia sông Đni-e-prơ Chỉ sau một cuộc chiến

đấu lâu dài, cuối cùng các đại công tước Mát-xcơ-va mới vứt bỏ

được ách Mông Cổ và bắt tay vào việc hợp nhất rất nhiều công quốc

khác nhau của Đại Nga thành một quốc gia thống nhất Nhưng

thắng lợi này hình như chỉ làm tăng thêm lòng háo danh của họ

Công-xtăng-ti-nô-plơ vừa rơi vào tay Thổ Nhĩ Kỳ thì đại công tước

Mát-xcơ-va đã vẽ con đại bàng hai đầu của các hoàng đế Bi-dăng-xơ

vào quốc huy của mình và bằng cách đó tự tuyên bố mình là người

kế tục các hoàng đế Bi-dăng-xơ và người phục thù cho họ trong tương

lai Từ đó, như mọi người đều biết, người Nga đã cố chiếm

Xa-rơ-grát, thành phố của hoàng đế Nga, như họ gọi

Công-xtăng-ti-nô-plơ theo ngôn ngữ của họ Sau đó những đồng bằng phì nhiêu của

Tiểu Nga đã kích thích lòng thèm khát thôn tính của họ; nhưng

người Ba Lan bao giờ cũng là những người dũng cảm, và vào hồi đó

cũng là một dân tộc mạnh, không những biết tự bảo vệ đất nước

mình mà đến lượt mình còn biết tấn công những nước khác: đầu

thế kỷ XVII thậm chí họ đã chiếm đóng Mát-xcơ-va trong một số năm149

Sự đồi bại dần dần về đạo đức của giai cấp quý tộc thống trị, việc thiếu sức mạnh để phát triển giai cấp tư sản và những cuộc chiến tranh thường xuyên tàn phá đất nước, cuối cùng đã phá vỡ sức mạnh của Ba Lan Một đất nước vẫn khăng khăng duy trì nguyên vẹn chế độ xã hội phong kiến trong khi tất cả các nước láng giềng của nó đã tiến lên, đã hình thành giai cấp tư sản, đã phát triển thương nghiệp và công nghiệp và dựng lên những thành phố lớn - một đất nước như vậy không thể tránh khỏi bị suy tàn

Giai cấp quý tộc đã thật sự đẩy Ba Lan đến chỗ suy tàn, đến chỗ

suy tàn hẳn Và trong khi đẩy đất nước tới tình trạng ấy, bọn quý tộc bắt đầu đổ lỗi cho nhau và tự bán mình và bán đất nước mình cho người nước ngoài Lịch sử Ba Lan từ năm 1700 đến năm 1772 chẳng qua chỉ là một biên niên sử của việc Nga tiếm quyền thống trị ở Ba Lan, sở dĩ thực hiện được là do tính vụ lợi của giới quý tộc Binh lính Nga hầu như thường xuyên chiếm giữ đất nước này

và các vua Ba Lan, ngay cả khi bản thân không muốn làm người phản bội, vẫn ngày càng trở thành một thứ đồ chơi trong tay sứ thần Nga Trò chơi này được tiến hành một cách rất có kết quả và kéo dài lâu đến mức là, cuối cùng, khi Ba Lan bị tiêu diệt, thì khắp châu Âu đã không vang lên một lời phản kháng nào, và tất cả chỉ tỏ ra ngạc nhiên là làm sao Nga lại có thể hào hiệp đến mức nhường lại một đất đai lớn như vậy cho áo và Phổ

Phương pháp tiến hành việc phân chia ấy đáng được quan tâm

đặc biệt Hồi đó ở châu Âu đã có một "công luận" khai sáng Mặc dầu báo "Times"150 hồi đó còn chưa bắt tay vào việc chế tạo ra thứ hàng đó, nhưng cái loại công luận ấy, do ảnh hưởng to lớn của

Đi-đơ-rô, Vôn-te, Rút-xô và các nhà văn Pháp khác của thế kỷ XVIII tạo ra, cũng đã tồn tại rồi Nga bao giờ cũng biết việc cố tranh thủ công luận đứng về phía mình là quan trọng như thế nào, và nó đã không bỏ lỡ cơ hội để có được công luận ấy Triều

đình Ê-ca-tê-ri-na II trở thành bản doanh của phái khai sáng

Trang 14

222 ph.ăng-ghen Giai cấp công nhân có liên quan gì tới ba lan?-III 223

thời đó, đặc biệt là người Pháp; nữ hoàng và triều đình của bà ta

đã theo những nguyên tắc khai sáng nhất, và họ đã đánh lừa được

công luận đến mức Vôn-te và nhiều người khác đã ca ngợi "nữ

hoàng Xê-mi-ra-mít phương Bắc" ấy và đã tuyên bố nước Nga là

đất nước tiến bộ nhất trên thế giới, là tổ quốc của các nguyên tắc

của phái tự do, là người bảo vệ sự khoan dung về tôn giáo

Sự khoan dung về tôn giáo - đó là một từ không đủ để đánh

gục Ba Lan Ba Lan bao giờ cũng cực kỳ tự do trong các vấn đề

tôn giáo; bằng chứng về điều đó là việc người Do Thái đã tìm

được nơi trú thân tại đây trong khi ở khắp các nước khác của

châu Âu họ đều bị truy nã Phần lớn dân cư ở các tỉnh phía đông

thuộc về đạo Chính thống, còn người Ba Lan chính cống thì theo

đạo Thiên chúa Một bộ phận đáng kể của những người theo đạo

Chính thống trong thế kỷ XVI đã bị buộc phải công nhận quyền

lực tối cao của giáo hoàng; người ta bắt đầu gọi họ là giáo phái

liên hợp, nhưng nhiều người trong bọn họ vẫn duy trì sự trung

thành về mọi mặt đối với tôn giáo Chính thống trước kia của họ

Đó chủ yếu là những nông nô, trong khi các ông chủ quý tộc của

họ thì hầu hết là những người theo đạo Thiên chúa; về dân tộc

những nông nô này là những người Tiểu Nga Và thế là Chính

phủ Nga, một chính phủ không dung thứ ở trong nước mình một

tôn giáo nào khác ngoài đạo Chính thống và trừng trị việc phản

đạo như là một tội phạm, một chính phủ đi chinh phục những

nước khác, sáp nhập những tỉnh của những nước khác ở bên phải

và bên trái, và đồng thời ràng buộc chặt hơn nữa người nông nô

Nga - chính cái Chính phủ Nga đó chẳng bao lâu đã tấn công Ba

Lan nhân danh sự khoan dung về tôn giáo, bởi vì hình như Ba

Lan o ép những người theo đạo Chính thống; nhân danh nguyên

tắc dân tộc, bởi vì dân cư các tỉnh phía đông là người Tiểu Nga

và vì thế cần phải sáp nhập họ vào Đại Nga; và nhân danh quyền

cách mạng - bằng cách vũ trang những người nông nô chống lại

lãnh chúa của họ Nước Nga hoàn toàn không câu nệ trong việc

lựa chọn những thủ đoạn của mình Người ta nói đến cuộc chiến

tranh giữa giai cấp với giai cấp như là một cái gì cực kỳ cách

mạng; nhưng nước Nga đã mở đầu một cuộc chiến tranh như vậy

ở Ba Lan cách đây khoảng 100 năm rồi, và đó là một mẫu mực tuyệt vời về chiến tranh giai cấp, khi mà quân lính Nga và những nông nô Tiểu Nga cùng nhau đi đốt cháy các lâu đài của quý tộc

Ba Lan, chỉ là để chuẩn bị cho việc thôn tính của Nga; còn khi việc thôn tính được thực hiện thì cũng chính những quân lính Nga

ấy lại đẩy nông nô quay trở lại dưới cái ách của lãnh chúa của họ Tất cả những điều đó đã được thực hiện nhân danh sự khoan dung về tôn giáo, bởi vì hồi bấy giờ nguyên tắc dân tộc chưa trở thành một mốt ở Tây Âu Nhưng hồi bấy giờ người ta đã hoa nó lên trước mắt những nông dân Tiểu Nga và từ đó nó đã đóng một vai trò quan trọng trong công việc của Ba Lan Tham vọng đầu tiên và chủ yếu của Nga là hợp nhất tất cả các bộ tộc Nga lại dưới quyền của hoàng đế Nga, người tự xưng là ông vua chuyên chế của toàn nước Nga (Samodergetz vseckh Rossyiskikh), trong đó có cả Bạch Nga và Tiểu Nga Và để chứng thực rằng những tham vọng của nó không đi xa hơn điều đó, trong ba lần chia cắt, nó chỉ chăm

lo một cách chu đáo đến việc sáp nhập vào mình các tỉnh Bạch Nga và Tiểu Nga, và bỏ lại cho các nước đồng loã vùng đất do người Ba Lan cư trú, và thậm chí cả một phần Tiểu Nga (Đông Ga-li-xi-a) nữa Nhưng hiện nay vấn đề ra sao? Phần lớn các tỉnh

do áo và Phổ thôn tính năm 1793 và 1794 hiện nay được đặt dưới

sự thống trị của Nga dưới cái tên gọi Vương quốc Ba Lan, và thỉnh thoảng người ta lại gieo vào lòng những người Ba Lan những hy vọng rằng nếu họ chịu thuần phục uy quyền tối cao của Nga và từ

bỏ mọi yêu sách đối với các tỉnh Lít-va cũ, thì họ có thể mong chờ

sự hợp nhất tất cả các tỉnh Ba Lan khác và sự phục hồi lại Ba Lan với một hoàng đế Nga làm vua Nếu trong tình hình hiện nay, Phổ và áo sẽ bắt đầu ẩu đả nhau thì điều hết sức chắc chắn

là, rốt cuộc, đó là một cuộc chiến tranh không phải để sáp nhập Slê-dơ-vích - Hôn-stai-nơ vào Phổ, hay sáp nhập vào áo, mà nói cho đúng ra là để sáp nhập cái phần đất Ba Lan thuộc áo, và chí

ít là cái phần đất Ba Lan thuộc Phổ, vào nước Nga

Trang 15

đối xử cực kỳ thô bạo đối với công nhân trong ngành công nghiệp này Các quản đốc mưu toan phá hoại kế hoạch này bằng cách tuyển một thợ phụ, chủ yếu là ở Bỉ, Pháp và Thụy Sĩ Đáp lại sự việc đó, các bí thư của Hội đồng trung ương Hội liên hiệp công nhân quốc tế đã cho đăng trên các báo Bỉ, Pháp và Thụy Sĩ một lời báo trước và lời báo trước này đã thành công hoàn toàn153 Thủ đoạn của các quản đốc ở Luân Đôn đã bị đập tan, họ phải hạ vũ khí và thoả mãn những yêu sách chính đáng của công nhân của họ Sau khi bị thất bại ở Anh, các quản đốc giờ đây lại mưu toan tổ chức cuộc phản kích, và đã bắt đầu cuộc phản kích đó từ Xcốt-len Chính do các sự kiện ở Luân Đôn, nên cả ở Ê-đin-bớc nữa thoạt

đầu họ cũng buộc phải đồng ý tăng 15% tiền công Nhưng họ bí mật cử người sang Đức tuyển mộ thợ phụ, đặc biệt là ở các thôn quê ở Han-nô-vơ và Mếch-clen-buốc để đưa sang Ê-đin-bớc Nhóm thợ phụ đầu tiên đã được đưa sang bằng đường thuỷ Việc nhập khẩu nhân công này cũng nhằm một mục đích giống như việc nhập coolies (cu-li) người ấn Độ1*

vào Gia-mai-ca là duy trì

_

Trang 16

226 ph.ăng-ghen

vĩnh viễn chế độ nô lệ Nếu các quản đốc ở Ê-đin-bớc xoá bỏ được

những nhượng bộ của họ bằng cách nhập khẩu sức lao động từ

Đức thì điều đó sẽ không tránh khỏi ảnh hưởng đến nước Anh Và

sẽ không có ai bị thiệt hại vì biện pháp đó nhiều hơn là chính bản

thân các công nhân Đức vì ở Anh công nhân Đức có số lượng đông

hơn công nhân thuộc tất cả các dân tộc khác trên lụa địa Và vì

hoàn toàn bất lực ở nước ngoài, những công nhân mới được nhập

khẩu chẳng bao lâu sẽ sa vào tình cảnh những người cùng khổ

Ngoài ra, đây là một vấn đề danh dự đối với công nhân Đức:

chứng minh cho các nước ngoài thấy rằng giống như những người

anh em của họ ở Pháp, Bỉ và Thụy Sĩ, công nhân Đức biết bảo vệ

những lợi ích chung của giai cấp mình và không đồng ý trở thành

những tên lính đánh thuê ngoan ngoãn của tư bản trong cuộc đấu

tranh của tư bản chống lao động

Theo uỷ nhiệm của Hội đồng trung ương1*

Hội liên hiệp công nhân quốc tế

Các Mác

Luân Đôn, ngày 4 tháng Năm 1866

Những thợ phụ nghề may Đức nào muốn biết tin cặn kẽ hơn

về tình hình ở Anh thì đề nghị gửi thư cho Ban chấp hành phân

hội Đức của công đoàn thợ may Luân Đôn theo địa chỉ: gửi ông

An-bớc Ph.Hau-phơ, Crao-nơ-pa-blíc-hao-sơ, Hét-đlen-coóc-tơ,

Do Ph.Ăng-ghen viết trong khoảng từ 19 tháng Sáu đến 5 tháng Bảy 1866

Đã đăng trên báo "The Manchester Guardian" các số 6190, 6194, 6197, 6201 và 6204; ngày 20, 25 và 28 tháng Sáu, 3 và 6 tháng Bảy 1866

In theo bản đăng trên báo Nguyên văn là tiếng Anh

Trang 17

229

I

Mục đích của những bài tiểu luận sau đây là phân tích một cách không thiên vị trên quan điểm thuần tuý quân sự tình hình chiến sự hiện nay và xác định trong chừng mực có thể xác định

được ảnh hưởng của nó đến tiến trình diễn biến tiếp theo của chiến tranh

Khu vực phải xảy ra những trận quyết chiến đầu tiên là biên giới Dắc-den và Bô-hêm; chừng nào khu tứ giác155 còn chưa bị mất thì cuộc chiến tranh ở I-ta-li-a vị tất đã có thể dẫn đến những kết quả nghiêm trọng, nhưng muốn chiếm được nó tất phải mở một chiến dịch khá lâu dài Có thể là không ít cuộc xung đột quân sự

sẽ xảy ra ở miền Tây nước Đức, song nếu xét số quân các đơn vị

đang tham chiến ở đó thì kết quả những cuộc xung đột này chỉ có một ý nghĩa thứ yếu so với những sự kiện ở biên giới Bô-hêm Vì vậy trong lúc này chúng ta chỉ chú ý đến khu vực này thôi Muốn xác định so sánh quân số lực lượng giữa các quân đội

đang tham chiến, thì để đạt được các mục đích của chúng ta, chúng ta chỉ tính toán đến bộ binh là đủ, song nên lưu ý là số quân kỵ binh áo so với số quân kỵ binh Phổ là 3 triệu 2 Còn về pháo binh thì tương quan của cả hai quân đội cũng gần giống như tương quan trong lĩnh vực bộ binh, cứ một nghìn người thì có khoảng ba khẩu đại bác

Bộ binh Phổ gồm có 253 tiểu đoàn chính quy, 83ẵ tiểu đoàn huấn luyện dự bị và 116 tiểu đoàn lan-ve (đợt nhập ngũ thứ nhất gồm những người đàn ông từ 27 đến 32 tuổi) Trong số đó, các tiểu

đoàn huấn luyện dự bị và lan-ve đồn trú các cứ điểm và ngoài

Trang 18

230 ph.ăng-ghen Tiểu luận về chiến tranh ở đức - I 231

việc đó ra còn được sử dụng để tiến hành các hoạt động chống các

quốc gia nhỏ ở Đức, còn các đơn vị chính quy thì tập trung ở

Dắc-den và vùng phụ cận để chống quân đội Bắc áo Nếu trừ đi

khoảng 15 tiểu đoàn đang đóng giữ Slê-dơ-vích - Hôn-stai-nơ và

15 tiểu đoàn khác trước đây đồn trú ở Ra-stát, Ma-in-xơ và

Phran-phuốc, nhưng hiện nay đang tập trung ở Vét-xla, thì quân

chủ lực còn khoảng 220 tiểu đoàn Kể cả kỵ binh, pháo binh và

những đơn vị lan-ve có thể được điều từ các cứ điểm lân cận về,

quân đội này sẽ có khoảng 300 000 người được biên chế thành 9

quân đoàn

Quân đội Bắc áo có 7 quân đoàn, mỗi quân đoàn có số quân

nhiều hơn hẳn một quân đoàn Phổ Hiện nay chúng tôi rất ít biết

về thành phần và tổ chức của chúng, song chúng tôi có đủ bằng

cứ để dự tính rằng các quân đoàn này họp thành một đội quân

320 000 đến 350 000 người Như vậy hiển nhiên quân áo chiếm ưu

thế về số quân

Quân đội Phổ sẽ được đặt dưới sự chỉ huy tối cao của nhà vua1*,

một người hùng trong các cuộc duyệt binh giỏi lắm cũng chỉ có

những năng lực tầm thường và một tính khí nhu nhược nhưng

khá bướng bỉnh Xung quanh nhà vua sẽ có, thứ nhất, bộ tổng

tham mưu quân đội đứng đầu là tướng Môn-tơ-kê, một sĩ quan

ưu tú; thứ hai, "viện cơ mật quân sự" gồm các sủng thần của nhà

vua và thứ ba, các sĩ quan cao cấp không có một chức vụ nhất

định nào nhưng lại được nhà vua ưng sung vào đoàn tuỳ tùng

của mình Không thể tìm ra được cách nào hữu hiệu hơn cách đó

để làm cho quân đội bại trận do chính việc tổ chức sự chỉ huy của

nó Dĩ nhiên là ở đây ngay từ đầu đã xảy ra sự cạnh tranh tự

nhiên giữa bộ tham mưu quân đội và viện cơ mật quân sự của

nhà vua, hơn nữa mỗi bên đều cố giành lấy phần ưu thắng, họ

đều nghĩ ra và bảo vệ những kế hoạch tác chiến mà họ lựa chọn

Chỉ riêng điều đó thôi cũng hầu như đã loại trừ mọi khả năng

thống nhất mục tiêu và sự nhất trí trong hành động Kế

_

đó là những lời tư vấn vô tận về quân sự, những lời tư vấn không thể tránh được trong những tình huống như vậy và trong mười trường hợp đã có chín trường hợp kết thúc bằng việc thông qua một biện pháp nửa vời, mà trong chiến tranh thì không thể có gì tồi tệ hơn thế nữa Trong những trường hợp như vậy, các mệnh lệnh của ngày hôm nay thường mâu thuẫn với mệnh lệnh ngày hôm qua và khi tình hình trở nên phức tạp hoặc nguy hiểm thì nói chung không có mệnh lệnh nào được đưa ra cả và sự việc bị

bỏ mặc muốn ra sao thì ra "Ordre, contre-ordre, désordre"1* Na-pô-lê-ông vẫn thích nói như vậy Không ai phải chịu trách nhiệm nào hết vì chính nhà vua vô trách nhiệm kia đã nhận tất cả trách nhiệm về mình và vì không có chỉ thị trực tiếp thì không

ai làm gì cả Chiến dịch năm 1806 do người cha của nhà vua hiện nay2* tiến hành cũng theo cách đó đã dẫn đến những cuộc bại trận ở I-ê-na và Au-éc-stết và toàn bộ quân đội Phổ đã bị đánh tan trong vòng ba tuần lễ156 Không có bằng cứ nào để cho rằng nhà vua hiện nay cương nghị hơn người cha của ông ta; và nếu nhà vua coi bá tước Bi-xmác là một người mà ông ta có thể nhắm mắt tin theo trong lĩnh vực chính trị thì trong quân đội không có người đủ tài cao có thể đảm đương được như vậy tất cả trọng trách lãnh đạo quân sự

Quân đội áo đặt dưới quyền chỉ huy của một người là tướng Bê-nê-đếch, một tướng lĩnh từng trải ít ra cũng biết mình muốn gì Ưu thế về mặt tổng chỉ huy thuộc hẳn về phía quân áo Quân đội Phổ được phân thành hai "đạo quân": đạo thứ nhất

đặt dưới quyền chỉ huy của hoàng thân Phri-đrích - Các-lơ, gồm các quân đoàn 1, 2, 3, 4, 7 và 8; đạo thứ hai do thái tử3* chỉ huy gồm các quân đoàn 5 và 6 Vệ binh là lực lượng tổng dự bị rất có thể sẽ được nhập vào đạo quân thứ nhất Nhưn g cách tổ chức như vậy chẳn g nhữn g p h á hoại sự thống n hất chỉ hu y:

nó còn rất thường hay làm cho hai đạo quân vận động theo hai

_

1* - "Mệnh lệnh, phản mệnh lệnh, hỗn loạn"

2* Phri-đrích Vin-hem III

Trang 19

232 ph.ăng-ghen Tiểu luận về chiến tranh ở đức - I 233

hướng tác chiến khác nhau, khiến chúng phải bàn với nhau trong

việc chuyển quân đặt các điểm hội quân trong địa bàn hoạt động

của quân địch, nói một cách khác là nó thúc đẩy mỗi đạo quân

hành động riêng rẽ trong lúc lẽ ra chúng cần phải hết sức cùng

nhau hành động Trong những tình huống rất giống nhau người

Phổ năm 1806 và người áo năm 1859 đã hành động theo cách

như vậy và đã bị đánh tan157 Về hai vị tư lệnh thì người ta chưa

rõ thái tử có tài chỉ huy quân sự ra sao, ai biết tiếng, còn hoàng

thân Phri-đrích - Các-lơ thì hoàn toàn không tỏ ra là một thống

tướng lỗi lạc trong chiến tranh Đan Mạch158

Quân đội áo không bị phân ra như vậy; các cấp chỉ huy quân

đoàn đều trực thuộc tướng Bê-nê-đếch Như vậy về phương diện

tổ chức quân đội người áo cũng hơn hẳn đối phương

Các binh sĩ Phổ, đặc biệt là quân dự bị và lính lan-ve bị gọi

nhập ngũ để bổ sung cho quân chính quy (việc này cần rất nhiều

người), phải ra trận một cách miễn cưỡng, ngược lại quân áo từ

lâu đã rất mong muốn chiến tranh với Phổ và nóng lòng chờ lệnh

ra quân Nhờ vậy về trạng thái tinh thần của quân đội, quân áo

cũng chiếm ưu thế

Suốt 50 năm nước Phổ không tiến hành một cuộc chiến tranh

lớn nào; nói chung quân đội Phổ là quân đội thời bình mang nặng

tệ thông thái rởm và hình thức mà quân đội thời bình nào cũng

mắc phải Không nghi ngờ gì hết, trong thời gian gần đây, đặc biệt

là từ năm 1859, người ta đã thi hành nhiều biện pháp để thoát

khỏi tình trạng này; song những thói quen đã có từ bốn mươi năm

không dễ dàng gì gột bỏ hết; và người ta còn gặp khá nhiều sĩ

quan thông thái rởm mà bất tài, đặc biệt là ở những chức vụ tối

quan trọng, cụ thể là trong các sĩ quan chỉ huy cao cấp Còn quân

áo thì đã hoàn toàn chữa khỏi căn bệnh đó nhờ cuộc chiến tranh

năm 1859 và đã vận dụng tốt kinh nghiệm mà họ đã phải trả giá

rất đắt mới có được Rõ ràng là về mặt các khâu tổ chức, trình độ

thành thạo và kinh nghiệm, quân áo cũng hơn quân Phổ

Nếu không kể quân đội Nga thì chỉ có quân đội Phổ dùng đội

hình dọc hình chữ nhật dày đặc làm đội hình chiến đấu thông thường của mình Ta hãy tưởng tượng tám đại đội của một tiểu

đoàn quân Anh xếp thành đội hình dọc dày đặc, ở chính diện không phải một mà hai đại đội, sao cho có 4 đại đội ở chiều dọc và hai ở chiều ngang, ta sẽ có một "đội hình tấn công của Phổ" Không thể hình dung ra mục tiêu bắn nào tốt hơn thế cho pháo nòng có rãnh, và vì cách 2000 i-ác đại bác nòng có rãnh đã có thể nhả đạn vào đội hình đó, nên với một đội hình được tổ chức như vậy nói chung hầu như không thể nào áp sát được đối phương Nếu có chỉ một quả đạn thôi nổ giữa đội hình thì ngày hôm ấy tiểu

đoàn khó mà chiến đấu được

Người áo áp dụng trong quân đội mình kiểu đội hình chia nhỏ mỏng của người Pháp, mà người ta thậm chí chưa chắc có thể gọi

là đội hình dọc; nói cho đúng ra nó có hai hoặc ba hàng ngang, hàng này sau hàng kia cách nhau 20 - 30 i-ác; đội hình như thế bị hoả lực pháo binh sát thương hầu như cũng ít như đội hình ngang trải rộng Và như vậy ưu thế về đội hình chiến đấu lại thuộc về phía người áo

Quân Phổ chỉ có hai yếu tố để chống lại những ưu thế đó, ngành hậu cần của họ tốt hơn một cách rõ ràng, vì vậy việc cung cấp cho quân đội của họ cũng sẽ tốt hơn Ngành hậu cần áo - cũng như trong toàn bộ ngành hành chính áo - là hang ổ của bọn ăn hối lộ và bọn biển thủ công quỹ và ngành này của áo vị tất đã khá hơn ngành hậu cần quân Nga Có tin cho biết ngay hiện nay quân

đội cũng vẫn chỉ được cung cấp rất kém và thất thường; ngoài mặt trận và ở các cứ điểm tình hình còn xấu hơn và như vậy bộ máy hành chính áo có thể là kẻ thù của các cứ điểm của khu cứ điểm hình tứ giác còn nguy hiểm hơn là pháo binh I-ta-li-a

Ưu thế thứ hai của quân Phổ là vũ khí của họ tốt hơn Tuy pháo binh sử dụng pháo nòng có rãnh của Phổ giỏi hơn nhiều so với pháo binh áo, nhưng ngoài mặt trận trống trải ưu thế này không đóng một vai trò lớn lao Tầm xa, đường đạn và độ chính

Trang 20

234 ph.ăng-ghen Tiểu luận về chiến tranh ở đức - II 235

xác của súng nòng có rãnh Phổ và áo gần như nhau, nhưng súng

của Phổ được nạp đạn vào ổ đạn nên từ hàng ngũ của mình họ có

thể bắn liên tục và chính xác, chí ít là bốn phát trong một phút

Ưu thế to lớn đó của loại vũ khí này đã được chứng minh trong

chiến tranh Đan Mạch và hiển nhiên là người áo sẽ bị nó sát

thương với mức độ lớn hơn nhiều Nếu binh sĩ áo theo đúng các

điều lệnh mà Bê-nê-đếch đã ra lệnh cho họ như người ta nói,

chuyển sang đánh giáp lá cà mà không bắn phá lâu thì họ sẽ bị

thiệt hại lớn Trong chiến tranh Đan Mạch thiệt hại của quân Phổ

không lần nào cao hơn một phần tư, mà đôi khi chỉ bằng một phần

mười thiệt hại của quân Đan Mạch; và như một phóng viên quân

sự của báo "Times", mới đây đã nhận xét hoàn toàn đúng, hầu như

ở khắp nơi quân Đan Mạch đều bại trận, tuy rằng ưu thế về quân

số trên chiến trường ở về phía họ159

Dù sao đi nữa mặc dù có vũ khí có kim hoả, ưu thế vẫn không ở

về phía quân Phổ Và nếu họ không muốn bại trận ngay trong

trận đánh lớn đầu tiên vì những ưu thế của người áo về các mặt

chỉ huy tổ chức, đội hình chiến đấu và tình trạng tinh thần, cũng

như vì - điều này không kém phần quan trọng - những người chỉ

huy của họ, thì nhất định họ phải tỏ rõ lòng dũng cảm hoàn toàn

khác với lòng dũng cảm mà người ta có thể mong đợi ở một quân

đội suốt 50 năm sống trong cảnh hoà bình

II

Công chúng bắt đầu tỏ ra sốt ruột về tình trạng án binh bất

động của hai quân đội lớn ở biên giới Bô-hêm Nhưng sự trì hoãn này do nhiều nguyên nhân Cả quân áo và quân Phổ đều nhận thức rõ tầm quan trọng của cuộc xung đột sắp xảy ra, vì cuộc xung

đột này có thể sẽ quyết định kết cục của toàn bộ chiến dịch Và cả hai đều vội vã điều ra mặt trận tất cả những gì họ có thể điều

được: quân áo điều ra một phần các đơn vị mới thành lập (tiểu

đoàn thứ tư và thứ năm của các trung đoàn bộ binh), quân Phổ

điều ra một phần các đơn vị lan-ve mà lúc đầu chỉ dùng để làm nhiệm vụ đồn trú

Trong thời gian đó chắc chắn là cả hai bên đều cố gắng tiến hành cuộc chuyển quân để tạo cho mình một tình huống có lợi thế hơn đối phương và mở đầu chiến dịch trong những điều kiện chiến lược thuận lợi nhất cho mình Muốn hiểu rõ điều đó, chúng ta hãy nhìn lên bản đồ và xem xét khu vực bố trí của hai quân đội Nếu lưu ý rằng Béc-lin và Viên là hai địa điểm tự nhiên để mỗi quân đội rút quân về và vì thế quân áo sẽ cố chiếm Béc-lin, còn quân Phổ thì cố chiếm Viên, ta sẽ thấy hoạt động của hai bên có thể xảy ra theo ba hướng Một đội quân lớn đòi hỏi phải có một địa bàn rộng có thể bảo đảm các nguồn cho nó tồn tại trong suốt cuộc hành quân; đồng thời sự cần thiết phải cơ động nhanh buộc đội quân như thế phải hành quân thành nhiều đoàn theo số lượng dường như song song tương ứng; do đó chiều rộng mặt trận của nó tăng lên và có thể xê dịch ở trong khoảng từ 60 đến 16 dặm tuỳ thuộc vào mức độ tiếp cận quân địch và khoảng cách giữa các

đường, cần lưu ý đến điểm này

Trang 21

236 ph.ăng-ghen Tiểu luận về chiến tranh ở đức - II 237

Hướng thứ nhất chạy dọc theo tả ngạn sông En-bơ và Môn-đa-va,

qua Lai-pxích và Pra-ha Hiển nhiên là trên đường này mỗi bên

tham chiến đều phải hai lần vượt sông và lần thứ hai tiến hành

dưới tầm mắt quân địch Nếu một quân đội đi theo đường này cố

vu hồi bọc sườn đối phương, còn quân đội kia hành quân theo một

đường thẳng hơn và do đó ngắn hơn sẽ có thể vượt quân đội vu hồi

ngay từ tuyến sông và nếu đội quân này đánh tan được đội quân

vu hồi thì nó sẽ tiến thẳng đến thủ đô quân địch Con đường này

bất lợi cho cả hai bên như nhau và vì thế chúng ta có thể không

quan tâm đến nó

Hướng thứ hai chạy dọc theo hữu ngạn sông En-bơ ở giữa sông

và dãy núi Xu-đét ngăn cách vùng Xi-lê-di với Bô-hêm và

Mô-ra-vi Con đường này hầu như trùng với đường thẳng Béc-lin - Viên;

đường sắt từ Lôi-bai đi Pác-đu-bi-xơ chạy ngang qua khu vực

hiện nằm giữa hai đội quân Con đường sắt này xuyên qua một

khu vực của Bô-hêm do sông En-bơ chắn phía tây và nam, còn

núi chắn phía đông - bắc Trong khu vực này có nhiều đường tốt

và nếu cả hai quân đội tiến thẳng vào nhau thì xung đột sẽ xảy

ra chính ở đây

Hướng thứ ba đi qua vùng Brê-xláp sau đó đi qua dãy Xu-đét

Dãy núi này không cao lắm ở biên giới Mô-ra-vi, tại đây có một số

đường tốt đi qua dãy núi này, và đến vùng núi íp-pô-li-nốp, biên

giới Bô-hêm thì nó cao hơn và dốc đứng ở đây có rất ít đường sá;

trên thực tế suốt vùng đông - bắc dãy núi trong khoảng bốn mươi

dặm giữa Tơ-rau-te-nan và Rai-khen-béc không có một con đường

nào có tầm quan trọng về mặt quân sự chạy qua ở đây hiện chỉ

có một con đường duy nhất chạy từ Hiếc-sơ-béc-gơ vào thung

lũng I-de-rơ và chấm dứt ở biên giới áo Từ đó có thể rút ra kết

luận rằng toàn bộ chướng ngại dài bốn mươi dặm đó là không thể

nào vượt qua nổi, ít ra là đối với một đội quân lớn có rất nhiều xe

tải và nếu muốn tấn công vào Brê-xláp, hoặc qua Brê-xláp tất

phải vượt qua vùng núi ở phía tây nam dãy íp-pô-li-nốp

Nếu hai đạo quân triển khai các hoạt động chiến đấu của nó theo hướng này thì về mặt giao thông họ sẽ ở vào tình thế như thế nào?

Quân Phổ từ Brê-xláp tấn công thẳng xuống phía nam sẽ bỏ trống đường giao thông của mình với Béc-lin Nếu quân áo đủ mạnh để có thể tuyệt đối tin tưởng rằng sẽ giành được chiến thắng thì họ có thể để cho quân Phổ tiến đến cứ điểm Ôn-muýt-xơ và sẽ

bị chặn lại ở đấy, trong khi đó chính quân áo sẽ có thể tiến đến Béc-lin, hy vọng nhờ vào thắng lợi quyết định mà phục hồi những

đường giao thông tạm thời bị cắt đứt; hoặc giả họ có thể đụng phải những toán quân Phổ lẻ tẻ khi những toán quân này đang xuống núi và nếu đánh thắng thì sẽ có thể hất được những toán quân ấy lùi về Glô-gau và Pô-dơ-nan, do đó Béc-lin và phần lớn lãnh thổ Phổ sẽ rơi vào tay họ Vì thế đối với quân Phổ việc tấn công qua Brê-xláp chỉ hợp lý trong điều kiện họ chiếm ưu thế về số quân Còn quân áo thì ở trong một tình huống hoàn toàn khác Họ

có lợi thế là phần lớn lãnh thổ của họ nằm ở phía đông - nam

Brê-xláp, tức là trên đoạn thẳng kéo dài của con đường từ Béc-lin

đến Brê-xláp Sau khi đã củng cố bờ bắc sông Đa-nuýp gần Viên

để bảo vệ thủ đô khỏi bị tấn công bất ngờ, họ có thể tạm thời hy sinh, thậm chí hy sinh trong một thời gian khá dài những đường giao thông trực tiếp với Viên và nhận được bổ sung về người và vật tư từ Hung-ga-ri Như vậy ở cả hai hướng Lô-bai và Brê-xláp,

về phía bắc hoặc về phía nam dãy núi, đều có thể hoạt động an toàn như nhau; họ chuyển vận quân đội tự do hơn đối phương của mình nhiều

Song còn có những nguyên nhân khác buộc quân Phổ phải thận trọng Khoảng cách từ biên giới bắc Bô-hêm đến Béc-lin chỉ dài bằng già một nửa khoảng cách từ biên giới này đến Viên: nhưng Béc-lin được bảo vệ kém hơn nhiều Viên có dòng sông Đa-nuýp bảo vệ, dòng sông này có thể che chắn cho đội quân bại trận; Viên còn được bảo vệ bằng những công sự được xây dựng ở phía

Trang 22

238 ph.ăng-ghen Tiểu luận về chiến tranh ở đức - II 239

bắc dòng sông này cũng như bằng cứ điểm Ôn-muýt-xơ, mà quân

Phổ không thể bí mật vượt qua mà không bị trừng trị, nếu sau khi

thất bại các lực lượng chủ lực của quân áo rút về chiếm lĩnh vị trí

này Còn Béc-lin không có một hàng rào bảo vệ nào ngoài quân

dã chiến Đương nhiên là trong những điều kiện ấy và tính toán

đến tình hình mà trong bài I chúng tôi đã trình bày tỉ mỉ, quân

Phổ chỉ còn một cách là phòng thủ

Đồng thời chính những tình hình đó cũng như sự cần thiết

cấp bách về chính trị đã buộc nước áo phải tấn công Chỉ một

chiến thắng duy nhất thôi cũng có thể đem lại cho áo thành công

lớn lao, còn thất bại thì không thể làm cho sức đề kháng của nó

bị bẻ gẫy

Về những nét cơ bản kế hoạch chiến lược của chiến dịch tất

nhiên là hết sức đơn giản Dù đối thủ nào tấn công trước, họ đều

phải lựa chọn hoặc tấn công nghi binh ở phía tây - bắc dãy núi

íp-pô-li-nốp và tấn công thực sự ở phía đông - nam dãy núi này,

hoặc vice versa1* Đặc điểm quan trọng nhất của chiến trường là

dải chướng ngại dài bốn mươi dặm, và các hoạt động của quân

đội nhất định sẽ diễn ra xung quanh khu vực này Không bao lâu

nữa chúng ta sẽ nghe tin về những trận đánh ở các điểm tận

cùng của dải chướng ngại này, rồi mấy ngày sau đó sẽ biết rõ

hướng tấn công thực sự và có thể là cả số phận chiến dịch đầu

tiên nữa Dù sao chúng tôi vẫn nghĩ rằng đối với hai đội quân ít

cơ động đang đối địch nhau như vậy thì con đường thẳng nhất

đồng thời cũng là con đường an toàn nhất và những nỗi khó khăn

và nguy hiểm gặp phải khi chuyển vận những đạo quân khổng lồ

thành từng đoàn riêng biệt trên những con đường khác nhau qua

vùng rừng núi hiểm trở, chắc chắn sẽ dẫn cả hai quân đội tham

chiến đó ra con đường Lô-bai - Pác-đu-bi-sơ

Tính đến nay đã có những cuộc chuyển quân sau đây Trong

tuần đầu tháng Sáu quân Phổ tập trung binh đoàn Dắc-den ở

_

dọc biên giới Dắc-den từ Sai-sơ đến Guê-li-sơ và binh đoàn

Xi-lê-di từ Hiếc-sơ-béc-gơ đến Nai-xơ Đến ngày 10 tháng Sáu các binh

đoàn này chuyển lại gần nhau, cánh phải ở ven sông En-bơ gần Toóc-hai, cánh tận cùng của phía trái ở gần Van-đen-buốc Từ ngày 12 đến ngày 16 tháng Sáu binh đoàn Xi-lê-di lúc này gồm các quân đoàn 1, 5, 6 và vệ binh lại mở rộng mặt trận sang phía

đông, lần này đến Ra-ti-boóc, tức là đến điểm tận cùng vùng đông

- nam của miền Xi-lê-di Việc đó, đặc biệt là việc đưa vệ binh lên phía trước, tựa hồ như một sự biểu dương lực lượng, vì vệ binh thường vẫn hoạt động cùng với quân chủ lực Nếu việc đó không phải thuần tuý là sự biểu dương lực lượng và nếu không thi hành một biện pháp nào để ngay khi cần thiết và trong thời gian ngắn nhất rút bốn quân đoàn này trở về Guê-li-sơ, thì việc tập trung hơn 120 000 người ở cái ngõ cụt hẻo lánh ấy là một sai lầm hiển nhiên, - các quân đoàn đó sẽ bị cắt mọi đường rút lui và dù thế nào đi nữa cũng mất hết liên lạc với đạo quân còn lại

Chúng tôi biết rất ít về tình hình quân áo ngoài tin họ tập trung quanh Ôn-muýt-xơ Phóng viên báo "Times", hiện có mặt trong doanh trại quân áo, báo tin rằng ngày 19 tháng Sáu quân

đoàn 6 có 40 000 người đã từ Vai-xkiếc-hen đến Ôn-muýt-xơ,

điều đó chứng tỏ rằng quân áo tiến chút ít về phía tây Phóng viên đó còn nói thêm là ngày 21 tháng Sáu đại bản doanh đã di chuyển về Tơ-ru-bau, ở biên giới giữa Mô-ra-ri và Bô-hêm Việc

di chuyển này chứng tỏ quân áo đang tiến theo hướng đó nếu tin

đó hoàn toàn không phải là "tin vịt" có ý tung về Luân Đôn để

đại bản doanh Phổ sau khi nhận được tin đó từ Luân Đôn chuyển

về bằng điện báo sẽ bị đánh lừa Một viên tướng giữ gìn bí mật quân sự hết sức cẩn trọng, có ác cảm với các phóng viên báo chí như Bê-nê-đếch chắc gì ngày 19 tháng Sáu lại báo tin cho họ biết ngày 21 đại bản doanh của mình sẽ ở đâu, nếu ông ta không

có những lý do đặc biệt để làm việc đó

Trước khi kết thúc, chúng ta điểm qua những chiến dịch đã xảy ra ở vùng Tây - Bắc nước Đức Quân Phổ bố trí ở đây một số

Trang 23

240 ph.ăng-ghen Tiểu luận về chiến tranh ở đức - III 241

lượng quân đông hơn nhiều so với số quân chúng ta biết lúc đầu

Họ có 15 tiểu đoàn ở Hôn-stai-nơ, 12 tiểu đoàn ở Min-đen và 18

tiểu đoàn ở Véc-xla Bằng những cuộc chuyển quân nhanh chóng

hướng về cùng một điểm, - qua đó các đơn vị tỏ rõ khả năng hoàn

toàn bất ngờ của họ về hành quân cấp tốc, - trong vòng hai ngày

quân Phổ đã chiếm được toàn bộ vùng đất ở phía bắc con đường từ

Cô-blen-txơ đến Ai-dơ-nắc và tất cả các tuyến đường giao thông

giữa các tỉnh miền đông với các tỉnh miền tây của vương quốc

Các đơn vị Hét-xen, gồm gần 7 000 quân chạy thoát được, nhưng

10 000 hoặc 12 000 quân Han-nô-vơ bị cắt đường rút quân thẳng

về Phran-phuốc, và ngày 17 tháng Sáu các đơn vị còn lại của quân

đoàn 7 của Phổ có 12 tiểu đoàn, cùng với 2 tiểu đoàn Cô-buốc-gơ

đã từ En-bơ chuyển về Ai-dơ-nắc Như vậy, quân Han-nô-vơ đã bị

vây kín khắp các phía và chỉ khi có chuyện hết sức kỳ lạ là quân

Phổ quá ngu xuẩn thì họ mới thoát được Ngay khi số phận của

quân Han-nô-vơ được giải quyết xong, đội quân 50 tiểu đoàn Phổ

được rảnh tay và lập tức có thể tiến đánh quân đội đồng minh do

hoàng thân A-lếch-xan-đrơ Đác-mơ-stat thành lập ở

Phran-phuốc; quân đội này gồm khoảng 23 000 người Vuyếc-tem-béc, 10

000 người Đác-mơ-stát, 6 000 người Na-xau, 13 000 người Ba-đen

(vừa mới bị động viên), 7 000 quân Hét-xen và 12 000 người áo

hiện đang có mặt trên đường từ Dan-xbuốc đi - tóm lại có gần 65

000 người, có thể sau này sẽ còn có thêm từ 10 000 đến 20 000

người Ba-vi-e Có tin cho biết gần 60 000 người đã tập trung ở

Phran-phuốc và hoàng thân A-lếch-xan-đrơ quyết định sau khi

chiếm lại Hét-xen vào ngày 22 tháng Sáu sẽ chuyển sang tấn

công Song việc đó không có ý nghĩa gì lớn lao Quân Phổ sẽ không

chống lại ông ta, khi nào chưa tập trung đủ số quân và sau đó khi

đã có trong tay 70 000 quân thuộc tất cả các binh chủng và đã

chiếm ưu thế về vũ khí, họ có thể nhanh chóng ra tay trừng trị

đạo quân hỗn tạp này

III

Trận đánh lớn đầu tiên đã xảy ra không phải ở Bô-hêm mà ở I-ta-li-a và những cứ điểm hình bốn góc lại một lần nữa dạy cho người I-ta-li-a một bài học về chiến lược Sức mạnh của cứ điểm nổi tiếng này, cũng giống như sức mạnh của tất cả những cứ điểm

được bố phòng mạnh đôi chút không hẳn là ở chỗ bốn lô-cốt của nó

có sức phòng thủ cao mà chủ yếu là ở chỗ bản thân việc bố trí những lô cốt đó trên một địa hình có những đặc điểm độc đáo về mặt quân sự hầu như luôn luôn thôi thúc thậm chí đôi khi bắt buộc bên tấn công phải phân chia lực lượng của mình để tấn công vào hai điểm khác nhau trong khi quân phòng thủ có thể tung toàn bộ lực lượng của mình để đánh một trong những nhóm tấn công, dựa vào ưu thế về quân số của mình mà đập tan nó rồi quay sang đánh nhóm khác Quân đội I-ta-li-a đã phạm sai lầm này Trong lúc nhà vua cùng với mười một sư đoàn đóng quân ở ven sông Min-si-ô thì San-đi-ni cùng với năm sư đoàn có mặt ở vùng hạ du sông Pô gần Pông-tê-la-gô-xcu-rô và Pô-le-den-la Một sư đoàn I-ta-li-a có 17 tiểu đoàn, mỗi tiểu đoàn 700 người

Do đó, kể cả kỵ binh và pháo binh Vích-to Ê-ma-nu-en có ít nhất

là 120 000 - 125 000 người, còn San-đi-ni thì có khoảng một nửa con số đó Trong lúc nhà vua vượt sông Min-si-ô vào ngày 23 tháng Sáu thì San-đi-ni phải vượt sông Pô của hạ lưu của nó và hoạt động ở hậu phương của quân áo Nhưng cho tới lúc này vẫn chưa có một tin tức đáng tin cậy nào cho biết cuộc chuyển quân

đó đã được thực hiện Dù sao đi nữa, 60 000 quân đó - sự có mặt của họ có thể làm thay đổi và chắc chắn sẽ làm thay đổi kết cục của trận đánh ở Cu-xtốt-xe chủ nhật trước160 - lúc đó chưa chắc

đã giành được ưu thế khiến nó có thể tránh khỏi được thất bại

Trang 24

242 ph.ăng-ghen Tiểu luận về chiến tranh ở đức - III 243

trong một trận đánh lớn

Hồ Gác-đơ nằm ở giữa hai nhánh núi của dãy núi An-pơ Về

phía nam của hồ Gác-đơ hai nhánh núi đó tạo thành hai dãy núi

mà con sông Min-si-ô chảy qua ở giữa tới vùng đầm Măng-tu Hai

dãy núi này tạo thành một vị trí quân sự mạnh; sườn phía nam

của chúng nhìn về phía đồng bằng Lôm-bắc-đi; chúng chế ngự đồng

bằng với cự ly một tầm đại bác Trong lịch sử quân sự, người ta đã

biết rõ những sườn núi này Nằm ở giữa Pe-xke-ra và Lô-na-tơ,

dãy núi phía tây là nơi đã diễn ra trận đánh ở Ca-xchi-ông và

Lô-na-tơ năm 1796 và trận đánh ở Xôn-phê-ri-nô năm 1859161

Năm 1848 đã từng có một trận đánh diễn ra trong ba ngày162 để

chiếm dãy núi phía Đông nằm giữa Pe-xke-ra và Vê-rô-na; và chủ

nhật trước lại diễn ra một trận đánh cũng nhằm mục đích đó

Dãy núi phía đông một bên chạy xuống phía sông Min-si-ô tới

Va-lét-giô thì giáp với đồng bằng, còn bên kia thì uốn cong thành

hình vòng cung hướng về phía đông - nam, chạy xuống phía sông

A-đi-giơ và tiếp giáp với sông đó ở Bu-xô-len-gô Một dải trũng

sâu theo bờ dòng chảy của con sông Ti-ô-nơ phân chia dãy núi này

thành hai phần gần bằng nhau theo chiều từ bắc xuống nam Như

vậy những đơn vị quân đội tiến quân từ Min-si-ô thoạt tiên

phải vượt sông và sau đó lại vấp ngay một chướng ngại nữa là

dải đất trũng này Dọc theo sườn núi giáp với đồng bằng, ở phía

đông dải đất trũng, từ điểm cực nam là Cu-xtốt-xa lên phía bắc

có những làng xóm sau đây: Xôm-ma-cam-pa-ni, Xô-na, và

Xan-ta Giu-xti-na Con đường sắt từ Pe-xke-ra đi Vê-rô-na chạy qua

dãy núi này ở Xôm-ma-cam-pa-ni và đường nhựa thì chạy qua

dãy núi này ở Xô-na

Năm 1848, quân Pi-ê-mông sau khi chiếm được Pe-xke-ra, đã

bao vây Măng-tu - và sau khi bố trí được cánh quân giữa của

mình tại dãy núi phía đông, đã rải lực lượng của mình từ Măng-tu

đến Ri-vô-li trên hồ Gác-đơ Ngày 23 tháng Bảy Ra-đét-xki dùng

bảy lữ đoàn từ Vê-rô-na tiến phát, chọc thủng được đoạn giữa của

tuyến bố trí kéo quá dài của đối phương và đích thân chiếm lĩnh những ngọn núi đó Ngày 24 và 25 tháng Bảy quân Pi-ê-mông đã tìm cách giành lại vị trí đó, nhưng ngày 25 họ đã bị đánh tan tành

và lập tức phải rút lui qua Mi-lăng sang bên kia sông Tít-si-nô Trận đánh đầu tiên ở Cu-xtốt-xa đã quyết định kết cục của chiến dịch năm 1848

Những bức điện của tổng hành dinh quân I-ta-li-a về trận

đánh hôm chủ nhật trước khá mâu thuẫn Nhưng nếu so sánh chúng với những bức điện của bên kia, ta có thể hình dung khá rõ ràng về tình hình trận đánh đã diễn ra như thế nào Vích-to Ê-ma-nu-en dự tính rằng quân đoàn 1 của ông ta (do tướng Đu-ran-đô chỉ huy, có 4 sư đoàn hoặc 68 tiểu đoàn) sẽ chiếm lĩnh trận

địa giữa xke-ra và Vê-rô-na để có thể yểm trợ việc bao vây xke-ra có thể sẽ diễn ra Không nghi ngờ gì nữa, trận địa đó phải

Pe-là Xô-na và Xôm-ma-cam-pa-ni Quân đoàn 2 (do tướng a-ri chỉ huy, có 3 sư đoàn hoặc 51 tiểu đoàn) và quân đoàn 3 (do tướng Đen-la Rốc-ca chỉ huy, có số quân tương tự) phải vượt sông Min-si-ô cùng một lúc để yểm trợ cho các hoạt động của quân

Cúc-chi-đoàn 1 Quân Cúc-chi-đoàn 1 sau khi vượt sông, chắc có lẽ vượt sông ở li-ôn-xơ hoặc quá hơn về phía nam, đã lập tức tiến vào vùng núi Quân đoàn 2 sau khi vượt sông, chắc là vượt sông ở Va-lét-giô, và quân đoàn 3 sau khi vượt sông, chắc là vượt ở Gôi-tô đã tiến vào vùng đồng bằng Tất cả những sự việc đó đã diễn ra hôm thứ bảy

Xa-23 tháng Sáu Một lữ đoàn quân áo do Pun-txơ chỉ huy làm nhiệm vụ cảnh giới ở ven sông Min-si-ô đã từ từ dời khỏi vùng

đó tiến về Vê-rô-na Và ngày chủ nhật, đúng vào ngày kỷ niệm trận đánh Xôn-phê-ri-nô, toàn bộ quân áo và Vê-rô-na tiến đánh

vỗ mặt thẳng vào quân địch Hình như quân áo đã đến đúng lúc và

đã chiếm được những điểm cao Xô-na và Xôm-ma-cam-pa-ni và cả

bờ phía đông của dải đất trũng Ti-ô-nơ trước quân I-ta-li-a Sau

đó, có lẽ trận đánh đã diễn ra chủ yếu để chiếm con đường đi qua dải đất trũng Hai quân đoàn I-ta-li-a tiến công ở đồng bằng tại vùng biên phí a nam đ ã có kh ả năn g hoạt động hi ệp đồn g với

qu ân đoàn 1 của I-ta-li-a đang đóng giữ vùng núi, nhờ thế xtốt-xa đã chuyển vào tay họ Quân I-ta-li-a hoạt động ở đồng

Ngày đăng: 01/08/2014, 15:21

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm