1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

[Triết Học] Học Thuyết Chủ Nghĩa Karl Marx - Marx Engels tập 16 phần 4 doc

49 336 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 553,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Người công nhân phải làm việc trong một số giờ nhất định để tái sản xuất cái giá trị mà anh ta đã nhận được nhờ bán sức lao động của mình; đó là phần tất yếu của ngày lao động nhưng h

Trang 1

294 ph.ăng-ghen Bình luận về tập I bộ "tư bản" 295

trong 784 trang sách và phàm là ai có mắt để nhìn thì đều thấy

rằng ở đây yêu cầu cách mạng xã hội được đặt ra rất rõ ràng Vấn

đề được đặt ra tới đây không phải là thiết lập các hiệp hội công

nhân nằm trong tay tư bản nhà nước như cố tác giả Lát-xan đã

nói, mà là xoá bỏ tư bản nói chung

Mác trước sau bao giờ cũng vẫn luôn luôn là nhà cách mạng,

song trong tác phẩm khoa học, ông ít che giấu những quan điểm

đó của mình hơn bất kỳ ai khác Nhưng về vấn đề sau cách mạng

xã hội, sẽ là cái gì thì ông chỉ nói những nét chung nhất Chúng

ta biết rằng đại công nghiệp "dẫn đến chỗ làm chín muồi những

mâu thuẫn và đối kháng của hình thức tư bản chủ nghĩa của quá

trình sản xuất, và do đó đồng thời làm chín muồi cả những nhân

tố để hình thành xã hội mới và những nhân tố làm đảo lộn xã hội

cũ", và tiếp nữa, việc xoá bỏ hình thức tư bản chủ nghĩa của sản

xuất "sẽ khôi phục sở hữu cá nhân trên cơ sở những thành tựu

của thời đại tư bản chủ nghĩa: tức là trên cơ sở hợp tác của

những công nhân tự do và sự chiếm hữu chung ruộng đất và

những tư liệu sản xuất do chính bản thân lao động sản xuất

ra"194

Chúng ta đã chắc hẳn sẽ thỏa mãn với điểm đó và căn cứ vào

tập sách vừa xuất bản mà xét, chúng ta phải đi đến kết luận rằng

tập II và tập III của bộ sách này mà tác giả đã hứa sẽ cho xuất

bản cũng sẽ chỉ đem lại cho chúng ta ít điều về vấn đề lý thú này

Lúc này chúng ta chắc hẳn bằng lòng với cuốn "Phê phán khoa

kinh tế chính trị", cuốn sách mở ra trước mắt chúng ta một địa

hạt rất rộng lớn Tất nhiên ở đây chúng tôi không thể đem

những kết luận tường tận trong cuốn sách đồ sộ này ra tranh

luận khoa học, thậm chí chúng tôi cũng không thể thuật lại vắn

tắt thực chất của những nguyên lý cơ bản được nêu ra trong cuốn

sách Tất cả những nguyên lý cơ bản đã được mọi người ít nhiều

biết đến của lý luận xã hội chủ nghĩa rút lại là: trong xã hội hiện

đại người công nhân không được đền bù lại đầy đủ giá trị sản

phẩm lao động của anh ta Nguyên lý đó như một sợi chỉ đỏ xuyên

suốt toàn bộ cuốn sách mà chúng ta đang nghiên cứu, song so với

từ trước đến nay ở đây nó được xác định một cách chính xác hơn nhiều, được nghiên cứu một cách triệt để hơn với tất cả những kết luận rút ra từ nguyên lý đó, và được gắn liền chặt chẽ hơn với những nguyên lý cơ bản của khoa kinh tế chính trị, hoặc được

đem đối lập với những nguyên lý đó một cách trực diện hơn Phần này của cuốn sách đó trội hơn rất nhiều so với tất cả những tác phẩm tương tự trước đây mà chúng ta đã biết, ở chỗ nó cố gắng đạt tới tính khoa học nghiêm ngặt và rõ ràng là tác giả có thái độ nghiêm túc chẳng những đối với lý luận của mình, mà cả

đối với khoa học nói chung nữa

Điều đặc biệt đập ngay vào mắt ta trong cuốn sách này là tác giả xem xét các nguyên lý của khoa học kinh tế chính trị không phải như những chân lý vĩnh cửu giống như xưa nay người ta vẫn thường làm, mà như kết quả của sự phát triển lịch sử nhất

định Trong lúc ngay cả khoa học tự nhiên cũng ngày càng trở thành khoa học lịch sử - chỉ cần nhắc lại lý luận thiên văn học của La-pla-xơ, toàn bộ địa chất học và tác phẩm của Đác-uyn là

đủ, - thì môn kinh tế chính trị cho đến nay vẫn là một khoa học trừu tượng và đại cương như toán học Dù những luận đoán khác trong cuốn sách này có gặp phải số phận như thế nào đi nữa, thì chúng tôi vẫn cho rằng công lao bất diệt của Mác là ông đã chấm dứt cái quan niệm hạn chế đó Với sự ra đời của tác phẩm này, người ta sẽ không còn có thể không có sự phân biệt nào về mặt kinh tế chẳng hạn giữa lao động của nô lệ, lao động của nông nô với lao động làm thuê tự do; người ta sẽ không còn có thể bệ thẳng những quy luật có hiệu lực đối với nền đại công nghiệp hiện đại -

có đặc trưng là cạnh tranh tự do - vào những quan hệ của thời cổ

đại hoặc vào những phường hội thời trung cổ hoặc nếu những quy luật hiện đại đó không thích hợp với những quan hệ trước kia, người ta cũng sẽ không còn có thể chỉ cứ việc giản đơn tuyên

bố những quan hệ đó là dị đoan Trong tất cả các dân tộc, người

Đức là những n gười có quan niệm lịch sử nhiều hơn cả, và có

Trang 2

296 ph.ăng-ghen 297

lẽ hầu như chỉ có một mình họ là có quan niệm lịch sử, vì thế

cũng chính người Đức phát hiện ra những quan hệ lịch sử cả

trong lĩnh vực kinh tế chính trị học thì cũng là điều hợp lẽ tự

C.mác Những hội viên của hội phê-ni-ăng

Bị giam giữ ở man-se-xtơ

Phiên họp bất thường của Tổng hội đồng Hội liên hiệp công nhân quốc tế họp vào tối thứ tư tại trụ sở của hội đồng, 16 I-xtơ Ca-xơn Xtrít, Oe-xtơ, đang thông qua bức thư sau đây:

"Thư của Tổng hội đồng Hội liên hiệp công nhân quốc tế Kính gửi ngài bộ trưởng Gây-toóc-nơ Hác-đi kính mến Trong bức thư này, những đại biểu của các tổ chức công nhân các nước châu Âu ký tên dưới đây tuyên bố:

Rằng việc hành quyết những tù nhân Ai-rơ-len bị kết án tử hình tại Man-se-xtơ làm tổn hại rất nhiều cho ảnh hưởng về tinh thần của nước Anh trên lục địa châu Âu Việc hành quyết bốn tù nhân dựa trên lời khai giả dối và sự kết án sai lầm, - việc ân xá Mê-ghi-rơ chính thức xác nhận điều này, - mang tính chất không phải là một hành vi tư pháp mà là một sự trả thù chính trị Song cho dù, bản án của toà bồi thẩm Man-se-xtơ và lời khai làm bằng cứ cho bản án này không bị chính bản thân Chính phủ Anh chỉ trích thì hiện nay Chính phủ Anh cũng vẫn phải lựa chọn giữa thực tiễn đẫm máu của châu Âu cũ và lòng nhân đạo

độ lượng của nước cộng hoà trẻ tuổi ở bên kia đại dương196 Chúng tôi yêu cầu giảm nhẹ bản án Việc giảm nhẹ bản án

Trang 3

R.Sô, bí thư phụ trách liên lạc với Mỹ

Ơ-gien Đuy-pông, bí thư phụ trách liên lạc với Pháp

Các Mác, bí thư phụ trách liên lạc với Đức

Héc-man I-ung, bí thư phụ trách liên lạc với Thụy Sĩ

Ph.La-phác-gơ, bí thư phụ trách liên lạc với Tây Ban Nha

Gia-bi-xki, bí thư phụ trách liên lạc với Ba Lan

Đéc-kin-đe-ren, bí thư phụ trách liên lạc với Hà Lan

Be-xông, bí thư phụ trách liên lạc với Bỉ

Nguyên văn là tiếng Anh

1867 Chương: "Ngày lao

động"

Cuộc thảo luận về ngày lao động

Phôn Hốp-stét-ten (chủ báo

"Social Demokrat") nói:

1) "Trong thời đại chúng ta, sức lao động

là hàng hóa Giá mua" (đáng lẽ phải nói:

giá trị) "của một vật phẩm nào đó" (đáng

lẽ phải nói hàng hóa)" là do thời gian lao

động cần thiết để sản xuất ra nó quyết

định Người công nhân phải làm việc trong một số giờ nhất định để tái sản xuất cái giá

trị mà anh ta đã nhận được nhờ bán sức

lao động của mình; đó là phần tất yếu của

ngày lao động nhưng hoàn toàn không phải

là bản thân ngày lao động Để xác định

ngày lao động cần" (vì sao?) "thêm vào đó

1) "Chúng tôi cho rằng sức lao

động đang bị đưa ra mua bán theo giá trị của nó Giá trị này cũng

như giá trị của mọi hàng hóa khác, được xác định bởi thời gian làm việc cần thiết để sản xuất ra

nó Như vậy nếu cần 6 giờ để sản xuất ra các tư liệu sinh sống cần thiết cho người công nhân bình quân một ngày, thì bình quân người công nhân phải làm việc 6 giờ một ngày để hàng ngày sinh

Trang 4

300 c.mác Những kẻ ăn cắp văn 301

phần không xác định; tuy phần này không

xác định nhưng dù sao cũng có những giới

hạn tất yếu của nó"

ra sức lao động của mình, hoặc để

tái sản xuất giá trị mà họ đã nhận

được khi đem bán nó đi Như vậy

phần cần thiết trong ngày làm việc của người công nhân là 6 giờ

và vì thế trong những điều kiện

nhất định khác, đó là đại lượng

dữ kiện Nhưng điều này cũng

chưa xác định được đại lượng của

với độ dài, hoặc thời gian lao động

thặng dư Như vậy, ngày làm

việc không phải đại lượng tĩnh

mà là một đại lượng động; mặt khác, dù sao nó cũng chỉ biến đổi

trong những giới hạn nhất định"

(tr.198, 199) [242, 243].198

2) "Một" (giới hạn), "cụ thể là giới hạn tối

đa dựa trên khả năng thể chất" (làm sao

giới hạn lại có thể dựa vào khả năng

được!) "mà nói chung con người có thể

làm việc lâu bao nhiêu, vì muốn duy trì sự

sinh tồn của mình, anh ta cũng cần phải

ngủ, nghỉ ngơi, mặc quần áo và chăm lo vệ

sinh Giới hạn tối thiểu được quyết định

bởi các yêu cầu phụ thuộc vào tình trạng

văn hoá nhất định của mỗi thời đại Độ

dài của ngày lao động và của lao động thặng

2) "Song các giới hạn tối thiểu của

nó (ngày làm việc) không thể xác

định được Thật ra nếu chúng ta giả thiết rằng lao động thặng dư

= 0, thì chúng ta có giới hạn tối thiểu, tức là phần ngày mà người công nhân cần phải làm việc để duy trì sự sinh tồn của bản thân mình Nhưng trong phương pháp sản xuất tư bản chủ nghĩa lao

động cần thiết bao giờ cũng chỉ

dư cũng khác nhau, tuỳ theo tình trạng văn hoá đó và pháp luật hiện hành Tương ứng với những cái đó chúng ta có ngày lao

động 8, 12, 16 và thậm chí 18 giờ"

gồm có phần ngày làm việc của người công nhân, tức là ngày làm việc không bao giờ có thể giảm xuống đến mức tối thiểu này

Song ngày làm việc còn có giới

hạn tối đa Nó không thể kéo dài

quá giới hạn nhất định Giới hạn tối đa được xác định bởi hai điểm

Thứ nhất, giới hạn thể chất của

sức lao động Trong một ngày

đêm với thời gian tự nhiên bằng

24 giờ, con người chỉ có thể tiêu phí một số lượng sức sống nhất

định và mức tiêu hao thể năng này xác định mức thời gian làm việc mà có thể người đó cho phép Một con ngựa chỉ có thể làm việc

8 giờ một ngày từ ngày này sang ngày khác Trong một phần ngày

đêm sức lực cần phải được nghỉ ngơi, ngủ, trong một phần khác của ngày đêm con người phải thoả mãn những nhu cầu thân thể khác như ăn uống, vệ sinh,

mặc quần áo v.v Ngoài các giới

hạn thuần tuý thể chất này, ngày

làm việc còn gặp phải những giới

Trang 5

Vì ăn cắp văn , n gài Phôn Hốp-s tét-ten đ ã biến một đoạn

do ôn g ta vay mư ợn thành vô nghĩa Ví dụ, theo ngài Ph ôn

Hốp-stét-ten giới hạn tối đa của ngày lao động là do những giới

hạn thuần tuý thể chất quyết định, còn giới hạn tối thiểu của nó

thì do những giới hạn tinh thần quyết định, mà ông ta lại nói

như thế sau khi đã lặp lại như một con vẹt điều tôi nói, rằng

phần tất yếu của ngày lao động, tức giới hạn tuyệt đối của ngày

lao động là do thời gian lao động cần thiết để duy trì sức lao

động quyết định

3) "Kinh nghiệm của nước Anh cho thấy

rằng trong một ngày lao động ngắn hơn

4) "Như vậy, các nhà tư bản cố đặt cho

mình mục tiêu kéo dài ngày lao động càng

dài càng tốt" (Thật là vô nghĩa! Có đặt

mục tiêu!) "Nhưng người công nhân chỉ có

một hàng hóa duy nhất là sức lao động

của mình và nếu vượt quá một điểm nhất

định trong sức lao động" (vượt quá một điểm

trong sức lao động nghĩa là gì?)" thì người

công nhân phải nói: tôi đã bị sử dụng(!),

tôi đã bị giết" (Hay thật! sau khi bị giết

anh ta vẫn cứ phải nói thế!) "Vì vậy" (vì

anh ta nói như thế!) độ dài của lao động

4) "Nhà tư bản thực hiện quyền mua của mình khi họ cố kéo dài hết mức ngày làm việc và, nếu có thể, tạo một ngày thành hai ngày làm việc Mặt khác, bản chất đặc biệt của mặt hàng được đem bán

sẽ ước định giới hạn tiêu dùng của người mua, và người công nhân thực hiện quyền bán của mình khi

họ cố rút ngắn ngày làm việc đến một mức bình thường nhất định

Tôi muốn (người công nhân nói)

phải được xác định vì lợi ích của người công nhân để cho hàng hóa này, tức là sức

lao động, được duy trì và được sử dụng

càng lâu dài càng tốt Làm như vậy người công nhân chỉ đòi thực hiện quyền lợi tất nhiên của mình" (anh ta vừa mới phàn

nàn là đã bị sử dụng, vậy mà lúc này lại

đòi hỏi được người ta sử dụng, coi đó là một quyền lợi tất nhiên!)

bảo vệ tài sản duy nhất của mình

là sức lao động Sử dụng sức lao

động của tôi và biển thủ nó - là những vấn đề hoàn toàn khác biệt Anh trả tiền công sức lao

động một ngày của tôi, nhưng đòi hỏi làm ba ngày Điều đó mâu thuẫn với bản hợp đồng của chúng

ta và luật trao đổi hàng hóa Vì thế, tôi đòi hỏi ngày làm việc phải

hành luật pháp này ở nhiều nước cũng có

những luật hạn chế lao động của trẻ em: ở

áo, Thụy Sĩ, Mỹ và ở Bỉ (!) các đạo luật

tương tự đang được thảo ra ở Phổ cũng có

những luật tương tự, như ở đây chúng chỉ tồn tại trên giấy và không bao giờ được

tuân thủ ở Mỹ khi kết thúc cuộc chiến

tranh đưa đến sự giải phóng nô lệ, người

ta đã đưa ra yêu sách đòi ngày lao động tám giờ." Đại hội của Hội liên hiệp công nhân Quốc tế" năm 1866 cũng đề nghị ngày lao động tám giờ"

5) "Luật công nghiệp năm 1850

hiện đang được thi hành (không

phải ở Anh, mà ở một số ngành

công nghiệp do Mác liệt kê ra thuộc Vương quốc liên hiệp) đã ấn

định ngày làm việc trung bình hàng tuần là 10 giờ Có những nhân viên kiểm soát đặc biệt chuyên theo dõi việc thi hành luật

pháp, những viên thanh tra công

nghiệp trực thuộc Bộ nội vụ, cứ

nửa năm nghị viện sẽ đăng các báo cáo của họ (tr.207) [251]

ở một số bang Bắc Mỹ đang

thực hiện rút ngắn ngày làm việc cho trẻ em (tr.244) [281], rút ngắn ngày làm việc ở toàn bộ nước Pháp (tr.251) [286] cho trẻ em ở một số tổng của Thụy Sĩ (tr.251) [286], ở áo (tr.252) [286], ở Bỉ không có một luật pháp nào như

vậy (trang vừa dẫn) ở Liên

bang

Trang 6

304 c.mác 305

Bắc Mỹ mọi phong trào độc lập

của công nhân đều bị tê liệt trong khi chế độ nô lệ đang tàn phá

phần đất này của nước cộng hòa

Nhưng chế độ nô lệ bị diệt vong đã

lập tức khai sinh cuộc sống mới tươi trẻ Thành quả đầu tiên của

cuộc Nội chiến và việc kêu gọi thực

hiện ngày làm việc tám giờ Đồng

thời đại hội của Hội công nhân

Quốc tế cũng đã quyết định:

"Chúng tôi đề nghị luật pháp hạn

chế ngày làm việc trong 8 giờ"

(tr.279 - 280) [309, 310]

Giống như ông Phôn Hốp-stét-ten, diễn giả tiếp lời ông ta là

ông Gây-bơ ở Hăm-buốc, cũng xuyên tạc lịch sử luật công xưởng

ở Anh do Mác trình bày Cả hai người cùng cố tình như nhau lờ

đi không nhắc đến ngọn nguồn sự thông thái của họ

Do C.Mác viết ngày 6 tháng Chạp 1867

Đã đăng trong phụ trương báo "Die

Zukunft" số 291, ngày 12 tháng Chạp 1867

In theo bản đăng trên báo Nguyên văn là tiếng Đức

Ph.Ăng-ghen Bình luận về tập I

Bộ "tư bản" của c.mác

các mác tư bản phê phán khoa kinh tế chính trị tập i

hăm-buốc, mai-xnơ, 1867 1*

Dù có thái độ như thế nào đi nữa đối với khuynh hướng của cuốn sách này, chúng ta vẫn thấy mình có đủ căn cứ để nói rằng cuốn sách đó thuộc số những tác phẩm làm vẻ vang cho tinh thần Đức Điều đáng chú ý là tác giả tuy là một người Phổ nhưng

là một người Phổ vùng Ranh mà những người Phổ vùng Ranh cách đây không lâu vẫn còn thích gọi mình là "những người Phổ bất đắc dĩ", hơn nữa trong mười năm vừa qua tác giả lại bị trục xuất, phải sống xa nước Phổ Bản thân nước Phổ từ lâu đã không còn là một nước có bất kỳ một sáng kiến khoa học nào, đặc biệt

là một sáng kiến như vậy trong lĩnh vực lịch sử, chính trị hoặc xã hội không thể có được ở nước này Về nước Phổ, đúng ra, có thể nói rằng nước Phổ là đại biểu của tinh thần Nga chứ không phải của tinh thần Phổ

_

1* Karl Marx Das Kapital Kritik der politischen Oekonomie Erster Band Hamburg

Trang 7

306 ph.ăng-ghen Bình luận về tập I bộ "tư bản" 307

Còn về bản thân cuốn sách thì ta cần phân biệt rõ ràng hai

yếu tố rất khác nhau của nó: thứ nhất sự trình bày một cách

tuyệt vời chính diện vấn đề và thứ hai, khuynh hướng của các

kết luận mà tác giả rút ra từ sự trình bày đó Phần lớn điều thứ

nhất trực tiếp làm phong phú thêm cho khoa học ở đây tác giả

dùng một phương pháp hoàn toàn mới, duy vật chủ nghĩa, lịch sử

tự nhiên để xem xét các quan hệ kinh tế Chẳng hạn, việc trình

bày vấn đề tiền cũng như việc nghiên cứu cặn kẽ - với sự am

hiểu uyên thâm - vấn đề những hình thức khác nhau kế tiếp

nhau của sản xuất công nghiệp - ở đây là hiệp tác, phân công lao

động và cùng với phân công lao động là công trường thủ công

hiểu theo nghĩa hẹp và cuối cùng là máy móc, đại công nghiệp và

các mối liên hệ và quan hệ xã hội tương ứng với nó - hình thức

này đã phát triển một cách tự nhiên từ hình thức kia lên như thế

nào

Còn về khuynh hướng của tác giả thì chúng ta có thể phân

biệt được hai hướng trong khuynh hướng này Trong chừng mực

tác giả cố gắng chứng minh rằng xã hội hiện nay xét về phương

diện kinh tế, chứa đựng một hình thái xã hội khác cao hơn, trong

lĩnh vực các quan hệ xã hội ông cố gắng chỉ xác lập thành quy

luật chính quá trình cải biến dần dần mà Đác-uyn đã xác lập

trong lĩnh vực lịch sử tự nhiên Sự biến đổi dần dần như thế thực

ra từ xưa đến nay vẫn diễn ra trong các quan hệ xã hội, từ thời

thượng cổ qua suốt thời kỳ trung cổ cho đến tận ngày nay, và

theo chỗ chúng ta biết trong khoa học chưa bao giờ có ai khẳng

định nghiêm túc rằng A-đam Xmít và Ri-các-đô đã nói lên kết

luận cuối cùng về sự phát triển tương lai của xã hội hiện đại

Trái lại, học thuyết của phái tự do về tiến bộ cũng bao hàm cả

tiến bộ về mặt xã hội và chỉ có những người gọi là xã hội chủ

nghĩa thích nghịch biện ngông cuồng mới miêu tả sự việc tựa hồ

như chỉ có họ mới hoàn toàn chi phối được tiến bộ xã hội Cần

phải thừa nhận rằng công lao của Mác so với những người xã hội

chủ nghĩa bình thường là ông đã chỉ ra rằng ngay cả ở nơi mà sự

phát triển cực kỳ phiến diện của những điều kiện hiện nay đi

liền với những hậu quả trực tiếp khủng khiếp cũng có tiến bộ

Ta có thể thấy điều đó ở khắp mọi chỗ miêu tả những sự tương phản - do toàn bộ chế độ công xưởng đẻ ra, - giữa sự giàu có với

sự nghèo khổ v.v Chính nhờ quan niệm có tính chất phê phán

đó đối với vấn đề, tác giả đã đưa ra được - chắc chắn là trái với ý muốn của ông, - những luận cứ đanh thép nhất chống lại mọi chủ nghĩa xã hội quan phương [Sozialismus von Fach]

Còn đối với những khuynh hướng, những kết luận chủ quan của tác giả, đối với cái cách tác giả hình dung và trình bày kết quả cuối cùng của quá trình phát triển xã hội hiện nay thì lại hoàn toàn khác Chúng chẳng giống tý nào với cái mà chúng ta gọi là phần chính diện của cuốn sách Nếu có chỗ nào đó cho phép nói về điểm này, thì có lẽ có thể chỉ rõ rằng những ý tưởng

chủ quan đó của tác giả bị ngay sự trình bày khách quan của

chính ông bác bỏ

Nếu toàn bộ chủ nghĩa xã hội của Lát-xan là thóa mạ các nhà tư bản và phỉnh nịnh bọn địa chủ quý tộc Phổ hủ lậu thì ở đây chúng ta thấy điều hoàn toàn ngược lại Ông Mác chỉ ra một cách

rõ ràng tính tất yếu lịch sử của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa - ông gọi giai đoạn xã hội hiện nay là như vậy, - và ông cũng chỉ ra một cách rõ ràng như thế sự vô dụng của tầng lớp địa chủ quý tộc chiếm hữu ruộng đất chỉ tiêu dùng mà thôi Nếu Lát-xan mang đầy ảo tưởng về sứ mệnh của Bi-xmác là xây dựng vương quốc nghìn năm xã hội chủ nghĩa thì ông Mác vạch mặt khá rõ ràng người học trò bất thành của ông Ông không những tuyên

bố một cách rõ ràng rằng ông chẳng có gì chung với toàn bộ cái

"chủ nghĩa xã hội của chính phủ Vương quốc Phổ" mà ông còn nói ở trang 762 và các trang tiếp theo rằng các chế độ hiện nay

đang thống trị ở Pháp và ở Phổ chẳng bao lâu nữa sẽ dẫn tới sự thống trị của cái dùi cui Nga đối với châu Âu nếu không kịp thời chấm dứt chế độ đó

Để kết luận chúng tôi xin nói rằng ở đây chúng tôi chỉ có thể lưu ý đến những luận điểm chính của tập sách đồ sộ này; nếu

Trang 8

308 ph.ăng-ghen 309

phân tích một cách chi tiết còn có thể nêu lên nhiều điều nữa

mà ở đây chúng tôi buộc phải bỏ qua Nhưng để thực hiện mục

Ph.Ăng-ghen Bình luận về tập I

Bộ "tư bản" của c.mác viết cho báo

Chúng ta lưu ý đến nó vì cuốn sách này, không kể là khuynh hướng của nó như thế nào, chứa đựng những nghiên cứu khoa học và tài liệu thực tế, đáng được hết sức chú ý ở đây chúng ta

sẽ không nghiên cứu phương diện khoa học của cuốn sách vì điều

đó không phải là nhiệm vụ chúng ta đề ra cho bài này, mà chỉ nghiên cứu phương diện thực tế của nó thôi

Chúng tôi không nghĩ rằng có một tác phẩm nào khác bằng tiếng Đức hoặc tiếng nước ngoài phân tích được một cách rõ ràng

và đầy đủ những đặc trưng cơ bản của lịch sử công nghiệp cận

đại từ thời trung cổ cho đến ngày nay như cuốn sách này đã làm _

1* Karl Marx Das Kapital Kritik der politischen Oekonomie Erster Band Hamburg

Trang 9

310 ph.ăng-ghen Bình luận về tập I bộ "tư bản" 311

được trong ba chương từ tr.302-495, hiệp tác, công trường thủ

công và đại công nghiệp ở đây, mỗi phương diện riêng biệt của

tiến bộ công nghiệp đều được dành cho một vị trí chính trị thích

đáng tùy theo công lao của nó và dù cho xu hướng đặc thù có bộc

lộ ở đâu đó chăng nữa, thì người ta vẫn phải công nhận rằng

không có chỗ nào tác giả đem khuôn thực tế cho khớp với lý luận

của mình, mà trái lại tác giả cố gắng trình bày lý luận của mình

như là kết quả của thực tế Những thực tế đó bao giờ tác giả

cũng lấy từ những nguồn đáng tin cậy nhất và về thời kỳ hiện

đại thì tác giả lấy từ những nguồn chính gốc và hiện nay ở Đức

người ta chưa biết: từ các báo cáo của nghị viện Anh Những nhà

kinh doanh Đức nào xem xét hoạt động công nghiệp của mình

chẳng những dưới góc độ lờ lãi, mà như là một mắt xích quan

trọng trong toàn bộ sự phát triển to lớn của công nghiệp hiện

nay, của tất cả các nước và do đó cũng quan tâm đến cả những

cái không trực tiếp liên quan đến ngành của họ, sẽ tìm thấy ở

đây một nguồn phong phú và bổ ích và sẽ cảm ơn chúng tôi về

việc chúng tôi đã làm cho họ lưu ý đến cái nguồn đó Đã lâu rồi

cái thời đại mà mỗi ngành kinh tế tồn tại tự nó, biệt lập và bình

yên, giờ đây tất cả các ngành kinh tế đều phụ thuộc lẫn nhau,

phụ thuộc vào tiến bộ trong những nước xa nhất cũng như tiến

bộ trong nước ở ngay sát cạnh, và cũng phụ thuộc vào tình hình

thị trường thế giới luôn biến động Và nếu những hiệp ước mới

của Liên minh thuế quan201 nhanh chóng dẫn tới chỗ giảm thuế

quan bảo hộ trước kia như ta có thể mong đợi thì tất cả các chủ

nhà máy của chúng ta sẽ cần phải tìm hiểu về đại thể lịch sử

công nghiệp hiện đại để biết trước phải xử sự ra sao khi có

những biến đổi như vậy Trình độ học vấn cao hơn từ trước đến

nay đã luôn luôn cứu người Đức chúng ta, mặc dù chúng ta bị

phân tán về chính trị; trong trường hợp này trình độ học vấn cao

hơn sẽ là vũ khí tốt nhất mà chúng ta có thể dùng để chống lại

những người Anh duy vật thô lỗ

Điều trên đây dẫn chúng ta tới một vấn đề khác Khi có luật

mới của Liên minh thuế quan thì chắc chắn chẳng bao lâu sẽ đến

lúc mà trong các quốc gia thành viên của liên minh, chính các

chủ nhà máy đòi hỏi phải quy định như nhau thời gian lao động trong các nhà máy Rõ ràng sẽ là bất công nếu chỉ riêng trong một mình nước Đức, thời gian lao động, đặc biệt là thời gian lao

động của trẻ em và phụ nữ, hoàn toàn phụ thuộc vào ý muốn của chủ nhà máy trong khi ở nước khác nó bị hạn chế đáng kể Vị tất

có thể không cần có hiệp nghị về các quy chế chung trong vấn đề này, đặc biệt là nếu thuế quan bảo hộ thật sự được giảm bớt Nhưng về phương diện này, ở nước Đức chúng ta hoàn toàn chưa

có đủ kinh nghiệm, hoặc thậm chí có thể nói rằng chúng ta hoàn toàn chẳng có tý kinh nghiệm gì và buộc phải chỉ hạn chế ở những bài học có thể rút ra được từ luật pháp của các nước khác, đặc biệt là của nước Anh và từ những hậu quả của pháp luật đó Và ở đây tác giả đã giúp đỡ rất nhiều cho nền công nghiệp Đức qua việc ông trình bày một cách hết sức cặn kẽ lịch

sử luật công xưởng của nước Anh và những kết quả của nó trên cơ

sở những văn kiện chính thức (xem tr.207-281, 399-496 [353-440, 587-716] và nhiều đoạn sau đó) ở nước Đức, người ta hầu như hoàn toàn không biết toàn bộ phương diện đó của lịch sử công nghiệp Anh và độc giả sẽ ngạc nhiên khi biết rằng sau khi pháp lệnh của nghị viện năm nay đặt ít nhất là 1ẵ triệu công nhân dưới sự kiểm soát của chính phủ, giờ đây chẳng những hầu như toàn bộ lao động công nghiệp mà cả đại bộ phận lao động trong công nghiệp gia đình cũng như một phần lao động nông nghiệp ở Anh phải chịu sự giám sát của các quan chức và thời gian lao

động bị hạn chế trực tiếp hay gián tiếp Chúng tôi kêu gọi các chủ nhà máy ở nước ta đừng sợ khuynh hướng của cuốn sách và hãy nghiên cứu một cách nghiêm túc, đặc biệt là phần đó của cuốn sách; không nghi ngờ gì hết, sớm hay muộn chính vấn đề đó

Trang 10

312 ph.ăng-ghen Bình luận về tập I bộ "tư bản" 313

Ph.Ăng-ghen Bình luận về tập I Bộ "tư bản"

của c.mác viết cho báo

các mác tư bản

phê phán khoa kinh tế chính trị tập i

hăm-buốc, mai-xnơ, 1867 1*

Chúng tôi xin nhường cho những người khác nghiên cứu phương

diện lý luận và khoa học thuần tuý của tác phẩm này và phê phán

quan điểm mới của tác giả về nguồn gốc của tư bản Song chúng

tôi không thể không lưu ý đến điều này: tác giả đồng thời cũng

giới thiệu với chúng ta một khối lượng khổng lồ tài liệu lịch sử

và thống kê hết sức có giá trị, hầu như hoàn toàn được lấy từ

những báo cáo chính thức của các uỷ ban đệ trình Nghị viện

Anh Tác giả nhấn mạnh một cách không phải không có căn cứ

tầm quan trọng của những uỷ ban điều tra như vậy đối với việc

nghiên cứu tình hình xã hội bên trong của bất cứ nước nào Những

uỷ ban như vậy, - tất nhiên là nếu trong đó có những người xứng

đáng, - là phương tiện tốt nhất để nhân dân biết về chính mình

và ông Mác vị tất không có lý khi ông nói rằng những cuộc điều

_

1* Karl Marx Das Kapital Kritik der politischen Oekonomie Erster Band Hamburg

tra như vậy nếu được tiến hành ở Đức sẽ đem lại những kết quả khiến chúng ta cũng phải khiếp đảm Thì trước khi có những báo cáo của các uỷ ban đó, có người Anh nào biết được những giai cấp nghèo khổ nhất ở nước họ sống ra sao đâu! Đương nhiên điều dễ hiểu là nếu không có những cuộc điều tra như vậy thì bất cứ pháp lệnh nào về xã hội, như ở Ba-va-ri người ta quen gọi cái đó

là như thế, cũng đều chỉ được ban hành một cách rất thiếu hiểu biết và thường là hoàn toàn mò mẫm Những cái gọi là "thống kê" và "điều tra" do các cơ quan của Chính phủ Đức tiến hành, xét về mặt giá trị của chúng, hoàn toàn chẳng giống tí nào với những số liệu của các uỷ ban đó Chúng ta biết quá rõ cái lối rập khuôn quan liêu: người ta gửi các biểu mẫu đi các nơi, rồi chúng

được điền vào thế nào cũng mặc và gửi về, thế là được; những thông tin để điền vào các biểu mẫu đó, thì người ra rất thường hay lấy ở chính những người mà việc che dấu sự thật lại có lợi cho họ Những cuộc điều tra của các ủy ban ở nước Anh, ví dụ, những cuộc điều tra về điều kiện lao động trong các ngành công nghiệp riêng biệt thì ngược lại, ở đây người ta chẳng những nghe

ý kiến của các chủ xưởng và các đốc công mà còn nghe cả ý kiến của công nhân, cho đến cả ý kiến của các thiếu nữ ít tuổi, và người ta chẳng những hỏi ý kiến những người kể trên mà còn hỏi

ý kiến cả những thầy thuốc, những thẩm phán hoà giải, những nhà tu hành, những thầy giáo và nói chung tất cả những người

có thể cung cấp những thông tin nào đó về một vấn đề nhất định

Đã vậy, mỗi câu hỏi và mỗi câu trả lời đều được ghi tốc ký, được

in đúng từng chữ và được đính kèm vào toàn bộ tài liệu được dùng làm căn cứ cho báo cáo của uỷ ban trong đó có nêu các kết luận và các kiến nghị của uỷ ban Như vậy, bản báo cáo và các tài liệu kèm theo báo cáo đồng thời cũng cho ta thấy một cách hết sức cặn kẽ các thành viên của uỷ ban có hoàn thành nhiệm

vụ của mình hay không và hoàn thành như thế nào; ngoài ra nó còn làm cho một số thành viên uỷ ban khó có thái độ thiên lệch

đối với việc này Ta có thể tìm thấy trong cuốn sách kể trên

Trang 11

314 ph.ăng-ghen Bình luận về tập I bộ "tư bản" 315

những chi tiết về điều đó cũng như vô số ví dụ ở đây, chúng tôi

chỉ muốn nhấn mạnh một điểm thôi, cụ thể là ở Anh đi đôi với việc

mở rộng tự do thương mại và công nghiệp là việc mở rộng sự hạn

chế do pháp luật ấn định đối với ngày lao động của trẻ em và phụ

nữ và do đó hầu hết các ngành công nghiệp đều được đặt dưới sự

giám sát của chính phủ Ông Mác trình bày với chúng ta sự phát

triển đó một cách cặn kẽ về mặt lịch sử khi ông chỉ ra rằng thoạt

đầu vào năm 1833 ngày lao động tại các xí nghiệp kéo sợi và dệt

vải đã bị hạn chế ở 12 giờ bằng cách đó; rằng sau cuộc đấu tranh

lâu dài giữa các chủ nhà máy và công nhân, cuối cùng, ngày lao

động đã được quy định là 10ẵ giờ và 6ẵ giờ đối với trẻ em; rằng từ

năm 1850 trở đi hết ngành công nghiệp này đến ngành công

nghiệp khác bị đặt dưới sự chi phối của đạo luật công xưởng đó:

thoạt đầu là các nhà máy in hoa vải (từ năm 1845), rồi từ năm

1860 là các xưởng nhuộm, các xưởng tẩy sợi, từ năm 1861 là các

nhà máy dệt đăng-ten và các nhà máy dệt bít tất, từ năm 1863 là

ngành đồ gốm, các nhà máy sản xuất giấy dán tường nhà v.v và

cuối cùng từ năm 1867 là hầu hết các ngành công nghiệp quan

trọng đôi chút còn lại Ta có thể đánh giá tầm quan trọng của đạo

luật sau cùng này, tức đạo luật năm 1867, qua sự việc là nó đặt

lao động của ít nhất là một triệu rưỡi phụ nữ và trẻ em dưới sự

bảo vệ và kiểm soát của pháp luật Chúng tôi đặc biệt nhấn mạnh

điểm đó vì ở nước Đức chúng ta đáng tiếc là về phương diện này

nhìn chung tình hình quá tồi tệ và chúng tôi phải cảm ơn tác giả

về việc ông đã nghiên cứu vấn đề này một cách cặn kẽ và ông là

người đầu tiên đã làm cho vấn đề này trở nên dễ hiểu đối với công

chúng Đức Mọi người nhân đạo đều sẽ có ý kiến như thế, dù họ có

thái độ như thế nào đối với những luận điểm lý luận của ông Mác

Bài này không thể phân tích những tài liệu quý giá khác về

lịch sử công nghiệp và nông nghiệp nhưng theo quan điểm của

chúng tôi bất kỳ ai quan tâm đến môn kinh tế chính trị, công

nghiệp, tình cảnh của công nhân, lịch sử văn hoá và luật lao động,

dù đứng trên quan điểm nào đi nữa cũng đều không thể không đọc

Trang 12

Từ khi trên thế giới có các nhà tư bản và công nhân, chưa hề

thấy xuất hiện một cuốn sách nào có tầm quan trọng đối với

công nhân như cuốn sách này Quan hệ giữa tư bản và lao động,

tức là cái trục mà toàn bộ chế độ xã hội hiện nay của chúng ta

đang xoay quanh, lần đầu tiên đã được nghiên cứu một cách

khoa học trong tác phẩm đó, hơn nữa là với một sự sâu sắc và sắc

bén mà chỉ có một người Đức mới làm nổi thôi Dù những tác

_

1* Das Kapital Kritik der politischen Oekonomie , von Karl Marx Erster Band

phẩm của Ô-oen, Xanh-xi-mông, Phu-ri-ê có quý báu và sau này vẫn còn quý báu đến đâu chăng nữa, nhưng cũng chỉ có một người Đức là đạt tới đỉnh cao mà từ trên đó, người ta có thể nhìn bao quát được một cách rõ ràng và cụ thể toàn bộ lĩnh vực những quan hệ xã hội hiện đại, cũng giống như trước mắt, người ngắm cảnh đứng trên một đỉnh cao nhất, thì những cảnh núi non thấp hơn đều hiện rõ ra

Khoa kinh tế chính trị từ trước đến nay vẫn dạy chúng ta rằng lao động là nguồn gốc của mọi của cải và là thước đo tất cả mọi giá trị, thành thử hai vật phẩm mà việc sản xuất đòi hỏi phải tổn phí một thời gian lao động như nhau thì cũng đều có một giá trị như nhau, và vì nói chung chỉ những giá trị bằng nhau mới có thể trao đổi với nhau, cho nên những vật phẩm đó cũng cần phải được trao đổi với nhau Nhưng đồng thời khoa kinh

tế chính trị cũng lại dạy rằng có một loại lao động tích luỹ đặc biệt mà khoa đó gọi là tư bản; rằng nhờ những nguồn phụ chứa

đựng trong nó, tư bản đó nâng cao năng suất của lao động sống lên gấp trăm, gấp nghìn lần và vì thế đòi hỏi phải có một sự đền

bù nào đó mà người ta gọi là lợi nhuận Như tất cả chúng ta đều biết, trong thực tế, sự việc đã diễn ra như sau: những lợi nhuận của lao động đã tích luỹ, lao động chết, thì ngày càng lớn, những tư bản của các nhà tư bản ngày càng khổng lồ, trong khi đó tiền công của lao động sống thì ngày càng nhỏ, và số công nhân chỉ sống bằng tiền công ngày càng đông đảo hơn và nghèo khổ hơn Vậy giải quyết mâu thuẫn đó như thế nào? nếu công nhân nhận được toàn bộ giá trị lao động mà họ đã bỏ vào sản phẩm của họ, thì lợi nhuận cho nhà tư bản lấy ở đâu ra? Nhưng vì chỉ có những giá trị bằng nhau mới trao đổi được với nhau, cho nên ở đây cũng phải như vậy Mặt khác, làm thế nào mà những giá trị bằng nhau lại

có thể đem trao đổi với nhau, làm thế nào mà người công nhân lại có thể nhận được toàn bộ giá trị của sản phẩm của mình nếu

- như nhiều nhà kinh tế chính trị học đã thừa nhận - một khi sản phẩm đó được đem phân chia giữa họ và nhà tư bản? Khoa kinh tế chính trị trước kia vẫn chịu bó tay trước mâu thuẫn đó,

Trang 13

318 ph.ăng-ghen Bình luận về tập I bộ "tư bản" 319

viết hoặc ấp úng đưa ra những câu chẳng nói lên điều gì cả

Ngay cả những nhà phê bình khoa kinh tế chính trị học theo lập

trường xã hội chủ nghĩa, cho đến nay cũng vẫn không thể làm

được điều gì khác hơn là chỉ nêu mâu thuẫn đó lên thôi; chưa có

một người nào giải quyết được mâu thuẫn đó, cho mãi đến khi,

cuối cùng, Mác lần theo quá trình hình thành của lợi nhuận ấy

lên tận nguồn gốc của nó và do đó làm cho toàn bộ vấn đề hoàn

toàn sáng tỏ

Khi nghiên cứu tư bản, Mác xuất phát từ sự thật giản đơn ai

cũng biết là các nhà tư bản làm cho tư bản của họ tăng thêm giá

trị thông qua việc trao đổi: họ đem tiền của họ ra mua hàng hóa

rồi sau đó đem bán lại hàng hóa ấy lấy một số tiền nhiều hơn số

đã tốn kém cho họ Ví dụ, một nhà tư bản mua bông với 1000

ta-le, đem bán lại số bông ấy lấy 1100 ta-le, và như vậy là "kiếm

được" 100 ta-le Chính số tiền 100 ta-le dôi ra đó so với số vốn

lúc ban đầu là cái mà Mác gọi là giá trị thặng dư Giá trị thặng

dư đó do đâu mà ra? Theo giả thiết của các nhà kinh tế học, chỉ

những giá trị bằng nhau mới trao đổi được với nhau, và xét theo

quan điểm lý luận trừu tượng điều ấy là đúng Do đó, việc mua

bông và việc bán lại số bông ấy không thể đem lại giá trị thặng

dư, cũng giống như việc đem đổi một đồng ta-le bằng bạc lấy 30

đồng din-béc grô-sen, rồi lại đổi số tiền lẻ đó lấy đồng ta-le bằng

bạc - sự trao đổi như thế không làm cho người ta giàu lên mà

cũng không làm cho người ta nghèo đi Giá trị thặng dư cũng

không thể xuất hiện do chỗ người bán đã bán hàng hóa cao hơn

giá trị của nó, hay người mua đã mua hàng hóa thấp hơn giá trị

của nó, vì mỗi người trong bọn họ đều lần lượt khi thì làm người

mua, khi làm người bán, và do đó cái mà trong một trường hợp

họ bị mất đi thì trong trường hợp khác họ lại được lại Giá trị

thặng dư cũng không thể xuất hiện do chỗ những người mua và

người bán lừa bịp lẫn nhau, bởi vì điều đó sẽ không sản sinh ra

giá trị mới hay giá trị th ặng dư nào cả, mà chỉ phân phối lại

số tư bản hiện có giữa các nhà tư bản một cách khác đi thôi

Mặc dầu nh à tư bản mu a hàn g hóa theo gi á trị của chúng và

bán l ại h àng hóa th eo gi á trị của ch ún g, nhưn g h ắn ta vẫn

rút ra được nhiều giá trị hơn là số mà hắn đã bỏ ra Vậy thì điều

đó diễn ra như thế nào?

Trong những quan hệ xã hội hiện nay, nhà tư bản tìm thấy

trên thị trường hàng hóa một thứ hàng hóa có cái đặc tính là:

việc tiêu dùng nó là một nguồn sinh ra giá trị mới, là sự sáng tạo

ra một giá trị mới, và hàng hóa đó chính là sức lao động

Giá trị của sức lao động là gì? Giá trị của mỗi hàng hóa được

đo bằng số lao động cần thiết để sản xuất ra hàng hóa đó Sức lao động tồn tại dưới hình thức một người công nhân đang sống, người công nhân đó cần đến một số lượng tư liệu sinh hoạt nhất

định để sinh sống cũng như để nuôi sống gia đình mình, gia đình này đảm bảo cho sức lao động tiếp tục tồn tại ngay cả sau khi người công nhân chết Vậy số thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt đó đại biểu cho giá trị của sức lao động Nhà tư bản trả công cho công nhân hàng tuần, và như thế là mua cái quyền sử dụng lao động của người công nhân trong một tuần Cho tới đây, nói chung các ngài kinh tế học sẽ phải

đồng ý với chúng tôi trong vấn đề về giá trị của sức lao động

Và bây giờ nhà tư bản bắt công nhân của hắn ta làm việc Trong một thời gian nhất định, người công nhân sẽ cung cấp

được một số lượng lao động đại biểu trong tiền công hàng tuần của anh ta Giả thử rằng tiền công hàng tuần của một công nhân

đại biểu cho ba ngày lao động, như vậy, người công nhân nào bắt

đầu làm việc ngày thứ hai, thì hết chiều ngày thứ tư là đã hoàn

lại đủ cho nhà tư bản toàn bộ giá trị của số tiền công đã trả

Nhưng sau đó, anh ta có ngừng làm việc không? Tuyệt nhiên

không Nhà tư bản đã mua lao động của anh ta trong một tuần,

thì anh ta cũng phải làm việc trong cả ba ngày cuối tuần nữa Số

lao động thặng dư đó của công nhân, lao động ngoài thời gian

cần thiết để bù lại số tiền công của anh ta, là nguồn gốc của giá

trị thặng dư, của lợi nhuận, của việc tư bản cứ ngày càng không

ngừng lớn thêm mãi

Khi chúng tôi nói rằng trong ba ngày người công nhân làm

Trang 14

320 ph.ăng-ghen Bình luận về tập I bộ "tư bản" 321

ra được số tiền công mà anh ta đã nhận được, còn ba ngày kia

anh ta làm cho nhà tư bản, thì xin chớ chê trách chúng tôi rằng

đó là một giả thiết tùy tiện Anh ta cần đến đúng ba ngày để

hoàn lại tiền công, hay cần đến hai hoặc bốn ngày, thì ở đây điều

đó hoàn toàn không quan trọng và nó thay đổi tuỳ theo trường

hợp; nhưng điều chủ yếu chính là ở chỗ ngoài cái phần lao động

mà hắn trả công ra, nhà tư bản còn bóp nặn được cái phần lao

động mà hắn không trả công và điều đó quyết không phải là một

giả thiết tuỳ tiện, bởi vì ngày nào mà nhà tư bản chỉ còn thường

xuyên nhận được của công nhân số lao động ngang với số mà hắn

trả cho công nhân trong tiền công, thì ngày đó hắn tất sẽ đóng

ngay cửa xưởng của hắn lại, vì trong trường hợp đó toàn bộ lợi

nhuận của hắn đều sẽ tan thành mây khói

Đến đây chúng ta đã giải quyết được tất cả những mâu thuẫn

kể trên Bây giờ nguồn gốc của giá trị thặng dư (trong đó lợi

nhuận của nhà tư bản chiếm một phần lớn) đã hoàn toàn rõ ràng

và dễ hiểu Giá trị của sức lao động được trả tiền, nhưng giá trị

đó thấp hơn rất nhiều so với giá trị mà nhà tư bản có thể bòn rút

được ở sức lao động, và số chênh lệch đó tức lao động không được

trả công, chính đã cấu thành cái phần của nhà tư bản hay nói

cho đúng hơn, cấu thành cái phần mà giai cấp các nhà tư bản đã

thu được Bởi vì ngay cả số lợi nhuận mà trong thí dụ trên đây

người lái buôn bông đã rút ra được từ số bông của hắn nếu giá

bông không tăng - nhất định phải gồm lao động không được trả

công Người lái buôn đã bán hàng hóa của mình cho một chủ

xưởng sản xuất vải, chủ xưởng này, ngoài số tiền 100 đồng ta-le

kia, lại còn có thể rút ra được cho mình một số lợi nhuận nữa từ

sản phẩm của hắn, và do đó hắn sẽ chia với người lái buôn cái

phần lao động không trả công đã chiếm được Chính phần lao

động không được trả công đó là cái nói chung nuôi sống tất cả

các thành viên không lao động trong xã hội Với số lao động

không được trả công đó người ta đóng các khoản thuế của nhà

nước và của địa phương trong chừng mực những thuế đó đánh vào

giai cấp các nhà tư bản, nộp địa tô cho bọn địa chủ, v.v Toàn bộ

chế độ xã hội hiện tồn dựa trên lao động không được trả công

đó

Mặt khác, sẽ thật là phi lý nếu giả định rằng lao động không

được trả công chỉ xuất hiện trong những điều kiện hiện nay, trong đó sản xuất là công việc của một bên là các nhà tư bản và bên kia là công nhân làm thuê Trái lại Giai cấp bị áp bức ở mọi thời đại đều phải cung cấp lao động không công Trong suốt cái thời kỳ dài đằng đẵng mà chế độ nô lệ là hình thức tổ chức lao

động chiếm ưu thế, những người nô lệ bị buộc phải lao động nhiều hơn rất nhiều so với cái mà người ta bù lại cho họ dưới hình thức tư liệu sinh hoạt Dưới sự thống trị của chế độ nông nô, và mãi cho đến khi chế độ lao dịch của nông dân được xóa bỏ, thì tình hình cũng như vậy; thậm chí ở đó sự khác nhau giữa thời gian

mà người nông dân làm việc để duy trì sự sống của mình và thời gian mà người đó làm ra lao động thặng dư cho lãnh chúa còn bộc lộ ra một cách rõ rệt, vì lao động cho địa chủ được tiến hành tách biệt hẳn với lao động cho bản thân mình Bây giờ hình thức

đã thay đổi, nhưng thực chất vẫn như cũ, và nơi nào mà "một bộ phận xã hội chiếm độc quyền về những tư liệu sản xuất thì nơi

đó người lao động, tự do hay không tự do, đều buộc phải thêm vào thời gian lao động cần thiết để nuôi sống bản thân mình một

số thời gian lao động dôi ra dùng để sản xuất tư liệu sinh hoạt cho người chiếm hữu tư liệu sản xuất" (Mác, tr.202) [347]

II Trong bài trước, chúng ta đã thấy mỗi công nhân làm thuê cho nhà tư bản đều làm hai thứ lao động Trong một phần thời gian lao động của mình, anh ta hoàn lại số tiền công mà nhà tư bản

đã trả cho anh ta, và Mác gọi cái phần lao động đó là lao động

cần thiết Nhưng sau đó, anh ta còn phải tiếp tục làm việc và

trong thời gian này anh ta sản xuất ra giá trị thặng dư cho nhà

tư bản, trong đó lợi nhuận chiếm một phần quan trọng Phần lao

động này gọi là lao động thặng dư

Trang 15

322 ph.ăng-ghen Bình luận về tập I bộ "tư bản" 323

Chúng ta giả định rằng công nhân làm việc ba ngày trong

tuần lễ để hoàn lại số tiền công của mình và ba ngày để sản xuất

ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản Nói một cách khác, như thế

nghĩa là trong một ngày lao động mười hai giờ anh ta làm việc

sáu giờ để tạo ra tiền công và sáu giờ để tạo ra giá trị thặng dư

Trong một tuần lễ người ta chỉ có thể rút ra được sáu ngày, và

nếu có thêm vào đó cả ngày chủ nhật nữa thì cũng chỉ có bảy

ngày thôi, nhưng trong mỗi một ngày, người ta có thể rút được

sáu, tám, mười, mười hai, mười lăm giờ lao động và thậm chí còn

nhiều hơn thế nữa Người công nhân đã bán cả một ngày lao

động cho nhà tư bản để lấy tiền công hàng ngày của mình Vậy

thế nào là một ngày lao động? Là tám giờ hay mười tám giờ?

Nhà tư bản quan tâm đến việc làm cho ngày lao động càng dài

càng tốt Ngày lao động càng dài thì nó càng tạo ra được nhiều

giá trị thặng dư Công nhân đã cảm thấy một cách đúng đắn

rằng mỗi giờ lao động mà anh ta làm ngoài số để hoàn lại tiền

công, đều bị cướp đi ở anh ta một cách không chính đáng; qua

kinh nghiệm của bản thân, anh ta cảm thấy lao động trong một

thời gian quá dài nghĩa là gì Nhà tư bản đấu tranh vì lợi nhuận

của hắn, công nhân đấu tranh vì sức khoẻ của mình, vì vài giờ

nghỉ ngơi hàng ngày của mình, có thể chẳng những lao động, ngủ

và ăn ra, mà còn có thể tự biểu hiện như là một con người cả về

những mặt khác nữa Nhân tiện cũng xin nhận xét qua rằng

hoàn toàn không phải là tuỳ ở thiện ý của riêng từng nhà tư bản

mà họ muốn hay không muốn tham gia cuộc đấu tranh đó, vì sự

cạnh tranh bắt buộc ngay cả người bác ái nhất trong bọn họ cũng

phải liên kết với những đồng nghiệp của mình và áp dụng thời

gian lao động cũng dài như những người kia

Cuộc đấu tranh để quy định ngày lao động diễn ra ngay từ khi

những người công nhân tự do lần đầu tiên bước lên vũ đài lịch sử

cho đến tận ngày nay Trong những ngành công nghiệp khác nhau,

có những ngày lao động dài ngắn khác nhau, do tập quán quy

định nhưng trong thực tế, chúng vẫn ít khi được tôn trọng Chỉ ở

nơi nào pháp luật quy định ngày lao động và theo dõi việc chấp

hành điều quy định ấy, thì ở đó người ta mới có thể nói rằng có ngày lao động được hạn chế nghiêm ngặt Nhưng cho đến nay,

điều đó hầu như chỉ diễn ra ở các khu công nghiệp nước Anh mà thôi ở đó, đã xác lập ngày lao động mười giờ (10 giờ rưỡi trong năm ngày và 7 giờ rưỡi cho ngày thứ bảy) đối với tất cả phụ nữ

và trẻ em từ 13 đến 18 tuổi, và vì không có họ thì đàn ông không thể làm việc được, nên cả đàn ông cũng được hưởng ngày lao

động mười giờ Đạo luật đó, công nhân công xưởng Anh đã giành

được qua bao nhiêu năm kiên trì, bằng một cuộc đấu tranh khốc liệt nhất, ngoan cường nhất chống bọn chủ xưởng, bằng cách dựa vào quyền tự do báo chí, quyền lập hội và hội họp, cũng như bằng việc lợi dụng một cách khéo léo những sự chia rẽ trong bản thân giai cấp thống trị Đạo luật đó đã trở thành kẻ bảo vệ cho công nhân Anh Nó đã dần dần được áp dụng cho tất cả các ngành công nghiệp lớn, và năm ngoái đây đã được áp dụng hầu như trong

toàn bộ nền công nghiệp hay ít ra cũng được áp dụng trong tất cả

những ngành có thuê phụ nữ và trẻ em làm việc Về lịch sử của việc quy định ngày lao động bằng pháp luật đó ở Anh, thì cuốn sách này có những tài liệu hết sức cặn kẽ Quốc hội Bắc Đức trong khoá họp sắp tới đây cũng sẽ thảo luận một quy chế công nghiệp, và đồng thời cũng thảo luận cả việc chế định lao động công xưởng Chúng ta mong rằng sẽ không có một vị đại biểu nào

do công nhân Đức bầu ra, tới tham gia thảo luận đạo luật đó mà

lại không nghiên cứu kỹ trước quyển sách của Mác ở đây người

ta sẽ có thể thu nhận được rất nhiều điều Sự chia rẽ trong các

giai cấp thống trị ở Đức thuận lợi cho công nhân hơn là những sự

chia rẽ đã xảy ra trước đây ở Anh, bởi vì quyền đầu phiếu phổ

thông buộc các giai cấp thống trị phải ve vãn công nhân Trong

những điều kiện đó, bốn hay năm đại biểu của giai cấp vô sản

cũng đã là một lực lượng rồi, nếu như họ biết lợi dụng địa vị của

mình, nếu như trước hết họ biết đây là vấn đề gì, biết cái mà bọn tư sản không biết Và nhằm mục đích đó, quyển sách của Mác cung cấp cho họ tất cả mọi tài liệu dưới dạng hoàn chỉnh

Chúng ta sẽ không nói đến cả một loạt những nghiên cứu tuyệt vời khác, chủ yếu là có ý nghĩa về mặt lý luận, và chúng tôi sẽ

Trang 16

324 ph.ăng-ghen Bình luận về tập I bộ "tư bản" 325

bàn ngay đến chương cuối, nói về tích luỹ tư bản Trong chương

này, trước hết ta thấy chứng minh rằng phương thức sản xuất tư

bản chủ nghĩa, tức là phương thức sản xuất đòi hỏi phải có sự

tồn tại một bên là các nhà tư bản và bên khác là các công nhân

làm thuê, - phương thức sản xuất đó không những thường xuyên

tái sản xuất ra tư bản cho nhà tư bản, mà đồng thời cũng luôn

luôn sản xuất ra sự nghèo khổ của công nhân; do đó đảm bảo duy

trì tình trạng là ở một bên bao giờ cũng có những nhà tư bản là

những kẻ chiếm hữu tất cả các tư liệu sinh hoạt, tất cả các

nguyên liệu và tất cả các công cụ lao động, và bên khác là quần

chúng công nhân đông đảo là những người bắt buộc phải bán sức

lao động của mình cho những nhà tư bản ấy để đổi lấy một số tư

liệu sinh hoạt nhất định, trong trường hợp khá nhất cũng chỉ đủ

để duy trì năng lực lao động của họ và để nuôi lớn một thế hệ

người vô sản mới có khả năng lao động Nhưng tư bản không

phải chỉ tự tái sản xuất ra thôi đâu, nó không ngừng tăng thêm

và lớn lên - đồng thời thế lực của nó đối với giai cấp công nhân

không có của cũng tăng thêm Và giống như bản thân tư bản

được tái sản xuất ra với những quy mô ngày càng lớn, phương

thức sản xuất tư bản chủ nghĩa hiện đại cũng tái sản sinh ra giai

cấp những người công nhân không có của với một quy mô ngày

càng lớn hơn và với một số lượng ngày càng đông hơn "Sự tích

luỹ của tư bản tái sản xuất ra mối quan hệ tư bản chủ nghĩa với

quy mô mở rộng: một bên là nhiều nhà tư bản hơn hay những

nhà tư bản lớn hơn, và ở bên kia là nhiều công nhân làm thuê

hơn Như vậy tích luỹ tư bản là làm tăng thêm giai cấp vô sản"

(tr.600) [865] Nhưng do sự phát triển của nền sản xuất cơ khí,

do nông nghiệp được cải tiến, v.v., người ta cần một số công nhân

ngày càng ít hơn để sản xuất ra cùng một số lượng sản phẩm như

cũ, và sự cải tiến đó, có nghĩa là sự hình thành nên số công nhân

thừa ra, lại diễn ra nhanh hơn cả bản thân sự tăng lên của tư

bản Vậy số công nhân ngày càng tăng lên đó sẽ ra sao? Họ

hình thành một đội quân hậu bị công nghiệp; trong những thời

kỳ kinh doanh kém hay trung bình, đội quân này bị trả công

thấp hơn giá trị của lao động của họ và không có việc làm thường

xuyên, hay rơi vào sự bảo trợ của hoạt động từ thiện công cộng; nhưng trong những lúc kinh doanh đặc biệt phát đạt đội quân đó lại là không thể thiếu được đối với giai cấp các nhà tư bản, như

ta thấy rõ điều đó qua thí dụ nước Anh Trong mọi hoàn cảnh,

đội quân này được dùng để đè bẹp sức phản kháng của những công nhân có việc làm thường xuyên và để kìm giữ tiền công của

họ mức thấp "Của cải xã hội càng nhiều , thì nhân khẩu thừa

tương đối hay đội quân hậu bị công nghiệp càng đông Nhưng

đội quân hậu bị đó càng đông so với đội quân lao động tại ngũ (thường xuyên có việc làm) thì số nhân khẩu thừa cố định hoặc những tầng lớp công nhân mà sự nghèo khổ của họ tỷ lệ nghịch1*

với sự giày vò của lao động của họ lại càng thêm đông đảo Sau hết, những tầng lớp cùng khổ trong giai cấp công nhân càng

đông và đội quân hậu bị công nghiệp càng lớn, thì sự bần cùng

chính thức càng lớn Đó là quy luật tuyệt đối, phổ biến của tích

luỹ tư bản chủ nghĩa" (tr.631) [907]

Đó là một vài quy luật trong số những quy luật chủ yếu của chế độ xã hội tư bản chủ nghĩa hiện đại, được chứng minh một cách hết sức khoa học, và các nhà kinh tế học quan phương thậm chí cũng tránh không dám mưu toan bác bỏ chúng Nhưng như thế thì chúng ta đã nói hết chưa? Chưa đâu Mác nhấn mạnh những mặt xấu của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa một cách gay gắt như thế nào thì ông cũng chứng minh một cách rõ ràng như thế rằng hình thái xã hội đó là cần thiết để phát triển lực lượng

sản xuất của xã hội tới một trình độ cao đến mức làm cho tất cả

mọi thành viên trong xã hội đều có thể phát triển như nhau một cách xứng đáng với con người Tất cả các hình thái xã hội trước

đây đều quá nghèo nàn để có thể làm được điều đó Chỉ có nền sản

_

1* Trong bản dịch tiếng Pháp tập I bộ "Tư bản" đã được chính Mác duyệt lại, Mác

đã sửa lại luận điểm này Xem C.Mác và Ph.Ăng-ghen, Toàn tập, tiếng Việt, Nhà

Trang 17

326 ph.ăng-ghen

xuất tư bản chủ nghĩa là tạo ra được những của cải và những lực

lượng sản xuất cần thiết để làm việc đó; nhưng đồng thời với số

công nhân bị áp bức đông đảo nó cũng tạo ra cái giai cấp xã hội

ngày càng đứng trước sự cần thiết phải nắm lấy những của cải

và những lực lượng sản xuất ấy vào tay mình để sử dụng chúng

cho toàn thể xã hội, chứ không phải cho riêng một giai cấp độc

quyền như hiện nay

Do Ph.Ăng-ghen viết vào giữa ngày 2 và 13

Ph.Ăng-ghen Tóm tắt tập i

Bộ "tư bản" của c.mác 204

c mác tư bản tập i quyển thứ nhất

quá trình sản xuất của tư bản

Do Ph.Ăng-ghen viết năm 1868 Công bố lần đầu tiên bằng tiếng Nga trong

"Văn khố của C.Mác và Ph.Ăng-ghen", quyển IV, 1929

In theo bản thảo Nguyên văn là tiếng Đức

Trang 18

Của cải của các xã hội mà trong đó nền sản xuất tư bản chủ

nghĩa thống trị đều do hàng hóa cấu thành Hàng hóa là vật có

giá trị sử dụng; giá trị này tồn tại trong tất cả các hình thái xã

hội, còn trong xã hội tư bản chủ nghĩa thì giá trị sử dụng đồng

thời là cái chứa đựng vật chất của giá trị trao đổi

Giá trị trao đổi phải có tertium comparationis1*để đo nó: đó là

lao động, thực thể xã hội chung của giá trị trao đổi, cụ thể là thời

gian lao động xã hội cần thiết đã được vật hoá trong nó

Giống như hàng hóa là cái có hai mặt: giá trị sử dụng và giá trị trao đổi, lao động chứa đựng trong hàng hóa cũng có hai mặt:

một mặt là hoạt động sản xuất nhất định, như lao động của người thợ dệt, lao động của người thợ may v.v., lao động có ích,

và mặt khác là sự tiêu hao thuần tuý sức lao động của con người,

là lao động trừu tượng được kết tinh Cái thứ nhất sản xuất ra

giá trị sử dụng, cái thứ hai sản xuất ra giá trị trao đổi và chỉ có cái thứ hai này mới có thể so sánh được về mặt số lượng (những

sự khác nhau giữa lao động lành nghề và lao động không lành

nghề, giữa lao động phức tạp và lao động giản đơn chứng thực

điều đó)

Như vậy thực thể của giá trị trao đổi là lao động trừu tượng, _

Trang 19

330 ph.ăng-ghen Tóm tắt tập I bộ "tư bản" của C.Mác chương I 331

lượng giá trị trao đổi là độ dài của thời gian lao động trừu tượng

Chúng ta hãy xem xét thêm hình thức của giá trị trao đổi

1) x hàng hóa a = y hàng hóa b; giá trị của hàng hóa này biểu

hiện ở giá trị sử dụng của hàng hóa khác là giá trị tương đối của

hàng hóa đó Biểu hiện sự ngang giá của hai hàng hóa là hình

thức giản đơn của giá trị tương đối Trong đẳng thức kể trên y

hàng hóa b là vật ngang giá Trong vật ngang giá đó, x hàng

hóa a có được hình thái giá trị của mình khác với hình thái tự

nhiên của nó, trong khi y hàng hóa b đồng thời có được thuộc

tính có khả năng trao đổi trực tiếp ngay cả trong hình thức tự

nhiên của nó Do những điều kiện lịch sử nhất định, giá trị trao

đổi của hàng hóa biểu hiện ở giá trị sử dụng của hàng hóa Vì

thế hàng hóa không thể biểu hiện giá trị trao đổi ở giá trị sử

dụng của chính bản thân nó, nó chỉ có thể biểu hiện được giá trị

trao đổi của nó ở giá trị sử dụng của một hàng hóa khác Chỉ khi

người ta đem so và đánh giá hai sản phẩm lao động cụ thể là

bằng nhau thì thuộc tính của lao động cụ thể chứa đựng trong

hai sản phẩm với tính cách là lao động trừu tượng của con người

mới bộc lộ, nghĩa là hàng hóa không thể lấy lao động cụ thể chứa

đựng trong chính bản thân nó làm hình thức hoá thân giản đơn

của lao động trừu tượng mà nó chỉ có thể lấy lao động cụ thể

chứa đựng trong hàng hóa thuộc loại khác làm hình thức hoá

thân đơn giản của lao động trừu tượng,

Đẳng thức x hàng hóa a = y hàng hóa b tất nhiên giả định

rằng x hàng hóa a cũng có thể biểu hiện trong những hàng hóa

khác; do đó;

2) x hàng hóa a = y hàng hóa b = z hàng h óa c = v hàng hóa

d = u hàng hóa e v.v., v.v., v.v Đó là hình thái tương đối mở

rộng của giá trị ở đây x hàng hóa a được đem so không phải với

một hàng hóa mà được đem so với tất cả mọi hàng hóa với tính

cách là hình thức biểu hiện giản đơn của lao động thể hiện trong

bản thân nó Nhưng bằng cách hoán vị đơn giản, hình thức này

ở đây hàng hóa có được hình thái tương đối chung của giá trị,

trong đó tất cả hàng hóa đều tách khỏi giá trị sử dụng của mình

và với tư cách là hoá thân của lao động trừu tượng, chúng được

đánh giá là bằng x hàng hóa a Hơn nữa x hàng hóa a là hình

thái chủng loại của vật ngang giá đối với tất cả các hàng hóa

khác, nó là vật ngang giá chung của chúng; lao động đã được vật

hoá trong nó trực tiếp biểu hiện như là sự thực hiện của lao động trừu tượng, như là lao động nói chung Còn bây giờ -

4) Mỗi hàng hóa trong loạt kể trên đều có thể đảm nhận vai trò vật ngang giá chung, nhưng trong cùng một lúc thì bao giờ

cũng chỉ có một trong số đó có thể đảm nhận được vai trò đó, vì

nếu tất cả các hàng hóa đều là vật ngang giá chung, thì đến lượt

mình, mỗi hàng hóa đều loại số còn lại ra khỏi số vật ngang giá

chung đó Hình thái thứ ba không phải do x hàng hóa a, mà do

những hàng hóa khác, tạo ra một cách khách quan Do đó, một hàng hóa nhất định phải đảm nhận vai trò đó, - sau này hàng hóa đó có thể thay đổi - và chỉ do như vậy, hàng hóa mới hoàn toàn trở thành hàng hóa Hàng hóa đặc biệt này, cái hàng hóa

mà hình thái vật ngang giá chung gắn liền với hình thái tự

nhiên của nó là tiền tệ

Cái khó khi nhận thức về hàng hóa là ở chỗ hàng hóa cũng

như tất cả các phạm trù của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa biểu hiện quan hệ giữa người với người dưới cái vỏ vật thể Khi đem so những sản phẩm của mình với nhau với tư cách là

hàng hóa, là những người sản xuất đem so các dạng lao động khác

nhau của mình với tư cách là lao động chung của con người, nếu

Trang 20

332 ph.ăng-ghen Tóm tắt tập I bộ "tư bản" của C.Mác chương I 333

thiếu sự trung gian của vật thể đó, thì họ không làm được việc

đó Do đó, quan hệ giữa người với người biểu hiện thành quan hệ

giữa vật với vật

Đối với xã hội, mà trong đó sản xuất hàng hóa thống trị, thì

đạo Thiên chúa, đặc biệt là đạo tin lành là tôn giáo thích hợp

II- quá trình trao đổi hàng hóa

Trong trao đổi, hàng hóa mới chứng minh được hàng hóa là

hàng hóa Những người chủ của hai hàng hóa phải có ý muốn

trao đổi hàng hóa của mình và, do đó họ phải thừa nhận lẫn

nhau là những người sở hữu tư nhân Quan hệ pháp lý này, mà

hình thức của nó là bản hợp đồng, chỉ là quan hệ ý chí trong đó

phản ánh quan hệ kinh tế Nội dung của quan hệ pháp lý hoặc

quan hệ ý chí đó là do chính quan hệ kinh tế đem lại (tr.45)

Hàng hóa là giá trị sử dụng đối với người không phải là chủ

của nó và nó không phải là giá trị sử dụng đối với người chủ của

nó Do đó mới có nhu cầu trao đổi Nhưng mỗi người chủ của

hàng hóa đều muốn nhận được, thông qua trao đổi, những giá trị

sử dụng đặc biệt cần thiết cho anh ta; bởi vậy trao đổi là một quá

trình có tính chất cá nhân Mặt khác anh ta muốn bán hàng hóa

của mình với tư cách là giá trị, nghĩa là thông qua bất kỳ hàng

hóa nào, không kể là hàng hóa của anh ta có là giá trị sử dụng

đối với người chủ của hàng hóa khác hay không, bởi vậy trao đổi

đối với anh ta là một quá trình xã hội chung Nhưng cùng một

quá trình không thể vừa là một quá trình có tính chất cá nhân

lại vừa là một quá trình xã hội chung đối với tất cả những

người chủ hàng hóa Đối với mỗi người chủ hàng hóa thì hàng

hóa của anh ta là vật ngang giá chung, còn tất cả các hàng hóa

khác là một số lượng nhất định những vật ngang giá đặc thù của

hàng hóa của anh ta Nhưng vì tất cả những người chủ hàng

hóa đều giống nhau ở điểm đó, nên không một hàng hóa nào là vật

ngang giá chung cả, và vì vậy không một hàng hóa nào có hình

thái giá trị tương đối chung trong đó các hàng hóa có thể đồng nhất với nhau với tư cách là giá trị và có thể so sánh được với nhau với tư cách là những lượng giá trị Như vậy, hàng hóa đối diện với nhau hoàn toàn không phải với tư cách là hàng hóa, mà chỉ với tư cách là những sản phẩm (tr.47)

Hàng hóa chỉ có thể so với nhau với tư cách là những giá trị,

và vì vậy, với tư cách là những hàng hóa, khi chúng được đem

đối lập với một hàng hóa khác nào đó, với tư cách là vật ngang

giá chung Nhưng chỉ có hành vi xã hội mới có thể làm cho một

hàng hóa nhất định trở thành vật ngang giá chung - tiền tệ

Mâu thuẫn nội tại của hàng hóa với tư cách là sự thống nhất trực tiếp giữa giá trị sử dụng và giá trị trao đổi, với tư cách là sản phẩm của lao động tư nhân có ích và với tư cách là hoá thân trực tiếp có tính chất xã hội của lao động trừu tượng của con người - mâu thuẫn đó không chịu nằm im cho tới khi nó mang hình thức tách đôi hàng hóa ra thành hàng hóa và tiền (tr.48)

Vì tất cả những hàng hóa khác chỉ là những vật ngang giá riêng biệt của tiền, còn tiền là vật ngang giá chung của những hàng hóa khác, nên những hàng hóa đó là những hàng hóa riêng biệt so với tiền là hàng hóa chung (tr.51) Quá trình trao đổi

không đem lại giá trị cho thứ hàng hóa mà nó đã biến thành tiền,

mà chỉ đem lại cho hàng hóa đó hình thức giá trị của nó (tr.51)

Bái vật giáo là ở chỗ: dường như hàng hóa trở thành tiền không phải vì những hàng hóa khác dùng nó để biểu hiện một cách toàn diện giá trị của chúng, mà trái lại, dường như các hàng hóa này

dùng nó để biểu hiện giá trị của mình bởi vì nó là tiền

III tiền tệ, hay lưu thông hàng hóa

A thước đo giá trị (giả định vàng là tiền)

Tiền với tư cách là thước đo giá trị, là hình thức biểu tất yếu của thước đo giá trị nội tại của hàng hóa - thời gian lao động

Trang 21

334 ph.ăng-ghen Tóm tắt tập I bộ "tư bản" của C.Mác chương I 335

Biểu hiện tương đối giản đơn của giá trị của hàng hóa bằng tiền:

x hàng hóa a = y tiền, là giá cả của hàng hóa (tr.55)

Giá cả của hàng hóa, hình thức tiền tệ của nó được biểu hiện

bằng tiền hình dung trong tưởng tượng, do đó, tiền là thước đo

giá trị chỉ là tiền trong trí tưởng tượng mà thôi (tr.57)

Nhưng một khi giá trị đã biến thành giá cả, thì về mặt kỹ

thuật cần phải phát triển hơn nữa thước đo giá trị thành tiêu

chuẩn giá cả; tức là phải xác định một lượng vàng nhất định để

đo những lượng vàng khác nhau Điều đó hoàn toàn khác với

thước đo giá trị, vì bản thân thước đo giá trị phụ thuộc vào giá

trị của vàng, nhưng đối với tiêu chuẩn giá cả thì giá cả của vàng

thế nào cũng không quan trọng (tr.59)

Khi giá cả được biểu hiện bằng những tên gọi để tính toán của

vàng thì tiền được dùng làm tiền để tính toán

Nếu giá cả với tư cách là chỉ số của lượng giá trị của hàng

hóa, đồng thời cũng là chỉ số của tỉ số trao đổi giữa hàng hóa đó

và tiền, thì cũng không thể từ đó rút ra điều ngược lại, là chỉ số

của tỉ số trao đổi giữa hàng hóa và tiền nhất thiết phải là chỉ số

của lượng giá trị của hàng hóa Nếu hoàn cảnh cho phép hoặc

buộc phải bán hàng hóa cao hơn hoặc thấp hơn giá trị của nó, thì

những giá bán đó không phù hợp với giá trị của hàng hóa, nhưng

chúng vẫn đều là giá cả của hàng hóa, bởi vì chúng là: 1) hình

thái giá trị của hàng hóa, là tiền, và 2) là những chỉ số của tỉ số

trao đổi giữa hàng hóa và tiền

Do đó, khả năng có sự không phù hợp về lượng giữa giá cả

với lượng giá trị đã có ngay trong bản thân hình thức giá cả

Và điều đó không phải là thiếu sót của hình thức này, - ngược

lại, chính nét đặc biệt đó lại làm cho hình thức đó thành hình

thức thích hợp của các phương thức sản xuất mà trong đó quy

tắc chỉ có thể mở được đường đi cho mình xuyên qua sự hỗn độn

với tư cách là quy luật của những con số trung bình tác động

một cách mù quáng Nhưng hình thức giá cả cũng có thể che

giấu trong bản thân nó mâu thuẫn về chất, do đó giá cả nói chung không còn là biểu hiện của giá trị nữa Lương tâm, danh dự v.v cũng có thể có hình thức hàng hóa do giá cả của chúng (tr.61) Việc đo giá trị bằng tiền, hình thức giá cả, phải có tiền đề là

sự chuyển nhượng; việc quy định giá cả trong tưởng tượng phải

có tiền đề là sự quy định giá cả trên thực tế Từ đó nảy sinh ra lưu thông

B phương tiện lưu thông

a) Sự biến đổi hình thái của hàng hóa

Hình thái giản đơn: H-T-H, nội dung vật chất của nó = H-H Giá trị trao đổi được trả đi, còn giá trị sử dụng thì được chiếm hữu

)Giai đoạn thứ nhất: H-T, là việc bán, ở đây có hai người

tham gia; do đó, có khả năng thất bại, tức là bán thấp hơn giá trị hoặc thậm chí thấp hơn cả chi phí sản xuất, nếu giá trị xã hội của hàng hóa thay đổi "Sự phân công lao động biến sản phẩm của lao động thành hàng hóa và do đó, làm cho việc biến nó

thành tiền trở thành tất yếu" Đồng thời sự phân công lao động

cũng làm cho sự chuyển hóa đó có thành công hay không trở

thành một việc ngẫu nhiên (tr.67) Nhưng, ở đây cần xem xét hiện tượng đó dưới dạng thuần tuý của nó, H-T phải có tiền đề là

người sở hữu T (nếu anh ta không phải là người sản xuất vàng) trước đó đã trao đổi H khác để nhận được T của mình; bởi vậy đối

với người mua sự giao dịch không chỉ là hành vi ngược lại, tức là

T-H, mà còn phải có tiền đề là anh ta cần phải bán trước v.v., thành thử trước mắt chúng ta là một chuỗi vô tận những người mua và những người bán

) Chính điều như thế cũng xảy ra trong giai đoạn thứ hai, T-H, tức là khi mua, việc mua này đồng thời là việc bán đối với

người tham gia khác

Trang 22

336 ph.ăng-ghen Tóm tắt tập I bộ "tư bản" của C.Mác chương I 337

) Do đó, toàn bộ quá trình là một vòng tuần hoàn mua và

bán Lưu thông hàng hóa Lưu thông hàng hóa hoàn toàn khác

việc trao đổi sản phẩm trực tiếp: một mặt, những giới hạn cá

nhân và địa phương của việc trao đổi sản phẩm trực tiếp bị phá

vỡ và việc trao đổi chất của lao động của con người được xúc tiến;

mặt khác, ở đây đã biểu lộ rõ ràng toàn bộ quá trình là do những

quan hệ xã hội quy định, những quan hệ này mang tính chất

những mối quan hệ do tự nhiên sinh ra và không phụ thuộc vào

những người đang hoạt động (tr.72) Trao đổi giản đơn thì chỉ

một hành vi trao đổi thôi là chấm dứt, trong hành vi trao đổi này

mỗi người đều đổi giá trị không sử dụng lấy giá trị sử dụng,

nhưng lưu thông thì tiếp diễn vô tận (tr.73)

ở đây, có một giáo điều sai lầm về mặt kinh tế học cho rằng:

dường như lưu thông hàng hóa nhất định sẽ tạo ra sự cân bằng

giữa mua và bán, vì mỗi hành vi mua đồng thời cũng là hành vi

bán và vice versa1*

; điều đó có nghĩa là dường như mỗi người bán

đều kéo theo người mua của mình đến thị trường 1) Mua và bán,

một mặt, là cùng một hành vi của hai người đối lập nhau ở hai

cực, mặt khác, nó là hai hành vi đối lập nhau ở hai cực của cùng

một người Bởi vậy, sự đồng nhất giữa mua và bán giả định rằng

hàng hóa là vô dụng khi nó không bán được, cũng như giả định

rằng trường hợp đó có thể xảy ra 2) H-T, ước tính là một quá

trình bộ phận, đồng thời cũng là một quá trình độc lập và nó bao

hàm việc người bán khi đã nhận được T, thì có thể chọn thời

điểm để biến những T đó thành H Anh ta có thể chờ đợi Sự

thống nhất bên trong của các quá trình độc lập H-T và T-H, -

chính do tính độc lập của những quá trình đó - vận động trong

những sự đối lập bên ngoài và khi sự tách biệt của các quá trình

phụ thuộc nhau đó đạt tới một giới hạn nhất định, thì sự thống

nhất được thực hiện thông qua một cuộc khủng hoảng Do đó, ở

đây đã có khả năng xảy ra khủng hoảng

Với tư cách là nhân vật trung gian trong quá trình lưu thông

hàng hóa, tiền là phương tiện lưu thông

_

b) Lưu thông tiền tệ

Tiền tệ làm trung gian cho mỗi hàng hóa riêng biệt tham gia quá trình lưu thông và rời khỏi quá trình đó; bản thân tiền tệ luôn luôn ở lại trong lưu thông Bởi vậy mặc dù lưu thông tiền tệ

chỉ là biểu hiện của lưu thông hàng hóa, nhưng lưu thông hàng hóa lại biểu hiện như là kết quả của lưu thông tiền Bởi vì tiền tệ luôn luôn ở lại trong lĩnh vực lưu thông, nên vấn đề là ở chỗ có

bao nhiêu tiền trong lĩnh vực đó

Khối lượng tiền lưu thông được xác định bằng tổng số giá cả

hàng hóa (khi giá trị của tiền không thay đổi), nhưng, tổng số

giá cả hàng hóa lại được quy định bởi khối lượng hàng hóa nằm

trong lưu thông Nếu giả định rằng khối lượng hàng hóa đó là một khối lượng nhất định, thì khối lượng tiền lưu thông sẽ thay

đổi tương ứng với những sự lên xuống của giá cả của hàng hóa Nhưng vì cũng cùng một đơn vị tiền tệ trong một khoảng thời gian nhất định luôn luôn làm trung gian cho một loạt những vụ giao dịch, vụ nọ nối tiếp vụ kia, nên đối với một khoảng thời gian

Tổng số giá cả hàng hóa

nhất định thì Số vòng quay của đơn vị tiền tệ = Khối lượng tiền hoạt

động với tư cách là phương tiện lưu thông (tr.80)

Bởi vậy, tiền giấy có thể loại được tiền vàng nếu ném chúng vào lưu thông đã bão hoà

Vì lưu thông của tiền tệ chỉ thể hiện quá trình lưu thông hàng

hóa, cho nên tiền lưu thông nhanh thì thể hiện của hàng hóa và tiền chuyển hóan hình thức nhanh, còn lưu thông tiền tệ ngưng

đọng thì thể hiện sự tách rời mua ra khỏi bán, là sự đình trệ trong việc trao đổi vật của xã hội Tất nhiên qua bản thân lưu thông thì không thể nhận thấy do đâu mà có sự đình trệ ấy Lưu thông chỉ biểu lộ bản thân sự có mặt của hiện tượng đó Người Phi-li-xtanh giải thích điều đó là do không đủ số lượng phương tiện lưu thông (tr.81)

Trang 23

338 ph.ăng-ghen Tóm tắt tập I bộ "tư bản" của C.Mác chương I 339

Do vậy: 1) Khi giá cả hàng hóa không thay đổi thì khối lượng

tiền lưu thông tăng, nếu khối lượng hàng hóa lưu thông tăng

hoặc nếu lưu thông tiền tệ bị chậm lại, và vice versa khối lượng

tiền lưu thông giảm

2) Khi giá cả hàng hóa tăng một cách phổ biến thì khối lượng

tiền lưu thông không thay đổi, nếu khối lượng hàng hóa giảm,

hoặc tốc độ lưu thông tăng với tỷ lệ cũng như thế

3) Khi giá cả hàng hóa giảm xuống một cách phổ biến thì diễn

ra điều ngược lại với điểm 2

Nói chung, hình thành mức trung bình tương đối ổn định mà

hầu như chỉ có những cuộc khủng hoảng mới làm sai lệch đi

đáng kể

c) Tiền đúc - ký hiệu của giá trị

Tiêu chuẩn giá cả là do nhà nước quy định cũng như tên gọi

một mẫu vàng nhất định - tức tiền đúc và việc chế tạo ra nó

cũng do nhà nước quy định Trên thị trường thế giới bộ áo dân

tộc tương ứng được cởi ra (ở đây chúng ta không đề cập tới thuế

tiền đúc), thành thử, tiền đúc và vàng thoi chỉ khác nhau về

hình thức Nhưng tiền đúc bị mòn dần trong lưu thông, vàng với

tư cách là phương tiện lưu thông đã khác với vàng với tư cách là

tiêu chuẩn giá cả, tiền đúc ngày càng trở thành cái tượng trưng

cho hàm lượng pháp định của nó

Điều đó cũng đã ẩn giấu khả năng thay thế tiền kim loại bằng

những ký hiệu hoặc bằng những vật tượng trưng Do đó xuất

hiện: 1) tiền nhỏ bằng những ký hiệu bằng bạc và bằng đồng; để

cản trở chúng củng cố thành tiền đối lập với tiền vàng thực,

chúng bị giới hạn số lượng làm phương tiện thanh toán pháp định

Hàm lượng kim loại trong những ký hiệu đó do pháp luật quy

định một cách hoàn toàn vũ đoán, và do đó, chức năng tiền tệ của

nó trở thành độc lập với giá trị của nó Từ đó khả năng chuyển sang

sử dụng những ký hiệu không có một giá trị gì, - 2) Chuyển sang

sử dụng tiền giấy tức là sử dụng tiền giấy của Nhà nước được

lưu hành bắt buộc (ở đây chúng ta chưa xem xét đến tiền tín

dụng) Trong chừng mực những tiền giấy do thực sự lưu thông thay cho tiền vàng, thì chúng phải phục tùng những quy luật của lưu thông vàng Chỉ có cái tỷ lệ tiền giấy thay thế vàng mới chịu

sự chi phối của quy luật đặc biệt sau đây: việc phát hành tiền giấy phải được giới hạn bằng số lượng vàng lưu thông thật sự do tiền giấy làm đại diện Thật ra, mức bão hoà trong lĩnh vực lưu thông thường dao động, nhưng ở mọi nơi qua kinh nghiệm người

ta đều xác định được mức tối thiểu mà lưu thông không bao giờ tụt xuống dưới nó Mức tối thiểu đó có thể phát hành được Nếu phát hành nhiều hơn mức đó thì khi mức bão hoà tụt xuống đến mức tối thiểu, một phần tiền giấy sẽ trở thành thừa ngay lập tức Trong trường hợp như vậy tổng số tiền giấy trong phạm vi của thế giới hàng hóa chỉ đại biểu cho số lượng vàng do những quy luật nội tại của thế giới hàng hóa quyết định, do đó, tiền giấy chỉ đại diện cho số lượng vàng có thể lấy tiền giấy để đại diện

Bởi vậy, nếu khối lượng tiền giấy vượt gấp đôi khối lượng vàng có thể hấp thu được, thì mỗi đơn vị tiền giấy sẽ mất giá đi một nửa giá trị danh nghĩa của nó Y như là vàng đã có sự thay

đổi giá trị của nó trong chức năng thước đo giá cả của nó (tr.89)

c tiền

a) Việc tích trữ tiền

Ngay từ những mầm mống đầu tiên của sự phát triển của nó, lưu thông hàng hóa đã đẻ ra sự cần thiết và lòng khát khao giữ lấy kết quả của H-T, tức là T; từ một khâu trung gian giản đơn trong sự trao đổi vật chất, sự thay đổi hình thức đó trở thành

một mục đích tự nó Tiền bị đọng đứng lại ở dạng tiền tích trữ, người bán hàng hóa trở thành người tích trữ tiền (tr.91)

Hình thức đó chiếm ưu thế chính trong những giai đoạn đầu

của lưu thông hàng hóa Châu á Cùng với sự phát triển hơn nữa

Trang 24

340 ph.ăng-ghen Tóm tắt tập I bộ "tư bản" của C.Mác chương I 341

của lưu thông hàng hóa, mỗi người sản xuất hàng hóa đều phải

nắm lấy cái nexus rerum1*, cái bảo đảm được xã hội thừa nhận -

đó là T Thế là việc cất trữ tiền xuất hiện ở khắp nơi Sự phát

triển của lưu thông hàng hóa làm tăng quyền lực của đồng tiền,

tức là của cái hình thức xã hội tuyệt đối luôn luôn có thể sẵn

sàng sử dụng được của cải (tr.92) Lòng mong muốn tích trữ tiền,

xét theo bản chất của nó, là không có giới hạn Xét về mặt chất

lượng hay về mặt hình thức của nó thì tiền không có giới hạn,

tức là nó là đại biểu chung của của cải vật chất, bởi vì nó có thể

trực tiếp chuyển thành bất kỳ hàng hóa nào Xét về mặt số lượng

thì mỗi số tiền thực tế lại có giới hạn, và bởi vậy nó là phương

tiện mua có hiệu lực có hạn Mâu thuẫn đó không ngừng buộc

người tích trữ tiền phải làm đi làm lại cái công việc dã tràng

trong việc tích luỹ

Cùng với cái đó, tích luỹ vàng và bạc in plate2* tạo nên thị

trường mới cho các kim loại đó, đồng thời tạo nên nguồn gốc tiềm

tàng của tiền

Việc tích trữ tiền có tác dụng là kênh tiêu nước và dẫn nước

cho tiền đang lưu thông trong tình hình mức bão hoà của lĩnh

vực lưu thông thường xuyên dao động (tr.95)

b) Phương tiện thanh toán

Cùng với sự phát triển của lưu thông hàng hóa, đã nảy sinh

những quan hệ mới: việc chuyển nhượng hàng hóa có thể tách rời

với việc thực hiện giá cả của hàng hóa về mặt thời gian Những

hàng hóa khác nhau đòi hỏi phải có những thời gian khác nhau

để sản xuất ra chúng, chúng được chế tạo ra trong những thời

gian khác nhau trong năm, một vài loại hàng hóa lại phải

chuyển đến các thị trường xa xôi v.v Bởi vậy A có thể là người

bán trước khi B, người mua, có khả năng thanh toán Thực tiễn sẽ

điều tiết những điều kiện thanh toán như sau: A trở thành chủ

_

1*- thần kinh của các vật

nợ, B trở thành con nợ, còn tiền thì trở thành phương tiện thanh toán Bởi vậy, quan hệ giữa chủ nợ và con nợ trở thành càng có

tính chất đối kháng hơn (quan hệ giữa chủ nợ và con nợ có thể

xuất hiện không phụ thuộc vào lưu thông hàng hóa, ví dụ như trong thế giới cổ đại và trong thời trung cổ) (tr.97)

Trong mối quan hệ đó tiền làm chức năng: 1) là thước đo giá trị khi xác định giá cả của hàng hóa bán ra, 2) là phương tiện mua trên ý niệm Khi tích trữ tiền, T bị rút khỏi lưu thông, còn ở

đây với tư cách là phương tiện thanh toán T đi vào lưu thông, nhưng chỉ sau khi H đã ra khỏi lưu thông Người mua là con nợ phải bán để có khả năng trả, nếu không tài sản của anh ta sẽ phải bán đấu giá Như vậy, bây giờ do tất yếu xã hội bắt nguồn

từ những quan hệ của bản thân quá trình lưu thông, T đã trở

thành mục đích tự nó của việc bán (tr.97-98)

Sự không trùng khớp về mặt thời gian giữa mua và bán đẻ ra chức năng của tiền là phương tiện thanh toán, đồng thời dẫn đến

sự tiết kiệm phương tiện lưu thông, dẫn tới sự tập trung việc thanh toán vào một nơi nhất định Virements1* ở Li-ông trong thời kỳ trung cổ - một loại clearing house,2* ở đó người ta chỉ thanh toán với nhau khoản chênh lệch của những món nợ đó với nhau (tr.98)

Trong chừng mực các khoản thanh toán trang trải hết cho

nhau thì tiền làm chức năng tiền kế toán hoặc thước đo giá trị chỉ

trên ý niệm mà thôi Còn chừng nào phải thực hiện những khoản thanh toán thật sự, thì tiền không biểu hiện chỉ có hình thức nhất thời và trung gian của sự trao đổi vật chất, mà biểu hiện là hiện thân cá biệt của lao động xã hội, là sự tồn tại độc lập của giá trị

trao đổi, là hàng hóa tuyệt đối Mâu thuẫn trực tiếp đó bộc lộ một

cách đặc biệt mạnh mẽ trong thời gian những cuộc khủng hoảng

sản xuất và khủng hoảng thương nghiệp, thời gian mà người ta gọi

là khủng hoảng tiền tệ Cuộc khủng hoảng này chỉ có thể xảy ra ở

_

1*- Sở thanh toán bằng chuyển khoản

Ngày đăng: 01/08/2014, 15:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm