Một điều nữa cũng được xác nhận, đó là: chỉ có sự tham gia của nông dân và của giai cấp vô sản, "của những phần tử lê dân ở thành thị", mới có khả năng đẩy mạnh cuộc cách mạng tư sản tiế
Trang 1lịch sử của Ăng-ghen Một điều nữa cũng được xác nhận, đó
là: chỉ có sự tham gia của nông dân và của giai cấp vô sản,
"của những phần tử lê dân ở thành thị", mới có khả năng đẩy
mạnh cuộc cách mạng tư sản tiến lên (nếu đối với nước Đức
ở thế kỷ XVI, nước Anh ở thế kỷ XVII và nước Pháp ở thế kỷ
XVIII có thể đặt nông dân lên hàng đầu, thì ở Nga vào thế kỷ
XX, lẽ tất nhiên cần phải lật ngược lại quan hệ ấy, vì không
có tinh thần chủ động và sự lãnh đạo của giai cấp vô sản, thì
nông dân là con số không) Một điều nữa cũng được xác
nhận, đó là: cần phải đưa cuộc cách mạng tiến xa hơn nhiều
so với những mục đích tư sản trước mắt, trực tiếp, đã hoàn
toàn chín muồi của nó, để thực sự thực hiện được những mục
đích đó, để vĩnh viễn củng cố những thành quả tối thiểu của
giai cấp tư sản Vì vậy có thể phán đoán rằng Ăng-ghen sẽ có
thái độ khinh bỉ như thế nào đối với những biện pháp tiểu tư
sản chỉ muốn đặt trước cuộc cách mạng vào khuôn khổ tư
sản hoàn toàn và vào khuôn khổ tư sản chật hẹp, "để giai cấp
tư sản khỏi xa rời", như bọn men-sê-vích ở Cáp-ca-dơ đã nói
trong nghị quyết năm 1905 của họ, hay để "đảm bảo tránh sự
phục hồi", như Plê-kha-nốp đã nói ở Xtốc-khôn!
Một vấn đề khác, về việc đánh giá cuộc khởi nghĩa tháng
Chạp 1905, Cau-xky đã phân tích trong lời tựa viết cho lần
xuất bản thứ hai cuốn sách của ông Ông viết rằng: "Bây giờ tôi
không thể khẳng định một cách dứt khoát, như tôi đã khẳng định
năm 1902, rằng những cuộc khởi nghĩa vũ trang và những cuộc
chiến đấu trên chiến lũy sẽ không đóng một vai trò quyết định
trong những cuộc cách mạng sau này Kinh nghiệm chiến đấu
trên đường phố ở Mát-xcơ-va đã chứng minh ngược lại điều đó
một cách quá rõ ràng, khi mà trong suốt một tuần lễ, một nhúm
người trong cuộc chiến đấu trên chiến lũy đã cầm cự chống lại cả
một đạo quân và gần như đã chiến thắng, nếu sự thất bại của
phong trào cách mạng ở các thành phố khác không tạo khả năng cho
người ta gửi viện binh đến cho đạo quân đó để cuối cùng tập trung được một lực lượng vô vùng đông hơn chống lại nghĩa quân Tất nhiên, sở dĩ cuộc chiến đấu trên chiến lũy đó có thể thu được thắng lợi tương đối chỉ là vì dân cư thành thị đã kiên quyết ủng hộ những người cách mạng, và quân đội đã hoàn toàn mất tinh thần Nhưng ai có thể khẳng định một cách dứt khoát rằng một điều tương tự lại không thể xảy ra ở Tây Âu?"
Như thế là, gần một năm sau cuộc khởi nghĩa, khi không còn có thể mải mê với mục đích trực tiếp giữ vững tinh thần phấn khởi của nghĩa quân, thì một nhà nghiên cứu thận trọng như Cau-xky vẫn kiên quyết thừa nhận rằng cuộc khởi nghĩa Mát-xcơ-va là "một thắng lợi tương đối" của cuộc chiến đấu trên chiến lũy và cho rằng cần phải sửa lại kết luận chung của
ông nói rằng những cuộc chiến đấu ngoài đường phố không
có thể đóng một vai trò to lớn trong những cuộc cách mạng tương lai
Cuộc đấu tranh tháng Chạp 1905 chứng minh rằng khởi nghĩa vũ trang có thể chiến thắng trong những điều kiện kỹ thuật quân sự và tổ chức quân sự hiện đại Cuộc đấu tranh tháng Chạp đã cho thấy rằng toàn bộ phong trào công nhân quốc tế từ nay trở đi chắc sẽ phải chú ý đến khả năng sử dụng những loại hình thức chiến đấu tương tự trong những cuộc cách mạng vô sản sắp tới Đó là những kết luận thực sự rút ra từ kinh nghiệm cách mạng của chúng ta, C đó là những bài học
mà quần chúng đông đảo nhất cần phải nắm vững Những kết luận ấy và những bài học ấy thật là cách xa biết bao với đường lối lập luận của Plê-kha-nốp trong lời bình luận nổi tiếng kiểu
Ê-rô-xtơ-rát của ông về cuộc khởi nghĩa tháng Chạp: "lẽ ra không nên cầm vũ khí"47 Sự đánh giá như vậy đã gây ra biết bao lời bình luận phản bội! Biết bao bàn tay nhơ bẩn của phái tự
do đã bíu lấy những lời bình luận phản bội ấy để đem sự trụy lạc và tinh thần thỏa hiệp tiểu tư sản vào trong quần chúng công nhân!
Trang 2V I L ê - n i n
58
Trong lời đánh giá của Plê-kha-nốp không có chút sự thật
lịch sử nào cả Nếu như nửa năm trước Công xã, Mác tuy có
nói rằng khởi nghĩa sẽ là một sự điên rồ, nhưng vẫn biết
đánh giá "sự điên rồ" đó là một phong trào quần chúng vĩ đại
nhất của giai cấp vô sản của thế kỷ XIX, như thế thì những
người dân chủ - xã hội Nga ngày nay lại càng có hàng ngàn
lý do hơn Mác trước kia để thuyết phục quần chúng tin
tưởng rằng sau Công xã thì cuộc đấu tranh tháng Chạp là
một phong trào vô sản tất yếu nhất, chính đáng nhất và vĩ
đại nhất Giai cấp công nhân Nga sẽ được giáo dục đúng
theo những quan điểm như vậy, bất chấp những phần tử trí
thức nào đó trong Đảng dân chủ - xã hội có nói năng, khóc
lóc như thế nào đi nữa
ở đây có lẽ cần phải có một nhận xét, vì bài báo này viết cho
các đồng chí Ba-lan Rất tiếc là tôi không biết tiếng Ba-lan và
tôi chỉ được nghe nói về những điều kiện ở Ba-lan Người ra
rất có thể phản đối ý kiến của tôi mà cho rằng chính ở Ba-lan
cả một đảng đã bị thất bại do những hoạt động du kích bất
lực, do những hoạt động khủng bố và do những cuộc bùng nổ
có tính chất khoa trương được tiến hành chính là nhân danh
những truyền thống khởi nghĩa và cuộc đấu tranh chung của
giai cấp vô sản và nông dân (cái gọi là "cánh hữu" của PPS48)
Rất có thể là đứng trên quan điểm ấy mà xét, những điều kiện
ở Ba-lan thật sự khác về căn bản so với những điều kiện của
các địa phương khác ở nước Nga Tôi không thể xét đoán gì về
điều đó Nhưng tôi phải nêu lên một điều là trừ Ba-lan ra,
không có nơi nào chúng tôi lại thấy có hiện tượng đi chệch
khỏi sách lược cách mạng một cách vô nghĩa như vậy, khiến
người ta phải phản kháng và chống lại một cách chính đáng
ở đây, tự nhiên người ta phải nảy ra ý nghĩ là: chính ở Ba-lan
vào tháng Chạp 1905 đã không có một cuộc đấu tranh vũ trang
có tính chất quần chúng như vậy! Và chẳng phải là do sách lược
sai lệch và viển vông của chủ nghĩa vô chính phủ là chủ nghĩa
Về việc đánh giá cuộc cách mạng Nga 59
đang "nặn ra" cách mạng, đã chiếm ưu thế ở chính Ba-lan và chỉ
ở Ba-lan hay sao; chẳng phải là các điều kiện không cho phép một cuộc đấu tranh vũ trang có tính chất quần chúng phát triển
ở đó, dù chỉ trong một thời gian ngắn, hay sao? Phải chăng cái truyền thống của chính một cuộc đấu tranh như thế, tức truyền thống của cuộc khởi nghĩa vũ trang tháng Chạp, đôi khi lại không phải là thủ đoạn duy nhất quan trọng để khắc phục những khuynh hướng vô chính phủ trong nội bộ đảng công nhân không phải bằng cách dựa vào một nền đạo đức cứng nhắc của người tiểu thị dân phi-li-xtanh, mà bằng cách rời bỏ hành động bạo lực không mục đích, viển vông, phân tán, để đi theo hành động bạo lực có mục đích, có tính chất quần chúng, gắn liền với một phong trào rộng rãi và với việc tăng cường cuộc đấu tranh trực tiếp của giai cấp vô sản, hay sao?
Vấn đề đánh giá cuộc cách mạng của chúng ta hoàn toàn không phải chỉ có ý nghĩa lý luận, mà còn có một ý nghĩa thực tiễn cấp bách, trực tiếp nhất Tất cả công tác tuyên truyền, cổ động và tổ chức của chúng ta trong lúc này đều luôn luôn gắn liền với quá trình những quần chúng rộng rãi nhất trong giai cấp công nhân và trong quần chúng nửa vô sản thấm nhuần những bài học của ba năm vĩ đại Lúc này chúng ta không thể chỉ đóng khung trong việc đơn thuần tuyên bố (theo tinh thần nghị quyết Đại hội X của
Đảng xã hội chủ nghĩa Ba-lan "cánh tả") rằng điều kiện hiện hay chưa cho phép xác định xem trước mắt chúng ta hiện giờ là con đường bùng nổ cách mạng hay con đường tiến lên bằng những bước nhỏ, chậm chạp, lâu dài Tất nhiên, hiện nay không một tài liệu thống kê nào trên thế giới có thể xác định được điều đó Tất nhiên, mặc dù tương lai chuẩn bị cho chúng ta những thử thách nặng nề như thế nào chăng nữa, chúng ta cũng phải tiến hành công tác của chúng ta như thế nào để toàn bộ công tác đó được thấm nhuần tinh thần và nội dung xã hội chủ nghĩa chung Nhưng
Trang 3đó vẫn chưa phải là tất cả Dừng lại ở đây có nghĩa là không
biết đề ra một sự chỉ đạo thực tế nào cho đảng vô sản Chúng
ta phải thẳng thắn nêu ra và cương quyết giải quyết vấn đề
xem hiện nay chúng ta phải tiến hành đúc kết kinh nghiệm
của ba năm cách mạng theo phương hướng nào? Để dạy cho
bọn người dao động và mất tinh thần, để sỉ nhục bọn phản
bội và bọn xa rời chủ nghĩa xã hội, chúng ta phải tuyên bố
công khai với mọi người rằng: đảng công nhân cho rằng cuộc
đấu tranh cách mạng trực tiếp của quần chúng, các cuộc đấu
tranh tháng Mười và tháng Chạp 1905, là những phong trào
vĩ đại nhất của giai cấp vô sản sau Công xã; chỉ có phát triển
những hình thức đấu tranh ấy mới đảm bảo được những
thắng lợi sau này của cách mạng; những gương đấu tranh ấy,
đối với chúng ta, phải là ngọn hải đăng trong công tác giáo
dục những thế hệ chiến sĩ mới
Nếu chúng ta tiến hành công tác hàng ngày theo hướng
ấy và nhớ rằng chỉ có sự hoạt động được chuẩn bị một cách
nghiêm túc và kiên trì của đảng ta trong nhiều năm mới đảm
bảo cho đảng gây được ảnh hưởng rất lớn đối với giai cấp vô
sản hồi năm 1905, C thì chúng ta sẽ có thể làm cho giai cấp
Một tổ chức chính trị mới đang xuất hiện; người ta thấy có một sự biến chuyển mới nào đó trong phong trào xã hội Những phần tử dân chủ - tư sản đang tập hợp lại; chúng muốn
tỏ ra "tả hơn bọn dân chủ - lập hiến" và đang lôi kéo bọn sê-vích và bọn xã hội chủ nghĩa - cách mạng theo chúng Chúng dường như đang có một nhận thức lờ mờ nào đó rằng phe đối lập dân chủ - lập hiến trong Đu-ma III là một xác chết đang rữa nát và cần phải "làm một điều gì đó" không cần đến nó
men-Sự thật là như vậy Những sự thật đó vẫn chưa được rõ ràng, nhưng đứng trên quan điểm những bài học của ba năm đầu của cách mạng mà nói, thì chúng đã nêu được những hiện tượng dễ hiểu và không thể tránh được
Bọn dân chủ - lập hiến lớp thứ nhất đã xuất hiện trên vũ
đài công khai của cuộc cách mạng vào mùa hè 1905 Qua chưa đầy ba năm, chúng chưa kịp phát triển thì đã tàn héo Thay thế cho chúng, bọn dân chủ - lập hiến lớp thứ hai đã xuất
Trang 4V I L ê - n i n
62
hiện Sự thay thế ấy có ý nghĩa như thế nào và nó đề ra cho
đảng công nhân những nhiệm vụ gì?
Bọn dân chủ - lập hiến lớp thứ nhất đã làm ầm ĩ trong các
bữa tiệc năm 1904, đã tiến hành cuộc vận động cho các hội
đồng địa phương, đã phản ánh giai đoạn đầu của cao trào xã
hội, trong khi những quan hệ giữa các giai cấp với chế độ
chuyên chế và giữa các giai cấp với nhau hoàn toàn chưa được
xác định rõ ràng, nghĩa là trước khi cuộc đấu tranh công khai
của quần chúng và chính sách của các giai cấp, chứ không
phải của các nhóm, xác định những quan hệ ấy Khi đó bọn
dân chủ - lập hiến tập hợp tất cả mọi phần tử thuộc xã hội tư
sản mà người ta gọi là xã hội có học thức, từ bọn địa chủ phấn
đấu cho món cá chiên với thứ củ cay nhiều hơn là cho hiến
pháp, cho tới những người trí thức phục dịch, làm thuê Bọn
dân chủ - lập hiến sẵn sàng làm trung gian giữa "chính quyền
lịch sử", tức chế độ chuyên chế của Nga hoàng, và quần chúng
giai cấp công nhân và nông dân đang đấu tranh Phái đoàn
đến yết kiến Nga hoàng vào mùa hè 1905 mở đầu cho sự luồn
cúi đó, C vì phái tự do Nga không biết sự trung gian nào khác
ngoài sự luồn cúi Và từ đó cho đến nay, đúng là không có
một giai đoạn đôi chút lớn lao nào của cuộc cách mạng Nga
mà phái tự do tư sản lại không dùng phương pháp luồn cúi đó
đối với chế độ chuyên chế và lũ tay sai của bọn địa chủ Trăm
đen để "làm trung gian" Tháng Tám 1905, chúng đấu tranh
chống lại sách lược cách mạng tẩy chay Đu-ma Bu-lư-ghin
Tháng Mười 1905, chúng tách ra thành đảng tháng Mười công
khai phản cách mạng, đồng thời phái Pi-ốt Xtơ-ru-vê đến chầu
chực Vít-te và tuyên truyền sự ôn hòa và thận trọng Tháng
Mười một 1905, chúng lên án cuộc đình công của ngành bưu
điện và phàn nàn về những "sự khủng khiếp" của những cuộc
khởi nghĩa của binh lính Tháng Chạp 1905, chúng hèn nhát
nấp cạnh Đu-ba-xốp để ngày hôm sau nguyền rủa (đáng
lẽ phải nói là đá hậu) "sự tự phát điên rồ" Vào đầu năm 1906,
Bọn dân chủ - lập hiến lớp thứ hai 63
chúng hăng hái tự bào chữa để tránh sự nghi ngờ "nhục nhã" cho rằng phái tự do có khả năng cổ động ở ngoài nước chống lại việc đi vay một tỷ để củng cố chế độ chuyên chế Tại Đu-
ma I, phái tự do đã nói những lời trống rỗng về quyền tự do của nhân dân, trong khi chúng ngấm ngầm đi cửa sau đến Tơ-rê-pốp và đấu tranh chống phái lao động và các đại biểu công nhân Với Tuyên ngôn Vư-boóc-gơ49, chúng muốn bắt cá hai tay và quanh co thế nào để người ta có thể C tùy theo sự cần thiết C giải thích hành vi của chúng theo hai lối, lúc thì có tinh thần ủng hộ cách mạng, lúc thì có tinh thần đấu tranh chống cách mạng Còn về Đu-ma II và III thì không có gì phải nói nữa, ở đấy chủ nghĩa tự do của bọn dân chủ - lập hiến đã bộc
lộ một cách hoàn toàn rõ ràng bản chất phái tháng Mười của chúng
Trong ba năm, bọn dân chủ - lập hiến "đã làm" được nhiều
đến nỗi ngay buổi đầu, những mưu đồ hồi phục mới đều gắn liền với khẩu hiệu "tả hơn những người dân chủ - lập hiến"! Bọn dân chủ - lập hiến lớp thứ nhất đã tự làm cho mình trở nên bất lực Chúng đã tự đào huyệt chôn mình vì đã luôn luôn phản bội quyền tự do của nhân dân
Nhưng bọn dân chủ - lập hiến lớp thứ hai thay thế cho bọn
cũ, phải chăng không bị nhiễm phải cũng chính cái hơi độc của xác chết ấy, hay sao? Bọn "dân chủ - lập hiến - xã hội", tức là các ngài xã hội chủ nghĩa nhân dân, những người đặc biệt la ầm ĩ lên xung quanh tổ chức mới, phải chăng không có ý định lập lại con đường tiến hóa cũ mà, nhờ kinh nghiệm của ba năm, chúng
ta đã biết?
Đối với vấn đề này, không nên trả lời bằng sự phỏng
đoán về tương lai, mà nên trả lời bằng sự phân tích quá khứ
Sự phân tích ấy chứng minh một cách không thể chối cãi
được rằng "bọn men-sê-vích xã hội chủ nghĩa - cách mạng", tức các ngài xã hội chủ nghĩa nhân dân, đã thực sự đóng vai trò của bọn dân chủ - lập hiến trong hàng ngũ tổ chức chính trị của nông dân thuộc phái lao động, hay nói cho đúng
Trang 5hơn, trong phong trào chính trị mà chúng đã hoạt động
trong những "ngày huy hoàng nhất" của chúng, như trong
thời kỳ Đu-ma I chẳng hạn Chúng ta hãy nhớ lại những sự
thật chủ yếu của lịch sử "đảng" (hay là nhóm?) xã hội chủ
nghĩa nhân dân trong cuộc cách mạng Nga Chúng đã được
chính thức công nhận trong "Hội liên hiệp giải phóng"50
Trong đại hội Đảng xã hội chủ nghĩa - cách mạng vào tháng
Chạp 1905, bọn chúng luôn luôn ngả nghiêng giữa bọn dân
chủ - lập hiến và bọn xã hội chủ nghĩa - cách mạng, đã bênh
vực lập trường ngu xuẩn, lờ mờ, vừa muốn đi đôi vừa
không muốn đi đôi với bọn xã hội chủ nghĩa - cách mạng
Trong thời kỳ tự do hồi tháng Mười, chúng đã liên minh
với bọn xã hội chủ nghĩa - cách mạng để xuất bản báo chí
chính trị Trong thời kỳ Đu-ma I cũng thế: chính sách ngoại
giao "cao cấp", che đậy một cách "ranh mãnh" những sự bất
đồng ý kiến! Sau khi Đu-ma I bị giải tán, sau khi giai đoạn
thứ hai của khởi nghĩa bị thất bại, sau vụ đàn áp
Xvi-boóc-gơ51, các ngài ấy quyết định chuyển sang phía hữu Họ "hợp
pháp hóa" đảng của họ, tất nhiên không nhằm mục đích gì
khác ngoài mục đích công khai phỉ báng trên báo chí đối
với tư tưởng khởi nghĩa và chứng minh rằng việc tuyên
truyền tích cực cho chế độ cộng hòa là không hợp thời Trước
mắt các đại biểu nông dân tại Đu-ma I, họ đã thắng bọn xã hội chủ
nghĩa - cách mạng khi họ thu thập được 104 chữ ký vào dự án
ruộng đất52 của họ, còn bọn xã hội chủ nghĩa - cách mạng thì chỉ
thu được 33 chữ ký53 Nguyện vọng "phải chăng" có tính chất tư sản
của người tiểu nông đòi quốc hữu hóa ruộng đất, đã thắng chủ
trương "xã hội hóa" mơ hồ Chúng ta thấy rằng bọn dân chủ - lập
hiến - xã hội không mong mỏi đem lại cho nông dân một tổ chức
chính trị cách mạng, một tổ chức để khởi nghĩa, mà là mong mỏi
chơi cái trò hợp pháp và chế độ đại nghị, mong mỏi duy trì đầu óc
tiểu tổ hẹp hòi của trí thức Sự dao động của người nông dân Nga từ
người dân chủ - lập hiến, và từ chủ nghĩa cơ hội kiểu trí thức của Đảng
xã hội chủ nghĩa nhân dân sang người cách mạng thiếu kiên
định kiểu trí thức, người xã hội chủ nghĩa - cách mạng, sự dao
động đó nói lên tính chất hai mặt của người tiểu nông, nói lên rằng họ không thể tiến hành được một cuộc đấu tranh giai cấp kiên định nếu không có sự lãnh đạo của giai cấp vô sản
Nếu bây giờ các ngài xã hội chủ nghĩa nhân dân lại bắt
đầu "ăn cánh" với bọn dân chủ - lập hiến cảnh tả, và lôi kéo theo mình bọn ngu ngốc, tức bọn men-sê-vích và bọn xã hội chủ nghĩa - cách mạng, C thì như thế có nghĩa là tất cả tập
đoàn đã không học được gì trong ba năm cách mạng Họ giải thích rằng những yêu sách kinh tế gây ra chia rẽ Họ muốn thống nhất trên những yêu sách chính trị gần gũi hơn Họ hoàn toàn không hiểu một tí gì trong tiến trình cách mạng đã chỉ rõ ở Nga, cũng như ở các nước khác, rằng chỉ có cuộc đấu tranh của quần chúng mới có sức mạnh và chỉ có vì những cải cách kinh tế quan trọng mới có thể phát động được cuộc
đấu tranh như thế
Bọn men-sê-vích và bọn xã hội chủ nghĩa - cách mạng lại tấp tểnh đi theo bọn dân chủ - lập hiến cánh cả, đó không phải là
điều mới lạ Điều đó đã xảy ra trong cuộc bầu cử vào Đu-ma II
ở Pê-téc-bua Việc đó đã xảy ra với bọn men-sê-vích trong vấn
đề nội các dân chủ - lập hiến và Đu-ma có toàn quyền, và cũng
đã xảy ra với bọn xã hội chủ nghĩa - cách mạng trong việc liên minh bí mật với bọn xã hội chủ nghĩa nhân dân Rõ ràng là có những nguyên nhân sâu xa gây nên trong các trí thức tiểu tư sản "một thứ say mê bệnh hoạn", say mê được sự che chở của giai cấp tư sản tự do chủ nghĩa
Tất nhiên, như vẫn thường xảy ra, người ta che đậy sự say
mê đó bằng những bài diễn văn nói về việc lợi dụng một cao trào mới hoặc một sự tập hợp lực lượng mới, v v
ồ phải, thưa các ngài, chúng tôi cũng tán thành lợi dụng… cái xác chết C duy chỉ có điều là không phải để "cải tử hoàn
Trang 6V I L ê - n i n
66
sinh" nó, mà để dùng nó bón phân cho đất, không phải để dung túng những lý luận mục nát và tâm trạng phi-li-xtanh, mà để làm cho nó đóng vai trò "người biện hộ cho ma quỷ" Chúng tôi
sẽ giáo dục nhân dân dựa vào cái thí dụ mới, hay, xuất sắc ấy của bọn xã hội chủ nghĩa nhân dân và bọn dân chủ - lập hiến cánh tả, giáo dục cho họ biết điều gì không nên làm, cũng như phải tránh sự phản bội của bọn dân chủ - lập hiến và sự nhu nhược tiểu tư sản Chúng tôi sẽ chăm chú theo dõi sự lớn lên
và phát triển của cái quái thai mới ấy (nếu nó không chết yểu) bằng cách từng giờ từng phút nhắc lại rằng trong nước Nga hiện nay bất kỳ một mầm mống nào như thế, nếu nó không chết yểu, thì tất nhiên và không tránh khỏi có nghĩa là đang ở ngưỡng cửa một cuộc đấu tranh có tính chất quần chúng của giai cấp công nhân và nông dân "Hội liên hiệp giải phóng"
đang sống lại Nếu đúng như thế, thì điều đó có nghĩa là những kẻ ở tầng lớp trên đã bắt đầu đánh hơi được một cái gì
đó Nếu đúng như thế, thì điều đó có nghĩa là bước sau sẽ tiếp theo bước trước, sau sự hoạt động lăng xăng vô ích của giới trí thức sẽ đến cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản
Nhân dịp bọn dân chủ - lập hiến lớp thứ hai bước lên vũ đài, chúng tôi sẽ giáo dục cho nhân dân những bài học đấu tranh, những bài học liên minh cách mạng, sự liên minh cách mạng này chỉ hình thành được trong đấu tranh và chỉ với quần chúng nông dân đang đấu tranh cách mạng
"Người vô sản", số 30, ngày 10
(23) tháng Năm 1908
Theo đúng bản đăng trên báo
"Người vô sản"
Trang 7Vấn đề ruộng đất ở nga
Viết vào nửa đầu năm 1908
In lần đầu năm 1918 thành
sách riêng ở Mát-xcơ-va tại
Nhà xuất bản "Đời sống và tri thức"
Theo đúng bản in trong sách
Trang 8Nhiệm vụ của bài này là trình bày vắn tắt toàn bộ các
quan hệ kinh tế và xã hội trong nền nông nghiệp ở Nga
Một công việc như vậy không thể mang tính chất nghiên
cứu riêng biệt Nó phải tổng kết công trình nghiên cứu
mác-xít, chỉ rõ vị trí của mỗi đặc điểm tương đối lớn của
nền kinh tế nông nghiệp của chúng ta trong kết cấu chung
của nền kinh tế quốc dân Nga, phác ra phương hướng
chung của sự phát triển những quan hệ ruộng đất ở Nga
và vạch rõ những lực lượng giai cấp quyết định sự phát
triển đó theo cách này hay cách khác Vì vậy chúng ta sẽ
dựa trên quan điểm nói trên mà xem xét tình hình chiếm
hữu ruộng đất ở Nga, rồi xét đến kinh tế địa chủ và kinh
tế nông dân, và cuối cùng nêu lên những kết luận chung
xem sự tiến triển của chúng ta trong suốt thế kỷ XIX đã
dẫn đến những hậu quả gì và nó để lại những nhiệm vụ gì
cho thế kỷ XX
I
Chúng ta có thể mô tả tình hình chiếm hữu ruộng đất ở
phần nước Nga thuộc châu Âu vào cuối thế kỷ XIX theo
những tài liệu của bản thống kê ruộng đất mới nhất năm
1905 (ủy ban thống kê trung ương xuất bản, Xanh
Pê-téc-bua 190755)
V I L ê - n i n
70
Dựa trên sự điều tra đó, toàn bộ diện tích ruộng đất thống
kê được ở phần nước Nga thuộc châu Âu là 395,2 triệu ti-na, phân thành ba nhóm chính như sau:
đê-xi-a-Nhóm I C ruộng đất tư nhân …… 101,7 triệu đê-xi-a-ti-na ằ II ằ ằ chia……… 138,8 ằ ằ ằ III ằ ằ công v v … 154,7 ằ ằ
Tổng cộng ở phần nước Nga thuộc châu Âu……… 395,2 triệu đê-xi-a-ti-na
Cần phải nói rằng, cơ quan thống kê của chúng ta đã liệt trên một trăm triệu đê-xi-a-ti-na ở miền cực Bắc, ở các tỉnh ác-khan-ghen-xcơ, Ô-lô-nê-txơ và Vô-lô-gđa, vào số ruộng đất công Một phần rất lớn ruộng đất công phải được trừ đi, nếu muốn nói về
số ruộng đất nông nghiệp thực tế của phần nước Nga thuộc châu
Âu Trong tác phẩm của tôi nói về cương lĩnh ruộng đất của những người dân chủ - xã hội trong cuộc cách mạng Nga (tác phẩm đó viết xong vào cuối năm 1907 nhưng việc xuất bản bị trì hoãn vì hoàn cảnh ngoài ý muốn của tác giả), tôi đã xác định số ruộng đất nông nghiệp thực tế của phần nước Nga thuộc châu
Âu là khoảng chừng 280 triệu đê-xi-a-ti-na1) Trong tổng số đó, số ruộng đất công chiếm không phải là 150 triệu, mà tổng cộng là 39,5 triệu đê-xi-a-ti-na Như vậy, ngoài sở hữu của địa chủ và nông dân, thì ở phần nước Nga thuộc châu Âu chỉ còn lại không
đầy một phần bảy tổng số diện tích ruộng đất Sáu phần bảy diện tích nằm trong tay hai giai cấp đối kháng
Chúng ta hãy xem tình hình chiếm hữu ruộng đất của những giai cấp ấy là những giai cấp khác nhau cả về mặt
đẳng cấp, vì phần lớn ruộng đất tư hữu là ruộng đất của quý tộc, còn ruộng đất được chia là của nông dân Trong số 101,7
1) Xem Toàn tập, tiếng Việt, Nhà xuất bản Tiến bộ, Mát-xcơ-va,
t 16, tr 245.
Trang 9triệu đê-xi-a-ti-na ruộng đất tư hữu, thì 15,8 triệu thuộc về các
hội và các tổ cày chung, còn 85,9 triệu đê-xi-a-ti-na thì thuộc sở
hữu tư nhân Dưới đây là sự phân chia số ruộng đất đó theo
đẳng cấp trong năm 1905 và năm 1877 để đối chiếu:
Số ruộng đất năm 1905
chiếm hữu năm 1877
Năm 1905 tăng + giảm -
Như vậy, những người chủ tư hữu chủ yếu ở Nga là quý
tộc Chúng chiếm một số ruộng đất rất lớn Nhưng chiều
hướng phát triển là ở chỗ sở hữu ruộng đất của quý tộc
ngày càng giảm đi Ruộng đất chiếm hữu có tính chất phi
đẳng cấp ngày càng tăng, mà lại tăng lên cực kỳ nhanh
chóng Trong thời kỳ 1877 - 1905, sở hữu ruộng đất của "các
đẳng cấp khác" tăng nhanh hơn hết (tăng 8 lần trong 28 năm)
và sau đó là sở hữu ruộng đất của nông dân (hơn 2 lần)
Như vậy, từ trong nông dân, ngày càng tách ra những phần
tử xã hội biến thành những người tư hữu ruộng đất Đó là một
sự thực phổ biến Khi phân tích nền kinh tế nông dân, chúng
ta sẽ phải vạch rõ cơ cấu kinh tế - xã hội sản sinh ra sự phân hóa ấy Trước mắt, cần xác định một cách chính xác rằng sự phát triển của các chế độ tư hữu ruộng đất ở Nga đang ở trong giai đoạn chuyển từ chế độ đẳng cấp sang chế độ phi
đẳng cấp Đến cuối thế kỷ XIX, sở hữu ruộng đất kiểu phong kiến hoặc kiểu nông nô của quý tộc còn chiếm đại bộ phận trong toàn bộ sở hữu ruộng đất tư nhân, nhưng sự phát triển
rõ ràng là đang tiến tới tạo nên chế độ tư hữu ruộng đất kiểu tư sản Ruộng đất tư hữu kế thừa của các thân binh, các lãnh chúa thế tập, các quan lại, v v., thì bị giảm đi Ruộng đất tư hữu đơn thuần do tiền bạc mà có thì tăng thêm Quyền lực của ruộng đất giảm xuống, quyền lực của đồng tiền tăng lên Ruộng đất ngày càng bị thu hút vào chu chuyển thương mại; trong phần trình bày sau, chúng ta sẽ thấy quy mô của sự thu hút đó lại còn to lớn gấp nhiều lần so với quy mô mà riêng những tài liệu về chiếm hữu ruộng đất nêu ra
Nhưng "quyền lực của ruộng đất" ― nghĩa là quyền lực của chế độ chiếm hữu ruộng đất theo lối trung cổ của những địa chủ - chủ nô ở nước Nga vào cuối thế kỷ XIX ― còn mạnh đến mức độ nào, thì điều đó đã được đặc biệt thể hiện rõ ràng qua những tài liệu về sự phân chia ruộng
đất tư hữu theo quy mô chiếm hữu Những nguồn tài liệu
mà chúng tôi sử dụng đều đặc biệt nêu lên những số liệu tỉ
mỉ về số ruộng đất tư hữu lớn nhất Dưới đây là sự phân chia chung theo quy mô chiếm hữu:
10 đê-xi-a-ti-na trở xuống… 409 864 1 625 226 3,9
10 C 50 đê-xi-a-ti-na 209 119 4 891 031 23,4
50 C 500 ằ 106 065 17 326 495 163,3
Trang 10Vấn đề ruộng đất ở Nga cuối thế kỷ XIX 73
Do đó ta thấy rằng sở hữu nhỏ giữ một vai trò không đáng
kể trong số ruộng đất tư hữu Sáu phần bảy tổng số những
người sở hữu ruộng đất, tức 619 nghìn trong số 753 nghìn,
chiếm tất cả có 61/2 triệu đê-xi-a-ti-na Trái lại, những điền
trang lớn thì rộng mênh mông: bảy trăm người sở hữu có bình
quân mỗi người ba vạn đê-xi-a-ti-na Bảy trăm người ấy có
nhiều ruộng đất gấp ba lần so với sáu mươi vạn người sở hữu
nhỏ Mà những điền trang lớn nói chung là đặc điểm của chế
độ tư hữu ruộng đất ở Nga Nếu xét tất cả những hộ chiếm
hữu trên 500 đê-xi-a-ti-na, thì có hai vạn tám nghìn người sở
hữu với 62 triệu đê-xi-a-ti-na, nghĩa là bình quân mỗi người có
2 227 đê-xi-a-ti-na Thế là 28 nghìn người ấy nắm trong tay ba
phần tư tổng số ruộng đất tư hữu∗ Xét theo đẳng cấp những
người chiếm hữu, thì những điền trang lớn đó chủ yếu là của
bọn quý tộc Trong số 27 833 người chiếm hữu thì 18 102 người,
tức gần hai phần ba, là thuộc quý tộc và họ có 441/2 triệu
đê-xi-a-ti-na, tức hơn 70% tổng số ruộng đất của các điền trang lớn
Như vậy rõ ràng là ở Nga vào cuối thế kỷ XIX, một số rất lớn
ruộng đất C và là những ruộng đất tốt nhất như ai nấy đều biết C
* Để khỏi làm rối bài này bằng những trích dẫn, chúng tôi nêu lên ngay
ở đây rằng phần lớn số liệu đều lấy trong tác phẩm đã nói ở trên và trong
tác phẩm “Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Nga”, xuất bản lần thứ 2
Xanh Pê-téc-bua, 1908 1)
1) Xem Toàn tập, tiếng Việt, Nhà xuất bản Tiến bộ, Mát-xcơ-va, t 3
V I L ê - n i n
74
vẫn tập trung như trước kia (như trong thời trung cổ) trong tay
đẳng cấp quý tộc có đặc quyền đặc lợi, trong tay những địa chủ - chủ nô trước kia Về những hình thức kinh doanh đang áp dụng trong các điền trang lớn đó, chúng tôi sẽ nói tỉ mỉ ở phần dưới Bây giờ, chúng tôi chỉ bổ sung một đoạn ngắn nói về một sự thật ai cũng biết, mà ngài Ru-ba-kin đã mô tả rõ ràng trong sách: đó là những quan lại cao cấp của bộ máy quan liêu thay nhau chiếm hữu các điền trang lớn của quý tộc56
Chúng ta hãy chuyển sang vấn đề chiếm hữu ruộng đất chia Trừ 1,9 triệu đê-xi-a-ti-na không phân chia theo mức chiếm hữu ruộng đất, số còn lại 136,9 triệu đê-xi-a-ti-na thuộc quyền sở hữu của 121/4 triệu nông hộ Bình quân mỗi nông hộ
có 11,1 đê-xi-a-ti-na Nhưng ruộng đất chia được phân phối không đều: gần một nửa, tức 64 triệu đê-xi-a-ti-na trong số 137 triệu, là nằm trong tay 2,1 triệu nông hộ giàu, tức một phần sáu tổng số
Dưới đây là những tài liệu tổng quát về tình hình phân chia ruộng đất chia trong phần nước Nga thuộc châu Âu:
Nhóm nông hộ Số nông hộ Số
đê-xi-a-ti-na
Số ti-na bình quân cho một nông hộ Dưới 5 đê-xi-a-ti-na 2 857 650 9 030 333 3,1
5 - 8 ằ 3 317 601 21 706 550 6,5
Tổng cộng những
hộ dưới 8 ti-na có 6 175 251 30 736 883 4,9
8 - 15 đê-xi-a-ti-na 3 932 485 42 182 923 10,7
15 - 30 ằ 1 551 904 31 271 922 20,1 Trên 30 ằ 617 715 32 695 510 52,9
Tổng cộng ở phần nước Nga thuộc châu Âu có 12 277 355 136 887 238 11,1
Trang 11Như vậy là trên một nửa nông hộ được chia ruộng đất C 6,2
triệu trong số 12,3 triệu C mỗi nông hộ có dưới 8 đê-xi-a-ti-na
Nói chung và tính bình quân trong toàn nước Nga thì đó là số
lượng chắc chắn không đủ để nuôi gia đình Để đánh giá tình
hình kinh tế của những hộ đó, chúng ta hãy nhắc lại những tài
liệu chung điều tra về ngựa chiến (đó là những thống kê duy
nhất được lập nên một cách định kỳ và đều đặn cho toàn nước
Nga) Tại 48 tỉnh ở phần nước Nga thuộc châu Âu, nghĩa là trừ
vùng sông Đôn và tỉnh ác-khan-ghen-xcơ, trong những năm
1896 - 1900 có 11 112 287 nông hộ Trong số đó có 3 242 462 hộ,
tức 29,2%, không có ngựa; 3 361 778 hộ, tức 30,3%, có một ngựa
Ai cũng biết thế nào là người nông dân không có ngựa ở Nga
(tất nhiên ở đây chúng tôi lấy số liệu tổng hợp, chứ không lấy
những vùng đặc biệt nào đó, như những vùng ngoại ô chăn
nuôi bò sữa và những vùng trồng thuốc lá, v v.) Ai cũng biết sự
thiếu thốn và bần cùng của người nông dân có một con ngựa
Sáu triệu hộ C nghĩa là từ 24 đến 30 triệu nhân khẩu Và tất cả số
nhân khẩu đó là những người nghèo khổ, bần cùng, được chia
những mảnh ruộng đất nhỏ, không thể dựa vào đó mà sống, trên
miếng đất ấy chỉ có thể chết đói Nếu giả định rằng một nông hộ
khá giả cần phải có ít nhất 15 đê-xi-a-ti-na mới có thể đủ sống, thì
chúng ta thấy có 10 triệu nông hộ ở dưới mức đó, những nông hộ
này có 72,9 triệu đê-xi-a-ti-na ruộng đất
Chúng ta hãy tiếp tục Về sở hữu ruộng đất chia, cần
chú ý đến một đặc điểm cực kỳ quan trọng Sự không
đồng đều trong việc phân chia ruộng đất chia cho nông
dân thì hết sức ít so với sự không đồng đều trong việc
phân chia ruộng đất tư hữu Thế nhưng trong nông dân
được chia ruộng đất lại có nhiều sự khác biệt, phân loại,
ngăn cách khác Đó là những sự khác biệt giữa những loại
nông dân đã hình thành về mặt lịch sử qua nhiều thế kỷ Để
chỉ rõ những sự ngăn cách ấy, trước hết chúng ta hãy lấy những
số liệu tổng hợp về toàn bộ phần nước Nga thuộc châu Âu Thống kê năm 1905 nêu lên những loại sau đây: nông dân trước
đây thuộc chủ nô, bình quân một nông hộ có 6,7 đê-xi-a-ti-na ruộng đất được chia; nông dân trước đây thuộc nhà nước C 12,5
na; nông dân trước đây thuộc thái ấp C 9,5 na; dân dinh điền C 20,2 đê-xi-a-ti-na; những người Tsin-sê-vích C 3,1 đê-xi-a-ti-na; những người Rê-dê-si C 5,3 đê-xi-a-ti-na; những người Ba-ski-ri-a và Tép-ti-a-ri57 C 28,3 đê-xi-a-ti-na; nông dân vùng Pri-ban-tích C 36,9 đê-xi-a-ti-na; người Cô-dắc C 52,7 đê-xi-a-ti-na Ngay ở đây, chúng ta cũng thấy rõ rằng sở hữu ruộng đất được chia của nông dân có tính chất thuần túy trung cổ Chế độ nông nô cho đến nay vẫn còn sống dưới rất nhiều hàng rào ngăn cách tồn tại trong nông dân Những loại
đê-xi-a-ti-đó khác nhau không phải chỉ ở số lượng ruộng đất mà còn ở
số tiền phải trả, ở những điều kiện chuộc lại, ở tính chất sở hữu, v v Thay cho những số liệu tổng hợp về toàn nước Nga, chúng ta hãy lấy số liệu của một tỉnh thì sẽ thấy tất cả những sự ngăn cách đó có ý nghĩa như thế nào Đây là tập thống kê của Hội đồng địa phương tỉnh Xa-ra-tốp Ngoài những loại chung cho toàn nước Nga, tức những loại chúng tôi đã nhắc đến, ở đây chúng ta thấy những nhà nghiên cứu
địa phương phân ra những loại sau đây: nông dân được cấp không ruộng đất, nông dân sở hữu hoàn toàn, nông dân thuộc nhà nước được sử dụng rộng đất công xã, nông dân thuộc nhà nước có ruộng tsét-véc, nông dân thuộc nhà nước nguyên trước thuộc địa chủ, nông dân lĩnh canh ruộng công, nông dân tư hữu thường trú, nông dân di cư, nông dân được giải phóng, nông dân được miễn lao dịch, nông dân tự do, nông dân nguyên trước làm việc trong công xưởng, v v.58 Mạng lưới sự cách biệt thời trung cổ đó đã đưa đến chỗ là đôi khi những người nông dân cùng ở một thôn bị chia thành hai loại hoàn toàn khác nhau: "những nông dân nguyên trước thuộc
ông N N." và "những nông dân nguyên trước là thuộc bà M M."
Trang 12Vấn đề ruộng đất ở Nga cuối thế kỷ XIX 77
Những nhà văn của phái dân túy - tự do chủ nghĩa ở nước ta
không biết nhìn những quan hệ kinh tế ở Nga theo quan điểm
phát triển, không biết trật tự tư bản chủ nghĩa thay thế trật tự
nông nô, nên họ thường bỏ qua điều ấy Trên thực tế, người ta
hoàn toàn không thể hiểu được lịch sử nước Nga vào thế kỷ
XIX và đặc biệt là kết quả trực tiếp của nó, C tức là những sự
kiện đầu thế kỷ XX ở Nga, C nếu không đánh giá được toàn bộ
ý nghĩa của sự kiện ấy Một nước mà sự trao đổi không ngừng
mở rộng và chủ nghĩa tư bản không ngừng phát triển, thì
không thể không trải qua đủ thứ khủng hoảng, nếu trong
ngành kinh tế quốc dân chủ yếu đâu đâu những quan hệ thời
trung cổ vẫn còn kìm hãm và cản trở Chế độ công xã59 nổi
tiếng mà chúng ta sẽ còn có dịp nói đến ý nghĩa của nó, không
ngăn cản được nông dân khỏi bị vô sản hóa và, trên thực tế, nó
đóng vai trò một bức tường trung cổ ngăn cách những người
nông dân đã bị cột chặt vào những hội nhỏ bé và vào những
loại đã mất hết mọi "ý nghĩa tồn tại"
Trước khi chuyển sang những kết luận cuối cùng về chế
độ chiếm hữu ruộng đất ở phần nước Nga thuộc châu Âu,
cần phải nêu thêm một khía cạnh của vấn đề Cả những số
liệu về số lượng ruộng đất trong tay "30 nghìn" địa chủ "lớp
trên" và trong tay hàng triệu nông hộ, cả những số liệu về
những sự cách biệt thời trung cổ trong chế độ sở hữu ruộng
đất của nông dân, cũng chưa đủ để tính toán được quy mô
thật sự xem người nông dân nước ta bị "trói buộc", bóp nghẹt
và đè nén đến mức độ nào bởi những tàn tích của chế độ
nông nô Thứ nhất, những ruộng đất dành lại để chia cho
nông dân sau cuộc tước đoạt nông dân để làm lợi cho địa
chủ, mà người ta gọi là cuộc cải cách vĩ đại năm 186160,
những ruộng đất ấy về mặt chất lượng xấu hơn ruộng đất
của địa chủ rất nhiều Tất cả khối sách báo to lớn của thống
kê của hội đồng địa phương miêu tả và nghiên cứu các địa
phương, đều chứng minh điều đó Điều đó cũng đã được
chứng minh qua một khối tài liệu to lớn không thể chối
đem chia cho nông dân theo cách làm cho nông dân vẫn mắc bẫy của địa chủ "của mình" Sách báo thống kê của hội đồng địa phương ở Nga đã làm giàu cho khoa học kinh tế chính trị bằng việc mô tả phương thức kinh doanh hết sức độc đáo, đặc sắc của địa chủ, hầu như chưa hề thấy ở nơi nào trên trái đất Đó là phương thức kinh doanh bằng những ruộng đất cắt Năm 1861 nông dân được "giải phóng" khỏi những nguồn nước cho gia súc uống, những đồng cỏ, v v., là những thứ cần thiết cho kinh tế của họ Ruộng đất của nông dân bị kẹp chặt giữa những ruộng đất của địa chủ, đến nỗi các ngài địa chủ có
được một món thu nhập hết sức chắc chắn C và hết sức cao quý C là tiền phạt về những thiệt hại do gia súc gây ra trên ruộng đất của chúng, v.v "Không có chỗ thả gà", C đó là sự thật cay đắng của nông dân, cái câu "khôi hài của người bị treo cổ" đó nói rõ hơn bất cứ những dẫn chứng dài dòng nào về đặc
điểm của sở hữu ruộng đất của nông dân mà bản thống kê không diễn tả được Chả cần phải nói cũng rõ rằng đặc điểm đó
là hoàn toàn bắt nguồn từ chế độ nông nô, xét về nguồn gốc phát sinh của nó, cũng như về ảnh hưởng của nó đến phương thức tổ chức kinh doanh của địa chủ
Bây giờ chúng ta chuyển qua phần kết luận về tình hình chiếm hữu ruộng đất ở phần nước Nga thuộc châu Âu Chúng tôi đã nêu những điều kiện sở hữu ruộng đất nói riêng của địa chủ và của nông dân Bây giờ chúng ta phải xem xét những điều kiện ấy trong những mối liên hệ của chúng với nhau Muốn vậy, hãy lấy con số phỏng chừng đã dẫn ở trên
Trang 13về khối lượng ruộng đất ở phần nước Nga thuộc châu Âu ―
280 triệu đê-xi-a-ti-na C và xem tất cả khối lượng đó được phân
chia như thế nào giữa các nông hộ thuộc những loại khác nhau
Những loại đó như thế nào thì sẽ trình bày cụ thể sau, còn bây
giờ thì đi trước một ít, chúng ta hãy lấy những loại chủ yếu một
cách giả định Những nông hộ có dưới 15 đê-xi-a-ti-na, chúng ta
liệt vào nhóm thứ nhất: nhóm nông dân phá sản, bị đè nén dưới
ách bóc lột kiểu nông nô Nhóm thứ hai gồm có trung nông
chiếm từ 15 đến 20 đê-xi-a-ti-na Nhóm thứ ba là nông dân khá
giả (giai cấp tư sản nông thôn) và chiếm hữu ruộng đất tư bản
chủ nghĩa, có từ 20 đến 500 đê-xi-a-ti-na Nhóm thứ tư là những
điền trang lớn kiểu nông nô, có trên 500 đê-xi-a-ti-na Nếu căn
cứ vào những nhóm ấy mà cộng cả ruộng đất sở hữu của nông
dân và của địa chủ và lấy con số tròn∗, và tính ước chừng (tôi
đã nêu cụ thể trong tác phẩm nói trên), thì chúng ta sẽ có bức
tranh về tình hình sở hữu ruộng đất ở nước Nga vào cuối thế
kỷ XIX [Xem bảng kê ở tr 80 BT.]
Chúng tôi xin nhắc lại: sự đúng đắn của việc nhận định về
mặt kinh tế đối với những nhóm nêu trên đây sẽ được chứng
minh trong phần trình bày sau Và nếu có những chi tiết của
bức tranh trên (mà thật ra nó không thể không là ước chừng
được) phải phê phán, thì chúng tôi yêu cầu độc giả hãy chú ý
theo dõi sao cho không vì phê phán những chi tiết mà lén lút
phủ nhận thực chất của sự việc Mà thực chất ấy của sự việc là ở
chỗ trong tình hình sở hữu ruộng đất ở Nga, một bên chúng ta
thấy có 101/2 triệu hộ (khoảng 50 triệu nhân khẩu) với 75 triệu
đê-xi-a-ti-na ruộng đất, và một bên là ba vạn gia đình (khoảng
15 vạn nhân khẩu) thì có 70 triệu đê-xi-a-ti-na ruộng đất
* Thí dụ, ngoài 62 triệu đê-xi-a-ti-na ruộng đất của địa chủ trong các
điền trang lớn còn có 5,1 triệu đê-xi-a-ti-na thuộc các thái ấp và 3,6 triệu
xi-a-ti-na của 272 công ty công thương nghiệp, mỗi cái có trên 1 000
Diện tích của một hộ sở hữu (đê-xi-a-ti-na) a) Nông dân phá sản bị đè
nén dưới ách bóc lột kiểu nông nô 10,5 75,0 7,0 b) Trung nông 1,0 15,0 15,0 c) Giai cấp tư sản nông thôn
và sở hữu ruộng đất tư
bản chủ nghĩa 1,5 70,0 46,7 d) Điền trang lớn kiểu nông
Để độc giả hình dung được phần nào về toàn bộ số ruộng đất của đế quốc Nga (trừ Phần-lan), chúng tôi dùng những số liệu của ông Méc-tva-gô Chúng tôi nêu các số liệu đó theo hình thức bảng kê và thêm vào những số liệu nhân khẩu theo cuộc
điều tra năm 1897, cho được rõ ràng [Xem bảng kê ở tr 81 BT.] Qua những con số đó, rõ ràng là chúng ta còn biết ít về các vùng ngoại vi nước Nga Lẽ tất nhiên, nghĩ đến "giải quyết" vấn đề ruộng đất bên trong nước Nga bằng cách di dân ra các vùng ngoại vi thì thật là cực kỳ vô lý Không còn một chút nghi ngờ nào rằng chỉ có bọn bịp bợm mới
có thể đề nghị cách "giải quyết" như thế, rằng những mâu
Trang 15thuẫn giữa những điền trang lớn cũ ở phần nước Nga thuộc châu
Âu với những điều kiện mới về sinh hoạt và kinh tế ở cùng phần
nước Nga thuộc châu Âu mà chúng tôi đã nói ở trên, phải được
“giải quyết” bằng một cuộc cách mạng nào đó ở phần nước Nga
thuộc châu Âu chứ không phải ở ngoài phần đó Vấn đề không
phải là giải thoát nông dân khỏi chế độ nông nô bằng cách di
dân Vấn đề là song song với vấn đề ruộng đất ở khu trung tâm
còn có vấn đề ruộng đất dinh điền Vấn đề không phải là che lấp
cuộc khủng hoảng ở phần nước Nga thuộc châu Âu bằng vấn đề
dinh điền mà là ở chỗ chỉ rõ những kết quả tai hại của những đại
điền trang nông nô cả đối với khu trung tâm lẫn đối với các vùng
ngoại vi Chính sách dinh điền ở Nga bị kìm hãm bởi những tàn
tích của chế độ nông nô ở khu trung tâm nước Nga Chúng ta
không thể giải phóng và điều hòa việc dinh điền ở Nga bằng
cách nào khác hơn là một cuộc cách mạng ruộng đất ở phần nước
Nga thuộc châu Âu, là giải phóng nông dân khỏi cái ách các đại
điền trang nông nô Việc điều hòa đó không phải là ở những sự
"quan tâm" quan liêu về việc di dân và không phải ở việc “tổ
chức những cuộc di dân” mà những nhà văn thuộc phái dân túy -
tự do chủ nghĩa thích nói đến, mà ở việc thủ tiêu những điều
kiện buộc người nông dân Nga vào vòng tối tăm, ngu độn và dã
man trong sự lệ thuộc vĩnh viễn vào bọn chủ đại điền trang
Trong cuốn sách nhỏ viết chung với ông
Prô-cô-pô-vích, (“Nước Nga có bao nhiêu ruộng đất và chúng ta sử
dụng nó như thế nào?” Mát-xcơ-va, 1907), ông Méc-tva-gô đã
chỉ ra một cách đúng đắn rằng sự tiến bộ về kỹ thuật nông
nghiệp đã biến những ruộng đất không trồng trọt được
thành những ruộng đất trồng trọt được Các viện sĩ Be-rơ và
Ghen-méc-xen, chuyên gia về vấn đề này, viết năm 1845
rằng những thảo nguyên Ta-vrích “bao giờ cũng sẽ thuộc
những loại ruộng đất xấu nhất và không thuận lợi cho sự
trồng trọt vì khí hậu và vì thiếu nước!!”61 Khi đó, dân cư
tỉnh Ta-vrích đã cày cấy được 1,8 triệu tsét-véc lúa mì 60 năm sau, dân số tăng lên gấp đôi và cày cấy được 17,6 triệu tsét-véc, nghĩa là nhiều hơn gần 10 lần
Đó là một lập luận rất đúng và cực kỳ quan trọng, nhưng
ông Méc-tva-gô chỉ quên một điều: sự sụp đổ của chế độ nông nô ở trung tâm nước Nga là điều kiện chính cho phép thực hiện nhanh chóng việc dinh điền ở Nô-vô-rốt-xi-a Chỉ
có cuộc cách mạng ở vùng trung tâm mới tạo khả năng di dân đến miền Nam và công nghiệp hóa miền Nam một cách nhanh chóng, rộng rãi, theo kiểu Mỹ (sự phát triển theo kiểu
Mỹ ở miền Nam nước Nga sau năm 1861 đã được nói đến rất nhiều lần) Và bây giờ chỉ có cuộc cách mạng ở phần nước Nga thuộc châu Âu, chỉ có thủ tiêu hoàn toàn những tàn tích của chế độ nông nô ở nơi đó và giải thoát nông dân khỏi những đại điền trang kiểu trung cổ thì mới có thể thật sự mở
ra một kỷ nguyên mới cho việc dinh điền
Vấn đề dinh điền ở Nga phụ thuộc vào vấn đề ruộng đất ở vùng trung tâm của đất nước Thời kỳ cuối thế kỷ XIX đặt chúng ta trước tình thế phải chọn lấy một: hoặc là cương quyết thanh toán chế độ nông nô trong những tỉnh Nga “chính thống”, như vậy việc dinh điền ở những vùng ngoại vi của chúng ta sẽ
được đảm bảo phát triển nhanh chóng, rộng rãi, theo kiểu Mỹ Hoặc là kéo dài vấn đề ruộng đất ở vùng trung tâm, như vậy nhất định sẽ có tình trạng trì hoãn lâu dài trong việc phát triển lực lượng sản xuất và tình trạng duy trì những truyền thống nông nô ngay cả trong việc dinh điền Trong trường hợp thứ nhất, kinh doanh nông nghiệp sẽ là người phéc-mi-ê tự do, trong trường hợp thứ hai sẽ là người mu-gích bị nô dịch và lãnh chúa “kinh doanh” trên những ruộng đất cắt
II
Chúng ta hãy chuyển sang vấn đề tổ chức kinh doanh của địa chủ Ai cũng biết rằng đặc điểm chủ yếu của việc
Trang 16Để trả lời câu hỏi đó, cần nhìn lại việc tổ chức kinh doanh
của địa chủ trong chế độ nông nô Mọi người đều biết chế độ
nông nô là thế nào cả về mặt pháp lý, hành chính, lẫn về mặt
sinh hoạt Nhưng rất ít khi người ta tự đặt cho mình câu hỏi:
thực chất của những quan hệ kinh tế giữa địa chủ và nông
dân trong chế độ nông nô là gì Trong thời kỳ đó địa chủ
chia cho nông dân một số ruộng đất Đôi khi họ cho nông
dân vay cả tư liệu sản xuất khác, như gỗ, gia súc, v v Việc
địa chủ chia ruộng đất cho nông nô có ý nghĩa gì? Lúc đó
những ruộng đất được chia là một hình thức tiền lương, nếu
nói cho phù hợp với những quan hệ hiện nay Trong nền sản
xuất tư bản chủ nghĩa tiền lương của công nhân được trả
bằng tiền Lợi nhuận của nhà tư bản được thực hiện dưới
hình thức tiền Lao động tất yếu và lao động thặng dư (nghĩa
là phần lao động được trả công, để nuôi sống công nhân và
phần lao động không được trả công, tạo ra giá trị thặng dư
cho nhà tư bản) kết hợp chung trong một quá trình lao động
ở công xưởng, trong một ngày lao động tại công xưởng, v v
Trong nền kinh tế diêu dịch thì lại khác ở đây cũng như ở
trong nền kinh tế nô lệ đều có lao động tất yếu và lao động
thặng dư Nhưng cả hai hình thức lao động đó được phân
chia ra theo thời gian và không gian Người nông nô làm việc
ba ngày cho lãnh chúa, rồi làm việc ba ngày cho mình Họ
làm cho lãnh chúa trên ruộng đất của lãnh chúa hoặc thu
hoạch lúa mì cho lãnh chúa Làm cho mình, họ lao động trên
mảnh ruộng đất được chia, tự sản xuất cho mình và cho gia
đình mình số lúa mì cần thiết để duy trì sức lao động phục
vụ cho lãnh chúa
Vậy thì chế độ kinh tế nông nô hay diêu dịch cũng
giống chế độ tư bản chủ nghĩa ở chỗ là trong cả hai chế
Vấn đề ruộng đất ở Nga cuối thế kỷ XIX 85
độ, người lao động chỉ được lĩnh sản phẩm của lao động tất yếu, trong khi đó phải nộp không phần sản phẩm lao động thặng dư cho người chủ tư liệu sản xuất Nhưng chế độ kinh
tế nông nô khác chế độ tư bản chủ nghĩa ở ba mặt sau đây Thứ nhất, kinh tế nông nô là nền kinh tế tự nhiên, còn kinh tế tư bản chủ nghĩa là nền kinh tế tiền tệ Thứ hai, trong nền kinh
tế nông nô thủ đoạn bóc lột là cột chặt người lao động vào ruộng đất, là chia ruộng đất cho họ; còn trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, thủ đoạn ấy là giải phóng người lao động khỏi ruộng đất Để có thu nhập (nghĩa là sản phẩm thặng dư), địa chủ - chủ nô phải có trên ruộng đất của mình người nông dân
có mảnh ruộng đất được chia, có nông cụ, súc vật Người nông dân không có ruộng đất, không có ngựa, không có tư liệu lao động là đối tượng vô dụng đối với sự bóc lột kiểu nông nô Để có thu nhập (lợi nhuận) nhà tư bản phải có trước mắt mình chính là những người lao động không có ruộng đất, không có cơ sở kinh tế, buộc phải bán sức lao động của mình trên thị trường lao động tự do Thứ ba, người nông dân được chia ruộng đất phải lệ thuộc về thân thể vào địa chủ, vì có ruộng đất rồi, nếu không bị cưỡng bức thì họ không làm việc cho lãnh chúa Chế độ kinh tế đẻ ra ở đây “sự cưỡng bức siêu kinh tế”, chế độ nông nô, sự lệ thuộc về pháp lý, tình trạng không được hưởng quyền đầy đủ, v v Trái lại, chủ nghĩa tư bản “lý tưởng” là sự hoàn toàn tự do ký hợp đồng trên thị trường tự do giữa người hữu sản và người vô sản
Chỉ có giải thích cho mình rõ ràng thực chất kinh tế của nền kinh tế nông nô, hay là nền kinh tế diêu dịch cũng thế, thì chúng ta mới có thể hiểu vị trí lịch sử và ý nghĩa của chế độ lao dịch Chế độ lao dịch, đó là tàn tích rõ ràng
và trực tiếp của chế độ diêu dịch Chế độ lao dịch, đó là
sự quá độ từ chế độ diêu dịch sang chủ nghĩa tư bản Thực chất của chế độ lao dịch là ở chỗ nông dân canh tác ruộng
đất của địa chủ bằng nông cụ của mình, được trả công một
Trang 17phần bằng tiền, một phần bằng hiện vật (như ruộng đất,
ruộng đất cắt, các đồng cỏ, tiền vay công non mùa đông,
v v.) Hình thức kinh tế gọi là làm rẽ, là một trong những
dạng của chế độ lao dịch Người nông dân được chia ruộng
đất, có gia súc và nông cụ dù tồi nhất đi nữa cũng là cần thiết
cho nền kinh tế lao dịch của địa chủ; cũng cần làm thế nào để
người nông dân ấy bị bần cùng và bị nô dịch Sự nô dịch, chứ
không phải làm thuê tự do, là bạn đường tất yếu của chế độ
lao dịch ở đây địa chủ không phải là nhà tư bản kinh doanh
có tiền và toàn bộ công cụ lao động Trong chế độ lao dịch
địa chủ là người cho vay nặng lãi, lợi dụng sự khốn cùng của
người nông dân hàng xóm và mua lao động của họ bằng giá
hết sức rẻ mạt
Để nói rõ hơn về điều đó, chúng ta hãy lấy những số
liệu của Cục nông nghiệp, C một nguồn mà ta không thể
nghi ngờ tí nào là thiếu thiện ý đối với các ngài địa chủ
Cuốn sách mà ai cũng biết “Lao động làm thuê tự do trong
các doanh nghiệp, v v.” (thiên V, “Tập tài liệu thống kê
nông nghiệp căn cứ vào tài liệu của các nghiệp chủ” Xanh
Pê-téc-bua, 1892) cho chúng ta những tài liệu về vùng
trung tâm đất đen trong 8 năm (1883 - 1891): tiền công
trung bình trả cho việc canh tác một đê-xi-a-ti-na lúa mì
mùa thu hoàn toàn bằng nông cụ của nông dân, được tính
là 6 rúp Nếu chúng ta tính giá trị của cùng một công việc
như thế trong chế độ làm thuê tự do thì, theo quyển sách
đó, riêng tiền công của người nông dân là 6 rúp 19
cô-pếch, không kể tiền công của ngựa; số tiền công này không
thể dưới 4 rúp 50 cô-pếch (trích sách nói trên, tr 45 "Sự phát
triển của chủ nghĩa tư bản ở Nga", tr 1411)) Như vậy, giá
làm thuê tự do là 10 rúp 69 cô-pếch, còn giá lao dịch là 6 rúp
Giải thích hiện tượng đó như thế nào, nếu nó không phải là
1) Xem Toàn tập, tiếng Việt, Nhà xuất bản Tiến bộ, Mát-xcơ-va, t 3,
tr 243
ngẫu nhiên, cá biệt, mà là bình thường và quen thuộc? Những từ như “nô dịch”, “cho vay nặng lãi”, “bóp nặn” v v miêu tả hình thức và tính chất của sự thỏa thuận, nhưng không giải thích được thực chất kinh tế của nó Tại sao người nông dân lại có thể trong bao nhiêu năm trời làm công việc đáng giá 10 rúp 69 cô-pếch mà chỉ nhận 6 rúp tiền công? Người nông dân có thể làm như vậy vì miếng ruộng
đất được chia của họ bù đắp một phần những chi tiêu của gia đình họ và cho phép hạ tiền công của họ thấp hơn mức tiền công “làm thuê tự do” Người nông dân bắt buộc phải làm như vậy chính vì miếng ruộng đất được chia ít ỏi đã trói buộc họ vào tên địa chủ láng giềng, không cho họ khả năng sống dựa vào kinh tế của họ Và cũng dễ hiểu rằng hiện tượng đó chỉ có thể là “bình thường” với tính cách là một trong những khâu của quá trình chủ nghĩa tư bản loại trừ chế độ diêu dịch Vì trong những điều kiện như thế, nông dân không sao tránh khỏi bị phá sản và trở thành vô sản một cách chậm chạp nhưng chắc chắn
Sau đây là những tài liệu cùng một loại, nhưng đầy đủ hơn một chút, về huyện Xa-ra-tốp Giá trung bình của việc canh tác một đê-xi-a-ti-na kể cả gặt, chuyên chở và đập lúa,
là 9,6 rúp trong điều kiện hợp đồng mùa đông có ứng trước
80 - 100% tiền công Trong chế độ lao dịch, giá công cày ruộng là 9,4 rúp Trong chế độ làm thuê tự do, giá đó là 171/2
rúp! Giá công gặt và chuyên chở trong chế độ lao dịch là 3,8 rúp trên một đê-xi-a-ti-na, trong chế độ làm thuê tự do là
81/2 rúp, v v Mỗi một con số đó chứa đựng một truyện dài
về sự thiếu thốn khốn cùng, về sự nô dịch và phá sản của nông dân Mỗi một con số đó chứng tỏ là vào cuối thế kỷ XIX
ở Nga sự bóc lột kiểu nông nô và những tàn tích của chế độ diêu dịch còn tồn tại như thế nào
Mức độ phổ biến của chế độ lao dịch rất khó mà tính toán
được Thường thường trong kinh tế địa chủ có kết hợp cả chế
độ lao dịch và chế độ tư bản chủ nghĩa, các chế độ này được
Trang 18V I L ê - n i n
88
áp dụng tùy theo những công việc khác nhau trong nông
nghiệp Một phần nhỏ ruộng đất là do công nhân làm thuê cày
bừa bằng nông cụ của địa chủ Đại bộ phận ruộng đất phát
canh cho nông dân dưới hình thức làm rẽ, lao dịch Dưới đây là
một số minh họa mà chúng tôi lấy trong tác phẩm tỉ mỉ của ông
Cau-phman, ông này đưa ra một loạt những số liệu mới nhất về
nền kinh tế tư nhân∗ ở tỉnh Tu-la (số liệu thuộc những năm
1897 - 1898): “địa chủ vẫn giữ nguyên lối luân canh ba thửa…
ruộng đất ở xa do nông dân chia nhau lĩnh canh"; việc cày bừa
ruộng đất của địa chủ hết sức là tồi ở tỉnh Cuốc-xcơ: “… việc
cho nông dân lĩnh canh ruộng đất theo từng lô một
đê-xi-a-ti-na, có lợi vì giá cả cao…, song đã đưa đến chỗ làm mất hết màu
mỡ của ruộng đất” ở tỉnh Vô-rô-ne-giơ: … những địa chủ hạng
vừa và nhỏ “phần lớn chỉ kinh doanh bằng nông cụ của nông
dân hoặc đem ruộng đất của mình ra phát canh… điều nổi bật
của những phương pháp mà đa số hộ áp dụng là ở chỗ không
có một sự cải tiến nào cả”
Những nhận xét tương tự chỉ cho chúng ta thấy rằng, vào
cuối thế kỷ XIX, sự nhận định chung về ưu thế của chế độ lao
dịch hoặc của chế độ tư bản chủ nghĩa, tại những tỉnh ở phần
nước Nga thuộc châu Âu mà ông An-nen-xki đã nêu trong
cuốn “ảnh hưởng của mùa màng, v.v.”, là hoàn toàn đúng
Chúng tôi xin nêu sự nhận định đó dưới hình thức bảng kê
[Xem bảng kê ở tr 89 BT.]
Như vậy là trong vùng đất đen, chế độ lao dịch chiếm
ưu thế tuyệt đối, nhưng trong tất cả 43 tỉnh có ghi trong
bảng này, thì chế độ đó lại ở địa vị thứ yếu Đồng thời
cần chú ý rằng nhóm I (chế độ tư bản chủ nghĩa) chính là
không tiêu biểu cho vùng tâm nông nghiệp: đó là những
* “Vấn đề ruộng đất” Nhà xuất bản Đôn-gô-ru-cốp và
Pê-tơ-run-kê-vích, t II, Mát-xcơ-va, 1907, tr 442 - 628: “Về vấn đề ý nghĩa kinh tế - kỹ
thuật của chế độ tư hữu ruộng đất”
Vấn đề ruộng đất ở Nga cuối thế kỷ XIX 89
tỉnh vùng Pri-ban-tích, Tây - Nam (vùng trồng củ cải đường), phía Nam và hai tỉnh thủ đô
Số tỉnh
Trong vùng
đất đen
Trong vùng không phải
đất đen
Tổng cộng
Toàn bộ diện tích gieo trồng của những người tư hữu (nghìn đê-xi-a- ti-na)
I Những tỉnh có chế độ tư
bản chủ nghĩa chiếm ưu thế 9 10 19 7 407
II Những tỉnh có chế độ hỗn hợp chiếm ưu thế 3 4 7 2 222 III Những tỉnh có chế độ
lao dịch chiếm ưu thế 12 5 17 6 281
Chế độ lao dịch ảnh hưởng như thế nào đến sự phát triển của lực lượng sản xuất trong nông nghiệp, thì những tài liệu nêu trong tác phẩm của ông Cau-phman đã nói rất
rõ “Không còn nghi ngờ gì cả, C cuốn sách viết, C chế độ lĩnh canh của tiểu nông và chế độ làm rẽ là một trong những yếu tố kìm hãm sự tiến bộ của nông nghiệp nhiều nhất…” Trong bài kiểm điểm tình hình nông nghiệp tỉnh Pôn-ta-va, tác giả đã thường xuyên nêu lên rằng “những người làm rẽ canh tác ruộng đất một cách qua loa, gieo những loại giống xấu, làm cho ruộng đất xấu đi”
Trong tỉnh Mô-ghi-lép (năm 1898) “mọi sự cải tiến trong nền kinh tế đều bị những điều bất lợi của chế độ làm rẽ cản trở” Chế độ xcốp-si-na62 là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm cho “nông nghiệp ở huyện Đni-ép-rơ ở
Trang 19trong một tình trạng không thể nghĩ đến một sự đổi mới và cải tiến
nào cả” “Những tài liệu của chúng tôi, C ông Cau-phman viết
(tr 517), C cho chúng tôi một loạt chỉ dẫn rõ ràng rằng ngay trong
phạm vi của cùng một trại ấp, trên những ruộng đất phát canh,
những phương thức kinh doanh cũ đã lỗi thời vẫn còn tiếp tục
được duy trì, trong khi trên những miếng đất tự cày bừa đã áp
dụng những chế độ canh tác mới, hoàn chỉnh hơn” Ví dụ, trên
những đất lĩnh canh còn giữ phương pháp luân canh ba thửa, có
khi thậm chí không bỏ phân, C còn trên những miếng đất tự kinh
doanh thì áp dụng chế độ luân canh nhiều thửa Chế độ làm rẽ
kìm hãm việc trồng cỏ, cản trở việc mở rộng bón phân, làm chậm
trễ việc áp dụng những nông cụ tốt hơn Kết quả của tất cả những
việc đó được chỉ rõ trong những số liệu về thu hoạch Ví dụ, đây là
số liệu về một điền trang lớn ở tỉnh Xim-biếc-xcơ: thu hoạch lúa
mì đen trên đất tự kinh doanh là 90 pút một đê-xi-a-ti-na, lúa mạch
60 pút, lúa kiều mạch 74 pút; còn trên đất làm rẽ là 58 - 28 - 50 pút
Dưới đây là những số liệu tổng quát của toàn huyện (Goóc-ba-tốp,
tỉnh Ni-giơ-ni Nốp-gô-rốt):
Thu hoạch lúa mì đen tính theo pút trên 1 đê-xi-a-ti-na
Ruộng đất tư hữu
đất chia
Diện tích
tự kinh doanh
đình trệ của toàn bộ nền kinh tế quốc dân và của cảnh khốn khổ chưa hề thấy trên thế giới của người làm ruộng, là chế
độ lao dịch, tức là tàn tích trực tiếp của chế độ nông nô Không một khoản tín dụng nào, không có một sự cải tạo chất đất nào, không có một sự “giúp đỡ” nào đối với nông dân, không có một biện pháp “cứu giúp” nào mà bọn quan liêu và phái tự do vẫn ưa thích, có thể đem lại được những kết quả quan trọng nào, một khi còn tồn tại ách thống trị của những điền trang lớn, của những truyền thống và những chế độ kinh doanh kiểu nông nô Và ngược lại, cuộc cách mạng ruộng đất thủ tiêu chế độ chiếm hữu ruộng đất của địa chủ và phá vỡ cái công xã cũ kiểu trung cổ (như việc quốc hữu hóa ruộng đất sẽ phá vỡ công xã không phải bằng biện pháp cảnh sát, quan liêu) nhất định sẽ là cơ sở cho sự tiến bộ hết sức nhanh chóng và thật sự rộng rãi Sản lượng cực kỳ thấp của những ruộng đất làm rẽ và cho thuê gắn liền với chế độ canh tác: "làm cho lãnh chúa" Không những là sản lượng của những ruộng đất đó sẽ tăng lên nếu người nông dân hiện nay được giải phóng khỏi công việc
“làm cho lãnh chúa”, mà cả sản lượng của những ruộng đất
được chia nhất định cũng sẽ tăng lên chỉ vì loại bỏ được những sự cản trở của chế độ nông nô đối với nền kinh tế Trong hoàn cảnh đó, tất nhiên là có sự tiến bộ có tính chất tư bản chủ nghĩa trong nền kinh tế tư hữu, nhưng nó hết sức chậm và nhất định làm cho nước Nga bị đọa đày trong một thời gian dài dưới ách thống trị về chính trị và xã hội của bọn “địa chủ hung bạo” Bây giờ chúng ta nghiên
Trang 20V I L ê - n i n
92
cứu xem sự tiến bộ đó thể hiện ở chỗ nào, và sẽ cố gắng xác
định một số kết quả chung của nó
Sản lượng của những diện tích “tự kinh doanh”, nghĩa là
những ruộng đất của địa chủ kinh doanh theo lối tư bản chủ
nghĩa, cao hơn những ruộng đất của nông dân, điều đó chứng
minh sự tiến bộ kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản trong nông
nghiệp Sự tiến bộ đó gắn liền với bước quá độ từ chế độ lao
dịch sang chế độ làm thuê tự do Tình trạng phá sản của nông
dân, tình trạng mất ngựa, mất nông cụ, tình trạng vô sản hóa
của họ bắt buộc địa chủ phải chuyển sang canh tác bằng nông
cụ của mình Việc tăng cường sử dụng máy móc trong nông
nghiệp làm cho năng suất lao động tăng lên và tất nhiên đưa
tới sự phát triển quan hệ sản xuất thuần túy tư bản chủ nghĩa
Máy móc nông nghiệp nhập từ nước ngoài vào Nga trị giá 788
nghìn rúp trong những năm 1869 - 1872; 2,9 triệu rúp trong
những năm 1873 - 1880; 4,2 triệu rúp trong những năm 1881 -
1888; 3,7 triệu rúp trong những năm 1889 - 1896; từ 15,2 đến
20,6 triệu rúp trong những năm 1902 - 1903 Ngoài ra, sản xuất
máy móc nông nghiệp ở nước Nga tới 2,3 triệu rúp năm 1876;
9,4 triệu rúp năm 1894 và 12,1 triệu rúp trong những năm 1900 -
1903 (những số liệu này đều là áng chừng vì lấy ở các thống kê
khá đơn sơ của các nhà máy và công xưởng) Hiển nhiên là
những con số đó chứng minh một sự tiến bộ trong nông
nghiệp và tất nhiên chính là sự tiến bộ tư bản chủ nghĩa
Nhưng cũng hiển nhiên là sự tiến bộ đó hết sức chậm chạp so
với khả năng của nhà nước tư bản chủ nghĩa hiện đại, ví dụ
nước Mỹ Theo thống kê ngày 1 tháng Sáu 1900, ở nước Mỹ
có 838,6 triệu a-cơ-rơ1), nghĩa là khoảng 324 triệu
đê-xi-a-ti-na là ruộng đất của các trại ấp Số lượng trại ấp là 5,7 triệu,
vậy trung bình mỗi trại ấp có 146,2 a-cơ-rơ (khoảng 60 đê-
1) a-cơ-rơ C đơn vị đo lường ở Anh và Mỹ bằng 4 047 mét vuông
Vấn đề ruộng đất ở Nga cuối thế kỷ XIX 93
xi-a-ti-na) Và đây, trị giá các nông cụ cho những phéc-mi-ê
đó là 157,7 triệu đô-la trong năm 1900 (năm 1890 là 145,3 triệu đô-la; năm 1880 là 62,1 triệu đô-la)∗ Những con số của nước Nga so với những con số ở Mỹ thì ít ỏi đến buồn cười, vì ở nước ta các đại điền trang nông nô rất to lớn và mạnh mẽ
So sánh mức độ sử dụng những nông cụ cải tiến của địa chủ và của nông dân là đối tượng của một cuộc điều tra
đặc biệt do Bộ nông nghiệp tiến hành vào giữa những năm
90 của thế kỷ trước Chúng ta có thể nêu những số liệu của cuộc điều tra đó mà ông Cau-phman đã trình bày chi tiết, trong bảng dưới đây:
Khu vực Tỷ lệ chỉ số về mức độ sử dụng
rộng rãi những nông cụ cải tiến Của địa chủ Của nông dân Trung tâm nông nghiệp 20 - 51 8 - 20 Trung Vôn-ga 18 - 66 14 Nô-vô-rốt-xi-a 50 - 91 33 - 65 Bê-lô-ru-xi-a 54 - 86 17 - 41 Vùng ven hồ 24 - 47 1 - 21 Ngoại ô Mát-xcơ-va 22 - 51 10 - 26 Khu công nghiệp 4 - 8 2
Trong tất cả các khu vực này, bình quân địa chủ có 42% và nông dân có 21%
Về mức độ sử dụng phân chuồng, thì tất cả những số liệu của bảng thống kê cũng chứng minh không thể chối cãi được “rằng về mặt này, kinh tế của địa chủ bao giờ
* “Abstract of the Twelfth Census” 1900, Third Edition, Washington,
1904, pages 217 and 302 ― agricultural implements 1)
1) ― “Tổng quát cuộc điều tra lần thứ 12” 1900, xuất bản lần thứ 3, sinh-tơn, 1904, tr 217 và 302 ― nông cụ
Trang 21Oa-và cho đến nay vẫn vượt xa kinh tế của nông dân”
(Cau-phman, tr 544) Hơn thế nữa: một hiện tượng khá phổ biến
rộng rãi là trong nước Nga sau cải cách, địa chủ mua phân
chuồng của nông dân Đó là kết quả của sự túng thiếu cùng
cực của nông dân Trong thời gian sau này, hiện tượng đó
đã giảm bớt
Sau cùng, về vấn đề trình độ kỹ thuật canh tác trong kinh
tế của địa chủ và kinh tế của nông dân, có rất nhiều số liệu
1901 499,0 " " 1 046,0 " "
Kết quả của tất cả những sự khác biệt giữa kinh tế của địa
chủ và kinh tế của nông dân là gì? Để xét vấn đề này, chỉ có
những số liệu về sản lượng Trong toàn phần nước Nga thuộc
châu Âu, sản lượng trung bình trong 18 năm (1883 - 1900) là
như sau (tính theo tsét-véc):
Lúa mì
đen
Lúa mạch mùa thu
Lúa mạch mùa xuân
Kiều mạch
Của địa chủ 6,0 5,75 5,0 8,5
Của nông dân 5,0 5,0 4,25 7,0
Chênh lệch 16,7% 13,0% 15,0% 17,6%
Ông Cau-phman hoàn toàn đúng khi ông nói rằng sự
chênh lệch đó là “rất ít ỏi” (tr 592) Đồng thời cần phải chú
ý không những đến việc năm 1861 nông dân được người ta
để lại cho những ruộng đất xấu nhất, mà cả đến việc
những sự khác biệt lớn bị che lấp (như chúng ta sẽ thấy
sau đây) bởi những số bình quân chung về toàn thể nông dân
Kết luận chung mà chúng ta phải rút ra sau khi xem xét kinh tế của địa chủ, là như sau Hoàn toàn rõ ràng là chủ nghĩa tư bản đang mở cho mình con đường trong địa hạt này Nền kinh tế diêu dịch đang được thay thế bằng nền kinh tế làm thuê tự do Sự tiến bộ kỹ thuật của nền nông nghiệp tư bản chủ nghĩa so với nền tiểu nông nghiệp và nền nông nghiệp lao dịch thể hiện hoàn toàn rõ ràng về mọi mặt Nhưng
sự tiến bộ đó diễn ra một cách chậm chạp khác thường đối với một nước tư bản hiện đại Và vào cuối thế kỷ XIX, ở Nga có mâu thuẫn gay gắt nhất giữa nhu cầu của toàn bộ sự phát triển xã hội với nền nông nghiệp nông nô, nền nông nghiệp này, dưới hình thức đại điền trang địa chủ quý tộc, dưới hình thức chế độ kinh tế lao dịch, là sự cản trở việc phát triển kinh
tế, là nguồn gốc của sự áp bức, sự dã man, nguồn gốc của vô
số những hình thức kiểu Ta-ta-ri-a trong đời sống nước Nga
III
Kinh tế nông dân là điểm trung tâm của vấn đề ruộng
đất hiện tại ở Nga Chúng tôi đã vạch rõ ở trên những điều kiện của chế độ sở hữu ruộng đất của nông dân là như thế nào, và bây giờ chúng ta phải đề cập đến vấn đề tổ chức kinh tế nông dân, không phải hiểu theo ý nghĩa kỹ thuật
mà theo ý nghĩa kinh tế chính trị của từ đó
Trước hết, ở đây chúng ta thấy vấn đề công xã nông thôn Rất nhiều sách báo đã nói về công xã đó, và trào lưu dân túy trong tư tưởng xã hội ở nước ta gắn những điểm căn bản của thế giới quan của họ với những đặc điểm dân tộc của cái chế độ “bình quân” đó Trước hết về vấn đề này, cần vạch ra rằng trong những sách báo nói về công xã nông thôn ở Nga, hai mặt khác nhau của vấn đề thường xuyên quyện chặt với nhau và nhiều khi lẫn lộn với nhau: một bên
là mặt kỹ thuật canh tác và điều kiện sinh hoạt, và một bên
là mặt kinh tế chính trị Trong đa số những cách nói về công