1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TRANG TỬ VÀ NAM HOA KINH Chương 2: Tác phẩm XUẤT HIỆN TỪ THỜI NÀO? ppt

17 549 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 253,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

sanh sau Lưu An chưa đầy một thế kỉ, là người đầu tiên sống gần Lưu An nhất và viết về Trang tử cơ hồ không biết tới bản của Lưu An đó và chỉ bảo Trang viết một bộ sách gồm trên mười vạn

Trang 1

TRANG TỬ VÀ NAM HOA KINH

Chương 2: Tác phẩm

XUẤT HIỆN TỪ THỜI NÀO?

Theo Hoàng Cẩm Hoành thì Hán thư Nghệ văn chí (của Ban Cố 32 – 92) ghi rằng

bộ Trang tử gồm 52 thiên chia làm: Nội thiên 7, Ngoại thiên 28, Tạp thiên 14, và

Giải thuyết 3 Bản đó phải chăng là bản cổ nhất, mà nay đã thất truyền?

Một thuyết khác (trong Kinh điển thuyết văn tự lục) bảo Lưu An, tức Hoài Nam

vương (? – 122 tr TL), cháu Hán Cao tổ, cũng sưu tập được một bản nhờ các môn khách chú giải, không biết bao nhiêu thiên, hiện nay cũng thất truyền

Tư Mã Thiên (-145 -?) sanh sau Lưu An chưa đầy một thế kỉ, là người đầu tiên sống gần Lưu An nhất và viết về Trang tử cơ hồ không biết tới bản của Lưu An đó

và chỉ bảo Trang viết một bộ sách gồm trên mười vạn chữ, không cho biết gồm bao nhiêu thiên, mà những thiên quan trọng nhất: Tiêu dao du, Tề vật luận lại không nhắc tới, chỉ kể vài thiên tầm thường: Ngư phủ, Đạo chích, Khư khiếp,

Canh Tang Sở…

Mãi tới đời Tấn, thế kỉ thứ 3, mới xuất hiện một bản do Hướng Tú chú giải, gồm

26 thiên, Hướng Tú chú giải chưa xong mới đến chương Thu thuỷ thì mất; một người bạn là Quách Tượng sửa lại rồi chú giải tiếp, theo tôn chỉ của phái huyền học thanh đàm các đời Nguỵ, Tấn, thành một bản khác gồm 27 thiên; tức bản lưu

truyền ngày nay

Trang 2

Như vậy, từ đời Hán đến đời Tấn, bộ Trang tử đã mấy lần thất lạc, sưu tập lại rồi

thất lạc nữa, mỗi lần như vậy chắc sai đi ít nhiều Và bản hiện nay mọi người dùng xuất hiện lần đầu tiên cách Trang tử sáu thế kỉ Như vậy ai dám bảo rằng nó giữ

đúng được tư tưởng của Trang?

Bản đó chia ra làm ba phần như sau:

NỘI THIÊN gồm 7 chương

I -Tiêu dao du

II Tề vật luận III -Dưỡng sinh chủ

IV -Nhân gian thế

V -Đức sung phù

VI Đại tôn sư VII - Ứng đế vương

NGOẠI THIÊN gồm 15 chương

VIII Biền mẫu

IX -Mã đề

X -Khư khiếp

XI -Tại hựu XII -Thiên địa XIII Thiên đạo XIV -Thiên vận

XV -Khắc ý XVI -Thiện tính XVII Thu thuỷ

Trang 3

XVIII -Chí lạc XIX -Đạt sinh

XX -Sơn mộc XXI -Điền Tử Phương XXII Trí bắc du

TẠP THIÊM gồm 11 chương

XXIII Canh Tang Sở XXIV Từ Vô Quỉ XXV -Tắc Dương XXVI Ngoại vật XXVII -Ngụ ngôn XXVIII Nhượng vương XXIX Đạo Chích XXX -Thuyết kiếm XXXI Ngư phủ XXXII -Liệt Ngự Khấu XXXIII Thiên hạ

Cũng theo Hoàng Cẩm Hoành, người đầu tiên nêu ra vấn đề chân nguỵ trong

Trang tử là Tô Đông Pha đời Tống Đại khái Tô bảo Trang có ý bênh vực Khổng

tử mà lời văn thì lại không phải vậy Bề ngoài thì công kích, mà bề trong là ngầm

giúp đỡ (…) Như chương Thiên hạ phê bình các đạo thuật từ Mặc tử đến Bành

Mông, Thận Đáo, Lão, Trang, mà không hề nhắc đến Khổng tử, như vậy là cực

tôn sùng Khổng tử

Nhưng lại có những chương Đạo chích, Ngư phủ thì rõ ràng công kích Khổng tử Còn những chương Nhượng vương, Thuyết kiếm thì lời thô thiển, bỉ lậu, không

Trang 4

hợp nghĩa lí Vậy Tô đã nghi ngờ bốn chương đó (Đạo chích, Ngư phủ, Nhượng

vương, Thuyết kiếm) do người đời sau nguỵ tác

Sau Tô, số học giả nghi ngờ sự nguỵ tác trong Trang tử càng ngày càng nhiều

Chẳng hạn như La Miễn Đạo và Tống Liêm đều đồng ý với Tô; riêng La còn ngờ hai chương Khắc ý, Thiện tính nữa, vì lời cũng nông cạn, không phải của Trang

Trịnh Viện (đời Minh) hoài nghi thêm hai chương Mã đề, Khư khiếp, và cho rằng chỉ có bảy chương trong Nội thiên là của Trang tử, còn hai mươi sáu chương kia

đều do môn đồ của Trang viết rồi thêm vào

Sau đó, Vương Phu Chi, Diêu Nại, Vương Tiên Khiêm đều bảo Ngoại thiên không

phải của Trang tử

Gần đây, vấn đề chân nguỵ ngày càng phân tích kĩ hơn nữa, như La Căn Trạch

trong Chư tử Khảo sách (Nhân dân xuất bản xã – 1958) Hoàng Cẩm Hoành trong Trang tử độc bản đã làm một bản liệt kê ý kiến của mỗi nhà về sự chân nguỵ của

mỗi thiên Đại khái thì ai cũng nhận rằng Nội thiên của Trang tử (trừ một số bài)

còn Ngoại thiên và Tạp thiên thì đại đa số của người đời sau

Nhưng tôi nhận thấy điều này: cơ hồ tất cả các học giả đều xét tổng quát từng chương để xem chương nào trong Ngoại thiên và Tạp thiên là của Trang hay của môn phái Trang, môn phái Lão; chưa ai đặt thành vấn đề rằng mỗi chương có thể

do nhiều người viết, hỗn tạp chứ không nhất trí Theo tôi những người đời Hán hay Lục Triều (Nguỵ, Tấn) khi thu nhập các bài để cho vào mỗi chương, đã không

chú trọng tới điểm nhất trí đó, có lẽ không hề đặt ra vấn đề chân nguỵ nữa Xung

hư chân kinh (tức Liệt tử) như vậy, mà Nam Hoa kinh (tức Trang tử) cũng vậy Đó

là một lỗi chung của nhiều công trình sưu tập thời đó

Trang 5

Trong bộ Liệt tử (Lá Bối - 1973) tôi bảo không sao phân biệt được bài nào của

Liệt Ngự Khấu viết, bài nào của người sau viết (có thể toàn thể đều do người đời sau viết), cho nên tôi chỉ sắp đặt lại theo nội dung, chia thành các chương: Vũ trụ, Sinh tử, Đạo, Huyền thoại và Truyền thuyết, Cố sự và ngụ ngôn… cho dễ kiếm

Trong bộ Trang tử này, vấn đề chân nguỵ quan trọng nhất, mà sự nhận định về

chân nguỵ chỉ là những giả thuyết có thể đúng nhiều hay ít, có đúng cũng chỉ đúng

về đại cương: của Trang hay của người đời sau; chứ không căn căn cứ vào đâu để quả quyết bài này của phái Trang, phái Lão, phái Khổng được Vì vậy sắp đặt lại các bài theo phái là một việc mạo hiểm Còn sắp đặt theo từng vấn đề (như trong

Liệt tử tôi đã làm) là một việc vô ích, vì mỗi vấn đề có nhiều chủ trương khác nhau

(tuỳ người viết ở trong môn phái nào), có khi trái ngược nhau nữa (chẳng hạn vấn

đề Đạo, có bài hiểu Đạo theo Lão, Trang, có bài lại phân biệt ra Thiên đạo, nhân đạo; vấn đề vô vi, có bài chủ trương vô vi như Lão, Trang nghĩa là cứ thuận theo

tự nhiên mà hành động, có bài bảo vua thì vô vi mà bề tôi thì hữu vi; nhất là thái

độ đối với các ông thánh của đạo Nho, như Nghiêu, Thuấn… có bài mạt sát kịch

liệt, có bài đề cao, có bài ôn hoà)

Do đó mà tôi vẫn giữ lối trình bày của cổ nhân, giữ nhan đề và thứ tự các chương, chia mỗi chương ra nhiều bài để độc giả dễ kiếm, mỗi bài mang một số Á Rập, và không có nhan đề; sau cùng, tôi một phần dựa vào ý kiến của người trước, một phần tôi đưa ra ý kiến của riêng tôi để phỏng định chương nào hoặc bài nào là

chân hay nguỵ, nếu là nguỵ thì có thể là của phái nào

NỘI THIÊN

Trước hết chúng ta hãy xét sự phân biệt Nội thiên, Ngoại thiên, Tạp thiên có hợp lí

không đã

Có điều này chắc chắn, ai cũng công nhận là Trang tử khác hẳn Lão tử (tức Đạo Đức kinh), Luận ngữ, Mạnh tử…, thành hình lần lần trong một thời gian rất dài, từ

Trang 6

sinh thời của Trang tử tới cuối thời Chiến Quốc hay đầu đời Hán, trong khoảng hai

trăm năm hay hơn nữa

Xét chung thì Nội thiên do Trang tử viết, còn hai thiên Ngoại và Tạp thiên do người sau thêm vào Sự phân biệt Nội thiên ra một bên, Ngoại và Tạp thiên ra một bên là điều rất hữu lí và rất dễ nhận Vì Nội thiên có nhiều đặc điểm, khác hẳn

Ngoại và Tạp thiên:

1 Nội thiên có tính chất nhất quán:

Chương I đưa ra một quan niệm về hạnh phúc: thảnh thơi tự tại; và cho ta biết làm

sao thì có thể hoàn toàn tự do mà thảnh thơi tự tại được

Chương II bàn về lẽ mọi vật trong vũ trụ đều tuyệt đối bình đẳng, không vật nào quí, không vật nào tiện, hơn nữa không có cả thị phi, chung thuỷ, thiện ác nữa,

mình và vật nữa

Chương III chỉ cho ta phép dưỡng sinh để có thể hưởng được tuổi trời (chung kì

thiên niên) mà sống cuộc đời vui thú

Chương IV chỉ cho ta phép xử thế trong thời loạn

Chương V đưa ra một tiêu chuẩn về bậc chí đức: Theo thiên tính, trút bỏ hết thế

tính

Chương VI luận về Đạo và sự đắc Đạo

Chương VII thuộc về chính trị luận, đại ý là các đế vương trị thiên hạ phải vô vi,

nghĩa là hư tâm, thuận theo lẽ tự nhiên mà không dùng cơ trí

Trang 7

Như vậy trong phần Nội thiên chúng ta được thấy quan niệm của Trang về vũ trụ, tri thức, nhân sinh, chính trị, đủ thành một hệ thống triết lí Nhiều học giả thời

trước đã nhận thấy tính nhất quán đó

Chử Bá Tú bảo:

“Nội thiên bắt đầu chương Tiêu dao du và kết thúc bằng chương Ứng đế vương,

cho thấy điều quan trọng trong đạo học là cầu ở chính mình thì gặp cảnh nào cũng vui, rồi sau quan sát vạn vật ở ngoài sẽ thấy mọi vật đều ngang nhau (tề); thấy vật ngang nhau rồi thì mình quên mình được; tự quên mình đó là chủ yếu của phép dưỡng sinh Dưỡng sinh để cho mình sung sướng, ứng vật để cho vật phát triển tự nhiên (thiện vật), hai việc đó đều cần có đức sung mãn, đức sung mãn thì vạn vật phù hợp mà tôn lên làm thầy (?) (…) mà ở trong, mình thành thánh, thần, ở ngoài

(tức trị dân) mình thực hiện được lí tưởng của đế vương”

Gần đây, Tưởng Phục Thông cũng bảo chương Tiêu dao du là cái mào cho toàn thể Nội thiên, mà chương Tề vật luận quét sạch cái quan niệm thị phi, mình và vật,

mở đường cho lập luận (tức lí thuyết chính trị); các chương sau hoặc bàn về phép dưỡng sinh, hay cách xử thế, cách đạt được cái đức sung mãn, đều phải lấy Đạo

làm thầy; Đạo đó ứng dụng vào việc trị nước thì thành đế, vương

Cũng có thể hiểu một cách khác được, chẳng hạn: Thảnh thơi tự tại (Tiêu dao du)

là mục đích của loài người cũng như của vạn vật Muốn đạt được cảnh giới đó chúng ta phải bỏ quan niệm thị phi, mình và vật đi (Tề vật luận), phải biết phép dưỡng sinh (Dưỡng sinh chủ), cách xử thế (Nhân gian thế); cao hơn nữa, phải tu dưỡng, cho đức được sung mãn (Đức sung phù), mà lấy Đạo làm thầy (Đại tôn sư); và muốn cho mọi người trong thiên hạ được thảnh thơi tự tại thì người cầm

quyền phải theo Đạo vô vi mà trị dân

Trang 8

Hiểu theo cách nào, chúng ta cũng thấy có một sự nhất quán trong bảy chương của

Nội thiên, tính cách đó Ngoại và Tạp thiên thiếu hẳn

2 Tư tưởng trong Nội thiên rất ít mâu thuẫn nhau; trái lại trong Ngoại và Tạp

thiên, tư tưởng rất hỗn tạp, rõ ràng là của nhiều người trong nhiều phái viết; điểm

này sẽ được xét kĩ trong tiết sau

3 Bút pháp trong Nội thiên cao hơn Ngoại và Tạp thiên, đặc biệt là bút pháp trong

hai chương đầu: Tiêu dao du và Tề vật luận

4 Trong Nội thiên nhan đề tóm tắt được đại ý trong chương, còn trong Ngoại và

Tạp thiên, người ta dùng vài chữ trong câu đầu để đặt tên chương, thành thử nhan

đề không liên quan gì tới ý chính trong chương cả; nhiều chương cũng không có

cả ý chính nữa

Đó là bốn đặc điểm khiến Nội thiên phải được tách rời khỏi hai thiên kia

Tuy nhiên, Nội thiên có thực do Trang tử viết không? Một số người còn nghi ngờ

và đưa ra mấy lí do không vững lắm Họ bảo:

1 Tư Mã Thiên trong Sử kí chỉ nói rằng Trang tử viết những chương Ngư phủ, Đạo chích, Khư khiếp để mạt sát Khổng tử chứ không hề bảo Trang tử viết Nội thiên Điều đó có thể do Tư Mã Thiên không khảo sát kĩ lưỡng, không đủ chứng

rằng Nội thiên không phải của Trang tử

2 Cổ nhân thường lấy mấy chữ đầu trong chương để đặt tên cho chương, như

trường hợp Luận ngữ, Mạnh tử… rồi đời sau mới lấy ý chính trong chương mà đặt

tên, vậy Nội thiên phải xuất hiện sau Ngoại và Tạp thiên, tức vào khoảng đời Hán,

Trang 9

và không thể do Trang tử viết Lẽ đó sai Thời Chiến Quốc, đã có nhiều nhà dùng

ý chính để đặt tên chương, như Tôn tử, Công Tôn Long, Khuất Nguyên…, Mạnh

tử chỉ là một ngoại lệ

3 Lối chia tác phẩm thành Nội và Ngoại thiên bắt đầu từ đời Hán Nhưng Quản tử cũng chia ra Ngoại ngôn, Nội ngôn; Hàn Phi tử cũng có Nội trừ thuyết, Ngoại trừ thuyết; vậy lối chia ra Nội, Ngoại đã có từ đời Chiến Quốc rồi Vả lại, dù lối chia

đó xuất hiện từ thời Hán thì cũng chỉ chứng minh được sự phân chia ra Nội, Ngoại bắt đầu từ đời Hán chứ không chứng minh được rằng Nội thiên do một người đời

Hán viết, không phải của Trang tử

Nhưng xét kĩ Nội thiên, chúng ta cũng phải nhận có vài chỗ khả nghi trong hai

chương Nhân gian thế và Đại tôn sư, vì những lí do dưới đây:

1 Nhân gian thế

- Có sách bảo rằng bút pháp của chương này không giống bút pháp sáu chương kia

vì chép toàn cố sự Tôi thấy lời đó không đúng: Nhân gian thế cũng có hai bài 6 và

9 dùng thể nghị luận; mà chương Đức sung phù gồm 6 bài thì 5 bài đầu là cố sự còn bài cuối là nghị luận Vả lại, trong cố sự có thể có nghị luận, trong nghị luận

có thể đưa cố sự vào Như bài 5 và 6 Nhân gian thế, nếu gom làm một thì có thể bảo là cố sự; nếu tách ra làm hai như tôi đã làm thì bài 5 là cố sự, bài 6 là nghị luận Bài 8 và 9 cũng vậy, nếu gom làm một thì là cố sự; tách làm hai thì 8 là cố

sự, 9 là nghị luận Mà theo ý nghĩa thì phải tách làm hai, không thể gom làm một

được

- Bài 1 chép rằng xưa vua Nghiêu đánh các nước Tùng Chi và Tư Ngao, mà bài 9

Tề vật luận lại bảo vua Nghiêu muốn đánh các nước Tông, Khoái và Tư Ngao Không lẽ một người viết chỉ cách có mấy mươi trang đã chép khác nhau như vậy

Trang 10

Vậy nếu Tề vật luận do Trang tử viết thì Nhân thế gian phải do người khác viết

Lẽ này có thể chấp nhận được nhưng không quan trọng lắm: có thể do người sau chép sai, cũng có thể một lần vua Nghiêu muốn đánh ba nước Tông, Khoái và Tư

Ngao, lần khác muốn đánh hai nước Tùng Chi và Tư Ngao

- Bài 4 và 5 trùng ý nhau: Cả hai đều nhắc ta rằng hễ vô tài thì hưởng hết tuổi trời Bài 5 kém bài 4 do người sau bắt chước Trang tử, viết rồi cho thêm vào Rất có thể

như vậy nhưng vẫn chưa đủ làm chứng cứ được

- Lí do này vững hơn: Trong bài 1, tác giả cho Khổng tử sáng suốt về Đạo, đặt vào miệng Khổng tử những tư tưởng của Trang, chẳng hạn: “Từ cái hư không của tâm thần mà phát ra ánh sáng; cái phúc ở cả trong sự hư tĩnh của tâm thần” - Bài 1 Thế mà trong bài 8, lại cho Khổng tử là người không biết cái lẽ tiến lui Như vậy

là tư tưởng mâu thuẫn

Nhất là bài 8 này rất giống bài 5 trong chương Vi tử sách Luận ngữ:

“Một người cuồng nước Sở đi ngang qua Khổng tử, hát:

Con phượng kia, con phượng kia, Sao mà đức suy như vậy!

Việc đã lỡ rồi, không can gián người được nữa, Nhưng việc sẽ tới, (nếu ngươi tỉnh ngộ) thì còn kịp đấy:

Thôi đi, thôi đi, đời nay làm chính trị là một việc nguy hiễm

Khổng tử bèn xuống xe muốn nói chuyện với người cuồng đó, nhưng ông ta đã

nhanh chân đi xa rồi, Khổng tử không nói được gì cả”

Bài 8 không có câu kết, còn hai bài hát cũng bắt đầu bằng hai câu như trong Luận

Trang 11

ngữ, mà ý nghĩa cũng vậy, tuy rườm hơn:

Con phượng kia, con phượng kia, Sao mà đức suy như vậy?

Không thể biết trước được tương lai, Không thể trở lui được về dĩ vãng

Khi thiên hạ thịnh trị Thì thánh nhân thực hiện sứ mệnh mình

Khi thiên hạ loạn lạc Thì thánh nhân bảo toàn thân mình

Như thời này thì chỉ nên cầu đừng bị hình phạt

Hạnh phúc nhẹ hơn cái lông

Mà không biết nhận lấy nó

Tai hoạ nặng hơn trái đất

Mà không ai biết tránh nó

Thôi đi, thôi đi! Đừng mong lấy đức cảm hoá người nữa

Nguy thay, nguy thay! Đừng tự làm khổ mình Gai góc, gai góc! Đừng cản ngăn bước đường của ta

Đi vòng, đi vòng, đừng để gai đâm vào chân

Trang tử đâu lại bắt chước người khác như vậy

- Hơn nữa, ngay trong một bài – bài 2 – bút pháp cũng không thông Giữa bài cho Khổng tử khuyên Diệp Tử Cao: “Con thờ cha mẹ thì phải thích ứng với hoàn cảnh, như vậy là chí hiếu; bề tôi thờ vua phải chấp nhận mọi nguy hiểm, như vậy là tận trung” Chủ trương đó đúng là chủ trương hữu vi của Khổng giáo Nhưng cuối bài, Khổng tử lại có giọng vô vi của Trang tử: “Nên vượt ra ngoài sự vật mà tiêu dao

tự tại, thuận theo cái lẽ tất nhiên để dưỡng tâm, đó là đạt được Đạo”

Ngày đăng: 01/08/2014, 12:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm