độ xã hội nào, sức mua cho chỉ tiêu ngân sách Nhà nước tạo ra là sức mua lớn nhấtthị trường và là lực lượng tiêu thụ mạnh nhất.+ Nhà nước là người có tư cách là quyền lực, thực hiện việc
Trang 1Luân văn
Đề tài: "Quản lí nhà nước hoạt động bảo
hiểm ở Việt Nam hiện nay"
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Bảo hiểm là một lĩnh vực rất quan trọng đối với các quốc gia nói chung vàvới Việt Nam nói riêng Không chỉ là một biện pháp di chuyển rủi ro, bảo hiểmngày nay đã trở thành một trong những kênh huy động vốn hiệu quả cho nền kinh
tế Tăng trưởng và phát triển bền vững là mục tiêu lâu dài của mọi doanh nghiệpbảo hiểm đang hoạt động trong nền kinh tế Ngày nay, khi nền kinh tế thị trườngphát triển ngày càng mạnh mẽ thì sự cạnh tranh trong ngành bảo hiểm diễn ra cũngngày càng gay gắt hơn
Thực tế hoạt động bảo hiểm thời gian qua đã cho thấy sự lớn mạnh khôngngừng của ngành bảo hiểm và nhiều tiềm năng phát triển trong tương lai Thịtrường bảo hiểm Việt Nam đang được đa dạng hóa với tốc độ cao, sức ép mở cửathị trường và thách thức hội nhập ngày càng lớn
Quản lý Nhà nước là hết sức quan trọng và không thể thiếu được ở bất kì xãhội nào Do tính chất quan trọng của ngành bảo hiểm đối với nền kinh tế, trongnhững trường hợp cần thiết, Nhà Nước cần phải tiến hành can thiệp và điều tiết thịtrường này Việc quản lí Nhà nước đối với hoạt động bảo hiểm ngày càng trở nênquan trọng và được thể hiện rõ nét Quản lý Nhà nước giúp cho bộ máy của cácdoanh nghiệp tham gia bảo hiểm hoạt động nhịp nhàng, theo một khuôn khổ nhấtđịnh và có hiệu quả hơn
Sau đây là nội dung của đề tài: “ Lí thuyết và thực tế về quản lí nhà nướchoạt động bảo hiểm ở Việt Nam hiện nay” do nhóm 2 thực hiện
Trang 4PHẦN I
Lí thuyết về quản lí nhà nước đối với hoạt động bảo hiểm
1 Khái niệm và đặc điểm quản lí nhà nước
A Khái niệm quản lí nhà nước
Quản lý Nhà nước là một dạng quản lý đặc biệt, được sử dụng các quyềnlực Nhà nước như lập pháp, hành pháp và tư pháp để quản lý mọi lĩnh vực xã hội
B Đặc điểm quản lí nhà nước
+ Nhà nước là một thiết chế quyền lực, sẽ định ra các luật, pháp luật, nghị định, quyết định về tài chính, các chính sách, thuế, tiền tệ… Các luật, chính sách nàykhông những bắt buộc các doanh nghiệp, dân cư phải theo mà còn tạo điều kiệnmôi trường để các doanh nghiệp hoạt động
+ Nhà nước bỏ vốn vào các doanh nghiệp quan trọng, các khu vực công cộng,các kết cấu hạ tầng Nhà nước là nguồn tài chính to lớn đầu tư vào các lĩnh vựckhác nhau, không chỉ tạo ra môi trường , hành lang cho các doanh nghiệp hoạtđộng mà còn tạo cơ sở vật chất kĩ thuật hiện đại cho các ngành mới, khu vực mới
có tầm quan trọng đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân
+ Nhà nước cũng là người cung ứng các nguồn vốn cho đất nước, là ngườiquyết định phát hành tiền tệ, kiểm soát tất cả các hoạt động tín dụng và phân phốitín dụng Trong kinh doanh kinh tế thị trường, hoạt động của các doanh nghiệpkhông thể thiếu nghiệp vụ tín dụng, không thể không chịu sự tác động của lưuthông tiền tệ, của sự cung ứng tài chính của Nhà nước Ngoài ra còn trợ giá, bù lỗ,quy định giá…
+ Nhà nước chi tiêu bằng vốn ngân sách sẽ trở thành người tiêu dùng lớn nhấtcủa đất nước Những khoản chi của Nhà nước tạo thành sức mua bằng tiền to lớn
và đòi hỏi những hàng hoá, dịch vụ đa dạng, phức tạp tạo ra thị trường to lớn choviệc tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ của các doanh nghiệp Trong bất cứ tình hình chế
Trang 5độ xã hội nào, sức mua cho chỉ tiêu ngân sách Nhà nước tạo ra là sức mua lớn nhấtthị trường và là lực lượng tiêu thụ mạnh nhất.
+ Nhà nước là người có tư cách là quyền lực, thực hiện việc kiểm tra kiểm soáttài chính, kinh doanh, các hoạt động kinh tế xã hội trong đó có các hoạt động bảohiểm Những việc kinh doanh phạm pháp, những việc bê bối của các doanh nghiệpbảo hiểm…được Nhà nước xử lý theo pháp luật, đảm bảo cho các doanh nghiệphoạt động theo yêu cầu của nền kinh tế và đời sống nhân dân
Trong bất kỳ xã hội nào, đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa như nước ta thì Nhà nước quản lý hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hộitrong đó có hoạt động bảo hiểm là một tất yếu khách quan đồng thời đòi hỏi chủquan xuất phát từ bản chất của Nhà nước ta
+ Định nghĩa 3
Trang 6Bảo hiểm có thể định nghĩa là một phương sách hạ giảm rủi ro bằng cáchkết hợp một số lượng đầy đủ các đơn vị đối tượng để biến tổn thất cá thể thành tổnthất cộng đồng và có thể dự tính được
+ Khái niệm mang tính chung nhất
Bảo hiểm là những quan hệ kinh tế gắn với quá trình hình thành, phân phối và
sử dụng quỹ bảo hiểm nhằm xử lý các rủi ro các biến cố bảo hiểm, đảm bảo choquá trình tái sản xuất và đời sống của xã hội diễn ra bình thường
B Đặc điểm của bảo hiểm
+ Bảo hiểm là một hình thức dự trữ tài chính nhằm bù đắp và khắc phục nhữngtổn thất thiệt hại đối với sản xuất kinh doanh và đời sống con người khi nhữngbiến cố bất lợi xảy ra
+ Phân phối của quỹ bảo hiểm không phải là sự phân phối đồng đều bình quântheo mức độ đóng góp
+ Việc phân phối, sử dụng quỹ bảo hiểm không xác định trước được về quy mô,thời gian diễn ra
C Vai trò của bảo hiểm
+ Vai trò kinh tế :
- Góp phần ổn định tài chính và đảm bảo cho các khoản đầu tư
- Kênh huy động vốn hữu hiệu để đầu tư phát triển kinh tế
- Bảo hiểm góp phần ổn định và tăng thu cho ngân sách đồng thời thúc đẩy pháttriển kinh tế đối ngoại giữa các nước
+ Vai trò xã hội:
- Góp phần ngăn ngừa đề phòng và hạn chế tổn thất, giúp cuộc sống của conngười an toàn, xã hội trật tự hơn
Trang 7- Tạo thêm công ăn việc làm cho ngườ lao động, tạo nếp sống tiết kiệm trên phạm
vi toàn xã hội
- Bảo hiểm là chỗ dựa tinh thần cho mọi người dân, mọi tổ chức kinh tế xã hội
D Các hình thức bảo hiểm
Tùy vào tiêu thức phân loại mà có những cách phân chia ra các hình
thức bảo hiểm khác nhau, nhóm 2 sẽ tập trung vào 2 hình thức bảo hiểm là: Bảohiểm kinh doanh và bảo hiểm xã hội
+ Bảo hiểm kinh doanh
- Trên góc độ tài chính, bảo hiểm kinh doanh là một hoạt động dịch vụ tài chínhnhằm phân phối lại những tổn thất khi rủi ro xảy ra
- Trên góc độ pháp lý, bảo hiểm kinh doanh thực chất là một bản cam kết mà mộtbên đồng ý bồi thường cho bên kia khi gặp rủi ro nếu bên kia đóng phí bảo hiểm
Do đó, bảo hiểm kinh doanh là các quan hệ kinh tế gắn liền với việc huy động cácnguồn tài chính thông qua sự đóng góp của các tổ chức và cá nhân tham gia bảohiểm
+ Bảo hiểm xã hội :
Bảo hiểm xã hội là loại hình bảo hiểm do nhà nước tổ chức và quản lý nhằmthỏa mãn các nhu cầu vật chất ổn định cuộc sống của người lao động và gia đình
họ khi gặp những rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng lao động
3 Quản lí nhà nước đối với hoạt động bảo hiểm
A Bảo hiểm xã hội
+ Bảo hiểm xã hội được áp dụng đối với từng đối tượng, từng loại doanh nghiệp(cứ doanh nghiệp sử dụng 10 người lao động trở lên) để đảm bảo cho người laođộng được hưởng các chế độ bảo hiểm thích hợp
+ Nhà nước thống nhất quản lý Nhà nước bằng chính sách, pháp luật, chế độ…
Trang 8+ Ban hành hệ thống pháp lệnh làm chuẩn mực pháp lý cho các loại hình bảohiểm:
- Quy định điều kiện bắt buộc và thủ tục hành chính cho sự ra đời và hoạt độngcủa cơ quan bảo hiểm
- Quy định về chế độ và thủ tục về bảo hiểm và thực hiện bảo hiểm
- Quy định về cơ chế hoạt động của cơ quan bảo hiểm, chẳng hạn quy định mức
dự trữ cần thiết, cơ chế đầu tư phát triển quỹ bảo hiểm
+ Thống nhất quản lý bảo hiểm từ trung ương đến cơ sở thông qua hệ thống laođộng thương binh xã hội Thống nhất về chế độ, mức chi trả, hình thức, phươngpháp tính toán Chế độ bảo hiểm xã hội ở nước ta phản ánh bản chất tốt đẹp củanhà nước xã hội chủ nghĩa
+ Thực hiện thanh tra, kiểm tra và xử lý các vi phạm trong hợp đồng bảo hiểm,lành mạnh hoá hợp đồng bảo hiểm
+ Tổ chức quản lí nhà nước đối với hoạt động bảo hiểm xã hội
+ Cơ quan bảo hiểm xã hội có quyền và trách nhiệm sau đây:
- Về quyền hạn
Trình Thủ tướng Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền cácquy định để quản lý việc thu, chi bảo hiểm xã hội và xác nhận đối tượng hưởngchế độ bảo hiểm xã hội; tổ chức phương thức quản lý bảo hiểm xã hội để bảo đảmthực hiện các chế độ bảo hiểm có hiệu quả; tuyên truyền vận động để mọi ngườitham gia thực hiện bảo hiểm xã hội; từ chối việc chi trả bảo hiểm xã hội cho cácđối tượng hưởng khi có kết luận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về hành viman trá làm giả hồ sơ tài liệu
- Về trách nhiệm
Tổ chức thu, quản lý, sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội đúng quy định; thực hiệnđúng chế độ, điều lệ bảo hiểm xã hội của nhà nước; tổ chức việc trả lương hưu vàtrợ cấp bảo hiểm xã hội kịp thời, đầy đủ thuận tiện; giải quyết các tranh chấp,
Trang 9khiếu lại về bảo hiểm xã hội; thông báo định kỳ hàng năm về tình hình thực hiệnbảo
hiểm xã hội đối với người sử dụng lao động và người lao động
B Bảo hiểm kinh doanh
Nội dung quản lý hoạt động KDBH của Nhà nước vừa đảm bảo quản lý, xử
lý chặt chẽ những vấn đề đã, đang và sẽ phát sinh trong hoạt động kinh doanh bảohiểm, vừa đảm bảo tạo môi trường pháp lý, môi trường kinh doanh thuận lợi choDNBH và thị trường bảo hiểm phát triển Điều 120 Luật KDBH quy định: “Nộidung quản lý nhà nước về bảo hiểm kinh doanh bao gồm:
+ Ban hành và hướng dẫn thực hiện các văn bản quy phạm pháp Luật về kinhdoanh bảo hiểm; xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách pháttriển thị trường bảo hiểm Việt Nam;
+ Cấp và thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm,doanh nghiệp môi giới bảo hiểm; giấy phép đặt văn phòng đại diện của doanhnghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm nước ngoài tại Việt Nam;
+ Ban hành, phê chuẩn, hướng dẫn thực hiện quy tắc, điều khoản, biểu phí, hoahồng bảo hiểm;
+ Áp dụng các biện pháp cần thiết để doanh nghiệp bảo hiểm bảo đảm các yêucầu về tài chính và thực hiện những cam kết với bên mua bảo hiểm;
+ Tổ chức thông tin và dự báo tình hình thị trường bảo hiểm;
+ Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo hiểm;
+ Chấp thuận việc doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm hoạtđộng ở nước ngoài;
+ Quản lý hoạt động của văn phòng đại diện của doanh nghiệp bảo hiểm, doanhnghiệp môi giới bảo hiểm nước ngoài tại Việt Nam;
Trang 10+ Tổ chức việc đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý và chuyên môn, nghiệp
vụ về bảo hiểm;
+ Thanh tra, kiểm tra hoạt động kinh doanh bảo hiểm; giải quyết khiếu nại, tố cáo
và xử lý vi phạm pháp Luật về kinh doanh bảo hiểm
Trang 11Phần II Thực tế quản lí nhà nước đối với hoạt động bảo hiểm ở Việt Nam
hiện nay
1 Hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về bảo hiểm hiện nay
Các cơ quan quản lý Nhà nước được phân cấp rõ ràng trong việc thực hiệnchế độ quản lý Nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm Điều 121 LuậtKDBH quy định:
+ Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm
+ Bộ Tài chính chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước vềkinh doanh bảo hiểm
+ Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi nhiệm vụ,quyền hạn của mình có trách nhiệm quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm theoquy định của pháp Luật
+ Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thựchiện quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm tại địa phương theo quy định củapháp Luật
Cục quản lý, giám sát BH là đơn vị thuộc bộ máy quản lý nhà nước của BộTài chính, có chức năng giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính thực hiện quản lý nhà nướcđối với lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm trong phạm vi cả nước; trực tiếp quản lý,giám sát hoạt động kinh doanh bảo hiểm và các hoạt động dịch vụ thuộc lĩnh vựckinh doanh bảo hiểm theo quy định của pháp luật Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm
có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước
và ngân hàng theo quy định của pháp luật
Vụ Bảo hiểm làm việc theo chế độ chuyên viên
Trang 12- Văn phòng Cục.
- Phòng Phát triển thị trường bảo hiểm
- Phòng Quản lý, giám sát bảo hiểm phi nhân thọ
- Phòng Quản lý, giám sát bảo hiểm nhân thọ
- Phòng Quản lý, giám sát trung gian bảo hiểm
- Phòng kiểm tra
- Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo bảo hiểm
Hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam tổ chức quản lý theo 3 cấp:
Ở Trung ương là bảo hiểm xã hội Việt Nam, bảo hiểm xã hội tỉnh, thànhphố trực thuộc trung ương; bảo hiểm xã hội huyện, quận, thị xã, thành phố trựcthuộc tỉnh Hội đồng quản lý là cơ quan quản lý cao nhất của bảo hiểm xã hội ViệtNam Thành viên của nó bao gồm: đại diện của Bộ lao động – Thương binh và xãhội, Bộ Tài Chính, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam và Tổng giám đốc Bảo hiểm
xã hội Việt Nam Tổng giám đốc trực tiếp quản lý và điều hành Bảo hiểm xã hộiViệt Nam theo chế độ thủ trưởng
Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội
Bộ lao động – Thương binh và xã hội là cơ quan của chính phủ thực hiệnviệc quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội; xây dựng và trình ban hành pháp luật
về bảo hiểm xã hội; ban hành các văn bản pháp qui về bảo hiểm xã hội thuộc thẩmquyền; hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện bảo hiểm xã hội
Chính phủ thành lập hệ thống tổ chức bảo hiểm xã hội thống nhất để quản lýquỹ và thực hiện các chế độ, chính sách về bảo hiểm xã hội theo qui định của phápluật đối với người lao động
2 Thực trạng ban hành văn bản qui phạm pháp luật về BH.
A Mặt tích cực:
Việc ban hành các văn bản qui phạm pháp luật về hoạt động bảo hiểm đã thểhiện nhiều điểm tích cực Nhiều văn bản đã được ban hành để điều chỉnh kịp thờinhững vấn đề chưa chính xác, chưa hợp lý; làm căn cứ để các đơn vị, cơ quan,
Trang 13doanh nghiệp bảo hiểm làm căn cứ để hoạt động đúng chuyên môn, đúng chínhsách, cơ chế.
Một trong những nội dung rất được dư luận đồng tình trong Luật Kinhdoanh Bảo hiểm sửa đổi vừa được Quốc hội thông qua trong năm 2010 là quy địnhđưa sản phẩm bảo hiểm ra đấu thầu rộng rãi để tăng tính cạnh tranh, giảm tính độcquyền trong kinh doanh bảo hiểm Trước khi Luật Kinh doanh Bảo hiểm sửa đổiđược thông qua, thị trường bảo hiểm tồn tại một khái niệm được giới bảo hiểm gọi
là “bảo hiểm nội ngành” Đó là những trường hợp các doanh nghiệp nhà nướcthành lập các công ty bảo hiểm Các công ty này cung cấp dịch vụ bảo hiểm trongnội ngành, thiếu cạnh tranh, không bảo đảm tính công khai, minh bạch trên thịtrường về mức phí bảo hiểm, bồi thường bảo hiểm làm cho thị trường bảo hiểm bịchia cắt và phát triển thiếu tính cạnh tranh lành mạnh Ngoài ra còn tình trạng cácdoanh nghiệp trực thuộc hợp tác với công ty mẹ, nhằm khép kín dịch vụ bảo hiểmtrong nội ngành Một số doanh nghiệp bảo hiểm hợp tác với cơ quan quản lý nhànước, chủ đầu tư để chỉ định, ép buộc mua bảo hiểm hoặc can thiệp trực tiếp vàohoạt động kinh doanh bảo hiểm, dẫn đến hiện tượng chia cắt thị trường và tạo ra sựcạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp bảo hiểm
Việc bổ sung hợp tác xã vào diện các loại hình doanh nghiệp được kinh
doanh bảo hiểm cũng cho thấy sự thay đổi kịp thời trong việc ban hành văn bảnqui định Thực tế hiện nay, đã có nhiều hợp tác xã có quy mô lớn, những hợp tác
xã này đã đáp ứng đủ các điều kiện được kinh doanh bảo hiểm theo quy định,chẳng hạn, quy định về vốn pháp định, năng lực tài chính, khả năng thanh toán,quản trị điều hành, quản trị rủi ro, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ Hơn nữa, đây
là tổ chức kinh tế tập thể, có tư cách pháp nhân, hoạt động như một loại hìnhdoanh nghiệp Do vậy, Luật sửa đổi, bổ sung đưa thêm hợp tác xã vào diện cácloại hình doanh nghiệp được kinh doanh bảo hiểm đã cho thấy sự điều chỉnh kịpthời trong việc ban hành hệ thống chính sách
Trang 14Quyết định thành lập Quỹ bảo vệ người được bảo hiểm để bảo vệ quyền lợicủa người được bảo hiểm trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm phá sản hoặcmất khả năng thanh toán cũng đã cho thấy tính đúng đắn trong ban hành văn bảnqui phạm pháp luật Nguồn để lập Quỹ bảo vệ người được bảo hiểm được trích lậptheo tỷ lệ phần trăm trên phí bảo hiểm áp dụng đối với tất cả các hợp đồng bảohiểm.
B Mặt hạn chế:
Bên cạnh những mặt tích cực, việc ban hành văn bản pháp luật vẫn còn một
số mặt hạn chế, gây khó khăn cho những đơn vị thi hành cũng như người tham giabảo hiểm
Theo quy định mới về bảo hiểm y tế, người bị tai nạn giao thông phải cógiấy xác nhận không vi phạm pháp luật mới được thanh toán Tuy nhiên có thểthấy rằng quy định này của Bộ Y tế đã gây phiền hà, bế tắc cho người dân Theo
Điều 3 trong Thông tư hướng dẫn thực hiện bảo hiểm y tế của liên tịch Bộ Y tế và
Bộ Tài chính (thông tư 09), những người bị tai nạn giao thông được xác định là
không vi phạm pháp luật thì mới được bảo hiểm y tế thanh toán Nếu không, ngườibệnh phải tự thanh toán chi phí Tuy nhiên theo lập luận của Cục kiểm tra văn bảnquy phạm pháp luật (Bộ Tư pháp) nội dung này không phản ánh đúng tinh thần vànội dung của Luật Bảo hiểm y tế Vì theo quy định của Luật Bảo hiểm y tế, ngườitham gia bảo hiểm y tế chỉ bị tước quyền được hưởng chi trả trong trường hợpngười đó có hành vi vi phạm pháp luật Như vậy, nếu không chứng minh đượcngười này vi phạm pháp luật khi bị tai nạn giao thông thì cơ quan bảo hiểm vẫnphải thanh toán Trách nhiệm chứng minh này thuộc về cơ quan có thẩm quyền.Mặt khác theo thông tư 09, để được thanh toán bảo hiểm y tế, người bệnh cần phải
có giấy xác nhận không vi phạm pháp luật về giao thông của cơ quan có thẩmquyền Tuy nhiên, thông tư lại không làm rõ "cơ quan có thẩm quyền" là cơ quannào, ai là người đưa ra giấy xác nhận này Cách quy định như vậy dẫn đến sự hiểu
Trang 15nhầm là trách nhiệm này thuộc về "người bệnh", gây phiền hà, bế tắc cho ngườihưởng bảo hiểm y tế Cũng theo Bộ Tư pháp, có nhiều ý kiến cho rằng cơ quan cóthẩm quyền xác nhận là Cảnh sát giao thông Tuy nhiên, qua nghiên cứu cho thấy,nếu người bị tai nạn có đến xin giấy xác nhận thì cảnh sát giao thông cũng không
có cơ sở để cấp loại giấy này Trên thực tế, nhiều trường hợp tai nạn xảy ra nhưng
cơ quan có thẩm quyền không đến kịp, hiện trường bị xáo trộn, người gây tai nạntrốn, người bị hại không có người làm chứng thì cơ quan có thẩm quyền sẽ khôngthể kết luận nguyên nhân gây ra tai nạn Như vậy nếu theo thông tư này sẽ cónhiều trường hợp bị tai nạn giao thông sẽ không được thanh toán bảo hiểm ngay cảkhi họ không có lỗi Ngoài ra theo quy định tại khoản 2, Điều 114 của Luật Bảohiểm xã hội, để được hưởng chế độ khi bị TNGT phải cung cấp bản sao biên bảncủa công an giao thông Nhưng trong thực tế thì rất khó thực hiện vì không phải tất
cả vụ TNGT đều có công an giao thông đến lập biên bản Do thiếu các biên bản,
có nhiều trường hợp không được hưởng chế độ TNGT
Cũng liên quan đến BHYT, việc cùng chi trả chi phí trong khám chữa bệnhBHYT đã gây khó khăn cho một số nhóm đối tượng như người nghèo, ngườihưởng trợ cấp bảo trợ xã hội bị bệnh nặng có chi phí khám chữa bệnh lớn như ungthư, chạy thận nhân tạo… Luật Bảo hiểm y tế quy định đã vi phạm pháp luật thìkhông được chi trả viện phí Tuy nhiên trên thực tế, số người làm công tác giámđịnh hiện nay rất ít, không thể giải quyết được tất cả các trường hợp TNGT Vớiquy định như hiện nay, giám định viên cũng không đủ thẩm quyền để đề nghị công
an xác minh các trường hợp TNGT Như vậy, ngành bảo hiểm sẽ phải gánh thêmnhiều trách nhiệm
Về vấn đề bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) thì quy định về thời gian đăng kýthất nghiệp được xem là chưa hợp lý Trong vòng 30 ngày kể từ ngày chấm dứthợp đồng, người lao động phải được chốt sổ bảo hiểm xã hội Trong khi đó phải