Những đóng góp mới về khoa học của luận án - Luận án đã đưa ra và khẳng định: Phát triển con người toàn diện ở Việt Nam hiện nay là sự phát triển toàn diện, hài hòa giữa con người cá nhâ
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong mọi thời đại lịch sử, vấn đề con người luôn là vấn đề trung tâm của
triết học Học thuyết Mác là sự tiếp nối và là bước ngoặt trong nhận thức vềphát triển con người Với bản chất cách mạng và khoa học của mình, học thuyếtMác về phát triển con người toàn diện đã định hướng cho sự phát triển tiến bộtiếp theo của loài người
Tiếp thu và vận dụng sáng tạo học thuyết đó của chủ nghĩa Mác vào hoàncảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng định:
“con người là vốn quý nhất, chăm lo cho hạnh phúc của con người là mục tiêu phấnđấu cao nhất của chế độ ta”, rằng “muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần
có những con người xã hội chủ nghĩa” Từ lập trường tư tưởng đó, mọi hoạt độngcủa Hồ Chí Minh luôn hướng tới việc xây dựng con người Việt Nam mới – conngười phát triển toàn diện Và với Người, “bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đờisau”, đào tạo “những người thừa kế xây dựng xã hội chủ nghĩa”, có sự phát triểntoàn diện, “vừa hồng, vừa chuyên”, vừa có đức, vừa có tài, bao giờ cũng là mốiquan tâm hàng đầu
Lấy chủ nghĩa Mác, tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàndiện làm nền tảng tư tưởng, làm kim chỉ nam cho đường lối và chiến lược pháttriển con người toàn diện ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành vàthực hiện trên thực tế đường lối và nhiều chủ trương, chính sách, giải pháp pháttriển con người Việt Nam mới - con người Việt Nam phát triển cả về trí lực lẫnthể lực, cả về khả năng lao động lẫn tính tích cực chính trị - xã hội, cả về lýtưởng sống, lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hoá, nhằm thựchiện thành công chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho côngcuộc đổi mới đất nước, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhậpquốc tế
Thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, trong những năm qua, chúng
ta đã gặt hái được nhiều thành tựu to lớn về phát triển con người toàn diện.Song, trong bối cảnh nhân loại đã và đang có những bước tiến rất dài trongchiến lược và thực tiễn phát triển con người; cùng với đó là sự phát triển như vũbão của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, của xu thế hội nhập quốc tế vàphát triển kinh tế tri thức, đòi hỏi chúng ta phải có sự phát triển nhanh về chấtlượng con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đang đặt ra
Đáp ứng sự đòi hỏi đó, trong gần 30 năm đổi mới, nhất là trong nhữngnăm gần đây, ở Việt Nam đã có không ít công trình nghiên cứu lấy quan niệmcủa chủ nghĩa Mác - Lênin về con người, giải phóng con người và phát triển
Trang 2con người toàn diện; lấy tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người ViệtNam mới, và lấy quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển conngười Việt Nam hiện đại - con người Việt Nam của thời kỳ đẩy mạnh côngnghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức làm đối tượng nghiêncứu Không ít những đề tài và chương trình khoa học đã được ứng dụng trongthực tế và kết quả đạt được trong sự nghiệp phát triển con người Việt Nam cũngkhông nhỏ Tuy nhiên, bản thân sự phát triển con người ở nước ta còn nhiềuyếu kém, hạn chế và nhiều bất cập, như: thể lực con người Việt Nam còn chưatốt, mặt bằng dân trí còn chưa cao, trình độ chuyên môn và trình độ khoa học,
kỹ thuật của người lao động còn thấp, tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm còn chưacao, tính sáng tạo và khả năng thích ứng với những biến đổi mới trong lao động
và cuộc sống còn chưa tốt, sự tự mãn dẫn đến tinh thần học hỏi và trí tiến thủcòn yếu… Nhiều vấn đề khác, như: sự yếu kém về kinh tế, tình trạng thấtnghiệp còn nhiều, sự chênh lệch về mức sống và điều kiện sống giữa các vùng,miền, các dân tộc, các bộ phận dân cư; tình trạng mất dân chủ trong xã hội làmcho quyền của một bộ phận không nhỏ nhân dân bị vi phạm; sự yếu kém về y tế
và trong công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng; sự yếu kém, bất cập trong giáodục - đào tạo; nạn ô nhiễm môi trường, bệnh dịch; sự xuống cấp về văn hóacũng như sự suy thoái về đạo đức, lối sống và thẩm mỹ, v.v và v.v cũng đã vàđang trở thành lực cản và là thách thức rất lớn cho sự phát triển con người ViệtNam Tất cả những vấn đề đó đặt ra: phải có một công trình có khả năng cung cấp
cơ sở lý luận, phương pháp luận và cơ sở thực chứng khoa học, sát thực, khả thinhằm đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng con người Việt Nam mới – con người pháttriển toàn diện, đáp ứng sự đòi hỏi của thực tiễn
Với những lý do trên đây, chúng tôi chọn Vấn đề phát triển con người toàn diện ở Việt Nam hiện nay làm đề tài nghiến cứu cho luận án
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận án tập trung giải quyết các nhiệm vụ cụthể sau đây:
Trang 3Thứ nhất, luận giải quan niệm của C.Mác, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan
điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển con người toàn diện
Thứ hai, phân tích thực trạng và luận giải những vấn đề đặt ra trong phát
triển con người toàn diện ở Việt Nam trong những năm đổi mới vừa qua
Thứ ba, xác định định hướng, đề xuất và luận giải một số giải pháp nhằm
đẩy mạnh phát triển con người toàn diện ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là quan niệm của C.Mác, tư tưởng HồChí Minh và đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triểncon người toàn diện; thực trạng và những vấn đề đặt ra trong phát triển conngười toàn diện ở Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Luận án nghiên cứu quan niệm của C.Mác về phát triển con người toàndiện được ông đưa ra trong một số tác phẩm tiêu biểu; đồng thời tập trungnghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện trong cáctác phẩm mà Người viết và nói về mục tiêu xây dựng con người Việt Nam hiệnđại Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về sự phát triển con người toàndiện ở Việt Nam được luận án nghiên cứu qua đường lối, chủ trương củaĐảng trong thời kì đổi mới đất nước
- Luận án tập trung khảo sát thực trạng và những vấn đề đặt ra trong pháttriển con người toàn diện ở Việt Nam trong những năm đổi mới đất nước
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận, phương pháp luận duy vật biệnchứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vàquan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển con người toàn diện
Luận án dựa trên những tác phẩm lý luận chủ yếu của C.Mác vàPh.Ăngghen, Hồ Chí Minh; các văn kiện, nghị quyết của Đảng Cộng sản ViệtNam; dựa vào các nguyên tắc và tiêu chí đánh giá phát triển con người củaChương trình phát triển liên hợp quốc - UNDP, đồng thời kế thừa có chọn lọcnhững công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài của các học giả đi trước
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu và trình bày kết quả nghiên cứu, trong luận án này, chúngtôi sử dụng các phương pháp như: phân tích và tổng hợp, lôgíc và lịch sử, tổnghợp và khái quát hoá, đối chiếu và so sánh, thống kê
5 Những đóng góp mới về khoa học của luận án
- Luận án đã đưa ra và khẳng định: Phát triển con người toàn diện ở Việt Nam hiện nay là sự phát triển toàn diện, hài hòa giữa con người cá nhân và con người xã hội; giữa thể lực, trí lực và tâm lực; giữa đức và tài; giữa
Trang 4“hồng” và “chuyên” trong mỗi con người; phát triển cá tính và sự phong phú của bản chất con người, làm cho con người trở thành một nguồn lực chủ yếu, một chủ thể vẹn toàn cả về năng lực lẫn phẩm chất, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay
- Từ thực trạng phát triển con người toàn diện ở Việt Nam, luận án đãđưa ra và luận giải một số vấn đề đặt ra: 1) Mâu thuẫn giữa yêu cầu kháchquan của sự phát triển nhanh về con người toàn diện với thực tế phát triểncon người toàn diện ở nước ta còn chậm; 2) Mâu thuẫn giữa yêu cầu cần phảitạo ra những điều kiện kinh tế - xã hội thuận lợi cho phát triển con ngườitoàn diện với thực tế yếu kém, bất cập của những điều kiện này là trở lực đốivới phát triển con người toàn diện ở Việt Nam
- Luận án xác định định hướng cơ bản và đề xuất, luận giải tính khả thi củamột số giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển con người toàn diện, đáp ứng nhữngđòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tếtri thức và hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Ở một mức độ nhất định, luận án góp phần làm sáng tỏ lý luận chung vềphát triển con người toàn diện
- Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc xây dựng,hoạch định chiến lược phát triển con người Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo
- Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiêncứu, giảng dạy triết học Mác - Lênin về vấn đề con người và phát triển conngười
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,luận án gồm 4 chương, 10 tiết
Trang 5Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Vấn đề phát triển con người đã được nghiên cứu từ rất sớm ở cả phươngĐông lẫn phương Tây Đến những năm 80 của thế kỉ XX, vấn đề phát triển conngười mới được nghiên cứu một cách sâu rộng Ở Việt Nam, vấn đề phát triểncon người, mặc dù mới được quan tâm nghiên cứu Nhưng đến nay, đã có rấtnhiều công trình có giá trị đã đã được công bố Vì vậy, việc nghiên cứu tổngquan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án là hết sức cần thiết.1.1 NHỮNG NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LÝ LUẬN CHUNG
VỀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI TOÀN DIỆN
Về mảng vấn đề này, luận án đã đi tìm hiểu, tham khảo những công trìnhcủa nhiều học giả, các nhà nghiên cứu, trong đó điển hình là các công trình,
như: Cuốn sách Vấn đề xây dựng con người mới do Phạm Như Cương chủ biên,
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978; Nguyễn Thế Kiệt (1988), Luận án phó tiến
sỹ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Vai trò của những điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan trong việc xây dựng con người mới trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, Phát triển con người - từ quan niệm đến chiến lược và hành động, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999; Về phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, do Phạm Minh Hạc (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001; Nguyễn Hữu Công, (2001), Tư tưởng
Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện, Luận án tiến sỹ triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; Mấy vấn đề triết học về xã hội và phát triển con người của Nguyễn Văn Huyên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002; Con người và phát triển con người: trong quan niệm của C.Mác và Ph Ăngghen, do Hồ Sĩ Quý chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003; Tư tưởng Hồ Chí Minh - phương pháp luận nghiên cứu con người: Niên giám nghiên cứu do Phạm Minh Hạc chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2003; Con người - Văn hóa, quyền và phát triển do Mai Quỳnh Nam (chủ biên), Nxb
Từ điển bách khoa, Hà Nội, 2009; Trịnh Thị Kim Ngọc (chủ biên), Con người
và văn hóa: Từ lý luận đến thực tiễn phát triển, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2009; Và một số bài viết trong Một số vấn đề triết học trong các văn kiện Đại hội XI của Đảng, do PGS,TS Trần Văn Phòng và GS,TS Nguyễn Hùng Hậu
(đồng chủ biên – 2012), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
Trang 61.2 NHỮNG NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN THỰC TRẠNGPHÁT TRIỂN CON NGƯỜI TOÀN DIỆN Ở VIỆT NAM
Mảng vấn đề này gồm có các công trình cơ bản sau:
Vũ Thiện Vương, Triết học Mác-Lênin về con người và việc xây dựng con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2001; Bộ sách gồm ba cuốn: 1) Đặng Quốc Bảo, Trương Thị
Thúy Hằng (đồng chủ biên), Chỉ số phát triển kinh tế trong HDI - Cách tiếp cận và một số kết quả nghiên cứu; 2) Đặng Quốc Bảo, Trương Thị Thúy Hằng (đồng chủ biên), Chỉ số tuổi thọ trong HDI - Một số vấn đề thực tiễn Việt Nam; 3) Đặng Quốc Bảo, Đặng Thị Thanh Huyền (đồng chủ biên), Chỉ số giáo dục trong HDI - Cách tiếp cận và một số kết quả nghiên cứu, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005; Hồ Sỹ Quý, Giáo trình Con người và phát triển con người,
dùng cho sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành triết họccủa Khoa Triết học - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội,
Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007; Nguyễn Hữu Châu (chủ biên), Giáo dục Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007; Nguyễn Đình Tuân (2011),“Báo cáo phát triển con người 2010: Xu hướng phát triển con
người và một số thay đổi trong tính toán các chỉ số”, Nghiên cứu con người (1);
Phạm Thành Nghị (2011),“Một số phác họa về con người Việt Nam hiện đại
qua kết quả nghiên cứu thực chứng”, Nghiên cứu con người (2)
Bên cạnh những công trình trên, để nghiên cứu thực trạng phát triển conngười toàn diện ở Việt Nam, tác giả luận án còn tham khảo các công trình củaTổng cục Thống kê, như: các Niên giám thống kê, Tổng điều tra dân số và nhà
ở 2009, Điều tra lao động và việc làm 2011 và các Thông cáo báo chí; Các Báocáo phát triển con người Việt Nam và thế giới của Chương trình phát triển Liênhợp quốc – UNDP
1.3 NHỮNG NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỊNH HƯỚNG VÀGIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI TOÀN DIỆN Ở VIỆT NAM
Mảng vấn đề này gồm có các công trình cơ bản sau:
Bài viết của Đặng Xuân Kỳ: “Những phương thức và biện pháp xây dựng
con người mới”, trong Vấn đề xây dựng con người mới do Phạm Như Cương chủ biên, Nxb KHXH, Hà Nội, 1978; Phần hai (Định hướng chiến lược phát triển toàn diện con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước) cuốn sách Về phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá do Phạm Minh Hạc (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2001; Chương 3 (Phương hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng
con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa) cuốn sách Triết học Mác-Lênin về con người và việc xây dựng con người Việt Nam trong
Trang 7thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2001 của Vũ Thiện Vương; Từ chiến lược phát triển giáo dục đến chính sách phát triển nguồn nhân lực: Tuyển tập các công trình nghiên cứu và bài báo khoa học của nhiều tác giả, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2002; Đoàn Văn Khái (2005), Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội; Phạm Mậu Tuyển (2012), “Về một số giải pháp đối với việc xây dựng nhân cách con người Việt Nam”, Nghiên cứu con người (3); Báo cáo triển khai Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2010 và thực hiện Kết luận số 51-KL/TW ngày 29/10/2012 của Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ưng Đảng khóa XI; và nhiều công trình khoa học khác.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu về vấn đề con người, phát triển con
người và phát triển con người toàn diện ở Việt Nam trong những năm gầnđây được đăng tải với số lượng ngày càng nhiều, chất lượng cũng ngày càngđược nâng cao; với nhiều cách tiếp cận khác nhau; nội dung các công trìnhcũng đã đề cập một cách khá toàn diện nhiều vấn đề về con người như:Nguồn gốc, bản chất con người; vai trò, vị trí của con người; cấu trúc nhâncách con người Việt Nam; sự phát triển con người và phát triển con ngườitoàn diện ở Việt Nam…
Thứ hai, các công trình nghiên cứu cung cấp những cơ sở lý luận và phương pháp luận quan trọng trong nghiên cứu vấn đề con người và phát triển
con người toàn diện ở Việt Nam, từ các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin(điển hình như các công trình do Hồ Sỹ Quý chủ biên), tư tưởng Hồ Chí Minh(điển hình như luận án tiến sĩ của Nguyễn Hữu Công) đến các phương phápluận và phương pháp nghiên cứu cụ thể Có những nhà khoa học tâm huyết và
đã có nhiều thành quả trong nghiên cứu con người và phát triển con người, điểnhình như Phạm Minh Hạc, Hồ Sỹ Quý, Đặng Hữu Toàn, Vũ Thiện Vương
Thứ ba, những khảo sát thực tiễn và các kết quả nghiên cứu thực chứng
về vấn đề con người đã đưa ra, cho chúng ta thấy được một bức tranh toàncảnh về phát triển con người ở Việt Nam hiện nay, nhất là các công trìnhnghiên cứu của Viện Khoa học xã hội Việt Nam nay là Viện Hàn lâm Khoahọc xã hội Việt Nam và của UNDP (điển hình là các báo cáo quốc gia về pháttriển con người Việt Nam), cùng các tài liệu của Tổng cục Thống kê….Nhữngkết quả nghiên cứu đó đã cung cấp cho chúng tôi những tư liệu quý báu, vừa
có tính khái quát cao lại vừa hết sức đa dạng, nhưng cũng rất cụ thể và chi tiết
Trang 8Thứ tư, những đánh giá, nhận xét và những kết luận được các nhà nghiên
cứu đưa ra hết sức đúng đắn, xác thực Các nhà khoa học đều khẳng định conngười vừa mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội, nhất làtrong giai đoạn hiện nay, trong khi các nguồn lực khác, khi được khai thác thìngày càng khan hiếm, cạn kiện thì con người, đặc biệt là trí tuệ con người, khiđược khai thác nó lại càng trở nên vô tận Vì thế, các nhà khoa học đều thốngnhất cho rằng, việc nghiên cứu vấn đề con người, phát triển con người ở ViệtNam hiện nay là hết sức khẩn thiết Quan điểm này có giá trị to lớn về mặtphương pháp luận cho việc nghiên cứu vấn đề phát triển con người toàn diện ởViệt Nam hiện nay
Những kết quả to lớn về mặt khoa học mà các công trình nghiên cứu trên đã đạt được là những tài liệu tham khảo bổ ích, song đối với đề tài của luận án - Vấn
đề phát triển con người toàn diện ở Việt Nam hiện nay - là một vấn đề không đơn giản và đối với chúng tôi là một vấn đề lớn Vì vậy, có một số vấn đề đặt ra cho chúng tôi trong việc nghiên cứu đề tài luận án, đó là những vấn đề sau:
Một là, việc nghiên cứu vấn đề phát triển con người ở Việt Nam đã được
manh nha từ những thập niên 80 của thế kỉ trước, nhưng chỉ đến những nămgần đây, khi mà công cuộc đổi mới đất nước đạt được những thành quả bướcđầu, vấn đề phát triển con người ở nước ta mới được thực sự quan tâm nghiêncứu Mặc dù mới được nghiên cứu, song kết quả nghiên cứu đã đạt được những
thành tựu quan trọng Điều này đặt ra cho chúng tôi là phải đi sâu tìm tòi, kế thừa, đối chiếu, chắt lọc và tích hợp để những thành quả có giá trị đã nghiên cứu ấy được phát triển trong đề tài của chúng tôi.
Hai là, vấn đề phát triển con người toàn diện ở Việt Nam là một vấn đề không còn quá mới mẻ Các công trình nghiên cứu về vấn đề này được các nhà
khoa học tiếp cận ở nhiều góc độ khoa học khác nhau, như xã hội học, tâm lý
học, chính trị học, nghệ thuật học, kể cả triết học… Vì vậy, ở góc độ triết học,
một mặt, chúng tôi phải có sự luận giải mới mẻ hơn, nhưng mặt khác, chúng tôiphải đưa ra được những kết quả nghiên cứu phù hợp với xu hướng nghiên cứu
và xu hướng phát triển trên thực tiễn của vấn đề này ở nước ta cũng như trênthế giới trong giai đoạn hiện nay
Ba là, các công trình nghiên cứu xung quanh đề tài của chúng tôi, có thể
nói là nhiều Song, có công trình chỉ tập trung nghiên cứu thuần túy về mặt lýluận hay phương pháp luận Có công trình chỉ thuần túy nghiên cứu thựcchứng Có những công trình tích hợp các bài báo hay chuyên khảo của một
Trang 9số tác giả thì lại thể hiện khiếm khuyết là thiếu tính hệ thống, chưa lôgíc hoặc
còn sơ sài Từ thực tế này, đặt ra cho chúng tôi phải có được một kết quả nghiên cứu vừa có tính tích hợp cao, vừa phản ánh toàn diện hơn nhưng lại phải sâu sắc, cụ thể.
Bốn là, trong bối cảnh hiện nay, khi mà vấn đề con người ngày càng trở nên quan trọng, toàn thể nhân loại coi đây là vấn đề trung tâm Đảng, Nhà nước
và toàn thể dân tộc ta cũng khẳng định rằng phát triển con người Việt Nam làmục đích tối hậu của chế độ ta Chính vì thế, nó đặt ra cho chúng tôi một nhiệm
vụ quan trọng là phải nghiên cứu để bổ sung và phát triển hơn về mặt lý luận,phương pháp luận trong nghiên cứu vấn đề này Đồng thời làm sâu sắc hơn, đầy
đủ hơn về thực trạng phát triển con người ở nước ta trong những năm vừa qua.Hơn nữa, lại phải biết kế thừa kinh nghiệm của các quốc gia có nhiều thành tựutrong phát triển con người Trên cơ sở đó, mới có thể đưa ra được những địnhhướng đúng đắn cũng như những giải pháp thiết thực, hiệu quả, có giá trị gópphần cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong thực tiễnphát triển con người toàn diện ở Việt Nam, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, nhằm mục tiêu dân giầu, nướcmạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
VỀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI TOÀN DIỆN
2.1 QUAN NIỆM CỦA C.MÁC VỀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI TOÀN DIỆN
Trang 102.1.1 Phát triển con người toàn diện – “Phát triển sự phong phú của bản chất con người”
Có thể nói, phát triển con người trong tư tưởng của C.Mác là phát triển conngười trong mối quan hệ hài hòa với tự nhiên và xã hội, phát triển các giá trịvăn hóa – giá trị tinh thần của con người, phát triển sự phong phú của bản chấtcon người, nâng cao năng lực con người, giải phóng con người khỏi mọi sự thahóa, sự phiến diện, què quặt do tình trạng bóc lột của Chủ nghĩa tư bản Trên cơ
sở đó, con người phát triển cá tính, năng khiếu, sự tự do và năng lực làm chủ xãhội của mình Phát triển con người là sự phát triển những năng lực mang phẩmchất người, năng lực trinh phục tự nhiên, cải biến xã hội và năng lực làm chủbản thân mình
2.1.2 Phát triển con người toàn diện gắn liền với phát triển kinh tế
-xã hội, thông qua lao động sản xuất và hoạt động thực tiễn của con người
Theo C.Mác con người không chỉ là sản phẩm mà còn là chủ thể của lịch
sử - xã hội Vì vậy, sự phát triển con người toàn diện luôn gắn với sự pháttriển kinh tế - xã hội Đồng thời, từ nhu cầu và sự sinh tồn của cuộc sống, bằnghoạt động thực tiễn, mà trước hết là lao động sản xuất - quá trình này đóng vaitrò nền tảng trong việc hoàn thiện và phát triển con người toàn diện
2.2 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNGSẢN VIỆT NAM VỀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI TOÀN DIỆN
Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam vềphát triển con người toàn diện được thể hiện ở hai nội dung cơ bản sau:
2.2.1 Phát triển con người toàn diện vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng Việt Nam
Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định con người làvốn quý nhất, chăm lo cho hạnh phúc của con người và phát triển con ngườitoàn diện là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta, là nhiệm vụ trung tâm, làđộng lực của cách mạng Việt Nam Sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng chủnghĩa xã hội luôn gắn liền với giải phóng và phát triển con người Việt Nam Xem xét con người với tư cách vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách
mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn coi việc kết hợp chặt chẽ giữa động lực vật chất và động lực tinh thần Kết hợp chăm lo đời sống vật chất cho
nhân dân gắn với việc kế thừa, phát huy truyền thống dân tộc, xây dựng mộtnền văn hóa mới, mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa tạo điều kiện để con ngườiViệt Nam phát triển toàn diện
2.2.2 Phát triển con người toàn diện là phát triển con người về các
phương diện thể lực, trí lực và tâm lực
Trang 11Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã giải quyết vấn đề này trong mối quan
hệ biện chứng, trong khi khẳng định thể lực là cái trước tiên, đóng vai trò nềntảng ban đầu, thì trí lực lại là nhân tố phản ánh sự phát triển về chất lượng conngười Việt Nam Cùng với hai yếu tố đó, tâm lực là yếu tố hết sức quan trọng vàkhông thể thiếu trong con người toàn diện
Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta cũng đã đưa ra nhiều chủ trương, biệnpháp và triển khai thực hiện trên thực tế để phát triển về cả ba mặt đó trong conngười Việt Nam phù hợp với từng giai đoạn lịch sử của đất nước
2.3 MỘT SỐ NHẬN THỨC CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI
TOÀN DIỆN
Thứ nhất, con người được xem là trung tâm của sự phát triển
Ngoài số ít quan điểm không thấy được vị trí, vai trò trung tâm của nhân
tố con người (như quan điểm duy tâm cho con người chỉ là sản phẩm của tinhthần…), thì hầu hết các quan điểm, nhất là những quan điểm hiện đại đềuthống nhất cho rằng con người là trung tâm của sự phát triển kinh tế - xã hội,của cộng đồng, quốc gia và của toàn thể loài người Điều đó đặt ra một vấn
đề rằng chúng ta phải tập trung nghiên cứu để áp dụng trong thực tiễn nhằmthúc đẩy sự phát triển nhân tố con người
Phát triển con người theo quan điểm của UNDP được cụ thể hóa thành chỉ
số phát triển người: HDI (thu nhập, giáo dục và tuổi thọ) Và UNDP cũng đã
cho rằng: Phát triển con người là quá trình mở rộng các sự lựa chọn của con người nhằm đạt được những khả năng nhất định và tận dụng những khả năng
đó Một số lựa chọn có tính quyết định nhất là có một cuộc sống lành mạnh và lâu dài, là hiểu biết và có mức sống khá
Thứ hai, về phát triển con người toàn diện ở Việt Nam hiện nay
Khái niệm và nội hàm khái niệm phát triển con người toàn diện ở Việt
Nam đã được các học giả, các nhà nghiên cứu thể hiện rất phong phú và đadạng Song về cơ bản, các học giả, các nhà nghiên cứu đều thể hiện trong nộihàm khái niệm này những đặc thù, những phẩm chất thể hiện bản sắc độc đáo
của người Việt Nam, đó là những phẩm chất: có tinh thần yêu nước, yêu lao động, sống tình nghĩa, có đạo đức trong sáng, yêu chuộng hòa bình, thông minh, có tinh thần độc lập, tự chủ, tự cường
Đứng trên lập trường duy vật của học thuyết Mác, kế thừa giá trị tư tưởng HồChí Minh, quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về pháttriển con người toàn diện Đồng thời tiếp thu những giá trị trong quan niệm củacác nhà nghiên cứu đi trước và xuất phát từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, thực
tiễn phát triển con người Việt Nam, tác giả luận án cho rằng: Phát triển con
Trang 12người toàn diện ở Việt Nam hiện nay là sự phát triển toàn diện, hài hòa giữa con người cá nhân và con người xã hội; giữa thể lực, trí lực và tâm lực; giữa đức và tài; giữa “hồng” và “chuyên” trong mỗi con người; phát triển cá tính và
sự phong phú của bản chất con người, làm cho con người trở thành một nguồn lực chủ yếu, một chủ thể vẹn toàn cả về năng lực lẫn phẩm chất, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay
Cụ thể hóa quan niệm đó về phát triển con người toàn diện ở Việt Namhiện nay, theo chúng tôi, được thể hiện ở ba mặt cơ bản:
Phát triển về mặt thể lực, được thể hiện ở: thể hình, sức khỏe và tuổi thọ,
sức bền và sức dẻo dai của cơ bắp, khả năng lao động và làm việc ở nhịp độcao, khả năng hoạt động linh hoạt, nhanh nhạy và có tâm - sinh lý tốt
- Sự phát triển thể lực con người Việt Nam còn được thể hiện gián tiếp ở:mức độ phát triển của công tác y tế, chăm sóc sức khỏe con người; tỷ lệ đóinghèo; sự phát triển của công tác thể dục, thể thao; sự trong sạch của môitrường sinh thái; mức sống (thu nhập), tỷ lệ chết ở trẻ sơ sinh và sản phụ…củacộng đồng dân cư, dân tộc hay của đất nước
Phát triển về mặt trí lực, được thể hiện ở: trình độ tri thức và trình độ học
vấn; kỹ năng nghề nghiệp và trình độ khoa học, kỹ thuật; khả năng nhận thức;
sự hiểu biết sâu rộng; chỉ số IQ và tư duy sáng tạo; nhân sinh quan
- Sự phát triển trí tuệ con người Việt Nam còn được thể hiện ở: sự pháttriển của giáo dục - đào tạo; số lượng lao động có trình độ học vấn, trình độchuyên môn và trình độ công nghệ cao; số lượng các nhà trí thức;…
Phát triển về mặt tâm lực, được thể hiện ở: sự phát triển hài hòa của ý chí,
tình cảm, thái độ và định hướng giá trị Những phẩm chất căn bản là lý tưởng vàniềm tin với cách mạng, lòng yêu nước, đạo đức và lối sống, ý chí vươn lên trongcuộc sống, ý thức trách nhiệm với bản thân và cộng đồng, quan điểm và hành vipháp luật, quan điểm và hành vi thẩm mỹ
- Sự phát triển tâm lực con người Việt Nam còn được thể hiện ở: sự pháttriển của văn hóa, của nghệ thuật, của nền dân chủ trong xã hội, của đạo đứctruyền thống dân tộc, của việc đáp ứng thông tin và truyền thông;…ở cộngđồng dân cư của dân tộc
Như vậy, phát triển con người toàn diện là thể thống nhất của sự phát triển về
cả ba mặt thể lực, trí lực và tâm lực trong con người Các mặt đó có mối quan hệbiện chứng, liên hệ hữu cơ với nhau Nếu như thể lực đóng vai trò nền tảng ban đầucho sự phát triển con người toàn diện, thì trí lực và tâm lực là yếu tố đóng vai trò cơbản và quyết định nhất đối với chất lượng con người