Kết quả và kết luận: Khảo sát 90 bệnh nhân nhóm mề đay mãn tính và 49 người bình thường không bị mề đay nhóm chứng, tỉ lệ nhiễm ký sinh trùng Strongyloides, Toxocara và Gnathostoma ở nhó
Trang 1ĐÁNH GIÁ MỐI LIÊN QUAN GIỮA MỀ ĐAY MẠN TÍNH
Phương pháp: nghiên cứu cắt ngang, thử nghiệm lâm sàng có nhóm chứng
Kết quả và kết luận: Khảo sát 90 bệnh nhân nhóm mề đay mãn tính và 49 người bình thường không bị mề đay (nhóm chứng), tỉ lệ nhiễm ký sinh trùng (Strongyloides, Toxocara và Gnathostoma) ở nhóm mề đay mãn tính là 100% và ở nhóm chứng là 28,6% Đồng thời đánh giá phác đồ điều trị bệnh nhân mề đay mãn tính có nhiễm ký sinh trùng và nhận thấy nhóm được điều trị bằng kháng histamin
và albendazole có hiệu quả điều trị cao nhất
ABSTRACT
Objectives: Assessing the relationship between chronic urticaria and parasitic infection
Trang 2Methods: cross – sectional, clinical trials with control group
Results and conclusions: The studies of 90 patients having chronic urticaria and 49 normal individuals(control group), show a prevalence rate in chronic urticaria group over normal group as 100 % over 28.6% respectively Concurrently, assessing the treatment guide for chronic urticaria patients due to parasitic infection, and finding the highest effect in the treatment by histamin and albendazole
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện tại, số bệnh nhân đến khám ngoại trú tại Bệnh Viện Da Liễu TP.HCM với chẩn đoán mề đay chiếm tỉ lệ khá cao, trong khi đó, việc tìm ra nguyên nhân
để điều trị triệt để cho bệnh nhân là một việc làm hết sức khó khăn
Một trong những nguyên nhân gây dị ứng có thể kể là do ký sinh trùng Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, điều kiện vệ sinh môi trường chưa tốt tạo thuận lợi cho mầm bệnh ký sinh trùng phát triển Các nghiên cứu trong nước cho thấy tỷ lệ nhiễm một số loại ký sinh trùng chiếm tỷ lệ khá cao, đặc biệt là nhiễm Strongyloides, Toxocara, Gnathostoma [8] Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài cho thấy có mối liên quan giữa nhiễm ký sinh trùng và các biểu hiện dị ứng, trong đó chủ yếu là bệnh mề đay mãn tính[1, 2, 4, 5, 7, 9]
Trang 3Hiện nay, Việt Nam chưa có nghiên cứu nào tìm hiểu mối liên quan giữa
mề đay mãn tính và nhiễm ký sinh trùng Với sự kết hợp Viện-Trường, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Đánh giá mối liên quan giữa bệnh mề đay mãn tính và nhiễm ký sinh trùng” để lưu ý các thầy thuốc lâm sàng quan tâm, để bệnh được chẩn đoán và điều trị kịp thời
Lược sử một số bệnh ký sinh trùng thường gặp có thể gây biểu hiện da mãn tính
Bệnh do giun lươn[6]
Tác nhân gây bệnh là Strongyloides stercoralis, người bị nhiễm khi tiếp xúc với đất ô nhiễm, phân chứa ấu trùng giai đoạn 2 sống tự do xâm nhập vào da Ngoài con đường thông thường, giun lươn có thể theo đường máu xâm nhập các
cơ quan khác nhau của cơ thể Tùy theo vị trí ký sinh của ấu trùng trong cơ thể, bệnh nhân sẽ có những biểu hiện lâm sàng khác nhau ở những cơ quan tương ứng Trong trường hợp này, ấu trùng ít khi được phát hiện trong phân Do vậy phải chẩn đoán phải dựa vào huyết thanh miễn dịch
Về biểu hiện ở da, giun lươn có thể gây hội chứng ấu trùng di chuyển ngoài
da, mề đay không đặc hiệu, hồng ban trên da
Bệnh giun đũa chó mèo lạc chủ[8]
Trang 4Tác nhân gây bệnh là Toxocara canis (giun đũa chó) và Toxocara cati (giun đũa mèo) Bệnh gây ra do sự di chuyển giai đoạn ấu trùng của giun đũa chó ở nhiều cơ quan khác nhau Người là ký chủ ngẫu nhiên, nhiễm do nuốt trứng có ấu trùng giai đoạn 3 của Toxocara spp Au trùng xâm nhập thành ruột và được chuyên chở theo đường máu đến gan, phổi và những cơ quan khác Ký sinh trùng không bao giờ phát triển đến giai đoạn trưởng thành, vì vậy ở những người bị nhiễm không bao giờ tìm thấy trứng trong phân Việc chẩn đoán dựa chủ yếu vào huyết thanh miễn dịch
Thể ngoài da có thể biểu hiện bằng nổi cục u duới da, nổi mề đay, sưng phù một vùng da
Bệnh do Gnathostoma spp [8]
Gây bệnh ở nguời thừơng gặp nhất là Gnathostoma spinigerum, giun trưởng thành sống trong dạ dày của những động vật ăn thịt (mèo, chó, hổ, báo ) Người là ký chủ ngẫu nhiên bị nhiễm khi ăn thịt ký chủ trung gian bị nhiễm có chứa ấu trùng Khi ấu trùng định vị ở mô dưới da gây phù và viêm, trên da có thể xuất hiện hồng ban, ngứa, sờ cứng Chẩn đoán xác định là khi bắt được ấu trùng
bò ra ngoài da hay bắt bằng cách rạch da Tuy nhiên hiếm gặp, đa số chẩn đoán dựa vào thanh miễn dịch
Mục tiêu nghiên cứu
Trang 5Mục tiêu tổng quát
Đánh giá mối liên quan giữa bệnh mề đay mãn tính và nhiễm ký sinh trùng
Mục tiêu chuyên biệt
-Xác định tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng ở nhóm mề đay mãn tính và nhóm chứng
- Xác định mối liên quan giữa bệnh mề đay và nhiễm ký sinh trùng
- Xác định phác đồ điều trị và đánh giá sơ bộ kết quả điều trị
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Công trình nghiên cứu đuợc tiến hành từ tháng 05/2004 đến tháng 12/2004 tại Khoa Khám Dich Vụ-Bệnh Viện Da Liễu TP HCM
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, thử nghiệm lâm sàng có nhóm chứng
Đối tượng nghiên cứu
Là tất cả bệnh nhân mề đay mãn tính (trên 6 tuần) đến khám tại Khoa Khám Dịch Vụ-Bệnh Viện Da Liễu TP.HCM
Tiêu chuẩn chọn bệnh
Trang 6*Nhóm bệnh
-Bệnh nhân có biểu hiện mề đay mãn tính ( trên 6 tuần)
-Có kết quả huyết thanh chẩn đoán ký sinh trùng
-Bệnh nhân tuân thủ phác đồ điều trị và theo dõi được kết quả điều trị
-Thu nhập được thông tin dựa theo bảng câu hỏi có cấu trúc đã soạn sẵn
-Đồng ý tham gia nghiên cứu
*Nhóm chứng:
Là những nhân viên y tế công tác tại bệnh viện Da liễu có các tiêu chuẩn sau:
-Không có biểu hiện mề đay mãn tính
-Có kết quả huyết thanh chẩn đoán ký sinh trùng
-Thu thập được thông tin đầy đủ
-Đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ:
-Không có kết quả huyết thanh chẩn đoán ký sinh trùng
Trang 7-Không thu thập được thông tin
-Không đồng ý tham gia nghiên cứu
-Trẻ em dưới 15 tuổi
-Phụ nữ có thai và cho con bú
Phương pháp tiến hành
Các bệnh nhân được chọn vào nghiên cứu sẽ được:
-Phỏng vấn theo bảng câu hỏi có cấu trúc đã được soạn sẵn
-Khám lâm sàng, ghi nhận những biểu hiện trên da
Trang 8Trên một nhóm chứng gồm những bệnh nhân không có biểu hiện mề đay mãn tính
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trang 1470
14,4
8,9
17,7
Kết quả xét nghiệm thường quy
Công thức máu: chỉ số bạch cầu ái toan
Trị số BC ái toan
0-5%
6-10%
Trang 15- Tăng cao (>20mm trong giờ đầu): 24 trường hợp
- Giá trị thấp nhất của TĐLM giờ đầu: 8mm
Trang 16- Giá trị cao nhất của TĐLM giờ đầu: 55mm
Kết quả huyết thanh chẩn đoán ký sinh trùng trên bệnh nhân mề đay
Chúng tôi thực hiện huyết thanh chẩn đoán đối với Strongyloides, Toxocara, và Gnathostoma vì đây là những ký sinh trùng gây nhiễm với tỉ lệ cao
và thường có biểu hiện ngoài da
Tất cả 90 bệnh nhân mề đay mãn tính đều có kết quả huyết thanh chẩn đoán
ký sinh trùng dương tính
- 41 trường hợp nhiễm 1 loại ký sinh trùng (45,5%)
- 36 trường hợp nhiễm 2 loại ký sinh trùng (40%)
- 13 trường hợp nhiễm 3 loại ký sinh trùng (14,4%)
Nhiễm 1 lọai ký sinh trùng: 41 trường hợp
Tên KST
Strongyloides
Toxocara
Trang 19Trường hợp nhiễm 3 lọai ký sinh trùng: 13 trường hợp
Như vậy, chúng ta nhận thấy tỷ lệ nhiễm Strongyloides là cao nhất 87 cas (96.7%), kế đến là Toxocara 43 ca (47.8%) và cuối cùng là Gnathostoma 22 cas (24.4%)
Kết quả huyết thanh chẩn đoán ký sinh trùng trên nhóm chứng
Chúng tôi đã thực hiện huyết thanh chẩn đóan ký sinh trùng trên một nhóm chứng gồm 49 bệnh nhân không có biểu hiện mãn tính, kết quả như sau:
Kết quả
Trang 20Huyết thanh chẩn đoán (+)
Huyết thanh chẩn đoán (-)
Trang 2349
139
Fisher’s exact test với p <0.05 RR= 3,5 (2,25<R<5,45)
Như vậy bệnh nhóm mề đay có tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng cao gấp 3,5 lần nhóm không nổi mề đay
Điều trị
Những bệnh nhân có kết quả huyết thanh chẩn đoán dương tính được chọn ngẫu nhiên vào 2 nhóm điều trị:
Nhóm điều trị ký sinh trùng đơn thuần
Dùng Albendazole 400 mg, 2 lần mồi ngày x 21 ngày, có 29 trường hợp
29 TH
Sau 1 tuần
Trang 28+ Điều trị ký sinh trùng: Albendazole 400mg, 2lần mỗi ngày x 21 ngày
+ Kháng histamin: dùng kháng histamin thế hệ 2 như Cetirizine 10mg/ngày hoặc Fexofenadine 180 mg/ngày
Trang 40Bệnh nhân nhiễm Gnathostoma:
Có hay không có ăn các món ăn sau đây
Có
Trang 4318
Nghêu, sò, ốc, hến
18
4
Bệnh nhân nhiễm Toxocara, Strongyloides:
Thói quen sinh hoạt
Có
Không
Nuôi chó mèo
48
Trang 46Theo dõi sau điều trị
Chúng tôi đã xét nghiệm lại huyết thanh chẩn đoán ký sinh trùng sau 3 tháng được 34 trường hợp, kết quả như sau:
Trang 47Số BN
Hiệu giá KT giảm
Hiệu giá KT giữ nguyên
Trang 48- Chúng tôi có 14 trường hợp có chỉ số bạch cầu ái toan từ 6-10%, 2 trường hợp bạch cầu ái toan từ 11-15% và 2 trường hợp bạch cầu ái toan tăng chỉ có giá trị gợi ý nhiễm ký sinh trùng Ngay cả tốc độ lắng máu cũng vậy, có 24 trường hợp (26,7%) có trị số TĐLM>20mm trong giờ đầu, trị số này cũng không có giá trị chẩn đoán, mà chỉ là triệu chứng gợi ý
- Nhiều tác giả đã nhận định bệnh mề đay mãn tính là bệnh rất khó tìm ra nguyên nhân sinh bệnh và chăm sóc mặc dù nhiều nghiên cứu đã được đưa ra và khảo sát Các nguyên nhân của bệnh mề đay mãn tính được đề cập là: nhiễm trùng (Helicobacter pylori), nhiễm siêu vi, nhiễm ký sinh trùng (Strongyloides, T canis, Gnathostoma .)[2,3,6], dị ứng thức ăn, do thời tiết, do các yếu tố vật lý, cholinergic hoặc đôi khi không tìm thấy nguyên nhân Hơn nữa, đôi khi các nguyên nhân trên có thể phối hợp với nhau nên việc tìm ra chính xác nguyên nhân bệnh là một điều hết sức khó khăn Nghiên cứu của chúng tôi cũng không có tham vọng tìm ra chính xác nguyên nhân mà chỉ muốn nêu lên một số mối liên quan của bệnh mề đay mãn tính và nhiễm ký sinh trùng Những mối liên quan mà chúng tôi nhận thấy là:
- Tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng nói chung ở nhóm mề đay mãn tính là 100% so với nhóm chứng (không có mề đay) là 28,7% ( sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p <0,05) So sánh với một nghiên cứu ở Bordeaux (Pháp) thì tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng (Toxocara) ở nhóm mề đay mãn tính là 64,7% so với nhóm chứng là 21%[9]
Trang 512%
Điều trị
Albendazole 400mg 2 lần/ngày x 21 ngày
Thiabendazole hoặc Ivermectin
Kết quả điều trị
36% lành bệnh,29% cải thiện, 35 % không đáp ứng
-Thực tế qua điều trị, phác đồ điều trị ký sinh trùng bàng Albendazol 400mg, 2lần/ngày trong 21 ngày mà chúng tôi áp dụnglà phác đồ mà chúng tôi đã khảo sát qua nhiều tài liệu trên y văn, Internet đã được nhiều tác giả áp dụng Khi áp dụng trên bệnh nhân mề đay mãn tính, chúng tôi nhân thấy:
Theo dõi sau 3 tuần
Trang 52Điều trị KST đơn thuần
Về mặt dịch tễ học của nhiễm ký sinh trùng
Trang 53Đối với nhiễm Gnathostoma: những bệnh nhân nhiễm đều là những người thường xuyên ăn mắm thái, cá nướng, lươn, ếch, rắn là những động vật dễ bị nhiễm ất trùng giai đoạn 3 của Gnathostoma spinigerum
Đối với nhiễm Strongyloides và Toxocara: các bệnh nhân nhiễm đều có tỷ
lệ tiếp xúc cao với chó, mèo, hay ăn rau sống, ăn lẩu lòng heo, gà, thỏ
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu chúng tôi nhận thấy:
-Có mối liên quan giữa nhiễm ký sinh trùng cụ thể là Strongyloides, Toxocara spp, Gnathostoma với bệnh mề đay mãn nhưng cơ chế của mối liên quan hoặc có sự phối hợp của nhiều cơ chế cần phải được khảo sát thêm
-Tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng trên nhóm bệnh mề đay rất cao từ đó cần đặt ra phác đồ điều trị và theo dõi để đạt kết quả cao
- Tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng cao, do đó cần đặt ra vấn đề chăm sóc, hướng dẫn bệnh nhân những cách dự phòng để tránh tái nhiễm
Thực tế Việt Nam là nước thuộc vùng nhiệt đới, điều kiện vệ sinh môi trường chưa tốt, tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng khá cao, tuy nhiên vấn đề nhiễm ký sinh trùng (đặc biệt là Strongyloides, Toxocara spp, Gnathostoma) mới chỉ được đặt ra trong vòng 10 năm nay nên những nghiên cứu lâm sàng hay kinh nghiệm thực tế
Trang 54còn hạn chế, nghiên cứu của chúng tôi cũng không dám kết luận, mà chỉ nêu lên những nhận xét, suy nghĩ của mình để các đồng nghiệp tham khảo và đóng góp ý kiến để từ đó có thể đưa ra một phác đồ chuẩn trong điều trị