1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

NHIỄM GIUN KIM Ở TRẺ EM NHÀ TRẺ, MẪU GIÁO ppt

29 1,3K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 238,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

• Can thiệp bằng điều trị thuốc tẩy giun Minh Quang, tỷ lệ nhiễm giun kim giảm được tương đương với biện pháp tuyên truyền GDSK về bệnh giun kim Tân Phong: 44,3% và 31,8%.Xã Tân Phong ca

Trang 1

NHIỄM GIUN KIM Ở TRẺ EM NHÀ TRẺ, MẪU GIÁO

TÓM TẮT

Mục tiêu: (1) Xác định tỷ lệ nhiễm giun kim ở trẻ em, nhà trẻ, mẫu giáo tại

3 xã thuộc huyện Vũ Thư, Thái Bình (2) Đánh giá hiệu quả của 2 biện pháp can thiệp

Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang và can thiệp có đối chứng

Kết quả và kết luận: Tỷ lệ nhiễm giun kim ở trẻ em nhà trẻ, mẫu giáo 3 xã

rất cao (54,7%), giữa 3 xã (58,4% so với 53,5% và 52,3%) không có sự khác biệt trong phòng chống bệnh giun kim ở trẻ em.Tỷ lệ nhiễm giun kim của chung ở nhóm 37-72 tháng tuổi (60,5%) cao hơn nhóm 12-36 tháng tuổi (49,6%) có ý nghĩa và giữa nam với nữ không có sự khác biệt (52,6% và 55,9%).• Hai xã được can thiệp (Minh Quang và Tân Phong): tỷ lệ nhiễm giun kim đều giảm so với trước can thiệp (32,5% so với 58,4% và 36,5% so với 53,5%) và so với xã chứng (48,3%) • Can thiệp bằng điều trị thuốc tẩy giun (Minh Quang), tỷ lệ nhiễm giun kim giảm được tương đương với biện pháp tuyên truyền GDSK về bệnh giun kim (Tân Phong): 44,3% và 31,8%.Xã Tân Phong (can thiệp GDSK): nhận thức đúng

Trang 2

của người nuôi dạy trẻ về bệnh giun kim: đường lây nhiễm, vị trí ký sinh của giun kim, về tác hại bệnh và về biện pháp phòng chống bệnh, sau can thiệp đều tăng có

ý nghĩa so với trước can thiệp và so với 2 xã chứng: Minh Quang và Việt Hùng (không được tuyên truyền GDSK về bệnh giun kim).Thực hành của người nuôi dạy trẻ về phòng chống bệnh giun kim tăng lên rõ so với trước can thiệp và với 2

xã chứng như không mặc quần thủng đũng cho trẻ, thường xuyên rửa tay trước khi

ăn, rửa hậu môn hàng ngày cho trẻ vào buổi sáng sớm, cắt móng tay thường xuyên cho trẻ, dùng thuốc tẩy giun cho trẻ • Hai xã chứng (không được can thiệp GDSK): sau và trước khi nghiên cứu, tất cả các chỉ số trên, không có sự khác biệt

Objectives: To define prevalence rate of Enterobius vermicularis infection

in children in kindergartens and preschool children in 3 communes in Vu Thu district, Thai Binh province To assess the effect of 2 interventional measures

Methods: Cross- sectional and intervention control studies

Results and conclusions: Prevalence of Enterobius vermicularis infection

among pre-school children were hight at 3 communes (54.7%), and not satistically significant comparison between them each other (58.4% comparison with 53.5% and 52.3%) Prevalence of Enterobius vermicularis infection group 37-72 months was higher satistically significant group 12-36 months (60.5% comparison with 49.6%), and in female with male pre-school children were equivalent: 52.6% and 55.9% Minh Quang and Tan Phong (2 communes with intervention): prevalence

Trang 3

of Enterobius vermicularis infection has reduced satistically significant after comparison with before intervention (32.5% comparison with 58.4% and 36.5% comparison with 53.5%) and control commune – Viet Hung (48.3%).• Minh Quang commune (intervention by chemotherapy), prevalence rate of Enterobius vermicularis infection has reduced equivalent Tan Phong commune (intervention hygiene of habitat and healthy education) : 44.3% and 31.8%.• Tan Phong commune (intervention hygiene of habitat and healthy education): the right knowledges of children’s parents and teachers about enterobiasis has increased satistically significant comparison before intervention and 2 control communes (Minh Quang and Viet Hung): intrusional ways, threaworm’s place in human, harms of enterobiasis, and prevented ways The right practices of children’s parent and teachers about enterobiasis has increased satistically significant comparison before intervention and 2 control communes: didn‘t wear seat opened trousers for children, always cleanse them hands before eating, cleanse anal everyday in the early morning, always cut children’ nails, helminthic for children Minh Quang, Viet Hung communes (no intervention hygiene of habitat and healthy education): there is no remarkable change all above indexes after comparison with before research

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh giun kim là một bệnh khá phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới, nhất là những nước nhiệt đới và cận nhiệt đới Theo ước tính, trên thế giới có

Trang 4

khoảng 1 tỷ người nhiễm giun kim, nhưng tập trung chủ yếu vào lứa tuổi học đường, sống ở trong các tập thể có điều kiện sinh hoạt thấp kém như: quá đông đúc, môi trường ô nhiễm, thiếu nước sạch trong sinh hoạt

Việt Nam chúng ta, bệnh lại càng phổ biến hơn vì: không những mang đầy

đủ nét đặc trưng của khí hậu nhiệt đới, mà còn có những thói quen trong ăn uống sinh hoạt chưa khoa học và nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp: tỷ lệ nhiễm giun kim khá cao từ 18 - 47% Bệnh giun kim gặp ở hầu hết các lứa tuổi, nhưng tỷ lệ nhiễm cao nhất là trẻ em lứa tuổi nhà trẻ, mẫu giáo [2,4,5,7,8]

Tỷ lệ mắc bệnh giun kim, không những phụ thuộc vào điều kiện địa lý, khí hậu, mà nó còn phụ thuộc chủ yếu vào tình hình vệ sinh cá nhân về phòng chống bệnh Bệnh giun kim rất dễ tái nhiễm, nếu như vệ sinh không tốt

Ngược lại, nếu biết cách phòng, thì không cần dùng thuốc tẩy giun, bệnh cũng có thể hết

Giun kim chiếm một lượng thức ăn không đáng kể, nhưng gây ảnh hưởng trực tiếp

Trang 5

đến sức khoẻ của trẻ nhỏ bằng cách kích thích, rối loạn tiêu hoá, rối loạn thần kinh như làm trẻ ngủ không ngon giấc, hay bị mê hoảng, nghiến răng khi ngủ, có thể bị đái dầm , nếu tình trạng bị nhiễm nặng sẽ làm cho trẻ suy dinh dưỡng, ảnh hưởng đến

sự phát triển về thể lực và trí tuệ của trẻ

Để tăng cường ý thức vệ sinh của các bà mẹ, các cô nuôi dạy trẻ hàng ngày đối với con, em và gia đình của họ, đặc biệt là để làm giảm gánh nặng về bệnh giun kim cho trẻ em tại cộng đồng, mà ít tốn kém về kinh tế, chúng tôi nghiên cứu

đề tài nhằm mục tiêu:

- Xác định thực trạng nhiễm giun kim ở trẻ em nhà trẻ, mẫu giáo tại 3 xã huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình

Trang 6

- Đánh giá hiệu quả của một số biện pháp can thiệp trong phòng chống bệnh giun kim ở trẻ em nhà trẻ, mẫu giáo tại 2 xã nghiên cứu

ĐỐI TUỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Địa điểm nghiên cứu

Các trường mầm non của 3 xã Tân Phong, Minh Quang và Việt Hùng huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình

- Xã Tân Phong: nhận biện pháp can thiệp điều trị thuốc tẩy giun kim

- Xã Minh Quang: nhận biện pháp can thiệp tuyên truyền giáo dục sức khoẻ (GDSK) về bệnh giun kim

- Xã Việt Hùng: xã chứng, không can thiệp bất cứ biện pháp gì

Đối tượng nghiên cứu

- Trẻ em nhà trẻ, mẫu giáo tại 3 trường mầm non của 3 xã nghiên cứu

- Cha/ mẹ và cô nuôi dạy các cháu trên

Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 8/2005 đến tháng 7/2006

Phương pháp nghiên cứu

Trang 7

Thiết kế nghiên cứu

- Nghiên cứu mô tả điều tra cắt ngang

- Nghiên cứu can thiệp: có đối chứng và tự chứng

- Chọn nhà trẻ, mẫu giáo

Chủ động chọn các nhà trẻ, mẫu giáo của 3 xã trên:

+ Nếu xã nào có số các cháu đang học ở các nhà trẻ, mẫu giáo tương đương với cỡ mẫu nghiên cứu thì chọn hết các nhà trẻ, mẫu giáo đó

+ Nếu xã nào có số các cháu đang học ở các nhà trẻ, mẫu giáo lớn hơn nhiều so với cỡ mẫu, thì chọn ngẫu nhiên ít nhất 2/3 số nhà trẻ cho phù hợp với cỡ mẫu

Trang 8

- Chọn đối tượng nghiên cứu

Tại các nhà trẻ, mẫu giáo đã được chọn, chọn toàn bộ các cháu đang học tại

đó

4 2.2 Cỡ mẫu

- Cỡ mẫu cho nghiên cứu thực trạng nhiễm giun kim

Cỡ mẫu nghiên cứu áp dụng công thức tính cỡ mẫu nghiên cứu mô tả

p.q

n= Z2 1-a\2 x -

d2

n = cỡ mẫu nghiên cứu

Z 1-a\2 độ tin cậy mong muốn » 1,96

p=0,5 (tỷ lệ trẻ bị nhiễm giun kim), q=1-p =0,5

d= sai số mong muốn theo p (d= 0,05)

Thay vào công thức ta có cỡ mẫu 384, vậy mỗi xã có 384 trẻ được lấy vào nghiên cứu để xét nghiệm tìm trứng giun kim

Trang 9

- Cỡ mẫu can thiệp về điều trị

Điều trị cho toàn bộ các cháu tại các nhà trẻ và mẫu giáo đã được lấy vào

danh sách nghiên cứu của xã Minh Quang:

- Cỡ mẫu can thiệp GDSK về phòng chống bệnh giun kim

Chính là cha/mẹ các trẻ và cô giáo dạy ở các nhà trẻ và mẫu giáo đó

Phương pháp thu thập thông tin

Xác định thực trạng nhiễm giun kim ở trẻ em nhà trẻ, mẫu giáo

Tất cả trẻ em được chọn vào danh sách nghiên cứu, được xét nghiệm bệnh phẩm ở hậu môn để tìm trứng giun kim, theo phương pháp dùng tăm bông của Đặng Văn Ngữ

Đánh giá hiệu quả của các biện pháp can thiệp

Bước 1: Tiến hành các biện pháp can thiệp

- Can thiệp tuyên truyền Giáo dục sức khoẻ (GDSK) về bệnh giun kim

Tuyên truyền liên tục trong thời gian 6 tháng cho cha/ mẹ, cô giáo nuôi dạy các cháu và các cháu đã được lấy vào danh sách nghiên cứu ở xã Tân Phong về bệnh giun kim như đường lây truyền, tác hại và cách phòng chống bệnh, đặc biệt

Trang 10

nhấn mạnh về điều trị là phòng bệnh, không cần dùng thuốc, đỡ tốn kém cho cộng đồng về mặt kinh tế cụ thể:

• Tăng cường vệ sinh tại gia đình như: nhà cửa, chăn, chiếu

• Tăng cường vệ sinh lớp học: lau nhà, lau bàn ghế, rửa đồ chơi

• Tăng cường vệ sinh cho các cháu: rửa hậu môn vào sáng sớm, không mặc quần hở đũng, rửa tay trước và sau khi ăn, cắt móng tay thường xuyên cho trẻ

- Can thiệp bằng dùng thuốc điều trị giun kim

Điều trị cho toàn bộ các cháu tại các nhà trẻ và mẫu giáo đã được lấy vào

danh sách nghiên cứu của xã Minh Quang: 4 tháng uống 1 lần x 2 lần

Cho uống Mebendazole (Fugacar) 1 viên 500mg liều duy nhất, tại lớp dưới

sự hướng dẫn của cán bộ nghiên cứu, cô giáo chủ nhiệm Theo dõi tác dụng phụ của thuốc trong 3 ngày đầu

Bước 2: Giám sát và đánh giá

- Đánh giá tỷ lệ nhiễm giun kim của trẻ em nhà trẻ, mẫu giáo trước, sau nghiên cứu ở 3 xã, giữa xã can thiệp với xã chứng, giữa 2 xã can thiệp với nhau dựa vào kết quả xét nghiệm tìm trứng giun kim ở hậu môn trẻ

Trang 11

- Đánh giá nhận thức, thực hành của các cha/mẹ và cô nuôi dạy trẻ trước và sau nghiên cứu ở 3 xã và xã can thiệp với xã chứng: dựa vào kết quả phiếu điều tra

để so sánh tỷ lệ đúng, sai về nhận thức, thực hành qua phỏng vấn trực tiếp người nuôi/dạy trẻ những câu hỏi đơn giản dễ hiểu về bệnh giun kim như nguyên nhân gây bệnh, tác hại, cách phòng chống đã được thiết kế từ trước

C ác chỉ số cần nghiên cứu

- Tỷ lệ nhiễm giun kim trước, sau can thiệp

- Tỷ lệ nhận thức/thực hành đúng về bệnh giun kim

- Hiệu quả của can thiệp:

+ Chỉ số hiệu quả can thiệp về tỷ lệ nhiễm giun kim

+ Chỉ số hiệu quả can thiệp nhận thức, thực hành đúng về bệnh giun kim

Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê dùng trong y sinh học và chương trình phần mềm EPI-IFO 6.04 tại bộ môn Ký sinh trùng trường Đại học Y Thái Bình

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

Thực trạng nhiễm giun kim ở trẻ em nhà trẻ, mẫu giáo tại 3 xã NC

Trang 12

Bảng 1: Tỷ lệ nhiễm giun kim chung và theo giới ở trẻ em 3 xã nghiên cứu

MQ (n=387)

TP (n=385)

VH (n=390)

Chung (n=1162) G

57,3

102/199

51,3

102/206

49,5

318/604

52,6

>0,05

N

112/188

59,6

104/186

55,9

96/184

52,2

312/558

55,9

>0,05

2

06

53,5

2

04

52,3

6

36

54,7

>0,05

p >0,05 >0,05 >0,05 >0,05

Qua kết quả bảng 1 cho thấy:

- Tỷ lệ nhiễm giun kim ở trẻ em nhà trẻ, mẫu giáo 3 xã rất cao: 54,7% và giữa 3 xã, không có sự khác biệt với p >0,05 (58,4% so với 53,5% và 52,3%)

Trang 13

So với nghiên cứu của Phạm Thị Hiển [5] ở trẻ em trường mầm non Đại học Y Thái Nguyên, tỷ lệ nhiễm giun kim 45,6%, của Lê Bách Quang, Trịnh Trọng Phụng [3]

, tỷ lệ nhiễm giun kim ở nhà trẻ tại một xã nông nghiệp thuộc tỉnh Hà Tây 46,7% ,thì các kết quả trên, thấp hơn trong kết quả của chúng tôi

So với nghiên cứu của Thân Trọng Quang [6], ở một số nhà trẻ và trường mẫu giáo của TP Buôn Ma Thuột Đăklăk, tỷ lệ nhiễm giun kim 80,24%, của Kim

JS, Yoon CH, et al năm 1997 [1], tại 2 trường mầm non ở Inchon - Hàn Quốc, tỷ lệ nhiễm giun kim là 68%, thì các kết quả trên cao hơn kết quả nghiên cứu của chúng tôi

- Tỷ lệ nhiễm giun kim giữa nam với nữ của chung 3 xã (52,6% và 55,9%)

và giữa các xã với nhau, không có sự khác biệt, p>0,05

Điều này cũng phù hợp với tác giả Lại Quang Sáng [3], tỷ lệ nhiễm giun kim của trẻ em nam tương đương nữ (33,3% so với 37,0%)

Bảng 2: Tỷ lệ nhiễm giun kim theo nhóm tuổi ở trẻ em 3 xã nghiên cứu

X

ã NC

< 12 tháng tuổi

12- 36 tháng tuổi

37-72 tháng tuổi

p

Trang 14

<0,05

T

Phong

0,0

<0,05

V

Hùng 4

25,0

<0,05

C

hung 5

24,0

<0,05

Qua kết quả bảng 2 cho thấy:

- Trẻ em < 12 tháng tuổi hầu như chưa gửi nhà trẻ, chỉ có xã Việt Hùng gửi

số lượng trẻ rất ít và tỷ lệ nhiễm giun kim thấp, nên chúng tôi không so sánh

Trang 15

- Tỷ lệ nhiễm giun kim của chung 3 xã, ở các nhóm 37-72 tháng tuổi (60,5%) cao hơn nhóm 12-36 tháng tuổi (49,6%) và trong từng xã, sự khác biệt có

ý nghĩa, p< 0,05

Điều này cũng phù hợp với nghiên cứu của Vũ Văn Thái [8], tỷ lệ nhiễm giun kim ở nhóm tuổi 12-36 tháng và nhóm 37-72 tháng là 29,0%; 37,5% và Phạm Thị Hiển [6], nhóm 1-3 tuổi là 30,6%, 4-6 tuổi là 48,8%

Hiệu quả của các biện pháp can thiệp

Bảng 3: Tỷ lệ nhiễm, giảm nhiễm giun kim trước và sau can thiệp

Trước can thiệp(CT)

Số (+)

44,3

<0,05

Trang 16

31,8

<0,05

7,6

>0,05

p >0,05 p (1,2)>0,05; p

(2,,3)<0,05

p (1,3) < 0,05

Qua kết quả bảng 3 cho thấy:

Hai xã được can thiệp: tỷ lệ nhiễm giun kim ở trẻ sau can thiệp đều thấp hơn so với trước can thiệp: Minh Quang (32,5% so với 53,5% ), Tân Phong (36,5% so với 58,4%) và so với xã Việt Hùng (xã chứng: 48,3%), sự khác biệt có

ý nghĩa, p<0,05

Trang 17

Xã Minh Quang (can thiêp điều trị), tỷ lệ nhiễm giun kim ở trẻ thấp hơn ở

xã Tân Phong (can thiêp GDSK): 32,5% so với 36,5%, nhưng sự khác biệt chưa có ý nghĩa, p>0,05

Như vậy, dù chỉ can thiệp đơn thuần bằng tuyên truyền GDSK (Tân Phong) hoặc chỉ điều trị đơn thuần (Minh Quang), thì tỷ lệ nhiễm giun giảm tương đương nhau, tuy nhiên phần trăm giảm được do điều trị cao hơn (44,3% và 31,8%) Điều này phù hợp với lý thuyết trong y văn nói về giun kim “phòng bệnh chính là điều trị”

So với nghiên cứu của Phạm Thị Hiển [6], sau khi điều trị và vệ sinh lớp học cho trẻ em trường mầm non Đại học Y Thái Nguyên, phần trăm giảm nhiễm được 77,6%, của Kim BJ.[2], tại hàn Quốc, sau điều trị phần trăm giảm được 83,8 và 67,7%, thì đều cao hơn trong kết quả nghiên cứu của chúng tôi(44,3% và 31,8%),

có thể do tác giả kết hợp cả 2 biện pháp hoặc tiến hành diều trị thường xuyên trong thời gian dài

Bảng 4: Tỷ lệ người nuôi dạy trẻ nghe nói về giun kim trước và sau nghiên

cứu

Trang 18

9

>0,05

1,

2

>0,05

2,

9

>0,05

Qua kết quả bảng 4 cho thấy: Tỷ lệ người nuôi dạy trẻ được nghe nói về giun kim của cả 3 xã, sau can thiệp đều tăng lên so với trước can thiệp (90,6%; 98,8% và 95,8% so với 91,5%; 100% và 98,7%), tuy nhiên sự khác biệt, không có

ý nghĩa thống kê, p>0,05

Thực ra số nghe nói về giun kim ở các xã trước can thiệp hầu như đã gần là tuyệt đối rồi, nên tăng lên một vài người không có ý nghĩa gì

Ngày đăng: 01/08/2014, 08:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tỷ lệ nhiễm giun kim chung và theo giới ở trẻ em 3 xã nghiên cứu - NHIỄM GIUN KIM Ở TRẺ EM NHÀ TRẺ, MẪU GIÁO ppt
Bảng 1 Tỷ lệ nhiễm giun kim chung và theo giới ở trẻ em 3 xã nghiên cứu (Trang 12)
Bảng 2: Tỷ lệ nhiễm giun kim theo nhóm tuổi ở trẻ em 3 xã nghiên cứu - NHIỄM GIUN KIM Ở TRẺ EM NHÀ TRẺ, MẪU GIÁO ppt
Bảng 2 Tỷ lệ nhiễm giun kim theo nhóm tuổi ở trẻ em 3 xã nghiên cứu (Trang 13)
Bảng 3: Tỷ lệ nhiễm, giảm nhiễm giun kim trước và sau can thiệp - NHIỄM GIUN KIM Ở TRẺ EM NHÀ TRẺ, MẪU GIÁO ppt
Bảng 3 Tỷ lệ nhiễm, giảm nhiễm giun kim trước và sau can thiệp (Trang 15)
Bảng 4: Tỷ lệ người nuôi dạy trẻ nghe nói về giun kim trước và sau nghiên - NHIỄM GIUN KIM Ở TRẺ EM NHÀ TRẺ, MẪU GIÁO ppt
Bảng 4 Tỷ lệ người nuôi dạy trẻ nghe nói về giun kim trước và sau nghiên (Trang 17)
Bảng 5: Tỷ lệ nhận thức đúng về bệnh giun kim trước và sau nghiên cứu - NHIỄM GIUN KIM Ở TRẺ EM NHÀ TRẺ, MẪU GIÁO ppt
Bảng 5 Tỷ lệ nhận thức đúng về bệnh giun kim trước và sau nghiên cứu (Trang 19)
Bảng 6: Thực hành đúng về bệnh giun kim trước và sau nghiên cứu - NHIỄM GIUN KIM Ở TRẺ EM NHÀ TRẺ, MẪU GIÁO ppt
Bảng 6 Thực hành đúng về bệnh giun kim trước và sau nghiên cứu (Trang 23)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm